Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật ; Trừ trường hợp đó là những giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày hoặc luật liên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THẢO LUẬN
Môn học:
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ ;
TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ.
Buổi 1:
CHỦ THỂ CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ
1 Nguyễn Hoàng Phúc – 2153801014198
2 Nguyễn Phạm Mai Phương – 2153801014202
3 Lê Ngọc Cẩm Quỳnh – 2153801014210
4 Lê Ngọc Quỳnh Sương – 2153801014215
5 Phạm Thị Sương – 2153801014216
8 Phạm Hoàng Tuấn – 2153801014233
Trang 2VẤN ĐỀ 1: NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CÁ NHÂN
1 Những điểm giống nhau và khác nhau giữa hạn chế năng lực hành vi dân sự
và mất năng lực hành vi dân sự
- Cơ sở pháp lý: Điều 22, 24 BLDS 2015
- Giống nhau:
+ Chủ thể yêu cầu: người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan + Chủ thể quyết định: Tòa án
+ Hệ quả pháp lý: việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự do người đại diện theo pháp luật thực hiện
+ Chủ thể yêu cầu hủy bỏ: chính người bị tuyên bố hoặc người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan
+ Chủ thể quyết định hủy bỏ: Tòa án
+ Từng là những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
- Khác nhau:
Nội dung Mất NLHVDS Hạn chế NLHVDS
Cơ sở pháp lý Điều 22 BLDS 2015 Điều 24 BLDS 2015
Điều kiện
phát sinh
Người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình
Người nghiện ma túy, các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình
Cơ sở quyết
định
Kết luận giám định pháp y tâm thần
Hệ quả pháp
lý
Mọi giao dịch dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản phải có sự đồng
ý của người đại diện theo pháp luật ;
Trừ trường hợp đó là những giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác
Người đại
diện
Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, gọi là người giám
hộ
Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật và phạm
vi đại diện
Trang 3Người đại diện có thể được chỉ định hoặc đương nhiên trở thành người đại diện theo pháp luật
2 Những điểm khác nhau cơ bản giữa người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
và là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
- Cơ sở pháp lý: Điều 23, 24 BLDS 2015
- Khác nhau:
Nội dung Người có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi
Hạn chế NLHVDS
Cơ sở pháp lý Điều 23 BLDS 2015 Điều 24 BLDS 2015
Điều kiện
phát sinh
Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không
đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất NLHVDS
Người nghiện ma túy, các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình
Cơ sở quyết
định
Yêu cầu của chính người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan
Kết luận giám định pháp y tâm thần
Yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan,
tổ chức hữu quan
Hệ quả pháp
lý
Mọi giao dịch dân sự do người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện, xác lập là không có hiệu lực pháp luật
Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật ; Trừ trường hợp đó là những giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác
Người đại
diện
Tòa án chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ
Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật và phạm vi đại diện
3 Trong quyết định trên, Toà án nhân dân tối cao đã xác định năng lực hành vi dân sự của ông Chảng như thế nào?
Trang 4- Dựa vào “Biên bản giám định khả năng lao động” số 84/GĐYK-KNLĐ ngày
18/12/2017, Tòa án nhân dân tối cao đã xác định ông Chảng mất năng lực hành vi dân sự và hiện tại không đủ khả năng để lập di chúc
4 Hướng của Toà án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên có thuyết phục không?
Vì sao?
- Hướng của Tòa án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên hoàn toàn thuyết phục
- Vì, dựa vào kết quả giám định y khoa về khả năng lao động số 84/GĐYK-KNLĐ ngày 18/12/2017, Hội đồng giám định y khoa Trung ương - Bộ Y tế đã xác định ông
Chảng: “ Không tự đi lại được Tiếp xúc khó, thất vận ngôn nặng, liệt hoàn toàn ½
người phải Rối loạn cơ tròn kiểu trung ương, tai biến mạch máu não lần 2 Tâm thần: Sa sút trí tuệ Hiện tại không đủ năng lực hành vi lập di chúc Được xác định tỉ
lệ mất khả năng lao động do bệnh tật là 91% ” Từ kết quả giám định của cơ quan
có thẩm quyền thì dựa vào Điều 22 BLDS 2015, Tòa án có quyền tuyên bố ông Chảng mất năng lực hành vi dân sự và mọi giao dịch dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
5 Theo Toà án nhân dân tối cao, ai không thể là người giám hộ và ai mới có thể
là người giám hộ của ông Chảng? Hướng của Toà án nhân dân tối cao như vậy
có thuyết phục không? Vì sao?
