69 Bảng 2.13: Bảng tổng hợp đánh giá mức độ thực hiện vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của sức khỏe đối với mỗi cá nhân và cộng đồng Đảng và Nhà nước đã đặc biệt chú ý chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng, xem đây là nhiệm vụ ưu tiên và trách nhiệm của hệ thống y tế Đã có nhiều văn kiện, đề tài, công trình nghiên cứu và sách báo đề cập sâu về công tác chăm sóc sức khỏe người có công, thể hiện sự cam kết lâu dài và hiệu quả đối với đối tượng đặc biệt này.
Trong bài viết “Một số vấn đề về pháp luật ưu đãi xã hội” đăng trên Tạp chí Luật học số 4/2004, tác giả Nguyễn Hiền Phương đã trình bày và phân tích các khái niệm cùng nội dung cơ bản của Pháp luật ưu đãi người có công, từ khái niệm người có công đến tiêu chuẩn xác nhận, đồng thời thảo luận và đánh giá những thành tựu cũng như nêu rõ những điểm hạn chế còn tồn tại trong các chính sách ưu đãi cho người có công Bài viết cũng đề cập tới các chế độ trợ cấp hàng tháng và các ưu đãi về giáo dục, y tế, việc làm, tín dụng, nhà ở và đất đai, đồng thời đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách ưu đãi đối với người có công [13].
Bà Nguyễn Thị Hằng (2005) có bài viết đăng trên Tạp chí Cộng sản số 7/2005 mang tựa đề "Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng" Bài viết nêu khái quát những thành tựu đạt được trong việc thực hiện ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng trong 10 năm từ 1995 đến 2005, từ đó đúc kết kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn chính sách ưu đãi xã hội.
Tại hội thảo về công tác điều dưỡng, chăm sóc sức khỏe người có công do Cục Người có công (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) tổ chức ngày 15/4/2010 tại thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa, đã khẳng định công tác điều dưỡng và chăm sóc sức khỏe được xem là một yêu cầu bức thiết, vì rất nhiều đối tượng người có công đã bày tỏ nguyện vọng được đi thăm quan, nghỉ ngơi điều dưỡng sức khỏe dù chỉ là một lần Thực tế cho thấy nhu cầu điều dưỡng và chăm sóc sức khỏe của người có công với cách mạng tại các cơ sở chăm sóc người có công là rất cao, nhưng số lượng người được đi điều dưỡng hàng năm rất ít, phần lớn vẫn được điều dưỡng tại nhà.
Đề tài "Thực trạng công tác xã hội hóa chăm sóc sức khỏe người có công tại phường Đề Thám, thị xã Cao Bằng" của tác giả Hoàng Thúy Hằng chỉ rõ thực trạng huy động nguồn lực xã hội trong chăm sóc sức khỏe cho người có công, đồng thời phân tích hiệu quả và thách thức đang tồn tại tại địa phương Kết quả cho thấy công tác xã hội hóa đã mở rộng các nguồn lực từ cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức từ thiện để cải thiện tiếp cận và chất lượng dịch vụ y tế cho người có công; song vẫn còn nhiều khoảng trống về kinh phí, nhân lực và sự đồng bộ giữa các cấp quản lý Để nâng cao hiệu quả, bài viết đề xuất tăng cường tuyên truyền, xây dựng mạng lưới hỗ trợ người có công, liên kết y tế cơ sở với các nguồn lực xã hội, và hoàn thiện cơ chế chính sách tại địa phương nhằm đảm bảo quyền lợi sức khỏe cho người có công Những phát hiện này cho thấy cần một chiến lược phối hợp chặt chẽ giữa ngành y tế, cấp ủy địa phương và cộng đồng để thúc đẩy công tác xã hội hóa chăm sóc sức khỏe người có công tại phường Đề Thám.
Nghiên cứu thực hiện năm 2011 đã chỉ ra thực trạng và hạn chế của công tác xã hội hóa chăm sóc sức khỏe cho người có công Kết quả cho thấy 56,7% ý kiến cho rằng 5 chương trình chăm sóc người có công tại địa phương đã được thực hiện tốt, trong khi 26,7% cho rằng các chương trình chưa được thực hiện tốt Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xã hội hóa chăm sóc sức khỏe người có công tại địa phương, nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc và đời sống cho người có công.
Nghiên cứu năm 2011 của Hồ Thị Vân Kiều về chăm sóc sức khỏe người có công cách mạng tại huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định cho thấy nguồn nhân lực y tế tại khu vực này còn nhiều bất cập: 36,9% người được hỏi cho rằng bác sĩ, y tá thiếu trách nhiệm, trong khi 13,8% cho rằng họ tôn trọng bệnh nhân Theo đánh giá của người có công, đội ngũ y, bác sĩ có thái độ ân cần, chu đáo và có trách nhiệm chiếm 50% ở bệnh viện tỉnh, 21,6% ở phòng khám tư, và 4,4% ở trạm y tế xã; ngược lại tình trạng thiếu trách nhiệm và thiếu tôn trọng bệnh nhân cao nhất ở trạm y tế xã (62,5%), tiếp đến phòng khám tư (16,2%), và bệnh viện tỉnh (20%) Tác giả cho thấy hầu hết người có công ở Hoài Ân được chăm sóc sức khỏe theo chính sách của Đảng và Nhà nước, nhưng nhu cầu vẫn rất cao trong khi chất lượng và hiệu quả chăm sóc còn chưa đạt do nhiều khó khăn, đặc biệt thiếu vốn, thiếu đội ngũ y, bác sĩ và cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu Từ đó đề tài đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cho người có công.
Trần Thị Hồng Thư (2012) phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội trong nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng tại xã Vĩnh Lại, Lâm Thao, Phú Thọ Tác giả đã tìm hiểu thực trạng thực hiện các chính sách ưu đãi cho người có công trong thực tiễn và chỉ ra những tồn tại, bất cập; từ đó đề xuất một mô hình công tác xã hội nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, tập trung vào vai trò của nhân viên công tác xã hội [17].
Đề tài của Đinh Thị Hằng Nga (2015) về công tác chăm sóc sức khỏe đối với người có công và vai trò của nhân viên công tác xã hội được dựa trên nghiên cứu tại Trung tâm nuôi dưỡng và Điều dưỡng người có công ở Hà Nội Nghiên cứu mô tả thực trạng cuộc sống của người có công tại Trung tâm và cho thấy một bộ phận lớn người có công đến Trung tâm được chăm sóc về sức khỏe thể chất lẫn tinh thần Trung tâm có một đội ngũ nhân viên có hiểu biết về y tế và thực hiện tốt các công việc của công tác xã hội Thông qua đó, bài viết thể hiện vai trò của nhân viên công tác xã hội trong quá trình trợ giúp xã hội cho người có công tại Trung tâm.
