Với tính chất là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, Quốc hội thực hiện LƯU TRUNG THÀNH * quyền giám sát tối cao đối với tất cả các cơ quan nhà nước tức là thay mặt nhân dân người
Trang 1NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI
rong bộ máy Nhà nước ta, hoạt động
' giám sát của Quốc hội là giám sát tối
cao Quốc hội thực hiện quyền giám sát
đối với tất cả các cơ Nhà nước: Chủ tịch
nước, Chính phủ, tòa án nhân dân, viện
kiểm sát nhân dân cũng như các cơ quan
chính quyền ở địa phương Mặt khác,
phạm vi giám sát của Quốc hội rất rộng:
Trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của bộ
máy nhà nước và đối với mọi địa phương
trong nước Còn hoạt động giám sát của
các cơ quan nhà nước khác chỉ giới hạn
đối với những chủ thể nhất định, trong
những lĩnh vực nhất định hoặc ở một địa
phương nhất định Thẩm quyền giám sát
của các cơ quan nhà nước khác phụ thuộc
vào Quốc hội vì do Quốc hội quy định
Vì vậy, căn cứ vào tính chất, vị trí của
các cơ quan nhà nước cũng như tình hình
thực tế, Quốc hội có thể mở rộng hoặc
hạn chế phạm vi giấm sát của một cơ
quan nhà nước nhất định Ví d„: Từ Hiến
pháp năm I959, Quốc hội đã mở rộng
phạm vi giấm sát của các cơ quan viện
kiểm sát nhân dân; từ Hiến pháp năm
I992, Quốc hội đã mở rộng phạm vi giám
sát của hội đồng nhân dân đối với viện
kiểm sát nhân dân cùng cấp
Trong điều kiện hiện nay khi Đảng và
Nhà nước ta chủ trương tiếp tục cải cách
bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thực sự của nhân dân, đo nhân dân,
vì nhân dân thì hoạt động giám sát của
Quốc hội càng có ý nghĩa quan trọng
Với tính chất là cơ quan đại diện cao
nhất của nhân dân, Quốc hội thực hiện
LƯU TRUNG THÀNH *
quyền giám sát tối cao đối với tất cả các
cơ quan nhà nước tức là thay mặt nhân dân (người chủ đất nước) để giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước mà nhân dân đã trao cho Hoạt động giám sát của Quốc hội là một trong những phương thức bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân và nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của bộ máy nhà nước ta, ngay sau khi cách mạng thành công, chỉ một ngày sau khi tuyên bố độc lập, tại phiên họp đầu tiên (3/9/1945), Chính phủ lâm thời
đã xác định một trong sáu nhiệm vụ cấp
bách của chính quyền dân chủ nhân dân
là khẩn trương tiến hành tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội Sau tổng tuyển cử
(6/1/1946), nhân dân cả nước đã bầu ra
cơ quan đại diện đầu tiên của mình là Nghị viện nhân dân (tức Quốc hội khóa
D Nghị viện nhân dân bên cạnh chức năng lập hiến, lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước còn có chức năng giám sát: “Chuẩn y các
hiệp ước mà Chính phú kí với nước
ngoài” (Điều 23 Hiến pháp 1946), hay
“kiểm soát và phê bình Chính phử” (Điều
36 Hiến pháp 1946) thông qua Ban thường vụ của Nghị viện
Như vậy, hoạt động giám sát của Quốc hội đã được xác định rất sớm từ Quốc hội khóa I, trong Hiến pháp 1946
* Giảng viên Khoa hành chính - nhà nước Trường Đại học luật Hà Nội
Trang 2NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Tuy nhiên, do điều kiện kháng chiến
cũng như kinh nghiệm còn hạn chế, Quốc
hội khóa I chưa phát huy được chức năng
giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất đối với toàn bộ hoạt động của
bộ máy nhà nước nói chung mà chỉ giới
hạn trong việc giám sát đối với hoạt động
của Chính phủ Còn hoạt động giám sát
trực tiếp đối với các cơ quan nhà nước
khác, như tòa án, các cơ quan chính
quyền nhà nước ở địa phương chưa đặt ra
Sau khi hòa bình được lập lại ở miền
Bắc, trong điều kiện mới, với kinh
nghiệm tích lũy được trong nhiều năm
xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân,