- Theo TANDTC, bà Nguyễn Thị Bích (1955) là người giám hộ cho ông Lê Văn Chảng (1950) Trái lại, bà Nguyễn Thị Chung (1952) được xác định không thể là người giám hộ hợp pháp của ông Lê Văn Chảng (1955)
- Theo hướng TANDTC là không thuyết phục, vì:
+ Đối với bà Nguyễn Thị Bích (1955):
• Về pháp lý, giữa bà Bích và ông Chảng được xác định là không có đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật hiện hành (Dựa trên Công văn số
31/UBND-TP ngày 08/3/2019 và Công văn số 62 ngày 21/01/2020 của Cơ quan CSĐT Công an Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội)
➔ Đối chiếu với Khoản 1 Điều 62 BLDS 2005, bà Bích không đủ điều kiện làm
người giám hộ cho ông Chảng
• Về thực tế, xét thấy trong quá trình phân chia tài sản, đã nảy sinh mâu thuẫn phân chia không đồng đều giữa ông Chỉnh và ông Chảng Tuy nhiên, bà Bích (lúc này tự xưng là người giám hộ của ông Chảng và do sự điều tra còn thiếu sót nên Tòa
sơ thẩm và phúc thẩm cũng đồng ý) lại không kháng cáo yêu cầu chia lại dẫn đến gây thiệt hại cho ông Chảng
Trang 5➔ Như vậy, nếu xét theo Khoản 3, 4 Điều 67 BLDS 2005 thì bà Bích đã không
hoàn thành nghĩa vụ của người giám hộ với người được giám hộ mất NLHVDS,
đó là: “Quản lý tài sản của người được giám hộ” và “Bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của người được giám hộ”
+ Đối với bà Nguyễn Thị Chung (1952)
• Theo lời khai của bà Chung thì giữa bà và ông Chảng có đăng ký kết hôn vào năm 1975 tại UBND xã Dịch Vọng (nay là phường Dịch Vọng), quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội Tuy nhiên, do thất lạc giấy đăng ký kết hôn nên khi xảy ra tranh chấp thì không có để xuất trình cho Tòa án
• Dựa trên thực tế, bà Chung đã chung sống với ông Chảng từ năm 1975, có
tổ chức đám cưới và có con chung (chị Lê Thị Bích Thủy)
• Bên cạnh đó, theo lời khai của ông Chỉnh (anh của ông Chảng) cũng xác nhận bà Chung và ông Chảng có chung sống với nhau và bà Chung thực hiện tốt bổn phận làm dâu, làm vợ
• Hơn nữa, theo Điểm a Mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 về việc thi hành Luật Hôn nhân gia đình thì ông Chảng và bà Chung hoàn toàn được công nhận
là vợ chồng hợp pháp Đồng thời, theo quy định tại Khoản 1 Điều 62 BLDS 2005, bà Chung hoàn toàn đủ điều kiện để làm người giám hộ cho ông Chảng
➔ Như vậy, có thể khẳng định rằng, mặc dù là vợ hợp pháp của ông Chảng
nhưng do không được Tòa án xác định là người giám hộ của ông Chảng nên bà Chung không được trao quyền kháng cáo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Chảng
6 Cho biết các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với tài sản của người được giám hộ (nêu rõ cơ sở pháp lý)
* Theo Điều 59 BLDS 2015 quy định về việc quản lý tài sản của người được giám
hộ như sau:
1 Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ
Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ
Trang 6Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện
vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ
2 Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được quản
lý tài sản của người được giám hộ theo quyết định của Tòa án trong phạm vi được quy định tại khoản 1 Điều này
* Theo Điểm a, b Khoản 1 Điều 58 BLDS 2015 có quy định về việc người giám hộ
quản lý tài sản của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự như sau: a) Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;
b) Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ
7 Theo quyết định của Toà án nhân dân tối cao trong vụ án trên, người giám hộ của ông Chảng có được tham gia vào việc chia di sản thừa kế (mà ông Chảng được hưởng) không? Vì sao? Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Toà án nhân dân tối cao về vấn đề vừa nêu
- Theo quyết định của TANDTC trong vụ án trên, người giám hộ của ông Lê Văn Chảng (bà Nguyễn Thị Bích) được tham gia vào việc chia di sản thừa kế (mà ông Chảng được hưởng)
- Vì, Tòa án đã căn cứ vào “Biên bản giám định khả năng lao động” số 84/GĐYK-KNLĐ ngày 18 tháng 12 năm 2007 và “Giấy chứng nhận kết hôn – Đăng ký lại” ngày
15 tháng 10 năm 2001 và đã xác định bà Bích là vợ hợp pháp của ông Chảng đồng thời
là người giám hộ đương nhiên của ông Chảng theo Điều 22, 58, 62 BLDS 2005 Và do
đã được xác định là người giám hộ đương nhiên của ông Chảng nên bà Bích hoàn toàn
có thể tham gia vào việc chia di sản thừa kế (mà ông Chảng được hưởng) một cách hợp pháp
- Tuy nhiên, đến khi xét xử phúc thẩm vụ án thì cơ quan có thẩm quyền đã phát hiện
ra vấn đề có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của Bản án mà đương sự không thể biết trong quá trình giải quyết vụ án, đó là việc đăng ký kết hôn của ông Chảng và bà Bích là bất hợp pháp và có dấu hiệu vi phạm pháp luật Từ đó, có thể thấy, Tòa xét
xử vụ án đã khá hời hợt, thiếu minh bạch trong quá trình điều tra, làm rõ người giám
hộ của ông Chảng Đáng ra Tòa phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền, cụ thể ở đây là UBND phường Yên Nghĩa xem xét lại tính xác thực của bằng chứng được cung cấp
- Nếu khi ấy, Tòa án cẩn trọng hơn và tiến hành xác minh lại bằng chứng thì đã có quyết định bác bỏ quyền giám hộ đương nhiên của bà Bích theo quy định tại Khoản
Trang 71 Điều 62 BLDS 2005 Trong khi đó, từ thực tế cho thấy, bà Nguyễn Thị Chung đã
có quá trình chung sống với ông Lê Văn Chảng từ năm 1975, có đăng ký kết hôn, sau khi kết hôn ông Chảng và bà Chung sống tại Số 1, Tổ 37, Phường Dịch Vọng, Thành phố Hà Nội; đến khoảng năm 1994 thì bà Chung mới về sống tại Xã Cổ Nhuế, Huyện
Từ Liêm, Thành phố Hà Nội Như vậy, nếu phát hiện được tình tiết này trong quá trình xét xử thì có thể vụ án đã chuyển sang một hướng mới, đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của cả ông Chảng và bà Chung
Trang 8VẤN ĐỀ 2: TƯ CÁCH PHÁP NHÂN VÀ HỆ QUẢ PHÁP LÝ
1 Những điều kiện để tổ chức được thừa nhận là một pháp nhân:
- Căn cứ Điều 74 BLDS 2015 thì:
1 Một tổ chức được công nhận là một pháp nhân khi có đủ các điều kiện: a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này
c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình
d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập
- Phân tích:
+ Theo quy định tại Điểm a, pháp nhân phải được thành lập một cách hợp pháp,
đúng theo trình tự, thủ tục được quy định trong BLDS 2015 (Điều 82 BLDS 2015)
và các quy định của luật khác có liên quan cho từng loại pháp nhân tương ứng Cụ thể, một pháp nhân được xem là hợp pháp nếu như có mục đích, nhiệm vụ và thành lập hợp pháp theo trình tự và thủ tục pháp luật quy định Pháp nhân được nhà nước công nhận dưới dạng: cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành
lập, đăng ký và được công nhận sự thành lập (Ví dụ: thành lập doanh nghiệp hợp
pháp, tức phải đăng ký và được cơ quan có thẩm quyền ở thành phố nơi mà doanh nghiệp đóng trụ sở cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp)
➔ Đây là cơ sở pháp lý chung cho mọi loại pháp nhân, đồng nghĩa với việc các luật khác của liên quan hoặc luật chuyên ngành nếu có quy định riêng về từng loại pháp nhân tương ứng cũng phải tuân theo Bộ luật này trừ những đặc thù.1
➔ Thông qua quy định này, pháp nhân đã được công nhận sự ra đời, bắt đầu thời điểm phát sinh tư cách chủ thể của pháp nhân, đồng thời đây cũng là cơ sở pháp lý
để cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành hoạt động quản lý ; Tòa án và các cơ quan tài phán giải quyết khi pháp nhân có xảy ra bất kỳ tranh chấp nào
+ Theo quy định tại Điểm b, pháp nhân phải có cơ quan tổ chức chặt chẽ Cụ thể
(theo Điều 83 BLDS 2015):
1 Pháp nhân phải có cơ quan điều hành Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của
cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân
2 Pháp nhân có cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật
1Trường Đại học Luật TP.HCM (2021), Giáo trình Những quy định chung về Luật Dân sự,
Trang 9➔ Pháp nhân được hình thành từ các tổ chức là một tập thể người được liên kết với nhau theo một đặc điểm nhất định phù hợp với chức năng, mục đích, lĩnh vực hoạt động,… của loại hình tổ chức đó Vì vậy, để cho hoạt động của pháp nhân được diễn
ra nhất quán, biến tổ chức người ấy thành một thể thống nhất thì đòi hỏi phải có sự tổ chức chặt chẽ, có cơ quan điều hành đóng vai trò chỉ huy hay các cơ quan khác tùy theo từng loại pháp nhân khác nhau
➔ Quy định này giúp pháp nhân có được sự độc lập về mặt tổ chức, không bị chi phối từ bất kỳ cá nhân, tổ chức, cơ quan, pháp nhân nào trong việc quyết định các vấn đề phát sinh từ hoạt động của pháp nhân