Những nhu cầu và nguyện vọng cao của người có công về sự hỗ trợ đang đặt áp lực lên hệ thống trợ giúp và đội ngũ nhân viên công tác xã hội Các cán bộ xã hội hiện vẫn gặp nhiều khó khăn, khiến việc đáp ứng đầy đủ các đòi hỏi của đối tượng phục vụ chưa thể thực hiện triệt để.
Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thanh Vân (2016) với đề tài “Thực hiện chính sách ưu đãi cho người có công trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội” mô tả thực trạng thực thi các chính sách ưu đãi cho người có công tại quận Hoàn Kiếm và chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này Bài viết nhấn mạnh vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hướng dẫn, giám sát và hỗ trợ người thụ hưởng nhằm tăng tính hiệu quả và minh bạch của chính sách Từ những phân tích đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện các chính sách ưu đãi cho người có công trên địa bàn, bao gồm tăng cường đào tạo cho đội ngũ công tác xã hội, cải thiện quy trình tiếp nhận và quản lý hồ sơ, đẩy mạnh phối hợp giữa các cấp chính quyền và các tổ chức xã hội, cũng như tăng cường giám sát và công khai chi trả quyền lợi Những giải pháp này hướng tới đảm bảo quyền lợi của người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời và công bằng tại Hà Nội.
Nghiên cứu của tác giả Đậu Thị Tình (2016) về “Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong việc chăm sóc người có công với cách mạng (Nghiên cứu tại xã Quỳnh Văn – Quỳnh Lưu, Nghệ An)” Tác giả đã mô tả thực trạng về vai trò của cộng đồng trong việc chung tay chăm sóc cho người có công với cách mạng Không chỉ có sự trợ giúp, ưu đãi xã hội từ phía Nhà nước mà các nguồn lực từ cộng đồng là một trong những nguồn lực quan trọng giúp cho người có công tạo lập cuộc sống để cuộc sống của họ tốt hơn cả về đời sống tinh thần và vật chất Những nhu cầu về vật chất, tinh thần, các mối quan hệ xã hội, sự tôn trọng của xã hội đối với họ cũng đƣợc phân tích trong nghiên cứu này [16]
Ngoài ra trong các trang báo: Dân trí, Công an nhân dân, Quân đội nhân dân… cũng có một số bài viết phản ánh thực trạng cuộc sống của người có công với cách mạng Chẳng hạn bài viết “ Người bệnh binh già trong căn nhà xiêu vẹo” trên báo Dân trí (thứ tƣ ngày 12/1/2011) Bài báo này viết về cuộc sống gia đình người bệnh binh Nguyễn Anh Thập (xã Song Lộc – Can Lộc – Hà Tĩnh) vô cùng khó khăn: bản thân ông bị bệnh tật hành hạ, vợ con gặp nạn, ốm đau liên miên, nuôi con cái học hành, gia đình ông lại cưu mang hai cụ già không có con Họ phải sống trong một căn nhà xiêu vẹo đe đọa đến tính mạng bất cứ lúc nào Qua đó phản ánh thực trạng vẫn còn một số người có công với cách mạng chƣa đƣợc quan tâm, chăm sóc đúng mức, cuộc sống của họ còn chứa đựng vô vàn khó khăn, thách thức và ẩn hiện những nguy cơ
Phân tích cho thấy đã có một số nghiên cứu và bài viết về chăm sóc người có công với cách mạng Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu nghiên cứu thực trạng chăm sóc sức khỏe cho người có công tại các Trung tâm nuôi dưỡng hoặc ở cấp xã, phường Hầu như chưa có nghiên cứu sâu về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng
Khách thể nghiên cứu gồm:
- 120 nguời là Người có công với cách mạng (thương binh, bệnh binh, người nhiễm chất độc hóa học, Mẹ Việt Nam anh hùng)
- 05 Cán bộ Lao động - thương binh và xã hội thực hiện chính sách cho người có công với cách mạng (Nhân viên Công tác xã hội)
Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng là nội dung chủ đạo của bài viết, nhấn mạnh sự phối hợp liên ngành và sự nhạy bén với hoàn cảnh sống của từng người Bài viết phân tích các khía cạnh nghiệp vụ, kỹ năng tư vấn và can thiệp xã hội, đồng thời làm rõ cách liên kết với dịch vụ y tế, chăm sóc phục hồi chức năng và mạng lưới cộng đồng Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng nhu cầu chăm sóc sức khỏe, quyền lợi và các rào cản tiếp cận dịch vụ y tế của người có công với cách mạng, từ đó đề xuất các mô hình can thiệp phù hợp với bối cảnh địa phương Các phương pháp can thiệp được trình bày gồm đánh giá nhu cầu, lập kế hoạch chăm sóc cá nhân, thực hiện hỗ trợ và theo dõi kết quả, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và sức khỏe cho người được hưởng ưu đãi Dòng khuyến nghị bao gồm cải thiện chính sách, tăng cường đào tạo nghề cho nhân viên công tác xã hội, và mở rộng nguồn lực cộng đồng để đảm bảo quyền lợi chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng.
04 vai trò của nhân viên công tác xã hội là:
+ Vai trò vận động nguồn lực
05 xã của huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa: Thiệu Hợp, Thiệu Quang, Thiệu Thịnh, Thiệu Duy, Thiệu Giang
Phạm vi thời gian: Từ năm 2018 – 2020
Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
Đề tài nhằm mục đích hệ thống hóa và khái quát hóa các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận vững chắc cho đề tài Quá trình này bao gồm tổng hợp, phân tích và đánh giá các nguồn tài liệu nhằm làm rõ các khái niệm cơ bản, các quan điểm khoa học và kết quả nghiên cứu trước đó, từ đó xác định bối cảnh nghiên cứu và các khoảng trống lý thuyết Việc xây dựng cơ sở lý luận dựa trên nguồn tài liệu liên quan giúp nâng cao tính logic, tính nhất quán và tính thuyết phục của nghiên cứu, đồng thời cung cấp nền tảng tham khảo tin cậy cho các phần sau và hỗ trợ ứng dụng thực tiễn Nội dung được trình bày rõ ràng và tối ưu cho SEO với các từ khóa chủ đạo như hệ thống hóa tài liệu, khái quát hóa, cơ sở lý luận, đề tài và công trình nghiên cứu liên quan.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tham khảo đầy đủ các nguồn giáo trình và tài liệu liên quan như Nhập môn CTXH và Ưu đãi xã hội, cùng với các công trình nghiên cứu, bài viết, sách và báo cáo để xây dựng nền tảng lý thuyết và thực tiễn cho bài viết Qua phân tích, tổng hợp và khái quát, nội dung làm nổi bật vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người có công Việc trình bày kết quả dưới dạng cái nhìn tổng quan giúp định hình các yếu tố tác động và đưa ra khuyến nghị triển khai trong thực tiễn, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác xã hội và chăm sóc sức khỏe cho người có công.