hoạt động giám sát của Quốc hội ngày
càng được chú trọng và phạm vi được mở
rộng
Hiến pháp năm 1959 tại Điều 50 có
quy định: Quốc hội có quyền giám sát
việc thi hành Hiến pháp Theo Hiến pháp
959 và Luật tổ chức quốc hội năm 1961
thì Quốc hội thực hiện quyền giám sất
đối với tất cả các cơ quan nhà nước Cụ
thể, Quốc hội thực hiện quyền giám sát
đối với Chính phủ, tòa án nhân dân, viện
kiểm sát nhân dân cũng như các cơ quan
chính quyền nhà nước ở địa phương Tại
Điều 7l Hiến pháp 1959 quy định: “Hội
đồng Chính phủ chịu trách nhiệm và báo
cáo công tác trước Quốc hội, trong thời
gian Quốc hội không họp thì chịu trách
nhiém báo cáo công tác trước Ủy ban
thường vụ Quốc hội
Điều 104 Hiến pháp 1959 quy định về
quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối
với tòa án nhân dân: “7a án nhân dân
tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công
tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc
hội không họp thì chịu trách nhiệm và
báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ
Quốc hội"
Quyền giám sát của Quốc hội đối với viện kiểm sát nhân dân được quy định tại Điều 108 Hiến pháp 1959: “Viện kiểm sát
nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo
công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước Ủy ban thường
w Quốc hội"
Còn đối với các cơ quan chính quyền nhà nước ở địa phương, Quốc hội thực hiện quyền giám sát thông qua Ủy ban thường vụ Quốc hội Vì vậy, tại Điều 53
Hiến pháp 1959 quy định: Ủy ban thường
vụ Quốc hội có quyên sửa đổi hoặc bãi
bỏ những nghị quyết không thích dang của hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khu tự trị và giải tán các hội đồng nhân dân nói trên trong trường hợp các hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân một cách nghiêm trọng
Như vậy, từ Hiến pháp 1959 và ở Quốc hội khóa II (1960 - 1964), hoạt động giám sát của Quốc hội đã được chú trọng và mở rộng về phạm vi đối với tất
cả các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, ngày 25/4/1976 nhân dân cả nước đã tiến hành tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội khóa
VI - Quốc hội chung cho cả nước Từ Quốc hội khóa VI và Hiến pháp 1980 đến nay, Quốc hội được xác định rõ là “ cø
quan đại biểu cao nhất của nhân dân ”
(Điều 82 Hiến pháp 1980 và Điều 83 Hiến pháp 1992) Trong điều kiện hòa bình, Đảng và Nhà nước ta càng chú trọng đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, trong đó có hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội Điều
Trang 3| NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
3 Luật tổ chức Quốc hội năm 1980, lần
đầu tiên trong các văn bản pháp luật ở
nước ta đề cập hiệu quả hoạt động của
Quốc hội: “Hiệu quả hoạt động của
Quốc hội được đảm bảo bằng hiệu quả
của các kì họp Quốc hội, hiệu quả hoạt
động của Hội đồng nhà nước, của các hội
đồng, các ủy ban của Quốc hội và của
các đại biểu Quốc hội”
Điều 3 Luật tổ chức Quốc hội năm
I992 cũng quy định tương tự như trên
Tóm lại, từ Quốc hội khóa VỊ đến
nay, hoạt động của Quốc hội nói chung
ngày càng được xác định rõ, trong đó có
việc quy định: Quốc hội thực hiện quyền
giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt
động của Nhà nước Mặt khác, hoạt động
của Quốc hội ngày càng chú trọng đến
hiệu quả, do đó phải tìm ra những hình
thức, những biện pháp để nâng cao hiệu
quả hoạt động của Quốc hội Theo các
điều luật nói trên, hoạt động của Quốc
hội được thực hiện dưới bốn hình chủ
yếu:
- Thông qua các kì họp Quốc hội;
- Thông qua hoạt động của Ủy ban
thường vụ Quốc hội;
- Thông qua hoạt động của các ủy ban
của Quốc hội;
- Thông qua hoạt động của đại biểu
và đoàn đại biểu Quốc hội
