Theo Liên hợp quốc thì "nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và đất nước".
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường cùng các thầy cô đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành chương trình học tập và hoàn thành luận văn của mình
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả
Trang 2
MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC VIẾT TẮT
CBQL Cán bộ quản lý
CNTT Công nghệ thông tin CSVC Cơ sở vật chất
GDPT Giáo dục phổ thông GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo HĐDH Hoạt động dạy học HĐND Hội đồng nhân dân
PPDH Phương pháp dạy học PTDH Phương tiện dạy học QĐQL Quyết định quản lý QLGD Quản lý giáo dục TMN Trường Mầm non UBND Ủy ban nhân dân XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Mỗi quốc gia để phát triển bao giờ cũng phải có các nguồn lực cho
sự phát triển Trong bất kỳ hình thái kinh tế xã hội nào, trình độ và tính chất phát triển ra sao thì các nguồn lực cho sự phát triển vẫn là tư liệu sản xuất (đất đai, tài nguyên, máy móc thiết bị, công nghệ, tài chính ) và sức lao động (nguồn nhân lực và rộng ra là nguồn vốn con người, vốn xã hội, vốn thể chế ) Trong đó, sức lao động - nguồn nhân lực - con người là yếu tố động nhất, nguồn gốc của mọi của cải vật chất và sức sáng tạo ra các nền văn minh Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, sự thành bại của các quốc gia không thể là quá trình lịch sử tự nhiên, tuần tự nhi tiến,
mà là một quá trình liên tục kế tiếp nhau của năng lực sáng tạo mang tính cách mạng của nhân loại qua các khúc quanh lịch sử Một quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên, rất thuận lợi cho sự phát triển, nhưng chưa hẳn là quốc gia giàu có
Nguồn lực con người, vốn con người là hết sức quan trọng trong chiến lược và chính sách phát triển của mọi quốc gia Theo Liên hợp quốc thì "nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và đất nước" Ngân hàng thế giới cũng cho rằng "nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người, bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân" Như vậy, con người là tài nguyên đặc biệt và nguồn nhân lực
là tổng hòa thể lực và trí lực của lực lượng lao động toàn xã hội Nguồn nhân lực ấy kết tinh truyền thống, kinh nghiệm, trí tuệ của mỗi dân tộc và tinh hoa tri thức nhân loại được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu phát triển hiện tại và tương lai của mọi quốc gia
Trang 5Trong nền kinh tế trí thức hiện nay, Giáo dục và Đào tạo phải được coi là quan trọng hàng đầu bởi đây là nhân tố quan trọng để phát triển nguồn lực con người, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thông qua ứng dụng và thúc đẩy tiến bộ công nghệ và được coi là chìa khóa của sự phát triển Ở bất kỳ xã hội nào, công tác giáo dục phải luôn được quan tâm hàng đầu của một quốc gia Đặc biệt trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay thì ở bất kỳ lĩnh vực nào giáo dục vẫn là lĩnh vực lĩnh ấn tiên phong
Đảm bảo chất lượng đào tạo gắn liền với quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giáo dục và đào tạo Phát triển nguồn nhân lực chính
là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung cũng như sự phát triển của bất cứ doanh nghiệp, tổ chức nào Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực cho cả xã hội, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực càng cần nắm giữ vai trò then chốt
Do tầm quan trọng và ý nghĩa đó em chọn đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực có tâm có tài tại trường mầm non” làm đề tài tiểu luận của mình.