Mục đích: thu thập thêm các thông tin để bổ sung cho kết quả nghiên cứu từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp tiến hành tập trung vào quan sát cơ sở vật chất, thiết bị và dụng cụ y tế trong quá trình khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe người có công, nhằm đánh giá điều kiện phục vụ và mức độ an toàn Cũng quan sát thái độ, hành vi và cử chỉ của cán bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nhân viên công tác xã hội) cùng cán bộ y tế đối với người có công với cách mạng trong các hoạt động tại địa phương Những thông tin thu được giúp nhận diện sự phù hợp giữa chuẩn mực chăm sóc và thực tế triển khai, từ đó đề xuất biện pháp cải thiện chất lượng dịch vụ Mục tiêu là bảo đảm tôn trọng, chăm sóc toàn diện và bảo vệ quyền lợi của người có công, đồng thời tăng cường hiệu quả của các hoạt động tại địa phương.
5.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích nghiên cứu là thu thập thông tin nhằm làm rõ thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng Bài viết phân tích mức độ tham gia của nhân viên công tác xã hội, nhận diện khó khăn và điều kiện thuận lợi, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng thông qua hoạt động của ngành công tác xã hội.
Cách tiến hành: xây dựng một bảng hỏi gồm 26 câu (Xem Phụ lục số
01) với 120 người có công với cách mạng đang sinh sống tại 05 xã trên địa bàn huyện Thiệu Hóa
5.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích của nghiên cứu là tìm hiểu thực trạng vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng ở địa phương Qua phỏng vấn sâu, kết quả cho thấy mức độ tham gia và phạm vi can thiệp của đội ngũ nhân viên xã hội, các hình thức hỗ trợ y tế – xã hội được triển khai, cũng như những khó khăn và thách thức trong tiếp cận dịch vụ sức khỏe của người có công Đồng thời, các dữ liệu từ phỏng vấn sâu cung cấp minh chứng cụ thể, sinh động cho các số liệu nghiên cứu định lượng và giúp làm rõ các vấn đề liên quan, từ đó hỗ trợ cải thiện chính sách và thực tiễn chăm sóc người có công tại cộng đồng.
Số lượng người phỏng vấn:
- Đại diện lãnh đạo Phòng Lao động - thương binh và xã hội huyện : 02 người
- Cán bộ Lao động - thương binh và xã hội (Nhân viên công tác xã hội):
- Đại diện lãnh đạo địa phương: 02 người
Phó chủ tịch huyện và Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện tiến hành phỏng vấn nhằm tìm hiểu việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng và đánh giá hiệu quả các hoạt động liên quan Buổi làm việc làm rõ các cơ chế, đối tượng được hưởng, mức trợ cấp và tiến độ triển khai tại địa phương, đồng thời chỉ ra những khó khăn và giải pháp để nâng cao chất lượng thực hiện chế độ Đoàn cũng đánh giá vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng, từ tư vấn đến kết nối dịch vụ y tế và hỗ trợ tâm lý Thông tin từ phỏng vấn sẽ được sử dụng để điều chỉnh kế hoạch hoạt động của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ quan liên quan, nhằm đảm bảo quyền lợi và chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc người có công tại địa phương.
Trong khuôn khổ hoạt động của Cán bộ LĐ - TB&XH, phỏng vấn sâu được thực hiện nhằm làm rõ vai trò của cán bộ chính sách trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng Bài viết tập trung vào cách cán bộ chính sách phối hợp với ngành y tế và các dịch vụ xã hội để đảm bảo quyền lợi sức khỏe cho người có công, đánh giá hiệu quả các chế độ đã ban hành và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe Thông qua phỏng vấn sâu, nội dung làm rõ các thách thức, nhu cầu thiết yếu và cơ hội cải thiện quy trình chăm sóc sức khỏe cho người có công, từ đó tăng cường sự liên kết giữa người có công, gia đình và hệ thống chăm sóc sức khỏe công cộng Nội dung này có giá trị tham khảo cho độc giả quan tâm đến chính sách người có công và hoạt động của cán bộ LĐ-TB&XH nhằm nâng cao đời sống và sức khỏe của người có công với cách mạng.
- Người có công: Phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu người có công đang được hưởng chính sách chăm sóc sức khỏe
5.5 Phương pháp thống kê toán học
Trong quá trình nghiên cứu, việc áp dụng phương pháp thống kê toán học nhằm xử lý, phân tích và tổng hợp các số liệu thu được đóng vai trò then chốt để đảm bảo tính khách quan và tin cậy của kết quả Nhờ công cụ thống kê, dữ liệu được định lượng một cách chặt chẽ, từ đó đánh giá kết quả thu được ở khía cạnh định lượng, xác định xu hướng, mối quan hệ giữa các biến và mức độ tác động của các yếu tố Điều này giúp rút ra các kết luận dựa trên bằng chứng thực nghiệm và nâng cao chất lượng báo cáo nghiên cứu.
Luận văn có sử dụng phần mềm Excel để xử lý các bảng và biểu đồ.
Những đóng góp mới của luận văn
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm phong phú lý luận về công tác xã hội và vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người có công; đồng thời làm rõ khái niệm CTXH, vai trò của nhân viên CTXH và một số yếu tố ảnh hưởng đến vai trò này trong quá trình chăm sóc sức khỏe người có công Bài viết sẽ liên hệ giữa lý luận CTXH và thực tiễn công tác chăm sóc sức khỏe, từ đó đề xuất các định hướng và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ sức khỏe cho người có công thông qua hoạt động của nhân viên CTXH.
Thông qua nghiên cứu vai trò của nhân viên CTXH trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người có công trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, bài viết đánh giá thực trạng vai trò của nhân viên CTXH trong chăm sóc sức khỏe người có công và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của họ, tăng cường phối hợp với tuyến y tế và cộng đồng, nâng cao năng lực chuyên môn cho nhân viên CTXH, mở rộng mạng lưới hỗ trợ và cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người có công.
