Bệnh tiểu đường (đái tháo đường là gì)? Bệnh tiểu đường (đái tháo đường) là một bệnh rối loạn chuyển hóa, được đánh giá qua chỉ số đường huyết tăng cao Có nhiều nguyên nhân gây bệnh nhưng cơ chế sinh.
Trang 1Bệnh tiểu đường (đái tháo đường là gì)?
Bệnh tiểu đường (đái tháo đường) là một bệnh rối loạn chuyển hóa, được đánh giá qua chỉ
số đường huyết tăng cao Có nhiều nguyên nhân gây bệnh nhưng cơ chế sinh bệnh chính
là do thiếu hụt lượng insulin trong cơ thể hoặc do giảm tính nhạy cảm của insulin (mà ta hay gọi là kháng insulin)
Dấu hiệu cảnh báo bệnh tiểu đường
Hầu hết các triệu chứng ban đầu của bệnh đái tháo đường là mức glucose trong máu cao hơn bình thường Các dấu hiệu cảnh báo bệnh tiểu đường có thể từ rất nhẹ thậm chí không
có triệu chứng gì Một số người không phát hiện ra hoặc có nhiều biến chứng thì mới phát hiện ra
Đói và mệt: Cơ thể bạn chuyển đổi thức ăn bạn ăn thành glucose mà tế bào của bạn sử
dụng để lấy năng lượng Nhưng các tế bào của bạn cần insulin để hấp thụ glucose Nếu cơ thể bạn không tạo ra đủ hoặc bất kỳ loại insulin nào, hoặc nếu các tế bào của bạn kháng lại insulin mà cơ thể bạn tạo ra, glucose không thể xâm nhập vào chúng và bạn không có năng lượng Điều này có thể khiến bạn đói và mệt mỏi hơn bình thường
Đi tiểu thường xuyên hơn và khát hơn: Một người bình thường thường phải đi tiểu từ
bốn đến bảy lần trong 24 giờ, nhưng những người mắc bệnh đái tháo đường do đường máu cao có thể đi nhiều hơn bình thường rất nhiều lần Vì bình thường cơ thể bạn tái hấp thu glucose khi nó đi qua thận của bạn Nhưng khi bệnh tiểu đường đẩy lượng đường trong máu của bạn lên cao, thận của bạn có thể không thể đưa tất cả trở lại Điều này khiến cơ thể tạo ra nhiều nước tiểu và phải mất nước Do đó người bệnh sẽ phải đi thường xuyên
Trang 2hơn Bạn cũng có thể đi ra ngoài nhiều hơn Bởi vì bạn đi tiểu rất nhiều, bạn có thể rất khát Khi bạn uống nhiều hơn, bạn cũng sẽ đi tiểu nhiều hơn
Khô miệng, khát nước nhiều và ngứa da: Bởi vì cơ thể bạn đang sử dụng chất lỏng để
đi tiểu, nên độ ẩm cho những thứ khác sẽ ít hơn Bạn có thể bị mất nước, và miệng của bạn
có thể cảm thấy khô Da khô có thể làm bạn ngứa
Sút cân nhiều: Mặc dù bệnh nhân ăn nhiều nhưng sút cân rất nhiều Do mất nhiều đường
glucose qua nước tiểu Đái tháo đường khiến cơ thể không thể chuyển hóa năng lượng từ thức ăn, nó buộc phải lấy năng lượng từ mỡ và các cơ, tăng quá trình tiêu protein, tiêu mỡ tất yếu sẽ dẫn đến sụt cân
Nếu bạn nghi ngờ mình có thể bị bệnh đái tháo đường cần phải đi khám ngay Trong quá trình thăm khám, bác sĩ sẽ yêu cầu bạn nói về các triệu chứng bạn gặp phải, gia đình bạn
đã có ai mắc bệnh tiểu đường, các loại thuốc đã uống và các dị ứng bạn gặp phải Dựa trên những thông tin bạn cung cấp, bác sĩ sẽ quyết định làm cho bạn một số xét nghiệm
Có một số xét nghiệm để chẩn đoán bệnh tiểu đường:
HbA1C: Xét nghiệm này cho thấy mức đường huyết liên tục của bạn trung bình trong 2 hoặc 3 tháng qua Xét nghiệm này không yêu cầu bạn phải nhịn ăn hay uống bất cứ thứ gì