Trang 6CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN
LỰC 1.1 Triết học và phát triển nguồn nhân lực
Trong thời đại ngày nay, khoa học đang ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Những thành tựu của khoa học được ứng dụng nhanh chóng và rộng rãi vào sản xuất tri thức khoa học cũng là một bộ phận quan trọng trong kinh nghiệm, kỹ năng của người lao động Các yếu
tố của lực lượng sản xuất có quan hệ tác động biện chứng lẫn nhau, trong
đó người lao động đóng vai trò quan trọng hàng đầu
Trong quá trình sản xuất vật chất, ngoài quan hệ giữa con người với
tự nhiên còn là mối quan hệ giữa người với người Đó chính là quan hệ sản xuất Quan hệ này được phân tích theo hai giác độ
Xét trong quá trình tái sản xuất xã hội đó là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất phân phối trao đổi và tiêu dùng
Nếu phân tích trên 3 lớp quan hệ đó là quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức - quản lý sản xuất quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động Ba quan hệ này có tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định
Cũng như lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực đời sống vật chất của đời sống xã hội Tính vật chất của quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ, chúng tồn tại khách quan độc lập với ý muốn chủ quan của con người
- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt thống nhất biện chứng trong mỗi quá trình sản xuất Trong mối quan hệ đó vai trò quyết định thuộc về lực lượng sản xuất bởi vì nó là nội dung vật chất của quá trình đó Tính quyết định đó thể hiện là tương ứng với một trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện có thì cũng cần có một hệ thống quan hệ
Trang 7sản xuất phù hợp nhằm bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển lực lượng sản xuất Đồng thời những biến đổi trong nội dung vật chất của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến khả năng biến đổi của các quan hệ sản xuất
Với tư cách hình thức kinh tế của quá trình sản xuất thì quan hệ sản xuất lại có vai trò ảnh hưởng trở lại với lực lượng sản xuất Sự tác động này biểu hiện trên hai khả năng với nhu cầu khách quan của việc bảo tồn, sử dụng và khai thác có hiệu quả các lực lượng sản xuất và do đó có tác dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Trong trường hợp ngược lại thì nó lại kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
Dưới sự tác động của nhiều nhân tố như sự tích lũy dần kinh nghiệm
mà trong thời đại ngày nay với sự tác động trực tiếp và nhanh chóng của các tri thức khoa học kỹ thuật và công nghệ vào quá trình sản xuất thì lực lượng sản xuất không ngừng biến đổi và phát triển Nhưng sự biến đổi và phát triển đó trong một giới hạn nhất định thì chưa tạo ra nhu cầu khách quan của sự biến đổi các quan hệ sản xuất Khi sự biến đổi đó tới một giới hạn nhất định cả về số lượng và chất thì tất yếu sẽ đặt ra nhu cầu khách quan là cải cách, cải tổ và cao hơn là một cuộc cách mạng tới tận cơ sở quan hệ sản xuất tư liệu chủ yếu
Tuy nhiên những quan hệ sản xuất không tự nó biến đổi mà nó cần đến những cuộc cải cách; cách mạng trên phương diện chính trị và thể chế Nhà nước, cơ chế Nhà nước vì rằng những quan hệ sản xuất bao giờ cũng mang một hình thức pháp lý, chính trị văn hóa
Như vậy một yêu cầu khách quan được đặt ra có tính nguyên tắc đối với các quá trình xác lập, hoàn thiện những quan hệ sản xuất phải dựa trên trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện có
Ở nước ta đổi mới đã có những biểu hiện vận dụng chưa đúng quy luật này biểu hiện ở việc chủ quan, nóng vội trong việc xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mà không tính tới trình độ của lực lượng sản xuất
Trang 8nước ta Một quan hệ sản xuất tiên tiến không phù hợp với trình độ thấp kém của lực lượng sản xuất, nó đã kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất nước ta trong một thời gian dài Từ đổi mới 1986 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nước ta đã lựa chọn con đường phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, bởi lẽ trình độ lực lượng sản xuất nước ta còn thấp kém, không đồng đều Sự không đồng đều
về trình độ của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có sự đa dạng phong phú của các quan hệ sản xuất