Là một trong ba loại hoạt động chủ
yếu, hoạt động giám sát tối cao của Quốc
hội cũng được thực hiện dưới bốn hình
thức nêu trên
Thư nhất, hoạt độn r giám sắt tối cao
của Quốc hội đối với oàn bộ hoạt động
của Nhà nước được th tc hiện thông qua
các kì họp Quốc hội Từ Quốc hội khóa
VI đến nay, nhiệm kì của Quốc hội là 5
năm và mỗi năm Quốc hội họp hai kì
(thường kì) Như vậy, trong một khóa
Quốc hội họp ít nhất mười kì Trong các
kì họp đầu tiên, kì họp giữa năm, kì họp cuối năm hay cuối nhiệm kì Quốc hội _ đều thực hiện quyển giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy Nhà nước bằng các biện pháp sau:
a Xem xét các báo cáo công tác của những người đứng đầu các cơ quan nhà nước như: Báo cáo công tấc của Thủ tướng Chính phủ về hoạt động của Chính phủ cũng như của ngành hành pháp, báo cáo của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về hoạt động của ngành tòa án, báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về hoạt động của ngành kiểm sát
Theo Điều 2l Nội quy kì họp Quốc hội (thông qua ngày 18/12/1992) thi những người đứng đầu các cơ quan nói trên phải báo cáo về tình hình công tác của ngành mình giữa hai kì họp Quốc
- hội Nếu là kì họp cuối khóa của Quốc hội, các cơ quan đó còn phải báo cáo tổng kết nhiệm kì về hoạt động của ngành mình trước Quốc hội Qua báo
cáo, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải nêu ra những vấn đề, những nhiệm vụ đã thực hiện được và những vấn đề, nhiệm vụ chưa thực hiện được Qua đó, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao xác định nguyên nhân, trách nhiệm và biện pháp để khắc phục Sau khi các cơ quan Nhà nước nói trên đã báo cáo, Ủy ban thường vụ Quốc hội phát biểu ý kiến về các báo cáo đó (đọc thuyết trình) Bằng thuyết trình, Ủy ban thường vụ Quốc hội nêu lên những nhận xét về các báo cáo đó, yêu cầu các
cơ quan nói trên báo cáo bổ sung hoặc giải thích rõ những vấn đề mà Ủy ban
Trang 4| NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI |
thường vụ Quốc hội thấy cần thiết phải
làm sáng tỏ để tìm ra nguyên nhân và
quy trách nhiệm
Như vậy, bằng những nhận xét, những
yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội
đặt ra tại kì họp đối với báo cáo của Thủ
tướng Chính phủ, Chánh án tòa án nhân
dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Quốc hội đã thực hiện
bước thứ hai của quá trình giám sát tại kì
họp đối với hoạt động của các cơ quan
nhà nước
b Chất vấn của đại biểu Quốc hội
cũng là một biện pháp quan trọng để
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối
cao tại kì họp |
Qua các báo cáo thuyết trình của Ủy
ban thường vụ Quốc hội tại kì họp cũng
_ gợi mở, định hướng cho các đại biểu
Quốc hội bước vào những giai đoạn tiếp
theo là thảo luận tại các tổ, các đoàn đại
biểu, tại các hội đồng, các ủy ban của
Quốc hội Tại các cuộc họp này, đại biểu
Quốc hội nêu lên những nhận xét, đánh
giá về báo cáo công tác của Chính phủ,
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao đồng thời trao đổi về
những vấn đề mà các báo cáo chưa nêu
lên hoặc đã nêu lên nhưng chưa đầy đủ,
chưa chính xác cần phải báo cáo bổ sung,
phải giải thích -
Sau các phiên họp ở đoàn, tổ đại biểu,
các đại biểu bước vào giai đoạn chất vấn
tại phiên họp toàn thể của quốc hội Đại
biểu Quốc hội có quyền chất vấn đối với
Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ
tướng Chính phủ và các thành viên khác
của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao Đại biểu Quốc hội gửi
cho Chủ tịch Quốc hội nội dung chất vấn
và người bị chất vấn Người bị chất vấn