Đường huyết lúc đói (FPG): Bạn sẽ cần nhịn ăn ít nhất 8 giờ trước khi thử nghiệm này
Dung nạp glucose đường uống (OGTT): Thử nghiệm này mất từ 2 đến 3 giờ Mức đường huyết của bạn được kiểm tra ban đầu và sau đó lặp đi lặp lại trong khoảng thời gian
2 giờ sau khi uống một loại đồ uống ngọt cụ thể
Xét nghiệm glucose huyết tương ngẫu nhiên: Bạn có thể làm xét nghiệm này bất cứ lúc nào và không cần phải nhịn ăn
Trang 3Chỉ số đường huyết còn được gọi là chỉ số GI của thực phẩm Đây là một thông số để phân loại các nhóm thực phẩm, đồ uống theo cách nó làm tăng nồng độ đường máu sau khi ăn nhanh hay chậm so với đường glucose Chỉ số đường huyết được chia thành
100 mốc, thực phẩm nào có chỉ số này cao, thực phẩm đó sẽ không có lợi với người mắc bệnh tiểu đường, bởi nó khiến cho nồng độ đường trong máu tăng cao đột ngột
và làm cho cơ thể bị mệt mỏi
Chỉ số đường huyết của thực phẩm được phân loại thành 3 mức độ đó là: thấp (GI<55); trung bình (56-74), cao (>75)
Phân nhóm chỉ số đường huyết GI cho thực phẩm
Chỉ số đường huyết của các loại thực
phẩm không được đo lường theo vị ngọt
hay nhạt của thực phẩm đó, mà người ta
dựa vào tốc độ chuyển hóa của các loại
thực phẩm đó thành đường sau ăn để đo
lường
Các loại thức ăn, đồ uống có GI
thấp (dưới mức 55) bao gồm chủ yếu các
loại rau có lượng carbohydrate thấp nên
chúng không ảnh hưởng nhiều đến
lượng đường trong máu của cơ thể sau
khi ăn
Thực phẩm có chỉ số đường huyết
thấp phổ biến đó là các loại họ đậu (đậu
đỏ, đậu nành, đậu hà lan, đậu lăng, đậu
bơ), những loại trái cây tươi như cam,
táo, lê, đào, kiwi, , nho, chuối Bên cạnh
đó các loại sữa và thực phẩm được chế
biến từ sữa, yến mạch mì nguyên hạt,
bánh mì 100% ngũ cốc hoặc bánh mì lúa
mạch đen cũng làm tăng đường huyết chậm
Các loại thức ăn, đồ uống có GI trung bình ( từ 56 – 69) bao gồm các loại thực phẩm như là khoai lang, khoai sọ, dứa, gạo lứt, bí đỏ Nhóm thực phẩm này sẽ chuyển hóa thành đường với tốc độ vừa phải
Thực phẩm có chỉ số GI cao (trên 70) gồm các loại thực phẩm giàu tinh bột như là mật ong, nước mía, cơm nếp, gạo tài nguyên, mạch nha, dưa hấu Nhóm thực phẩm này có
Trang 4khả năng chuyển hóa và tăng đường huyết rất nhanh, không tốt đối với sức khỏe của những người đái tháo đường
Nghiên cứu được công bố bởi trường Đại học Harvard, cho biết gạo lứt chứa cực kỳ nhiều chất xơ hòa tan cho nên không làm tăng đáng kể đường huyết sau khi ăn Chính vì thế, chỉ cần thay thế 1⁄3 của 1 phần cơm gạo trắng bằng gạo lứt (tầm nửa chén cơm) hằng ngày thì tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường sẽ giảm lên đến 16%
Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số GI của thực phẩm
Thời gian chín và tích trữ – thời gian chín của trái cây hoặc loại rau nào càng dài thì trái cây hoặc rau đó có chỉ số GI càng cao
Quá trình chế biến – nước ép có chỉ số GI cao hơn trái cây tươi; khoai tây nghiền có chỉ số GI cao hơn khoai tây nướng cả củ, bánh mì ngũ cốc được đập sẽ có chỉ số GI thấp hơn bánh mì ngũ cốc thường