Thông qua đề tài nghiên cứu để thấy đƣợc tầm quan trọng của nhân viên CTXH trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người có công
Đây là tài liệu tham khảo dành cho các tổ chức và cá nhân nghiên cứu về vai trò của nhân viên CTXH trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe NCC Văn bản làm rõ cách công tác xã hội đóng vai trò kết nối giữa bệnh viện, cộng đồng và gia đình, từ đánh giá nhu cầu, xây dựng kế hoạch chăm sóc đến tư vấn tâm lý và giới thiệu các nguồn lực xã hội Nội dung nhấn mạnh sự phối hợp giữa nhân viên CTXH và đội ngũ y tế nhằm tối ưu hóa chất lượng phục vụ và tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho NCC Tài liệu có tính hệ thống và có thể được dùng làm cơ sở tham khảo cho nghiên cứu, xây dựng chính sách và phát triển thực hành công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe NCC.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 nêu rõ cơ sở lý luận về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng, làm nổi bật sự liên hệ giữa y tế và xã hội trong chăm sóc người có công Theo các nguyên lý cơ bản, nhân viên công tác xã hội đóng vai trò là cầu nối giữa hệ thống chăm sóc sức khỏe và nhu cầu thể chất, tâm lý và xã hội của người có công với cách mạng, giúp họ tiếp cận dịch vụ y tế một cách công bằng và toàn diện Họ tham gia đánh giá tình trạng sức khỏe, tư vấn tâm lý, lên kế hoạch chăm sóc dài hạn và phối hợp với gia đình, cộng đồng và cơ sở y tế để đảm bảo chăm sóc sức khỏe toàn diện, liên tục và bền vững Cơ sở lý luận cũng nhấn mạnh quyền và phẩm giá của người có công với cách mạng, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của họ vào quá trình phục hồi chức năng, tái hòa nhập xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Chương 2 của bài viết xem xét thực trạng vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Bài viết phân tích các hoạt động chính của đội ngũ này, gồm tư vấn tâm lý, chăm sóc sức khỏe định kỳ, quản lý hồ sơ người có công, kết nối và huy động nguồn lực y tế, phục hồi chức năng và hỗ trợ tham gia chăm sóc tại gia đình và cộng đồng Đồng thời, chương đánh giá mức độ phối hợp giữa nhân viên công tác xã hội với cơ sở y tế, cơ quan chính quyền địa phương và gia đình người có công để đảm bảo quyền lợi và chất lượng chăm sóc Những thách thức được nêu ra như hạn chế nguồn lực, thiếu đào tạo chuyên sâu và thiếu sự hợp tác liên ngành; từ đó đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của nhân viên công tác xã hội, tăng cường năng lực chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng tại huyện Thiệu Hóa và tỉnh Thanh Hóa.
Chương 3 đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, tập trung vào tăng cường đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn cho CTXH, củng cố mạng lưới liên ngành giữa y tế, phúc lợi xã hội và cộng đồng, cũng như huy động nguồn lực xã hội để chăm sóc sức khỏe thiết thực và bền vững cho người có công Các khuyến nghị chính sách nhằm xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa bệnh viện, trung tâm y tế và UBND cấp huyện, triển khai chương trình chăm sóc sức khỏe định kỳ tại cộng đồng và tại nhà cho người có công, đồng thời áp dụng công nghệ thông tin để quản lý hồ sơ sức khỏe và theo dõi tình trạng sức khỏe Đồng thời cần đánh giá hiệu quả và đo lường tác động bằng các bộ tiêu chí rõ ràng, đề xuất cơ chế tài chính và nguồn lực bảo đảm duy trì hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người có công tại Thiệu Hóa trong dài hạn.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng
Theo quan điểm của Feyerico (1973), nhân viên công tác xã hội đảm nhận 13 vai trò khác nhau nhằm hỗ trợ và thúc đẩy phát triển cộng đồng: vận động nguồn lực và kết nối mạng lưới; biện hộ cho quyền lợi của đối tượng; tuyên truyền và vận động xã hội; tạo sự thay đổi và tham gia tích cực vào hoạt động xã hội; tư vấn và tham vấn cho cá nhân và tập thể; trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng; chăm sóc và trợ giúp; xử lý dữ liệu và quản lý hành chính; đồng thời tìm hiểu, khám phá cộng đồng để nắm bắt nhu cầu, tiềm năng và đề xuất giải pháp phù hợp.
Khi nhân viên công tác xã hội ở các vị trí khác nhau, vai trò của họ được xác định bởi chức năng và nhóm đối tượng mà họ phục vụ; ở vị trí người hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng, họ đảm nhận bốn vai trò chính nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo đảm quyền lợi và sự tham gia của người được chăm sóc, đồng thời kết nối với các nguồn lực xã hội và phối hợp liên ngành.
Người môi giới cộng đồng đóng vai trò là cầu nối giữa khách hàng—gồm cá nhân, nhóm, tổ chức và cộng đồng—với các dịch vụ và nguồn lực của cộng đồng Họ kết nối các phần khác nhau của cộng đồng, thiết lập các mối quan hệ phối hợp và tạo ra lợi ích lẫn nhau cho các bên tham gia Theo Barker (1995), mục tiêu của người môi giới là liên kết hiệu quả các thành phần của cộng đồng để tối ưu hóa nguồn lực và thúc đẩy sự hợp tác mang lại giá trị chung cho tất cả thành phần.
Trong hệ thống vi mô và trung mô, nhân viên công tác xã hội cần quen thuộc với các dịch vụ cộng đồng, có hiểu biết tổng quát về yêu cầu của khách hàng và sự phù hợp của các can thiệp, đồng thời thể hiện nhạy cảm với những nhu cầu của khách hàng nhằm đáp ứng hiệu quả trong công tác xã hội (Zastrow và Ashman, 1997).
Nhân viên công tác xã hội nắm bắt thông tin về các chính sách, dịch vụ và nguồn lực sẵn có từ cá nhân, cơ quan, tổ chức để giới thiệu và kết nối đối tượng với những nguồn lực phù hợp Việc tiếp cận các nguồn lực này giúp người được hỗ trợ có thêm nguồn tài chính và các hỗ trợ cần thiết để giải quyết các vấn đề đang gặp phải, từ đó tăng cường khả năng tự lực và giảm thiểu rủi ro Nhờ hệ thống thông tin về chính sách, dịch vụ và nguồn lực, nhân viên công tác xã hội có thể tư vấn, phối hợp và giới thiệu đối tượng đến các chương trình, quỹ và dịch vụ phù hợp, đảm bảo sự trợ giúp đầy đủ và kịp thời Vai trò của nhân viên công tác xã hội là cầu nối giữa người dân và các chính sách, dịch vụ, nguồn lực công–tư có sẵn, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.
Trong đời sống hàng ngày, người có công gắn với nhiều hệ thống xã hội như cơ quan, tổ chức đoàn thể và các cá nhân liên quan; để giúp họ vượt qua ốm đau, bệnh tật, nhân viên công tác xã hội kết nối họ với cán bộ y tế và nhân viên chăm sóc sức khỏe, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe Với kiến thức và kỹ năng của mình, họ can thiệp để người có công và đội ngũ y tế hiểu và gắn kết gần nhau hơn, từ đó tăng hiệu quả hỗ trợ và chăm sóc Để giải quyết các vấn đề của đối tượng yếu thế, nhân viên xã hội cần nắm rõ các thông tin về chính sách, dịch vụ, chủ trương của Đảng và Nhà nước và các chương trình của các tổ chức, cá nhân bên ngoài; thiếu thông tin sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của họ và làm cho khó khăn phát sinh nhiều hơn Vì vậy, nhân viên xã hội đóng vai trò như một cầu nối truyền tải thông tin và giới thiệu đối tượng đến các tổ chức, cá nhân triển khai các chương trình, giúp các chính sách được thực thi đúng người, đúng thời điểm và nắm bắt đầy đủ thông tin về đối tượng.
Cán bộ chính sách (nhân viên công tác xã hội) trực tiếp thi hành và thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công Để chăm sóc người có công đạt hiệu quả cao, ngoài việc thực hiện đầy đủ và đúng các chính sách, họ cần kết nối người có công với các cơ quan, ban ngành, tổ chức, đoàn thể xã hội và cộng đồng để tổ chức thêm các hoạt động trợ giúp, hỗ trợ và chăm sóc sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế và tâm lý tại địa phương Việc này không chỉ giúp cải thiện đời sống người có công mà còn thể hiện tinh thần và trách nhiệm của địa phương đối với người có công, góp phần nâng cao công tác an sinh xã hội ở cộng đồng.
Đầu tiên, kết nối người có công với gia đình khi họ chưa nhận được sự quan tâm và chăm sóc đầy đủ từ người thân Nhân viên công tác xã hội (CTXH) đóng vai trò cầu nối, giúp gia đình hiểu rõ vai trò của mình đối với người có công Hơn hết, các thành viên gia đình cần luôn ở bên để chăm sóc, động viên, an ủi và chi trả tài chính cho việc chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi, trở thành chỗ dựa tinh thần và nguồn lực vật chất quan trọng khi người có công ốm đau.
Việc kết nối người có công với gia đình là sự kết nối thiết essential, giúp người có công nhận được sự quan tâm, yêu thương và tôn trọng từ người thân, từ đó có động lực và cố gắng hơn trong cuộc sống Mối gắn kết này không chỉ mang lại sự an tâm trong quá trình điều trị bệnh mà còn tạo niềm tin để họ chiến đấu với bệnh tật và tin vào một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.
Tiếp theo là kết nối người có công với cán bộ và nhân viên y tế nhằm đảm bảo chăm sóc sức khỏe toàn diện Với kiến thức và kỹ năng được trang bị, các nhân viên y tế không chỉ thực hiện các hoạt động chăm sóc mà còn tư vấn, theo dõi và hỗ trợ người có công trong quá trình điều trị, phục hồi chức năng và tự chăm sóc tại nhà Sự liên kết chặt chẽ giữa người có công và hệ thống y tế giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm gánh nặng và tăng sự tin tưởng của người được chăm sóc cũng như gia đình họ.
CTXH sẽ can thiệp và tác động để người có công và cán bộ, nhân viên y tế hiểu nhau và gần gũi hơn Nhân viên CTXH giúp cán bộ, nhân viên y tế hiểu rõ hoàn cảnh sống, điều kiện kinh tế - xã hội, các tâm tư nguyện vọng và đặc điểm tâm lý của người có công, từ đó nâng cao sự đồng cảm và hợp tác trong quá trình chăm sóc Đồng thời, CTXH hỗ trợ người có công hiểu và tuân thủ đúng cách sử dụng thuốc, thời gian uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ, qua đó cải thiện kết quả điều trị và chất lượng chăm sóc sức khỏe.
Cuối cùng là kết nối người có công với các cơ quan, tổ chức đoàn thể và cộng đồng Thông qua kết nối này, nhân viên CTXH sẽ giúp người có công và gia đình người có công hiểu rõ các chế độ, chính sách, quy định và thủ tục liên quan đến chăm sóc sức khỏe tại các cơ quan, tổ chức để từ đó họ có thể tìm đến các cơ quan, tổ chức khi cần thiết Đồng thời, sự kết nối này còn giúp cho các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, trong đó có Hội Cựu chiến binh, Hội Thanh niên xung phong, và cộng đồng, có sự quan tâm, động viên và chia sẻ về vật chất và tinh thần với người có công và gia đình người có công khi ốm đau, bệnh tật.
Qua sự kết nối này, nhân viên công tác xã hội sẽ giúp người có công và gia đình người có công nắm bắt đầy đủ các chế độ, chính sách và thủ tục liên quan đến chăm sóc sức khỏe; từ đó, các cơ quan, tổ chức đoàn thể sẽ có sự quan tâm, chia sẻ và động viên về vật chất và tinh thần, tăng cường sự đoàn kết và gắn bó trong tổ chức và cộng đồng khi gặp khó khăn Hoạt động này góp phần củng cố và phát huy truyền thống tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách mà dân tộc ta đã gìn giữ qua nhiều thế hệ.
NVXH có vai trò tiến hành và phối hợp với các ngành, các cấp và các đoàn thể trong việc xây dựng và phát triển các hình thức trợ giúp xã hội; hướng dẫn và tổ chức các phong trào 'Đền ơn đáp nghĩa', quản lý và sử dụng quỹ 'Đền ơn đáp nghĩa' tại các cơ sở cộng đồng dân cư theo đúng quy định chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước Đối với triển khai thực hiện chính sách, NVXH còn đóng vai trò kết nối các ban, ngành và tổ chức đoàn thể từ cấp trung ương tới cơ sở, nhằm làm cho chính sách về thương binh và xã hội đi vào cuộc sống và thể hiện sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống chính trị của Đảng và Nhà nước ta.
Để triển khai hiệu quả chính sách dành cho người có công với cách mạng và bảo đảm không lệch khỏi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, vai trò của nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) rất quan trọng Họ không chỉ là người truyền tải và triển khai chính sách vào thực tế mà còn là cầu nối kết nối mọi nguồn lực giữa các cấp, ngành và cộng đồng, đảm bảo sự hỗ trợ được phân bổ và thực thi kịp thời NVCTXH thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với người có công với cách mạng bằng cách tăng cường hiệu quả chăm lo, chăm sóc và phục hồi, đồng thời góp phần đảm bảo công bằng và bền vững trong công tác này.
Từ đó, có thể thấy kết nối là điều kiện, là cơ sở để thực hiện vai trò vận động nguồn lực
1.2.2 Vai tr vận động nguồn lực
Một số yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng
1.3.1 Y u tố thuộc về đội ng nhân viên công tác xã hội
Yếu tố thuộc về đặc điểm nhân viên công tác xã hội có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cho người có công vì họ là những người làm việc trực tiếp với người có công, kết nối các nguồn lực chăm sóc sức khỏe cho người có công Trình độ chuyên môn và kỹ năng cơ bản của nhân viên công tác xã hội những yếu tố chủ quan có ảnh hưởng nhiều nhất đến hiệu quả của việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người có công
* Kiến thức và trình độ chuyên môn:
Nhân viên công tác xã hội phải có cái nhìn tổng quan và sự hiểu biết về người có công và nắm được các vấn đề họ đang gặp khó khăn để được hỗ trợ
Nhân viên công tác xã hội đòi hỏi được đào tạo bài bản về cả kiến thức cơ bản lẫn nâng cao của ngành, có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ sâu rộng, đồng thời hiểu biết sâu rộng không chỉ về nghề mà còn về pháp luật, chế độ chính sách, và môi trường xã hội; họ còn thừa hưởng truyền thống tương thân tương ái, uống nước nhớ nguồn để biết cách vận dụng kiến thức vào việc giúp đỡ, hỗ trợ đối tượng và thích ứng với từng hoàn cảnh cụ thể Nhờ sự hiểu biết rộng ấy, họ có thể gần gũi và liên kết chặt chẽ với các bên liên quan như đội ngũ y tế, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, nhằm hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của đối tượng và phối hợp thực hiện các hoạt động hỗ trợ một cách hiệu quả Đặc biệt với vai trò chăm lo người có công với cách mạng, nhân viên công tác xã hội cần nắm vững cơ sở chuyên môn và có phông kiến thức phổ rộng về chính sách xã hội, tâm lý học, hiểu biết văn hóa, phong tục, tập quán và tôn giáo; đồng thời được học tập, tập huấn và nâng cao nhận thức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn nghề nghiệp theo quy định của pháp luật.