có trách nhiệm trả lời tại kỳ họp những vấn đề mà đại biểu Quốc hội chất vấn Nếu đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Chủ tịch Quốc hội đưa ra thảo luận tại phiên họp toàn thể Chủ tịch Quốc hội có thể nêu những vấn đề chất vấn để Quốc hội thảo luận và khi cần thiết Quốc hội ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn cũng như trách nhiệm của người bị chất vấn Nếu đại biểu nêu câu hỏi để cần biết rõ
về một vấn đề cụ thể thì cơ quan, người
có trách nhiệm trả lời bằng văn bản Trường hợp vấn đề chất vấn cần điều tra, nghiên cứu, Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kì họp sau của Quốc hội, hoặc cho trả lời bằng văn bản
Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kì họp Quốc hội đối với Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ cũng như Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm tăng vai trò trách nhiệm của các cơ quan đó trong việc thực hiện Hiến pháp, luật, nghị quyết _của Quốc hội, đảm bảo tính thống nhất của luật pháp và vai trò của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân
Nếu kì họp là hình thức hoạt động chủ yếu của Quốc hội thì hoạt động giám sát của Quốc hội đối với các cơ quan nhà nước cũng chủ yếu được thực hiện tại các
kì họp Quốc hội Vì vậy, hiệu quả các kì họp Quốc hội gắn liền với việc nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội đối với các cơ quan nhà nước tại kì họp Như vậy, các báo cáo, các đề án của các cơ quan nhà nước phải gửi trước cho
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội cũng
Trang 5NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
như từng đại biểu Quốc hội để nghiên
cứu, thẩm tra trước Thời gian thảo luận
và chất vấn tại kì họp Quốc hội vần phải
được tăng lên để đại biểu được thảo luận,
được chất vấn nhiều hơn Mặt khác, cơ
quan, người bị chất vấn phải có thái độ
cầu thị trả lời đúng yêu cầu của câu hỏi
đặt ra, không được né tránh
Thứ hai, hoạt động giám sát tối cao
của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động
của bộ máy nhà nước thông qua hoạt
động giám sát của Ủy ban thường vụ
Quốc hội Với tính chất “là cơ quan
thường trực của Quốc hội” (Điều 90 Hiến
pháp 1992), Ủy ban thường vụ Quốc hội
thay mặt Quốc hội giữa hai kì họp để
thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn
nhất định của Quốc hội do Quốc hội giao
cho Một trong những nhiệm vụ quan
trọng của Ủy ban thường vụ Quốc hội
giữa hai kì họp là thay mặt Quốc hội
giám sát việc thi hành hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội đối với hoạt
động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hội
đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương (Điều 91 Hiến pháp 1992)
Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội,
hàng năm Ủy ban thường vụ Quốc hội
quyết định chương trình giám sát của
mình Căn cứ vào chương trình giám sát
đã được thông qua, Ủy ban thường vụ
Quốc hội phân công thành viên của Ủy
ban chịu trách nhiệm về từng nội dung
giám sất cũng như quyết định những vấn
đề giao cho Hội đồng dân-tộc, các ủy ban
của Quốc hội giám sát Ủy ban thường vụ
Quốc hội cũng quyết định tiến độ thực
hiện chương trình giám sát và các biện
pháp bảo đảm khác
Ủy ban thường vụ.Quốc hội thực hiện
giám sát đối với Chính phủ, Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao bằng các biện pháp chủ yếu là:
a Xem xét báo cáo của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thời gian Quốc hội không họp Trước khi Quốc hội họp, những báo cáo của các cơ quan nói trên phải gửi đến Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét trước để chuẩn bị báo cáo thuyết trình trước Quốc
hội Khi cần thiết, Ủy ban thường vụ
Quốc hội yêu cầu thành viên của Chính phủ trực tiếp đến báo cáo bằng văn bản hoặc cung cấp những tài liệu mà Ủy ban thường vụ Quốc hội thấy cần cho công tác giám sát của Ủy ban