Phương pháp nấu nướng và bảo quản – thời gian nấu nướng (mì ống al dente – vừa
đủ chín sẽ có chỉ số GI thấp hơn mì ống nấu chín hoàn toàn) Thực phẩm đun nấu kỹ và chế biến càng nhiều thì chỉ số đường huyết càng cao
Sự đa dạng – gạo trắng hạt dài có chỉ số GI thấp hơn gạo lứt, nhưng gạo trắng hạt ngắn lại có chỉ số GI cao hơn gạo lứt
Dạng thực phẩm: Thực phẩm càng nhiều xơ như ngũ cốc nguyên hạt thì sự tiêu hóa càng chậm sẽ có chỉ số đường huyết càng thấp
Cấu trúc tinh bột: Thành phần của tinh bột gồm amylose và amylopectin Thực phẩm nhiều amylose sẽ chậm tiêu hóa vì các vòng glucose gắn bó với nhau nên sẽ có chỉ số đường huyết thấp Ngược lại, thực phẩm nhiều amylopectin sẽ có chỉ số đường huyết cao hơn cao vì các vòng glucose lỏng lẻo, dễ tiêu hóa, mau đưa vào máu Amylose được tìm thấy ở rau đậu, một số loại gạo Amylopectin được tìm thấy trong khoai tây Gạo có hàm lượng amylose thấp sẽ làm quá trình tiêu hóa tinh bột nhanh hơn và làm tăng chỉ số đường huyết Ăn gạo không chà/ xát trắng để giữ lớp cám của gạo sẽ làm giảm chỉ số đường huyết Đường: Thực phẩm chứa nhiều loại đường khác nhau Fructose trong trái cây chuyển hóa chậm nên làm giảm chỉ số đường huyết của trái cây Mức trái cây nên <12% tổng năng lượng.Trái cây chín mùi có chỉ số đường huyết cao hơn trái cây còn xanh vì carbohydrate đã được chuyển ra đường
Trang 5Có một số đối tượng có nguy cơ cao bị mặc bệnh đái tháo đường, họ là những ai? Cách phòng ngừa theo dõi như thế nào? Và chế độ sinh hoạt ăn uống thế nào là phù hợp
Đối tượng dễ bị tiểu đường
Nếu bạn có một trong các yếu tố sau đây, nên kiểm tra định kỳ 1 năm/1 lần (hoặc 6 tháng/lần nếu có nhiều nguy cơ):
Ít hoạt động thể chất
Gia đình có người mắc tiểu đường tuýp 2
Bị tiểu đường thai nghén hoặc sinh con trên 4kg
Huyết áp cao từ 140/90mmHg trở lên hoặc đang được điều trị cao huyết áp
Có mức độ cholesterol lipoprotein tỷ trọng cao (HDL) 35 mg/dL hoặc ít hơn; hoặc có mức triglyceride lớn hơn 250 mg/dL
Bị hội chứng buồng chứng đa nang
Có tiền sử bệnh tim mạch
Đề kháng lnsulin hoặc các vấn đề sức khỏe liên quan đến kháng lnsulin
Phòng ngừa bệnh đái tháo đường
Trang 6Bệnh đái tháo đường có thể không được ngăn ngừa trong mọi trường hợp Bệnh đái tháo đường tuýp 1 không thể ngăn ngừa được Bạn có thể giảm cơ hội phát triển bệnh đái tháo đường tuýp 2 bằng cách điều chỉnh chế độ ăn uống và duy trì hoạt động Tuy nhiên, di truyền và các yếu tố rủi ro khác có thể làm tăng rủi ro của bạn mặc dù nỗ lực tốt nhất của bạn
Chỉ số đường huyết lúc đói an toàn ở người bệnh tiểu đường
Chỉ số đường huyết lúc đói ở người bệnh tiểu đường bao nhiêu là tốt sẽ khác nhau ở từng người, phụ thuộc vào thời gian mắc bệnh, tình trạng bệnh, các bệnh mắc kèm hoặc biến chứng Ví dụ, một người bệnh tiểu đường lâu năm, đường huyết lúc đói mục tiêu sẽ phải cao hơn người mới được chẩn đoán
Bộ y tế khuyến cáo, mức chỉ số đường huyết lúc đói an toàn như sau:
Với người bệnh tiểu đường trưởng thành, không có thai nên là: 80 – 130 mg/dL (4.4 – 7.2 mmol/L)
Với người già, mạnh khỏe, tiên lượng sống tốt: 90 – 130 mg/dL (5.0 – 7.2 mmol/L); sức khỏe trung bình 90 – 150 mg/dL (5.0 – 8.3 mmol/L); sức khỏe rất yếu 100 – 180 mg/dL (5.5 – 10.0 mmol/L)
Thực phẩm cho người tiểu đường và phòng ngừa tiểu đường bằng thực phẩm
Với các chuyên gia và bác sỹ điều trị luôn có một lời khuyên cho bệnh nhân tiểu đường cũng như phòng tránh tiểu đường đó là: tập thể dục và chế độ ăn uống hợp lý, kiêng ăn ngọt Vậy những thực phẩm nào tốt cho bệnh nhân tiểu đường
Nguyên tắc dinh dưỡng điều trị bệnh đái tháo đường:
+ Đủ chất đạm, béo, bột, vitamin và các chất khoáng, đủ nước
+ Không làm tăng đường máu nhiều sau ăn
+ Không làm hạ đường máu lúc xa bữa ăn
+ Duy trì được hoạt động thể lực bình thường hàng ngày
Trang 7+ Duy trì được cân nặng lý tưởng
+ Không làm tăng các yếu tố nguy cơ như rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, tổn thương thận
+ Phù hợp với thói quen ăn uống (food habit) của bệnh nhân
Thực phẩm tốt dành người bệnh đái tháo đường nên ăn:
Gạo lứt hoặc gạo giã rối
Khoai củ
Các loại hạt, đậu đỗ
Các loại rau xanh
Các loại hoa quả ít ngọt như: thanh long, ổi, bưởi, cam, táo,
Sữa không đường, sữa dành cho người đái tháo đường
Trang 8“Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là tình trạng rối loạn dung nạp glucose ở bất kỳ mức độ nào và/hoặc tăng đường huyết khởi phát hoặc được phát hiện lần đầu tiên trong lúc mang thai”
Bệnh đái tháo đường thai kỳ thường không có biểu hiện
rõ ràng, nhưng mẹ bầu sẽ gặp một số biểu hiện giống những người mắc bệnh đái tháo đường:
Luôn cảm thấy khát nước và đi tiểu nhiều
Vùng kín bị nấm men, ngứa ngáy, khó chịu
Khó lành các vết trầy xước, vết thương
Sụt cân không rõ nguyên nhân
Cơ thể cảm thấy mệt mỏi, thiếu năng lượng và kiệt sức
Nước tiểu có nhiều kiến bâu
Bệnh đái tháo đường thai kỳ nếu không được phát hiện và kiểm soát tốt có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe mẹ bầu và thai nhi:
Hội chứng hạ đường huyết ở trẻ sơ sinh: Sau sinh, tuyến tụy của bé vẫn tiếp tục sản xuất tiếp insulin để đáp ứng lượng đường dư thừa trước đây Do đó, lượng đường trong máu của bé sẽ xuống thấp gây nên tình trạng hạ đường huyết Một số trường hợp gây ra tình trạng co giật dẫn đến hôn mê và tổn thương não nếu bé không được kiểm tra và phát hiện kịp thời
Thai nhi có nguy cơ dị tật hoặc tử vong, chậm phát triển, thai to, giảm sự trưởng thành của phổi
Béo phì: Nếu mẹ bị thừa cân và đái tháo đường trước khi mang thai, em bé sinh ra
có nguy cơ thừa cân gấp 3,5 lần so với những bé khác
Hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh: Hội chứng suy hô hấp xảy ra vì em bé có thể bị sinh non khi phổi chưa phát triển đầy đủ
Thai nhi có nguy cơ bị các dị tật bẩm sinh ở hệ tiết niệu, hệ thần kinh, tim mạch
Bé cũng dễ bị vàng da trong 28 ngày đầu sau sinh
Phác đồ điều trị đái tháo đường thai kỳ nhằm đạt được mục tiêu:
Trang 9 Glucose máu đói, đường máu trước ăn, đường máu trước ngủ 3,9 - 5,5 mmol/l