* Về kỹ năng nhân viên công tác xã hội:
Lắng nghe trong công tác xã hội là quá trình lắng nghe tích cực, đòi hỏi người cán bộ xã hội phải biết quan sát hành vi của đối tượng một cách tinh tế, tập trung chú ý cao độ, tôn trọng và chấp nhận đối tượng cùng vấn đề của họ, đồng thời giúp họ nhận biết mình đang được quan tâm và chia sẻ Kỹ năng lắng nghe được thể hiện ở khả năng tập trung cao độ vào những gì đối tượng trình bày và được thể hiện qua hành vi, cử chỉ Nghe không chỉ bằng tai mà còn bằng mắt và bằng tâm của người làm công tác xã hội.
Quan sát là quá trình chú ý đến đặc điểm của người, vật hoặc tình huống trong bối cảnh công tác xã hội, nhằm thu thập dữ kiện có thể hiểu được để nắm bắt đối tượng và hoàn cảnh của họ Trong hoạt động nghề nghiệp, thông tin từ lời nói chỉ là một phần; cả những cử chỉ không lời của đối tượng cũng có thể tiết lộ manh mối quan trọng về nội dung mà họ truyền tải Để quan sát được thực hiện tốt, cán bộ xã hội cần có khả năng nhận thức tinh tế về các vấn đề của đối tượng, biết quan sát từ tổng thể đến chi tiết: hành vi và diện mạo bên ngoài, đến những đặc điểm tâm lý và đặc biệt là các sắc thái tình cảm nảy sinh giữa đối tượng với người khác và với chính cán bộ xã hội.
Kỹ năng giao tiếp là năng lực vận dụng hiệu quả kiến thức và hiểu biết về quá trình giao tiếp, các yếu tố tham gia và ảnh hưởng đến quá trình này để diễn đạt ý tưởng một cách rõ ràng và thuyết phục Đồng thời, kỹ năng này đòi hỏi sử dụng hiệu quả các phương tiện giao tiếp, phối hợp hài hòa toàn bộ hành vi, ứng xử và cử chỉ nhằm đạt được mục tiêu của hoạt động giao tiếp.
Để trở thành một cán bộ xã hội chuyên nghiệp, người đó phải có kỹ năng giao tiếp tốt được thể hiện qua nhận thức đúng đắn vấn đề cần trao đổi, giao tiếp có kế hoạch và nhằm đạt được mục tiêu cụ thể cho từng cuộc gặp Kỹ năng này đòi hỏi khả năng thiết lập mối quan hệ, lắng nghe tích cực, phản hồi cả cảm xúc lẫn nội dung của đối tượng giao tiếp và biết cách thu thập, xử lý thông tin thông qua đặt câu hỏi Những yếu tố này giúp tối ưu hóa quá trình trao đổi, nâng cao hiệu quả hỗ trợ xã hội và đạt được kết quả mong đợi trong công tác xã hội.
Tham vấn là quá trình cán bộ xã hội sử dụng kiến thức và kỹ năng chuyên môn nhằm giúp đối tượng giải quyết vấn đề hoặc tăng cường khả năng tự giải quyết, từ đó nâng cao chức năng xã hội của họ Quá trình tham vấn nhắm vào nhận diện vấn đề, xác định mục tiêu và xây dựng các kỹ năng cần thiết để người được tham vấn chủ động xử lý tình huống và tự giải quyết Qua đó, tham vấn thúc đẩy sự độc lập, tăng cường năng lực tự chăm sóc bản thân và khả năng tham gia có ý nghĩa vào cộng đồng.
Kỹ năng này được thiết kế để giúp đối tượng nhận diện cảm xúc, suy nghĩ và hoàn cảnh của chính mình, từ đó hiểu và định vị vấn đề cũng như khám phá các nguồn lực sẵn có để giải quyết, nâng cao khả năng đối phó với thử thách trong đời sống Để thực hiện hiệu quả, cán bộ xã hội cần phối hợp và vận dụng linh hoạt các kỹ năng cốt lõi như lắng nghe chủ động, đặt câu hỏi mở, thấu hiểu cả nội dung lẫn cảm xúc và phản hồi để xác nhận sự hiểu biết và định hướng hành động Quá trình này giúp người được hỗ trợ nhận thức rõ mục tiêu và giải pháp đồng thời khai thác tiềm năng từ nguồn lực xã hội, gia đình và cộng đồng, từ đó tăng cường sự tự chủ và khả năng thích ứng với hoàn cảnh.
Trong quá trình thực hiện kỹ năng ghi chép, ghi nhận đầy đủ mọi diễn biến và chi tiết xảy ra là nhiệm vụ bắt buộc mà cán bộ xã hội cần thực hiện Việc tài liệu hóa toàn bộ quá trình trợ giúp giúp đối tượng giải quyết các vấn đề khó khăn một cách hiệu quả và cung cấp căn cứ cho đánh giá tiến triển, điều chỉnh kế hoạch can thiệp khi cần Nhờ ghi chép chính xác và liên tục, cán bộ xã hội chuyên nghiệp có thể nắm bắt tình huống, theo dõi sự tiến bộ và đảm bảo tính minh bạch, nhất quán trong quá trình hỗ trợ đối tượng.
Mục đích của việc ghi chép là để làm cơ sở đánh giá kết quả của sự tương tác giữa cán bộ xã hội và đối tượng, cũng như ghi nhận sự thay đổi và tiến bộ của đối tượng trong quá trình giúp đỡ Qua đó, cán bộ xã hội nhận thức được trình độ chuyên môn, kỹ năng của mình và có căn cứ thực tế để điều chỉnh quá trình hỗ trợ Kết quả ghi chép còn là căn cứ cho các cơ quan xã hội ra quyết định về các dịch vụ liên quan Để thực hành kỹ năng này hiệu quả, cán bộ xã hội cần có trình độ chuyên môn cao, hiểu biết về cá nhân và có kỹ năng giao tiếp tốt.
Các kỹ năng nghề nghiệp trong hoạt động của cán bộ xã hội không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ lẫn nhau; cán bộ xã hội phải biết kết hợp các kỹ năng một cách linh hoạt và thuần thục để đạt hiệu quả công việc cao nhất, từ đó nâng cao chất lượng tham vấn, can thiệp và phục vụ cộng đồng.
Những nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp làm việc một cách bài bản và thông suốt theo một tiến trình rõ ràng với các bước hoạt động được xác định cụ thể nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Họ thiết kế kế hoạch can thiệp dựa trên nhu cầu thực tế của từng đối tượng và cộng đồng, đồng thời theo dõi và đánh giá tiến độ ở mỗi giai đoạn để đảm bảo hiệu quả và tính bền vững Nhờ sự tổ chức của quy trình làm việc và sự liên kết giữa các bước từ khảo sát, can thiệp đến đánh giá kết quả, các hoạt động xã hội được triển khai một cách có hệ thống, mang lại tác động tích cực cho người dân và xã hội.
* Về phẩm chất đạo đức: Các phẩm chất của nhân viên công tác xã hội đƣợc quy định tại Thông tƣ 01/2017/TTBLĐTBXH (Xem Phụ lục 06)
Các tiêu chuẩn đạo đức chung của nhân viên công tác xã hội dựa trên Quy tắc Đạo đức Quốc tế dành cho nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp do IFSW ban hành năm 1976 Quy tắc này thiết lập nền tảng cho các chuẩn mực đạo đức toàn cầu và được IFSW công bố dưới dạng năm hạng mục tiêu chuẩn Đạo đức Quốc tế, phản ánh các khía cạnh như chuyên môn, tôn trọng quyền lợi của khách hàng, công bằng xã hội và sự trung thực trong nghề.
- Các tiêu chuẩn chung về ứng xử đạo đức
- Các tiêu chuẩn công tác xã hội ứng xử với thân chủ
- Các tiêu chuẩn công tác xã hội ứng xử tại các cơ quan và các tổ chức
- Các tiêu chuẩn công tác xã hội ứng xử với các đồng nghiệp
- Các tiêu chuẩn ứng xử nghề nghiệp
NVCTXH cần phải có nhiều trải nghiệm thực tế, kinh nghiệm trong hoạt động trợ giúp người có công
Có trách nhiệm trong công việc Có khả năng tham vấn ý kiến đồng nghiệp và đối tƣợng
Có khả năng tạo lập mối quan hệ trong xã hội, uy tín
1.3.2 Y u tố thuộc về chính quyền, lãnh đạo, cá nhân, tổ chức, cơ quan, đoàn thể
Việc chính quyền địa phương hiểu đúng và đầy đủ về vai trò của nhân viên công tác xã hội sẽ ảnh hưởng rất lớn tới công tác chăm sóc sức khỏe người có công tại địa phương Khi nhận thức rõ vai trò và phạm vi can thiệp của nhân viên công tác xã hội, chính quyền có thể đẩy mạnh sự phối hợp giữa y tế, xã hội và cộng đồng để đáp ứng nhu cầu sức khỏe và lợi ích của người có công Sự đồng bộ này nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe, bảo đảm quyền lợi và hỗ trợ toàn diện cho người có công, đồng thời tăng cường hiệu quả các chương trình an sinh tại địa phương.
THỰC TRẠNG VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HÓA
Một số yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
trong việc chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
2.3.1 Y u tố thuộc về nhân viên công tác xã hội
Để hoàn thành tốt công việc, nhiệm vụ và vai trò được giao, một yếu tố then chốt là mỗi cán bộ chính sách phải nắm rõ vai trò, chức trách và nhiệm vụ của mình Việc hiểu rõ những trách nhiệm này không chỉ tăng cường hiệu quả công việc mà còn cải thiện sự phối hợp giữa các phòng ban và đóng góp vào mục tiêu chung của tổ chức Vì vậy, nhận thức rõ về chức trách là nền tảng để cán bộ chính sách làm việc hiệu quả và đáp ứng yêu cầu công việc.
Đề án 32 đã thúc đẩy nhận thức và hiểu biết về nghề CTXH tiến triển mạnh mẽ, đặc biệt ở đội ngũ cán bộ cốt cán của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội Các hội, đoàn thể và tổ chức liên quan cũng đã có nhiều hiểu biết về CTXH, tạo nền tảng cho sự phát triển nghề CTXH và nâng cao hiệu quả các hoạt động xã hội.
Trình độ chuyên môn và năng lực của cán bộ công tác xã hội (CTXH) có tác động trực tiếp đến hiệu quả của công tác hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người có công Khi CTXH được đào tạo chuyên nghiệp, có kỹ năng hành nghề, tinh thần trách nhiệm cao và sự đồng cảm sâu sắc với đối tượng yếu thế, họ sẽ đảm nhận và thực hiện tốt các vai trò của mình ở nhiều cấp độ, từ đó có ảnh hưởng tích cực và đạt kết quả cao trong công việc Ngược lại, nếu thiếu đào tạo chuyên môn, thiếu kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, đồng thời không nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý của đối tượng, chất lượng và hiệu quả hỗ trợ sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực, dẫn đến kết quả kém.
Cán bộ chính sách được đào tạo chính quy, có nền tảng kiến thức bài bản để làm việc hiệu quả trong các lĩnh vực liên quan Khi công việc được giao phù hợp với lĩnh vực đào tạo, họ gặp nhiều thuận lợi và có thể phát huy tối đa năng lực của mình Nhờ nắm vững kiến thức cơ bản và nâng cao, cùng với kinh nghiệm tích lũy qua thực tiễn, họ xử lý tốt các nhiệm vụ mà lãnh đạo giao phó và đóng góp tích cực vào tổ chức.
Cán bộ chính sách trong ngành Lao động - Thương binh và Xã hội chủ động tham mưu và triển khai các chính sách ưu đãi cho người có công, đảm bảo đúng, đủ và kịp thời Để các chính sách chăm sóc sức khỏe người có công được thực hiện sát với nhu cầu thực tế và đến đúng tay người hưởng lợi cùng gia đình họ, cán bộ trực tiếp thực hiện chính sách đóng vai trò then chốt Lực lượng làm công tác này cần nhiệt huyết, trình độ chuyên môn vững vàng và kỹ năng nghiệp vụ cao để chuyển các chính sách từ lý thuyết vào thực tiễn hiệu quả.
Qua các buổi tập huấn và đào tạo chuyên môn về mảng chính sách, cán bộ chính sách ở huyện Thiệu Hóa được bố trí công tác liên quan đến người có công, tạo thuận lợi cho công tác hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người có công trên địa bàn Ông Lê Hữu H cho biết trong 9 năm qua xã Thiệu Thịnh thiếu cán bộ được đào tạo đúng chuyên môn về lĩnh vực này nên nhiều năm nay xã phải phân công cán bộ tốt nghiệp ngành Quản lý Văn hóa làm việc tại Ban Văn hóa – Chính sách để đảm nhiệm cả mảng người có công Hầu hết các xã trong huyện cũng thiếu cán bộ văn hóa chính sách như vậy và đành phải chấp nhận tình trạng này vì chưa tuyển được đúng chuyên môn.