+ Theo quy định tại Điểm c, pháp nhân có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân
khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình (Ví dụ: Khi mở công ty cổ phần,
các cổ đông mua cổ phần và góp vốn vào công ty thì tài sản này phải độc lập với tài sản của các cổ đông và công ty phải chịu trách nhiệm với tài sản đó,…)
➔ Tài sản độc lập là tài sản của pháp nhân, pháp nhân là chủ sỡ hữu và có đầy đủ các quyền về chủ sỡ hữu tài sản đó Pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về tài sản đó
và không thể bắt buộc ai chịu trách nhiệm thay mình bao gồm các thành viên trong
tổ chức pháp nhân (trừ khi có thoả thuận)
➔ Tài sản độc lập của pháp nhân không chỉ bao gồm tài sản riêng của pháp nhân mà còn có các loại tài sản khác mà pháp nhân được Nhà nước tạm giao hoặc hỗ trợ để thực hiện các chức năng phi lợi nhuận.2
➔ Đối với pháp nhân kinh doanh, sự tách bạch một cách rõ ràng về tài sản nhằm chứng minh được tiềm lực tài chính của pháp nhân Đồng thời, hạn chế được rủi ro cho các cổ đông trong việc góp vốn và góp phần làm cho mầm mống gây nguy hại cho người thứ ba, cho xã hội khi hợp tác cùng pháp nhân cũng được hạn chế Khi xảy
ra những tranh chấp liên quan đến tài sản thì cũng chỉ có pháp nhân mới có quyền khởi kiện ra các cơ quan chức năng để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.3
➔ Tuy nhiên, trách nhiệm của pháp nhân thuộc dạng trách nhiệm hữu hạn, trong phạm vi tài sản riêng của pháp nhân
+ Theo quy định tại Điểm d, pháp nhân nhân danh mình tham gia quan hệ pháp
luật một cách độc lập Pháp nhân phải nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật thông qua người đại diện theo pháp luật, nên pháp nhân có quyền tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự một cách độc lập, được hưởng đầy đủ quyền và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
Trang 102 Trong Bản án số 1117, theo Bộ tài nguyên và môi trường, Cơ quan đại diện của Bộ tài nguyên và môi trường có tư cách pháp nhân không? Đoạn nào của Bản án có câu trả lời?
- Trong Bản án số 1117, theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ quan đại diện của Bộ Tài nguyên và Môi trường có tư cách pháp nhân nhưng là tư cách pháp nhân không đầy đủ
- Câu trả lời nằm trong Bản án từ câu:
Như vậy Cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đại diện hạch toan báo sổ khi thực hiện dự toan, quyết toan phải theo phân cấp của Bộ, phụ thuộc theo sự phân bố của ngân sách Nhà nước và phân cấp… nhưng là Cơ quan đại diện
Bộ phải hạch toan báo sổ nên cơ quan này có tư cách pháp nhân nhưng là tư cáh pháp nhân không đầy đủ
3 Trong Bản án số 1117, vì sao Tòa án xác định Cơ quan đại diện của Bộ Tài nguyên và Môi trường không có tư cách pháp nhân?
- Tòa án xác định Cơ quan đại diện của Bộ Tài nguyên và Môi trường không có tư cách pháp nhân vì theo quy định tại khoản 2, 4, 5 Điều 92 BLDS 2005:
2 Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của pháp nhân và thực hiện việc bảo vệ các lợi ích đó
3 Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ thực hiện toàn
bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân, kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền
4 Văn phòng đại diện, chi nhánh không phải là pháp nhân Người đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền
5 Pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập, thực hiện.”
- Cơ quan đại diện của Bộ tài nguyên và môi trường chưa đáp ứng đủ điều kiện có cơ cấu tổ chức chặt chẽ Cơ quan đại diện của Bộ tài nguyên và môi trường chỉ là một
bộ phận giúp Bộ trưởng theo dõi, tổng hợp tình hình thực hiện nhiệm vụ và thực hiện một số nhiệm vụ theo chương trình công tác của Bộ, nó không có ý chí riêng và hành động tự do mà phải hoạt động theo sự chỉ đạo của Bộ Bên cạnh đó, nó cũng không
có sự độc lập đối với các cá nhân tổ chức khác (phải phối hợp với các cơ quan, đơn
vị thuộc bộ Bộ để thực hiện công tác chuyên môn nghiệp vụ được giao) Trong cơ cấu nhân sự, cơ quan đại diện cũng quản lý cán bộ, công chức, người lao động theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