b Cử các đoàn đi kiểm tra về các vấn
dé thuộc phạm vi giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội Trưởng đoàn là thành viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các thành viên trong đoàn có thể là thành viên Hội đồng dân tộc, thành viên các ủy ban của Quốc hội hoặc là thành viên của các tổ chức chính trị - xã hội Trong quá trình giám sát, nếu phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân, Ủy ban thường vụ Quốc hội, đoàn kiểm tra của Ủy ban thường vụ Quốc hội
có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan có trách nhiệm thị hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt những hành vi vị phạm pháp luật đó Nếu phát hiện văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dan tối cao, hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với pháp lệnh, nghị quyết của
Ủy ban thường vụ Quốc hội thì Ủy ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết hủy bỏ:
Trang 6NGHIEN CUU - TRAO DO!
các văn bản đó Nếu các văn bản nói trên
trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Quốc hội thì Ủy ban thường vụ Quốc hội
đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội
hủy bỏ các văn bản đó tại kì họp gần
nhất
c Ủy ban thường vụ Quốc hội còn
thực hiện quyền giám sát thông qua việc
xem xét đơn khiếu nại tố cáo của công
dân cũng như tình hình tổ chức và hoạt
động của hội đồng nhân dân
Trước hết, Ủy ban thường vụ Quốc
hội giám sát việc xem xét giải quyết các
kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân
gửi Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc
hội Hàng quý, Ủy ban thường vụ Quốc
hội nghe thành viên Ủy ban thường vụ
Quốc hội phụ trách công tác dân nguyện
và đại diện Chính phủ báo cáo về công
tác dân nguyện và cho ý kiến về những
vấn đề cần xem xét, giải quyết Các cơ
quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội,
tổ chức kinh tế trong phạm vi chức năng
nhiệm vụ của mình có trách nhiệm
nghiên cứu thực hiện các kết luận hoặc
yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội
về dân nguyệnvà báo cáo với Ủy ban
thường vụ Quốc hội trong thời hạn mười
lăm ngày kể từ ngày nhận được kết luận
hoặc yêu cầu
Đối với hội đồng nhân dân, Ủy ban
thường vụ Quốc hội giám sát việc ra nghị
quyết của hội đồng nhân dân, xem xét
tình hình tổ chức và hoạt động của hội
đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương khi cần thiết; phê chuẩn kết
quả bầu cử chủ tịch, phó chủ tịch và thư
-kí hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương Nếu nghị quyết của hội
đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương trái với các văn bản của Quốc
hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thì Ủy ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết bãi
bỏ nghị quyết sai trái đó Nếu hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương làm thiệt hại nghiêm trọng đến quyển lợi của nhân dân thì Ủy ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết giải tấn đối với hội đồng nhân dân đó
Thứ ba, hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước được thực hiện thông qua hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội Với tính chất là những cơ quan chuyên môn giúp việc cho Quốc hội trong những lĩnh vực nhất định, Hội đồng dân tộc, các
ủy ban của Quốc hội giám sát việc thực hiện Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội về những vấn đề thuộc chuyên môn của mình Căn cứ vào chương trình hoạt động hàng năm, sáu tháng, hàng quý
và hàng tháng, Hội đồng dân tộc và các
ủy ban của Quốc hội triển khai tổ chức công tác giám sát trong phạm vi nhiệm