Việc cán bộ thực hiện chính sách được đào tạo đúng trình độ chuyên môn sẽ tác động lớn đến việc triển khai và thực hiện các chính sách chăm sóc người có công, đặc biệt ở vai trò tham mưu và tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe người có công tại địa phương Nếu được đào tạo đúng chuyên môn, cán bộ thực hiện chính sách tại địa phương sẽ trở thành nhân viên công tác xã hội, từ đó có trình độ chuyên môn và đảm nhiệm đúng các vai trò của một nhân viên công tác xã hội trong việc thực hiện chính sách nói chung và các hoạt động công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe nói riêng.
Ở địa phương, việc triển khai và thực hiện các chính sách ưu đãi, chăm sóc người có công hiện nay phụ thuộc vào kiến thức và kỹ năng mà đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách tích lũy qua quá trình làm việc và tham gia các lớp tập huấn do Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức Bên cạnh đó, tinh thần nhiệt huyết với nghề, sự nhiệt tình và lòng biết ơn đối với người có công với cách mạng là động lực để nâng cao hiệu quả chăm sóc, giải quyết chế độ và thực thi các chương trình ưu đãi dành cho người có công.
Chị Đỗ Thị T, cán bộ thực hiện chính sách xã Thiệu Hợp, cho biết nhìn vào bề ngoài, cán bộ chính sách xã có thể thấy nhàn, nhưng thực tế công việc rất đa dạng và chịu trách nhiệm thực hiện chính sách với người có công, đồng thời phụ trách các hoạt động giảm nghèo, bảo trợ xã hội cho trẻ em, người khuyết tật và người cao tuổi, cũng như cấp bảo hiểm y tế cho toàn dân trong xã Vì vậy, nhiều lần người dân đến hỏi về thẻ bảo hiểm y tế hoặc các chế độ hưởng bảo hiểm, nhưng chúng tôi chưa thể giải đáp ngay lập tức mà phải làm rõ, giải thích kỹ càng để người dân hiểu rõ hơn.
Thái độ của cán bộ chính sách khi làm việc với người có công nhìn chung thể hiện sự quan tâm, nhiệt tình và chu đáo Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp người có công phải chờ đợi kéo dài, dẫn đến sự không hài lòng về thái độ và chất lượng phục vụ của cán bộ thực hiện chính sách.
2.3.2 Y u tố thuộc về chính sách và pháp luật
Thực chất của nghề công tác xã hội (CTXH) là cung cấp dịch vụ cho người dân; nhân viên CTXH là người phục vụ chứ không phải người chủ, đối tượng được chăm sóc là những người có hoàn cảnh đặc biệt, cần chăm sóc sức khỏe và được bảo vệ, che chở Vì vậy ngoài kiến thức chuyên môn, nhân viên CTXH cần được đào tạo bài bản về kỹ năng xã hội và đạo đức nghề nghiệp Ở Việt Nam, nghề CTXH mới ở bước đầu hình thành, chưa phát triển đầy đủ trên mọi khía cạnh; thực tế cho thấy phần lớn nhân viên CTXH chưa được đào tạo bài bản, phát triển chủ yếu tự phát từ các tổ chức đoàn thể hoặc người dân tự nguyện, làm việc chủ yếu dựa trên kinh nghiệm và thiếu các kỹ năng nghề thiết yếu, khiến hiệu quả giải quyết các vấn đề xã hội và tính bền vững chưa cao Ở 5 xã nơi nghiên cứu, chỉ có cán bộ chính sách tham gia công tác xã hội, còn thiếu nhân viên CTXH chuyên nghiệp; cán bộ này đã được đào tạo về công tác xã hội và có kinh nghiệm, nhưng vẫn chưa đủ để thay thế một lực lượng CTXH chuyên nghiệp Để phát triển CTXH thành một nghề ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định cấp kinh phí 2.347,4 tỉ đồng để thực hiện Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020 (Quyết định 32/2010/QĐ-TTg), còn gọi là Đề án 32.
Xây dựng và ban hành hệ thống văn bản pháp luật về phát triển nghề CTXH:
Thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg, Bộ Lao động- TBXH đã hướng dẫn các Bộ, ngành và địa phương triển khai Đề án 32; phê duyệt Kế hoạch thực hiện Đề án giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2016-2020 Đồng thời chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng, trình ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định chức danh, mã số, tiêu chuẩn các chức danh nghề nghiệp viên chức CTXH; tiêu chuẩn cộng tác viên CTXH cấp xã; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm CTXH; chế độ tiền lương đối với đội ngũ viên chức công tác xã hội Tính đến nay đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật và văn bản chỉ đạo liên quan đến Đề án 32 được ban hành và triển khai trên phạm vi toàn quốc.
04 Nghị định; 4 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 06 Thông tư Liên tịch;
04 Thông tƣ đƣợc ban hành nhằm thúc đẩy, phát triển nghề CTXH
Bộ Lao động- TBXH và các cơ quan của Quốc hội, Bộ, ngành đã hoàn thành nghiên cứu, rà soát và báo cáo làm rõ vai trò, nhiệm vụ của cán bộ, viên chức và cộng tác viên CTXH, từ đó đề xuất sửa đổi, bổ sung một số Luật, Bộ luật liên quan nhằm phát triển nghề CTXH tại Việt Nam Cụ thể, đề xuất sửa đổi hoặc bổ sung các Luật Lao động, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và Luật Bình đẳng giới Các Bộ, ngành liên quan cũng đã chủ động xây dựng, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về CTXH, tạo tiền đề pháp lý quan trọng để hệ thống hóa và từng bước phát triển nghề CTXH chuyên nghiệp tại Việt Nam. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Hệ thống tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân viên CTXH làm việc trong lĩnh vực công tác xã hội ngày càng đƣợc mở rộng
Trong quá trình phát triển, cơ chế chính sách vẫn chưa đồng bộ và chi tiết, dẫn đến chồng chéo về chức năng và nhiệm vụ giữa nhân viên công tác xã hội và cán bộ chính sách xã hội ở các cấp Điều này khiến chính quyền và cán bộ chính sách gặp khó khăn trong việc thực thi đúng vai trò của một nhân viên công tác xã hội.
Trao đổi về vấn đề này, ông Lê Xuân Đ., Phó chủ tịch UBND huyện, cho biết việc đánh giá vai trò của nhân viên công tác xã hội gặp khó khăn đối với lãnh đạo địa phương và người thụ hưởng chính sách vì hiện chưa có căn cứ pháp lý để đánh giá cụ thể vai trò của họ; thay vào đó, hệ thống chỉ đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ hàng năm của cán bộ công chức Vì vậy, việc đo lường đóng góp của nhân viên công tác xã hội vẫn chưa được làm rõ, gây khó khăn trong quản lý và thực thi các chính sách xã hội ở địa phương.