Glucose máu sau ăn 1h và 2h từ 5,4 - 7,1 mmol/l
Trong phác đồ điều trị đái tháo đường thai kỳ, thai phụ cần phải điều trị bằng insulin:
Insulin là thuốc điều trị chủ chốt trong thai kỳ
Insulin dùng trước các bữa ăn và insulin nền vào buổi tối là tối ưu nhất
Tính liều khởi đầu theo cân nặng: 0,4 đến 0,5 đơn vị/ kg/ 24h
Tổng liều insulin cần chia ra 40 đến 50% insulin nền và 50-60% insulin trước các bữa ăn
Chỉnh liều dần đến đường máu đạt mục tiêu
Sau thai kỳ, những phụ nữ bị tiểu đường thai kỳ cần phải tập luyện thể dục và cần có một chế độ ăn uống lành mạnh để ngăn ngừa và trì hoãn sự phát tác thành tiểu đường loại 2 Thai phụ cần xét nghiệm bệnh tiểu đường sau 6-12 tuần sinh em bé, và sau đó định kỳ 1-3 năm Đối với hầu hết phụ nữ bị tiểu đường thai kỳ, bệnh tiểu đường hết ngay sau khi sinh con Nếu bệnh tiểu đường của vẫn chưa khỏi, bệnh tiểu đường này gọi là tiểu đường type
2
Trang 10ĐTĐ tuýp 1: Không có sản xuất Insulin vì phá hủy tế bào beta tự miễn
Trước đây, thường được gọi là ĐTĐ phụ
thuộc insulin, sản xuất insulin không có vì sự
phá hủy tế bào beta tự miễn được khởi tạo từ
tiếp xúc môi trường trong những người có gen
dễ mắc Phá hủy tiến triển dưới lâm sàng
trong nhiều tháng, nhiều năm tới khi khối
lượng tế bào beta giảm tới điểm mà nồng độ
insulin không đủ để kiểm soát nồng độ
glucose huyết tương ĐTĐ tuýp 1 thường phát
triển ở trẻ em và thiếu niên và gần đây dạng
phổ biến được chẩn đoán trước 30 tuổi; chiếm
khoảng < 10% bệnh nhân ĐTĐ
Gen nhay cảm gồm gen trong phức hợp hòa
hợp mô chính (MHC) - đặc biệt HLA-DR3,
,DQB1*0302, và HLA-DR4,DQB1*0302 ,
chúng xuất hiện trong > 90% bệnh nhân ĐTĐ
tuýp 1 và những gen ngoài MHC, điều hòa sản xuất và chế biến và vận chuyển insulin , nguy cơ ĐTĐ với gen MHC Gen nhạy cảm thường phổ biến hơn ở 1 vài quần thể hơn quần thể khác và giải thích cho tỉ lệ ĐTĐ tuýp 1 cao hơn ở 1 số chủng tộc ( Scandinavi, Sardinia)
Tự kháng thể gồm glutamic acid decarboxylase, insulin, proinsulin, protein liên quan u tiết insulin, Vận chuyển kẽm ZnT8, và protein khác trong tế bào beta Người ta cho rằng các protein này đã bộc lộ hoặc phóng thích trong quá trình tái tạo tế bào beta hoặc tổn thương
tế bào beta ( vd, nhiễm trùng ) , kích hoạt đáp ứng miễn dịch trung gian qua tế bào T dẫn tới phá hủy tế bào beta Tế bào alpha tiết Glucagon duy trì không bị tổn thương Kháng thể của tự kháng nguyên có thể phát hiện trong huyết thanh, dường như là phản ứng (không phải nguyên nhân ) cho sự phá hủy tế bào beta
Nhiều virus (gồm coxsackievirus, rubella virus, cytomegalovirus, Epstein-Barr virus,và retroviruses) có mối liên kết với khởi phát ĐTĐ tuýp 1 Các virus có thể trực tiếp nhiễm trùng và phá hủy tế bào beta hoặc có thể gây phá hủy tế bào beta gián tiếp qua tiếp xúc tự kháng nguyên, kích thích phả ứng tự động của lympho bào, giống hệt phân tử tự kháng nguyên, dẫn đến kích thích đáp ứng miễn dịch, ( phân tử giống hệt ) hoặc cơ chế khác Chế độ ăn có thể là 1 yếu tố Phơi nhiễm của trẻ sơ sinh với sản phẩm hàng ngày ( cụ thể sữa bò và sữa protein beta casein ), nitrate cao trong nước uống, và vitamin D thấp có liên