vụ quyền hạn của mình và theo sự phân công của Ủy ban thường vụ Quốc hội Để bảo đảm tính chủ động và hiệu quả cho hoạt động giám sát, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội thường thông báo trước nội dung và kế hoạch giám sát cho các cơ quan hữu quan cũng như chính quyển địa phương nơi Hội đồng dân tộc hoặc ủy ban tiến hành giám sát
Để thực hiện những nội dung cần giám sát, Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội yêu cầu cơ quan, tổ chức và cá nhân được giám sát cung cấp tài liệu, báo cáo vấn đề thuộc nội dung giấm sát và thu thập các tài liệu khác có liên quan Khi cần thiết, Hội đồng dân tộc và các ủy _ ban của Quốc hội cử thành viên của mình đến cơ quan, tổ chức hữu quan để xem
Trang 7
xét vấn đề mà Hội đồng dân tộc hoặc ủy
ban quan tâm Trong quá trình giám sát,
nếu phát hiện có vi phạm pháp luật, Hội
đồng dân tộc hoặc ủy ban của Quốc hội
có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân vi
phạm chấm dứt việc vi phạm đó đồng
thời kiến nghị với cơ quan có trách nhiệm
giải quyết và báo cáo với Ủy ban thường
vụ Quốc hội
Sau khi nghiên cứu, thẩm tra, xem
xét, Hội đồng dân tộc hoặc các Ủy ban
của Quốc hội có kết luận về vấn đề được
giám sát Kết quả thẩm tra, giám sát của
Hội đồng dân tộc hoặc ủy ban của Quốc
hội được trình bày trước Quốc hội, Ủy
ban thường vụ Quốc hội bằng hình thức
thuyết trình, báo cáo hoặc ý kiến phát
biểu; đồng thời được thông báo cho các
cơ quan hữu quan
Mặt khác, Hội đồng dân tộc và các ủy
ban của Quốc hội còn thông qua hoạt
động xem xét đơn thư khiếu nại, tố cáo
được gửi đến để thực hiện quyền giám
sát trên cơ sở nghiên cứu nội dung và đối
tượng bị khiếu nại tố cáo, Hội đồng dân
tộc, các ủy ban của Quốc hội yêu cầu cơ
quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết
đơn thư khiếu nại, tố cáo theo quy định
của pháp luật Cơ quan được yêu cầu phải
trả lời bằng văn bản cho Hội đồng hoặc
ủy ban về kết quả giải quyết Nếu không
nhất trí với kết quả giải quyết khiếu nại,
tố cáo đó thì Hội đồng hoặc ủy ban kiến
nghị biện pháp giải quyết với Ủy ban
thường vụ Quốc hội
Như vậy, bằng những hoạt động giám
sát trên trong lĩnh vực chuyên môn, Hội
đồng đân tộc và các ủy ban của Quốc hội
kip thời phát hiện những vụ vi phạm Hiến
pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;
đồng thời kiến nghị với các tổ chức, cá
nhân khắc phục những vụ vi phạm đó
28 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
Mặt khác, nhờ quá trình giám sát này mà Hội đồng dân tộc và các ủy ban phát hiện được những sự bất cập giữa những quy định trong các văn bản nói trên với thực
tế để kiến nghị Quốc hội kịp thời sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp
Thứ tư, hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội được thực hiện thông qua hoạt động giám sát của đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội tại địa phương,
CƠ SỞ
Giữa hai kì họp Quốc hội, đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao Chất vấn của đại biểu được gửi đến Ủy ban thường vụ Quốc hội Ủy ban thường
vụ Quốc hội gửi chất vấn của đại biểu Quốc hội đến người bị chất vấn Người bị chất vấn có trách nhiệm trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội bằng văn bản trong thời hạn do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định đồng thời gửi văn bản tới Ủy ban thường vụ Quốc hội Trường hợp chưa thỏa mãn với nội dung trả lời chất
vấn, đại biểu Quốc hội có thể đề nghị Ủy
ban thường vụ Quốc hội quyết định việc trả lời chất vấn trước Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc đưa ra thảo luận tại kỳ họp Quốc hội Đại biểu chất vấn và người
bị chất vấn được mời dự phiên họp của
Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc này Khi cần thiết, Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người
bị chất vấn
Là người đại biểu của nhân dân, là cầu nối giữa nhân dân với Nhà nước, đại biểu Quốc hội khi nhận được khiếu nại,
Trang 8NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
tố cáo của công dân có trách nhiệm
nghiên cứu và chuyển đến các cơ quan
hữu quan đồng thời đôn đốc, theo dõi
việc giải quyết Cơ quan nhận được khiếu
nại, tố cáo, có trách nhiệm xem xét, giải
quyết theo quy định của pháp luật và
thông báo kết quả cho đại biểu Quốc hội
và người khiếu nại, tố cáo biết Nếu việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo đó không
thỏa đáng thì đại biểu Quốc hội có quyền
yêu cầu thủ trưởng cơ quan hữu quan
hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ
quan đó xem xét lại Nếu cơ quan, đơn vị
hoặc cá nhân không giải quyết hoặc giải
quyết không kịp thời khiếu nại tố cáo do
đại biểu quốc hội chuyển đến thì đại biểu
đó có quyền yêu cầu Ủy ban thường vụ
Quốc hội xem xét Kết quả xem xét của
Ủy ban thường vụ quốc hội được thông
báo cho đại biểu Quốc hội biết
Trong hoạt động giám sát, nếu phát
hiện có hành vi vi phạm pháp luật gây
thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền
lợi hợp pháp của tổ chức xã hội hoặc của
công dân thì đại biểu Quốc hội có quyền
trực tiếp yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu
quan và người có trách nhiệm thi hành
những biện pháp cần thiết để kịp thời
chấm dứt hành vi trái pháp luật đó Cơ
quan, đơn vị, tổ chức hoặc người có trách
nhiệm phải thông báo cho đại biểu Quốc
hội biết kết quả giải quyết
Để thực sự là người đại điện của nhân
dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt
động của các cơ quan nhà nước, đại biểu
Quốc hội phải thực sự là người có năng
lực, có kiến thức, am hiểu cuộc sống,
dám đấu tranh với những hành vi vi phạm
pháp luật Đại biểu Quốc hội phải có điều
kiện về thời gian, có những đảm bảo về
vật chất để thường xuyên tiếp xúc với cử
tri, qua đó nắm bắt được thực tế và phát
hiện những sự vi phạm pháp luật từ phía các cơ quan, viên chức nhà nước Mặc
khác, các cơ quan nhà nước với trách
nhiệm “phổi tôn trọng nhân dân, tận tụy
phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chế với:
nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân ” (Điều 8 Hiến pháp 1992) thì trước hết phải tôn trọng các đại biểu Quốc hội, thực hiện những
yêu cầu do các đại biểu Quốc hội đặt ra
trong quá trình giám sát
Tóm lại, đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội nói chung cũng như hoạt động giám sát của Quốc hội nói riêng là yêu cầu tất yếu của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Để thực hiện tốt quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, Quốc hội cần khẩn trương xây dựng cơ chế giám sát có hiệu lực và hiệu quả Quốc hội phải có chương trình giám sát trong cả nhiệm kì và hàng năm có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những vấn đề bức xúc của xã hội trong từng thời kì, từng năm Đồng thời phải đổi mới việc xem xét báo cáo, trả lời chất vấn của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Mặt khác, để thực hiện quyền giám sát, phải nâng cao hơn nữa năng lực thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội, của các
ủy ban và hội đồng của Quốc hội Việc tăng cường số các đại biểu làm việc chuyên trách trong các ủy ban, hội đồng của Quốc hội là một xu hướng đúng cần được quan tâm Đồng thời, theo chúng tôi, cũng cần phải tăng cường số các trưởng đoàn đại biểu ở địa phương làm việc chuyên trách nhiều hơn nữa vì địa phương, cơ sở là nơi các đại biểu thường xuyên tiếp xúc với cử tri, nơi trực tiếp thực thi Hiến pháp, pháp luật./