Dù hình thức xã hội của sản xuất như thế nào, người lao động và tư liệu sản xuất bao giờ cũng vẫn là những nhân tố của sản xuất Muốn có sản xuất nói chung thì người lao động và tư liệu sản xuất phải kết hợp với nhau Con người sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm cho xã hội Lực lượng sản xuất là yếu tộ động, luôn luôn biến đổi dẫn đến sự biến đổi của quan hệ sản xuất Nếu mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thích hợp thì sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Như vậy có thể nói rằng lực lượng sản xuất là yếu tố cách mạng nhất của sản xuất Trong thực tế lịch sử xã hội loài người, sự phát triển của sản xuất đều được đánh dấu bằng sự tiến bộ không ngừng của lực lượng sản xuất Các cuộc cách mạng kỹ thuật đã mang lại sự thay đổi vượt bậc của quá trình sản xuất xã hội về cách thức sản xuất, phương thức tổ chức quản lý
Sự khác nhau giữa một thời đại này với một thời đại kinh tế khác là phương thức chế tạo,là những tư liệu lao động dùng để chế tạo chứ không phải là cái người ta chế tạo ra Những tư liệu lao động là thước đo sự phát triển của người lao động và là những chỉ số của những quan hệ xã hội trong
đó người lao động làm việc Nguồn gốc sâu xa của sự vận động phát triển
Trang 9của xã hội chính là ở sự phát triển của lực lượng sản xuất Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất đã quyết định, làm thay đổi quan hệ sản xuất Đến lượt mình quan hệ sản xuất thay đổi sẽ làm cho kiến trúc thượng tầng thay đổi và do đó phương thức sản xuất cũ được thay thế bằng phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn, hình thái kinh tế - xã hội cũ được thay thế bằng hình thái kinh tế xã hội mới cao hơn, tiến bộ hơn Quá trình này diễn ra một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan
1.2 Phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực (Human resource development HRD) theo
từ điển Long man Business dictionary (2007) là : “ một bộ phận của quản trị nguồn nhân lực chú trọng đến khâu đào tạo và phát triển đội ngũ nhân viên Phát triển nhân sự bao gồm việc đào tạo các cá nhân sau khi họ được thu nhận vào làm việc cho tổ chức, cung cấp cho họ những cơ hội học tập các kỹ năng mới, tạo điều kiện để nhân họ thực hiện nhiệm vụ của mình trong tổ chức cùng với các hoạt động mang tính phát triển khác
- Theo Giáo sư Tiến sỹ khoa học Phạm Minh Hạc thì: “Phát triển con người tựu trung là gia tăng giá trị cho con người, giá trị tinh thần, giá trị đạo đức, giá trị thể chất, vật chất”, mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn thể lực làm cho con người trở thành những người lao động có những năng lực và phẩm chất mới cao đẹp, đáp ứng được những yêu cầu to lớn của sự phát triển KT-XH, của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”
- Giáo sư Vũ Văn Tảo cho rằng việc phát triển con người, phát triển nhân lực là yếu tố quyết định nhất của sự phát triển bền vững Ông nhấn mạnh cần tạo được những bước đột phá quan trọng, như cải tiến mạnh
mẽ tổ chức và cơ chế vận hành của giáo dục để nâng cao chất lượng
GD-ĐT, có chính sách quy hoạch và sử dụng NNL đúng đắn
- Theo một định nghĩa khác, phát triển NNL là những hoạt động giúp cho nhân viên phát triển những kỹ năng cá nhân và kỹ năng tổ chức,
Trang 10phát triển kiến thức, hiểu biết và những khả năng Phát triển nguồn nhân lực bao gồm những hoạt động như huấn luyện đào tạo, phát triển sự nghiệp, thúc đẩy và kiểm soát việc thực hiện nhiệm vụ, huấn luyện,lập kế hoạch liên tục, xác định những nhân viên chủ chốt, hỗ trợ tài chính và phát triển
tổ chức
CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÓ
TÂM CÓ TÀI TẠI TRƯỜNG MẦM NON 2.1 Bồi dưỡng nâng cao tâm lực và trí lực cho cán bộ quản lý các trường mầm non
Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý có năng lực quản lý cao, được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ quản lý, có trình độ chuyên môn vững, tâm huyết với nhiệm vụ, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, là tấm gương cho tập thể cán bộ, giáo viên, học sinh ở các trường noi theo
Nắm vững các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, đặc biệt
là chủ trương đổi mới công tác quản lý giáo dục