Trang 11quan tới ĐTĐ tuýp 1 Tiếp xúc sớm (< 4 tháng) hoặc muộn (> 7 tháng) với gluten và ngũ cốc tăng sản xuất tự kháng thể đảo tụy Cơ chế cho những liên quan này chưa rõ ràng
Các biện pháp chẩn đoán bệnh Tiểu đường tuýp 1
Chẩn đoán tiểu đường nói chung (theo hiệp hội ĐTĐ Mỹ):
Đường huyết bất kì >11,1 mmol/l, kèm triệu chứng của tăng đường huyết (ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, gầy nhiều)
Đường huyết lúc đói (nhịn ăn >8-14h) >7 mmol trong 2 buổi sáng khác nhau
Đường huyết 2 giờ sau khi uống 75g glucose >11,1 mmol/l (nghiệm pháp tăng đường huyết)
HbA1C (định lượng bằng phương pháp sắc kí lỏng) >6,5%
Ngoài ra:
Nghĩ đến tiểu đường tuýp 1 khi: tuổi khởi phát <30, triệu chứng rầm rộ, tiền sử gia đình có người bị bệnh, mắc bệnh tự miễn khác Xét nghiệm có kháng thể kháng đảo tụy, định lượng insulin máu thấp hoặc bằng 0
Các xét nghiệm khác: Cholesterol, HDL-C, LDL-C, Triglycerid, tổng phân tích nước tiểu tìm protein niệu, xét nghiệm nước tiểu 24h
Soi đáy mắt: tìm các tổn thương võng mạc
Điện tâm đồ: tìm các dấu hiệu của bệnh mạch vành
Thuốc điều trị
Kiểm soát đường huyết: đối với tuýp 1 thì kiểm soát bằng insulin ngoại sinh là chủ yếu Dùng theo phác đồ, tuân thủ giờ tiêm và liều lượng tránh bị tụt đường huyết Các loại insulin gồm có: insulin thường (tác dụng rất nhanh và nhanh, insulin Lispro, Actrapid ), insulin bán chậm (NPH, Lente ), insulin chậm (ultralente ), insulin hỗn hợp (Mixtard ), insulin nền (Lantus)
Kiểm soát huyết áp: ưu tiên ức chế men chuyển/ức chế thụ thể khi có biến chứng thận (captopril, ibesartan, losartan )
Trang 12ĐTĐ tuýp 2: Kháng insulin
ĐTĐ tuýp 2 còn được gọi là ĐTĐ không phụ thuộc insulin, insulin tiết không đủ vì bệnh nhân có tình trạng kháng với insulin Gan kháng insulin dẫn tới không có khả năng ức chế gan sản xuất glucose, và kháng insulin ngoại vi làm giảm nhập glucose ở ngoại vi Bệnh thường khởi phát ở người lớn và trở nên phổ biến hơn cùng với sự già hóa; gần 1/3 người lớn > 65 tuổi có rối loạn dung nạp glucose
ĐTĐ tuýp 2 đang ngày càng phổ biến ở trẻ em vì béo phì ở trẻ em đang trở thành bệnh dịch Hơn 90% người lớn có đái tháo đường là ĐTĐ tuýp 2 Có những yếu tố quyết định di truyền, đã được chứng minh bởi tỉ lệ đái tháo đường cao trong nhóm chủng tộc ( đặc biệt Mĩ bản địa, Hispanics, và châu Á) và người thân của người mắc bệnh Dù nhiêu gen đa hình đã được phát hiện qua nhiều năm trước, không có đơn gen nào chịu trách nhiệm cho hầu hết các dạng phổ biến của ĐTĐ tuýp 2 đã xác định
Dù kháng insulin là đặc điểm trong bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 và những người có nguy
cơ, bằng chứng cũng cho thấy rối loạn chức năng tế bào beta và suy giảm tiết insulin , gồm suy giảm tiết insulin pha sớm đáp ứng với truyền glucose tĩnh mạch, mất nhịp tiết insulin bình thường, tăng tiết proinsulin báo hiệu suy giảm chế biến insulin và tích lũy polypeptide amyloid đảo tụy ( một protein thường tiết với insulin) Bản thân tăng đường máu có thể suy
