1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG CỦA TÌNH HÌNH SỬ DỤNG BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

33 159 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 609,59 KB
File đính kèm 1905QTVD013 NGOVANDO NTNN.rar (546 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI PHÂN HIỆU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG VÀ LƯU TRỮ TÊN ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG CỦA TÌNH HÌNH SỬ DỤNG BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TIỂU LUẬN KẾT TH.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI PHÂN HIỆU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG VÀ LƯU TRỮ

TÊN ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG CỦA TÌNH HÌNH SỬ DỤNG BIỂU TƯỢNG QUỐC

GIA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Học phần: Nghi thức nhà nước

Mã phách:

Thành phố Hồ Chí Minh – 2022

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành bài tiểu luận với chủ đề “Thực trạng sử dụng biểu tượng quốc gia ở Việt Nam hiện nay”, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến thầy cô giảng viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội Phân hiệu tại Thành phố Hồ Chí Minh đã giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức nền tảng của học phần nghi thức nhà nước và cũng như những góp ý chỉnh sửa bài tiểu luận để bài làm được hoàn chỉnh hơn Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bài tiểu luận với chủ đề “Thực trạng sử dụng biểu tượng quốc gia ở Việt Nam hiện nay” là do tôi tự tìm hiểu và nghiên cứu Trong bài làm có

sử dụng nội dụng một số tài liệu tuy nhiên trong giới hạn cho phép Nếu những lời cam đoan trên không trung thực, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 1

3 Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu 2

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Giả thuyết khoa học 3

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 3

8 Kết cấu của đề tài 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA 4

1.1 Khái niệm và đặc điểm của biểu tượng quốc gia 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Đặc điểm của biểu tượng quốc gia 6

1.2 Khát quát lịch sử các biểu tượng quốc gia ở Việt Nam 6

1.2.1 Quốc hiệu 6

1.2.2 Quốc kỳ 8

1.2.3 Quốc huy 9

1.2.4 Quốc ca 10

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 12

2.1 Thực trạng của tình hình sử dụng biểu tượng quốc gia ở Việt Nam hiện nay 12

2.1.1 Thực trạng sử dụng Quốc hiệu 12

2.1.2 Thực trạng sử dụng Quốc kỳ 13

2.1.3 Thực trạng sử dụng Quốc huy 17

2.1.4 Thực trạng sử dụng Quốc ca 20

2.2 Đánh giá về thực trạng tình hình sử dụng biểu tượng quốc gia ở Việt Nam 21

2.2.1 Ưu điểm 21

2.2.2 Nhược điểm 22

Trang 5

2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế 22

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GÓP THỰC HIỆN ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ SỬ DỤNG BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA Ở VIỆT NAM24 3.1 Đối với nhà nước 24

3.2 Đối với cơ quan, tổ chức 24

3.3 Đối với cán bộ, công chức 25

3.4 Đối với công dân Việt Nam 25

3.5 Đối với bản thân 26

KẾT LUẬN 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

Trang 6

nó là nét văn hóa riêng biệt của mỗi quốc gia, bản sắc văn hóa của dân tộc của mình tránh hòa tan với các bản sắc văn hóa dân tộc khác

Nghi thức nhà nước và biểu tượng quốc gia được áp dụng toàn cơ quan, đơn

vị hành chính nhà nước, tổ chức doanh nghiệp, toàn dân Việt Nam Việc triển khai các nghi thức đến các đối tượng thực hiện nhằm định hướng, điều chỉnh hoạt động các cơ quan Thực hiện tốt nghi thức nhà nước giúp tạo nên bộ mặt đẹp, đạt hiệu quả hoạt động đối nội, đối ngoại, mở rộng quan hệ hợp tác mới với thế giới Không chỉ phục vụ công tác đối ngoại, nghi thức nhà nước nhằm thể máy nhà nước hoàn thiện nghiêm túc

Nhận thấy tầm quan trọng và cấp thiết của vấn đề mà tôi đã lựa chọn đề tài

“Thực trạng việc sử dụng biểu tượng quốc gia ở Việt Nam hiện nay” để tìm hiểu thêm

2 Lịch sử nghiên cứu

Nhìn chung, về lịch sử biểu tượng quốc gia cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và khai thác nó Tuy nhiên, với đề tài “Thực trạng sử dụng biểu tượng quốc gia ở Việt Nam hiện nay” chưa có nhiều nhà nghiên cứu đi sâu vào vấn đề này Có thể kể đến một số nghiên cứu, bài viết sau:

Điều lệ 973-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21 tháng 7 năm 1956 về việc dùng Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc hiệu, Quốc huy nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Trang 7

Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, NXB Chính trị Quốc gia của

TS Nguyễn Minh Tuấn

3 Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tìm hiểu và nghiên cứu về tình hình sử dụng quốc gia

ở Việt Nam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu nội dung về những cơ sở lý luận, lịch

sử ra đời phát triển của nghi thức nhà nước và các biểu tượng quốc gia Thực trạng

sử dụng các biểu tượng quốc gia ở Việt nam hiện nay Qua đó, nhìn thấy được quá trình phát triển, đưa ra ưu điểm và hạn chế và đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao việc sử dụng biểu tượng quốc gia ở Việt Nam

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu về sơ lược về lịch sử phát triển của biểu tượng quốc gia của Việt nam

Tìm hiểu về những cơ sở lý luận về biểu tượng quốc gia từ đó hiểu được đặc điểm của nghi thức nhà nước và biểu tượng quốc gia

Hệ thống hóa các biểu tượng quốc gia và việc thực hiện nghi thức qua hiện nay, từ đó rút ra được ưu điểm và hạn chế của nghi thức thức nhà nước

Từ những nhận xét trên đưa những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và hoàn thiện việc sử dụng biểu tượng quốc gia

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử sử dụng một số phương pháp như sau:

dụng phương pháp phân tích tổng hợp để có thể rút ra được ưu điểm nhược điểm về việc sử dụng biểu tượng quốc gia ở Việt Nam…

Trang 8

3

Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử các biểu tượng quốc gia ở Việt Nam từ đó nhìn thấy được điểm mới trong các biểu tượng quốc gia … Và còn một số phương pháp khác như so sánh, miêu tả, đối chiếu…

6 Giả thuyết khoa học

Đi đôi với chiều dài lịch sử, thì các biểu tượng của quốc gia Việt Nam nói chung và các nước khác nói riêng là một phần trong lịch sử của mỗi đất nước Nhưng đến hiện nay thì nguồn tài liệu về vấn đề này chưa được nhiều các tác giả đi sâu, tuy

là vẫn có những nhà nghiên cứu đi trước nhưng chưa làm đa dạng nguồn tài liệu về vấn đè này Có lẽ một phần do trong tính lịch sử của dân tộc mỗi quốc gia có rất nhiều nội dung, mà họ chưa thể đi nghiên cứu tới vấn đề này Hay có thể một phần nhỏ trong lịch sử của mỗi quốc gia chưa có sự nghiên cứu chính xác, chưa thể đưa ra được những tài liệu, kết quả cuối cùng

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu về vấn đề nghi thức nhà nước và biểu tượng quốc gia Qua đó, giúp bản thân và người nghiên cứu đề tài nắm bắt và hiểu rõ hơn về yêu cầu, nội dung của đề tài nghiên cứu, để tiếp thu học hỏi những nguồn tri thức phong phú

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, đề tài có 3 chương:

Chương 1 Khái quát chung về biểu tượng quốc gia

Chương 2 Thực trạng của tình hình sử dụng biểu tượng quốc gia ở Việt Nam Chương 3 Đề xuất giải pháp góp thực hiện đúng quy định của nhà nước về sử dụng biểu tượng quốc gia ở Việt Nam.

Trang 9

4

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA

1.1 Khái niệm và đặc điểm của biểu tượng quốc gia

1.1.1 Khái niệm

- Biểu tượng

Theo quan niệm của Freud:"Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió

và ít nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay các xung đột Biểu tượng là mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, mọi lời nói với ý nghĩa

tiềm ẩn của chúng

Thuật ngữ biểu tượng (symbol trong tiếng Anh) là một từ bắt nguồn từ ngôn ngữ cổ ở châu Âu (symbolus trong tiếng La Mã và symbolon trong tiếng Hy Lạp) Theo Từ điển biểu tượng (Dictionary of Symbols) của Liang Hy Liungman thì

“những gì được gọi là biểu tượng khi nó được một nhóm người đồng ý rằng nó có nhiều hơn một ý nghĩa là đại diện cho chính bản thân nó”

Biểu tượng trong tiếng Hán: Biểu có nghĩa là: "bày ra", "trình bày", "dấu hiệu",

để người ta dễ nhận biết một điều gì đó Tượng có nghĩa là "hình tượng" Biểu tượng

là một hình tượng nào đó được phô bày ra trở thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng, nhằm để diễn đạt về một ý nghĩa mang tính trừu tượng

Trong Từ điển Nguồn gốc của Từ (1990), John Ayto chỉ ra rằng “biểu

tượng” là một thứ gì đó được tạo thành cùng nhau

sẻ quá khứ cũng như hiện tại và cùng nhau xây dựng một tương lai chung trên vùng lãnh thổ có chủ quyền.”

- Biểu tượng quốc gia

Trang 10

5

Như đã nói ở đầu phần lý do chọn đề tài, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang cho mình một biểu tượng độc lập, rất riêng của mình và không giống với bất kỳ quốc gia, dân tộc nào Biểu tượng quốc gia không những là hình ảnh mang tính đại diện cho quốc gia mà nó còn được thể hiện dưới nhiều các hình thức rất phong phú và đa dạng

Biểu tượng quốc gia là hình ảnh tượng trưng và đại diện cho một quốc gia Ngoài ra nó còn được thể hiện với các hình thức phong phú và đa dạng Những loại hình cơ bản của biểu tượng quốc gia gồm: quốc hiệu (thường kèm theo khẩu hiệu hoặc tiêu ngữ), quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, và những biểu tượng không chính thức khác

Từ những nội dung trên, ta có thể rút ra định nghĩa biểu tượng quốc gia như

sau: “Biểu tượng quốc gia là hình ảnh đại diện và tượng trưng cho quốc gia Nó được

thể hiện bằng các loại hình cơ bản như: Quốc hiệu, Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca và một số biểu tượng không chính thức khác”

- Quốc hiệu là tên gọi chính thức của một quốc gia

- Quốc kỳ là loại cờ được dùng làm biểu trưng cho một quốc gia, những công

trình công cộng và tư nhân như trường học và cơ quan nhà nước, chính phủ thường treo quốc kỳ Ở một số nước quốc kỳ chỉ được treo ở những công trình phi quân sự vào những ngày cụ thể Có ba loại quốc kỳ phân biệt để sử dụng trên đất liền và ba loại sử dụng trên biển, mặc dù nhiều nước sử dụng cùng một kiểu thiết kế cho vài (đôi khi tất cả) các loại cờ

- Quốc ca là một bài hát chính thức, ái quốc khơi gợi và tán dương lịch sử

truyền thống và đấu tranh của nhân dân quốc gia đó được dùng trong các nghi lễ trang trọng

- Quốc huy là một trong những biểu tượng của quốc gia, bên cạnh Quốc kì,

Quốc ca và Quốc hiệu là một biểu hiện chế độ hình ảnh đặc trưng của quốc gia đó Quốc huy thường được sử dụng trên các ấn phẩm quốc gia như: tiền tệ, hộ chiếu, giấy tờ…

Trang 11

6

1.1.2 Đặc điểm của biểu tượng quốc gia

Biểu tượng quốc gia là yếu tố không thể thiếu được của quốc gia, dân tộc:

Biểu tượng quốc gia là linh hồn thiêng liêng của đất nước vừa là yếu tố khẳng định chủ quyền bất khả phạm lại vừa mang những đặc điểm gắn liền với quốc gia đó

Biểu tượng quốc gia mang những đặc điểm riêng biệt của quốc gia, thể hiện tinh thần và bản sắc dân tộc của mỗi quốc gia Ví dụ nhắc đến Việt Nam, người ta sẽ nghĩa tới áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt Nam hay nón lá của Việt Nam

Biểu tượng quốc gia là hình ảnh đại diện của mỗi quốc gia trong quan hệ quốc

tế và là biểu hiện của tính chính thức trong quan hệ giữa nhà nước, công dân với tổ chức Biểu tượng quốc gia thể hiện được chủ quyền của quốc gia và là yếu tố cấu thành nên quốc thể

1.2 Khái quát lịch sử các biểu tượng quốc gia ở Việt Nam

Như vậy, vào thời đại các vua Hùng nước ta gọi là Văn Lang Vào khoảng giữa thế kỷ III trước CN An Dương Vương đã diệt Hùng Vương, đổi quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê

Trong thời kỳ Bắc thuộc (179 TCN-905) nước ta có nhiều tên gọi khác nhau Các triều đại phong kiến Trung Hoa gọi nước ta là Giao Chỉ và Cửu Chân (Hai quận thuộc nước Nam Việt của Triệu Đà), Giao Chỉ (một châu của nhà Hán)

Trang 12

7

“Khoảng năm Kiến An nhà Hậu Hán mới đặt ra Giao Châu để thống trị các quận Đến thời Tam Quốc, vua Ngô là Tôn Quyền lấy cớ rằng Giao Châu xa quá, mới chia từ quận Giao Chỉ trở về phía nam là Giao Châu, về phía bắc là Quảng Châu đặt chức thứ sử riêng để cai trị Rồi sau lại hợp làm Giao Châu Đến khi Tôn Hạo lên ngôi, lại chia làm hai như cũ Sau lại chia Giao Chỉ ra làm quận Tân Hưng cho Đào Hoàng Nam làm thứ sử, đôn đốc việc quân ở Giao Châu Khi dẹp yên được những người Di, Lại ở quận Vũ Bình, Cửu Đức, Tân Hưng, đặt ra ba quận và hơn 30 huyện của quận Cửu Chân thuộc về [nước Tấn] Cuối đời nguy, Vũ Đế nhà Tấn cho Lã Hưng làm An Nam tướng quân, đô đốc các đạo quân ở Giao Châu Nước ta gọi là An Nam bắt đầu từ đấy”

Vào khoảng năm 622 (Vũ Đức thứ 5) lại gọi là Giao Châu Đầu đời Chí Đức (Đường Túc Tông, 756-757) Giao Chỉ đổi thành Trấn Nam đô hộ phủ, sau lại đổi thành An Nam đô hộ phủ Cũng trong thời kỳ này Lý Bí khởi nghĩa thắng lợi (544 602) đã đặt tên nước là Vạn Xuân

Vào thế kỷ X Ngô Quyền giành lại độc lập cho dân tộc với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử năm 938 Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, xưng hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt

Năm 1054 nhà Lý đổi tên nước là Đại Việt

Năm 1400 Hồ Quý Ly lên ngôi và đặt quốc hiệu là Đại Ngu

Nhà Minh đô hộ nước ta (1406-1427) và lại gọi là quận Giao Chỉ

Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi, trả lại cho nước tên gọi Đại Việt

Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi, đặt tên nước là Nam Việt, song nhà Thanh (Trung Quốc) bắt đổi lại thành Việt Nam Vào thời Minh Mạng (1820-1840) đổi thành Đại (13) Nam Dưới triều Nguyễn, khi thực dân pháp xâm lược và đô hộ nước ta

Trang 13

Ngay trong những ngày đầu tiên thành lập nền dân chủ cộng hòa tại Sắc lệnh

số 49/SL ngày 12 tháng 10 năm 1945 Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, “xét vì bắt đầu từ ngày 2 tháng 9 năm 1945 nước Việt Nam đã tuyên độc lập cho toàn thể quốc dân và thế giới biết; xét vì ngày 24 tháng 8 năm 1945 vua Bảo Đại đã tuyên bố thoái vị và giao chính quyền lại cho chính phủ dân chủ cộng hoà; xét vì cần nêu cao một kỷ nguyên mới để đánh dấu vào lịch sử nước ta, những độc lập, tự do và hạnh phúc mà chính thể Dân chủ Cộng hòa mang lại cho dân chúng”

đã ra Sắc lệnh về việc các công văn, công điệp, phiếu, trát, đơn từ, các báo chí, chúc

từ, điếu văn, khấn vái, cúng lễ, vân vân , bắt đầu từ ngày ký Sắc lệnh nêu trên đều phải tiêu đề:

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ - NĂM THỨ NHẤT

Ngày 30-4-1975 sau hơn 30 năm gian khổ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, đất nước đã hoàn toàn độc lập, giang sơn lại quy về một mối Ngày 02 7-1976 Quốc hội thống nhất đã ra Nghị quyết về tên nước, Quốc kỳ, Quốc huy, Thủ đô, Quốc ca, theo đó “Việt Nam là một nước độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa lấy tên là nước “CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM” và đặt thủ đô tại Hà Nội Điều này cũng được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992

1.2.2 Quốc kỳ

Quốc kỳ là lá cờ đại diện cho chủ quyền quốc gia, xuất hiện trước tiên ở các quốc gia chủ quyền phương Tây cận đại Trước thế kỷ XX ở Việt Nam không tồn tại

Trang 14

4 năm 1945, đứng đầu là học giả Trần Trọng Kim Ngày 12 tháng 6, Hoàng đế Bảo Đại ký Dụ số 52 khẳng định quốc hiệu là Việt Nam và quy định quốc kỳ mới là cờ quẻ Ly Cờ này cũng nền vàng, ở chính giữa có một quẻ Ly màu đỏ

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Quốc kỳ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (còn gọi là "Cờ đỏ sao vàng" hay "Cờ Tổ quốc"), nguyên gốc là quốc kỳ của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, được ra đời và xuất hiện lần đầu vào năm 1940, sau đó chính thức trở thành quốc kỳ vào tháng 9 năm 1945 Thiết kế của lá cờ có hình chữ nhật, chiều rộng bằng ⅔ chiều dài, nền đỏ, ở giữa là ngôi sao vàng năm cánh lớn Ý nghĩa của lá cờ với nền màu đỏ tượng trưng cho màu của cách mạng, máu của các anh hùng, ngôi sao vàng tượng trưng cho linh hồn dân tộc và năm cánh sao tượng trưng cho năm tầng lớp tham gia cách mạng sĩ, nông, công, thương, binh cùng đoàn kết kháng chiến

1.2.3 Quốc huy

Trang 15

10

Năm 1950, một số quốc gia trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Để mở rộng quan hệ với các nước, khẳng định chủ quyền của Việt Nam thông qua hoạt động ngoại giao, Bộ Ngoại Giao đã có công văn gửi Ban thường vụ Quốc Hội về việc sáng tác quốc huy

Năm 1951, cuộc thi sáng tác mẫu Quốc huy đã được phát động và đã thu hút đông đảo họa sĩ trên cả nước tham gia Trong đó, họa sĩ Bùi Trang Chước đã có 112 bản vẽ phác thảo và chi tiết 15 bản vẽ của ông đã Ban mỹ thuật chọn gửi Bộ Tuyên Truyền để trình lên Chính Phủ Mẫu quốc huy này của ông đã được Trung Ương duyệt và có ý kiến chỉ đạo chỉnh sửa một số chi tiết nhỏ Lúc đó, họa sĩ Bùi Trang Chước đang được giao một nhiệm vụ tuyệt mật là vẽ và in tiền, do đó, họa sĩ Trần Văn Cẩn đã chỉnh sửa mẫu Quốc huy

Ngày 14-1-1956, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 254-SL về việc ban bố mẫu quốc huy của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, kèm theo đó là Phụ lục số 1, 2

in mẫu vẽ quốc huy có tô màu vàng kim nhũ và Quốc huy không tô màu

Năm 1976, khi đất nước Việt Nam thống nhất, mẫu Quốc huy được sửa đổi phần quốc hiệu (theo phê chuẩn của Quốc hội Việt Nam khóa VI) Vì vậy, Quốc huy Việt Nam chính thức mang dòng chữ (in hoa) "Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam"

Quốc huy Việt Nam được thiết kế theo mẫu: Hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng 5 cánh tượng trưng cho cờ Tổ quốc, cho lịch sử cách mạng của dân tộc Việt Nam và tiền đồ xán lạn của quốc gia Bông lúa vàng bao quanh tượng trưng cho nông nghiệp, bánh xe răng tượng trưng cho công nghiệp và chính giữa, phía dưới là dòng chữ tên nước "Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam"

1.2.4 Quốc ca

Tiến quân ca là Quốc ca của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.kể

từ 1946 khi Việt Nam còn là chính thể Dân Chủ Cộng hòa Chính xác hơn khi Quốc

Trang 16

11

ca Việt Nam là lời của một bài hát Tiến quân ca Quốc ca Việt Nam là bài Tiến quân

ca do Văn Cao sáng tác, bắt nguồn từ lúc phong trào Việt Minh sử dụng bài hát này cho tới khi trở thành Quốc ca và sau đó sử dụng cho toàn nước Việt Nam sau khi Quốc hội Việt Nam họp và chính thức thống nhất năm 1976 Bài quốc ca đem lại không khí hào hứng, sôi nổi, vẻ vang của những năm nhân dân ta anh dũng chiến đấu bảo vệ cho quê hương Trong quá khứ, Việt Nam chỉ mới bắt đầu có Quốc ca từ giữa thế kỷ 20 Trước đó, Việt Nam không có truyền thống chỉ định một bài nhạc làm quốc

ca theo nghĩa được hiểu hiện nay

Mùa đông năm 1944, Văn Cao gặp Vũ Quý một cán bộ Việt Minh, ở ga hàng

cỏ Vũ Quý đã đề nghị Văn Cao sáng tác một bài hành khúc cho đội quân Việt Minh Bài hát viết xong Vũ Quý rất hài lòng giao cho Văn Cao tự tay viết bài hát in trên đá

Và lần đầu tiên Tiến quân ca được in trên trang văn nghệ của báo Độc Lập 11/1994 bằng bản in trên đá do chính tay Văn Cao viết

Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức duyệt Tiến quân ca là quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ngày 17 tháng 8 năm

1945, trong cuộc mít tinh của nhân dân Hà Nội trước Nhà hát lớn, bài hát đã được cất lên Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Tiến quân ca chính thức được hành trong ngày Tuyên ngôn độc lập Năm 1946, Quốc hội khóa I đã quyết định chọn Tiến quân ca là Quốc

ca Năm 1955, kỳ họp Quốc hội khóa I đã quyết định mời tác giả tham gia sửa một

số chỗ về phần lời của Quốc ca

Sau năm 1975, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, ngày 2 tháng 7 năm

1976, hai miền Năm Bắc thống nhất thành Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Quốc ca là Tiến quân ca Năm 1981, Việt Nam tổ chức sẽ thay đổi Quốc ca Một cuốc thi mở ra nhưng sau hơn một năm, cuộc thi này không được nhắc tới nữa và cũng không có tuyên bố chính thức về kết quả Tiến quân ca vẫn là Quốc ca Việt Nam cho đến nay

Ngày đăng: 13/09/2022, 20:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w