Nắm vững mục tiêu, nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm non trong giai đoạn mới
Nắm vững nội dung, phương pháp quản lý để điều hành tốt các hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động vui chơi đáp ứng được mục tiêu giáo dục
Chỉ đạo nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý các trường Xây dựng đội ngũ CBQL các trường có bản lĩnh đổi mới, có khả năng ra quyết định đúng đắn trong quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động vui chơi, nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục trong nhà trường
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ quy hoạch các trường CBQL rà soát CBQL các trường và CBQL trong quy
Trang 11hoạch để tham mưu với các cấp lãnh đạo, đưa bồi dưỡng về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, quản lý giáo dục; bồi dưỡng CBQL trẻ Tạo điều kiện cho CBQL tham gia học nâng cao trình độ chuyên môn, học sau đại học để đáp ứng yêu cầu năng lực và trình độ quản lý giáo dục trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
Phòng giáo dục và đào tạo đầu tư các trang thiết bị, các điều kiện để phục vụ công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động vui chơi các trường
Tiếp tục đầu tư thiết bị các trường: Máy vi tính, nối mạng Internet, tăng cường các đầu sách, báo chí, các phương tiện quản lý, thư viện trường học phải được sử dụng có hiệu quả và liên tục bổ sung các tài liệu, cập nhật nhưng thông tin khoa học mới, giúp cho CBQL có thêm nhiều kênh thông tin trong việc tiếp nhận, bổ sung kiến thức mới ngay trong chính môi trường giáo dục
Tăng cường bồi dưỡng công tác đổi mới quản lý hoạt động giáo dục
kỹ năng sống thông qua hoạt động vui chơi cho cán bộ quản lý các trường
- Chỉ đạo CBQL các trường thường xuyên theo dõi, chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện PPDH của giáo viên, gắn kết chặt chẽ hoạt động thực hiện các PPDH và đổi mới đánh giá chất lượng dạy và học
- Chỉ đạo và quản lý việc thực hiện PPDH của giáo viên Tăng cường
dự giờ đột xuất, dự giờ theo chuyên đề việc thực hiện PPDH Chú trọng việc rèn kiến thức và kỹ năng sư phạm cho giáo viên và thường xuyên đánh giá rút kinh nghiệm
- Chỉ đạo các trường mầm non quản lý giáo viên trên cơ sở phân hóa
và sử dụng giáo viên theo tiêu chí chất lượng dạy học đặc biệt lưu ý đến việc đánh giá năng lực giáo viên qua những tiêu chí đánh giá thực hiện PPDH và xem nội dung này là một yêu cầu bắt buộc, liên quan đến đánh giá năng lực của giáo viên
Trang 12- Trong công tác quản lý, các trường phải thường xuyên kiểm tra thiết kế bài dạy của giáo viên, quản lý chặt chẽ việc thực hiện giờ dạy trên lớp để đánh giá, phân loại mức độ và hiệu quả thực hiện PPDH Từ đó có những hỗ trợ kịp thời cho hoạt động bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên
- Quản lý tốt đội ngũ CBQL các trường, hàng năm thực hiện đánh giá đúng thực chất đội ngũ để bồi dưỡng và sử dụng, thực hiện luân chuyển điều động CBQL càc trường hàng năm, quan tâm đối với các trường ở ngoại ô thành phố
2.2 Bồi dưỡng năng lực, chuyên môn cho giáo viên trường mầm non
Đây là nội dung quan trọng trong quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động vui chơi và nhất là trong việc thực hiện có hiệu quả PPDH Do đó, cần phải xây dựng đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn từng bước trên chuẩn, có lòng yêu nghề, lòng nhân ái, lương tâm nghề nghiệp, có tinh thần trách nhiệm trong việc đào tạo thế hệ trẻ, làm việc khoa học có kỷ luật Rèn luyện khả năng sư phạm, khả năng lôi cuốn học sinh, biết truyền thụ kiến thức và kỹ năng sống cho học sinh, có ý thức
và thường xuyên phấn đấu trở thành người giáo viên giỏi toàn diện
Giúp giáo viên trường mầm non có được những năng lực nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH hiện nay
Tổ chức các hình thức bồi dưỡng đa dạng, phong phú, bồi dưỡng tập trung, bồi dưỡng thường xuyên, tự bồi dưỡng đáp ứng nhu cầu thực sự của giáo viên đứng lớp
Có định hướng, nội dung và kế hoạch bồi dưỡng giáo viên cụ thể cho từng hoạt động, từng giai đoạn nhằm tăng cường đổi mới PPDH
* Cách thức thực hiện biện pháp
Chỉ đạo các trường xây dựng kế hoạch bồi dưỡng năng lực, chuyên môn cho giáo viên hằng năm