Trang 13giảm tiết insulin , vì nồng độ glucose máu cao làm giảm nhạy của tế bào beta, gây rối loạn chức năng tế bào beta ( ngộ độc glucose ) , hoặc cả hai Những thay đổi này mất nhiều năm phát triển với sự hiện diện của kháng insulin
Béo phì và tăng cân có vai trò quan trọng của kháng insulin ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp
2 Chúng có yếu tố di truyền xác định nhưng cũng phản ánh chế độ ăn, luyện tập và lối sống Không có khả năng ức chế ly giải tổ chức mỡ làm tăng axit béo tự do huyết thanh, làm giảm kích thích vận chuyển glucose của insulin-và hoạt động tổng hợp glucogen ở cơ Mô mỡ cũng có chức năng như một cơ quan nội tiết, giải phóng nhiều yếu tố (adipocytokines)có lợi (adiponectin) và bất lợi (yếu tố hoại tử u-alpha, IL-6, leptin, resistin) ảnh hưởng chuyển hóa glucose Hạn chế phát triển trong tử cung và cân nặng sơ sinh thấp cũng liên quan tới kháng insulin sau này và có thể phản ảnh những bất lợi trước khi sinh đến môi trường trong chuyển hóa glucose
Chẩn đoán ĐTĐ tuýp 2
Xét Nghiệm HbA1c Xét nghiệm máu này cho thấy mức đường trong máu trung bình của
bạn trong hai đến ba tháng vừa qua Mức bình thường dưới 5,7% và kết quả từ 5,7 đến 6,4% được coi là tiền tiểu đường Mức HbA1c từ 6,5% trở lên trong hai xét nghiệm riêng biệt có nghĩa là bạn đã mắc tiểu đường Nếu xét nghiệm HbA1c không có sẵn hoặc nếu bạn có một
số bệnh như hemoglobin bất thường (hemoglobin variant) ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm HbA1c, bác sĩ có thể sử dụng các xét nghiệm sau đây để chẩn đoán bệnh tiểu đường:
Xét nghiệm đường huyết ngẫu nhiên Giá trị đường trong máu được biểu thị bằng miligam
trên decilit (mg/dL) hoặc milimol trên lít (mmol/L) Kể cả khi đã ăn thì lượng đường trong máu của bạn là 200 mg/dL (11,1 mmol/L) hoặc cao hơn thì có nghĩa là bạn đã mắc bệnh tiểu đường, đặc biệt là nếu bạn cũng có các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh tiểu đường, như đi tiểu thường xuyên và khát nước
Xét nghiệm đường huyết lúc đói Một mẫu máu được lấy sau khi ngủ dậy vào buổi sáng,
nếu lượng đường dưới 100 mg/dL (5,6 mmol/L) là bình thường, từ 100 đến 125 mg/dL (5,6 đến 6,9 mmol/L) được xem là tiền tiểu đường Nếu lượng đường trong máu lúc đói là 126 mg/dL (7 mmol/L) hoặc cao hơn trong hai xét nghiệm riêng biệt, thì bạn được chẩn đoán là mắc bệnh tiểu đường
Xét nghiệm dung nạp glucose đường uống Xét nghiệm này ít được sử dụng hơn các xét
nghiệm khác, ngoại trừ trong khi mang thai Bạn sẽ cần phải nhịn ăn qua đêm và sau đó uống một chất lỏng có đường và được kiểm tra lượng đường trong máu sau hai giờ Nếu nồng độ đường trong máu dưới 140 mg/dL (7,8 mmol/L) là bình thường Từ 140 đến 199 mg/dL (7,8 mmol/L và 11,0 mmol/L) cho thấy tiền tiểu đường Từ 200 mg/dL (11,1 mmol/L) hoặc cao hơn sau hai giờ thì người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường