Từ đây, giai cấp công nhân Việt Nam đã có một bộ tham mưu của giai cấp vàdân tộc lãnh đạo, đánh dấu sự chiến thắng của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với các trào lưu tưtưởng phi vô sản.. Đản
Mục đích đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; là sự phát triển cao và thống nhất của phong trào công nhân và phong trào yêu nước, là kết quả của sự thống nhất của phong trào cách mạng trên khắp đất nước và của sự đồng tâm nhất trí của những chiến sĩ tiên phong Từ đó, khẳng định vai trò của Luận Cương chính trị và Cương lĩnh chính trị như nền tảng tư tưởng và phương hướng hoạt động của Đảng.
Đầu tiên của Đảng được xem là phù hợp với yêu cầu của toàn Đảng và toàn dân, trở thành ngọn cờ tập hợp các lực lượng và là nền tảng lãnh đạo phong trào cách mạng từ khi Đảng được thành lập Sự phù hợp ấy thúc đẩy sự đoàn kết giữa các tầng lớp xã hội, tập hợp lực lượng và cung cấp định hướng cho các hoạt động đấu tranh cách mạng Từ ngày thành lập, vai trò lãnh đạo của Đảng được khẳng định qua khả năng tổ chức, thống nhất mục tiêu và dẫn dắt phong trào cách mạng tới những bước tiến quan trọng Những yếu tố căn bản này tiếp tục định hình đường lối và phong cách hoạt động của Đảng, góp phần vào sự phát triển của phong trào cách mạng cho đến hôm nay.
Nhiệm vụ đề tài
Một là, làm rõ đặc điểm kinh tế, xã hội Việt Nam dưới chính sách thống trị, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp.
Hai là, làm rõ những nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng chính trị phong kiến và tư sản cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ đầu 1930.
Ba là , làm rõ quá trình lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái
Quốc (1911-1920) và sự chuẩn bị của Nguyễn Ái Quốc về tư tưởng-chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam.
Bốn là, làm rõ sự phát triển của phong trào cách mạng vô sản, sự ra đời của Đảng
Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
Năm là, làm rõ giá trị thực tiễn của sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
TIEU LUAN MOI download : 6 skknchat123@gmail.com
Bối cảnh lịch sử Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp
Bối cảnh Việt Nam dưới ách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
1.2.1 Đặc điểm kinh tế a) Về kinh tế
Thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương lần thứ nhất (1897
- 1914); khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919- 1929), trong đó lấy Việt Nam là trọng điểm.
Tư bản Pháp bỏ vốn nhiều nhất vào nông nghiệp (lập các đồn điền cao su, cà phê, chè ) và ngành khai mỏ (chủ yếu là than, sắt, thiếc, vàng ) để thu lợi nhuận nhiều và nhanh Tư bản Pháp xây dựng ngành giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến; độc quyền ngoại thương Ngân hàng Đông Dương của Pháp độc quyền tài chính, đặt ra hàng trăm thứ thuế, tàn ác nhất là thuế thân; thi hành rộng rãi chính sách cho vay nặng lãi.
Kết quả là nền kinh tế nước ta có sự phát triển ở mức độ nhất định theo hướng tư bản chủ nghĩa, nhưng vẫn là một nền kinh tế thuộc địa, mất cân đối và phụ thuộc vào Pháp Về mặt chính trị, hệ thống cai trị thực dân chi phối toàn diện đời sống xã hội và quyền lực nằm trong tay Pháp.
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.2, tr.312.”
Việt Nam từng chịu một âm mưu thâm độc của thực dân Pháp nhằm phân chia đất nước thành ba kỳ cai trị riêng biệt, sau đó sáp nhập ba kỳ này với Lào và Campuchia để thiết lập liên bang Đông Dương thuộc Pháp và xóa tên Việt Nam khỏi bản đồ thế giới Qua âm mưu ấy, các thế lực thực dân cố tình gây chia rẽ và thù hằn giữa các vùng Bắc - Trung - Nam, giữa các tôn giáo và các dân tộc, giữa các địa phương, thậm chí giữa các dòng họ, nhằm làm suy yếu khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương.
Dưới sự cai trị của thực dân Pháp, tính chất xã hội Việt Nam đã có những biến đổi căn bản Việt Nam chuyển từ một xã hội phong kiến truyền thống sang một xã hội thuộc địa và nửa phong kiến, đồng thời xuất hiện sự lệ thuộc kinh tế và ảnh hưởng của hệ thống khai thác thuộc địa lên đời sống, tư duy và cơ cấu xã hội của người dân.
Giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm, và dù chủ nghĩa tư bản thực dân xâm nhập vào Việt Nam, họ vẫn được duy trì như cơ sở của chế độ thuộc địa Tuy nhiên, vì chính sách kinh tế và chính trị phản động của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ phân hóa thành ba bộ phận rõ rệt: tiểu, trung và đại địa chủ, thậm chí có một số địa chủ bị phá sản Lớn lên ở một quốc gia có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, nhiều tiểu và trung địa chủ chịu áp lực thống trị và bóc lột kinh tế; một bộ phận không nhỏ trong họ đã đứng lên đấu tranh chống thực dân và bè lũ phản động tay sai để bảo vệ quyền lợi dân tộc.
Giai cấp nông dân chiếm khoảng 90% dân số Việt Nam và chịu áp bức nặng nề từ đế quốc, phong kiến địa chủ và tư bản Ruộng đất của họ bị tước đoạt bởi tư bản thực dân và giai cấp địa chủ, trong khi các chính sách độc quyền kinh tế đẩy giá mua rẻ, bán đắt, tô cao, thuế nặng và chế độ cho vay lãi suất cao lên đầu họ, đưa họ vào cảnh bần cùng không lối thoát Một số ít đã phải bán sức lao động hoặc làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền hoặc bị bắt làm phu ở các thuộc địa của đế quốc Pháp Phần đông còn lại vẫn phải gắn bó với đồng ruộng và chịu đựng sự bóc lột vô cùng nặng nề ngay trên mảnh đất mà trước đây thuộc sở hữu của chính họ.
Vì mất nước và mất ruộng đất nên nông dân nảy sinh mâu thuẫn sâu sắc với đế quốc và phong kiến, đặc biệt với đế quốc và bè lũ tay sai phản động Họ vừa khao khát độc lập dân tộc vừa đòi quyền ruộng đất, trong đó yêu cầu độc lập dân tộc là đòi hỏi cấp thiết nhất Giai cấp nông dân có truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất và là lực lượng to lớn nhất, đồng thời là động lực cách mạng mạnh mẽ Khi được tổ chức lại và có sự lãnh đạo đúng đắn, giai cấp nông dân có thể tập hợp thành một lực lượng có sức ảnh hưởng lớn, đóng vai trò then chốt trong cuộc đấu tranh giành độc lập và đất đai.
Giai cấp tư sản Việt Nam hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, phát triển dưới áp lực của tư bản Pháp và cạnh tranh gay gắt Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam chỉ là một tầng lớp nhỏ bé Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam đã hình thành một giai cấp rõ rệt, ra đời trong điều kiện bị tư bản Pháp chèn ép và cạnh tranh rất gay gắt; số lượng tư sản Việt Nam không nhiều, thế lực kinh tế còn nhỏ bé và thế lực chính trị yếu ớt.
Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản Việt Nam phân thành hai bộ phận:
Tư sản mại bản là những tư sản lớn, hợp tác kinh doanh với đế quốc và nhận thầu các công trình xây dựng do chúng thực hiện ở nước ta Nhiều tư sản mại bản sở hữu đồn điền lớn hoặc có nhiều ruộng đất cho phát canh, thu tô Vì quyền lợi kinh tế và quyền lực chính trị gắn với đế quốc thực dân nên tư sản mại bản là tầng lớp đối lập với dân tộc.
Tư sản dân tộc là bộ phận đông nhất của giai cấp tư sản, gồm các tư sản vừa và nhỏ hoạt động trong thương mại, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, và họ mong muốn phát triển chủ nghĩa tư bản của dân tộc Việt Nam, nhưng trước sự độc quyền và chèn ép của tư bản Pháp họ không thể phát triển được; xét về quan hệ với đế quốc Pháp, tư sản dân tộc phải chịu số phận mất nước và có mâu thuẫn về lợi ích với đế quốc thực dân và phong kiến, nên họ mang tinh thần chống đế quốc và phong kiến, trở thành một lực lượng cách mạng không thể thiếu trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc.
Giai cấp tiểu tư sản gồm nhiều thành phần như tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên và người làm nghề tự do; tuy giữa các nhóm có khác biệt về kinh tế và sinh hoạt, nhưng họ có vị thế kinh tế bấp bênh và luôn đối diện với nguy cơ phá sản, thất nghiệp Họ mang tinh thần yêu nước nồng nàn, bị đế quốc và phong kiến áp bức, bóc lột nên rất hăng hái tham gia cách mạng; đặc biệt trí thức là tầng lớp nhạy cảm với thời cuộc, dễ tiếp cận các tư tưởng tiến bộ và đổi mới đất nước, đồng thời gìn giữ giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Khi phong trào quần chúng công nông thức tỉnh, họ ngày càng đông đảo tham gia và đóng vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh ở đô thị Vì vậy giai cấp tiểu tư sản là một lực lượng cách mạng quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do cho dân tộc.
TIEU LUAN MOI download : 11 skknchat123@gmail.com
Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của Pháp và nằm trong những mạch máu kinh tế do thực dân nắm giữ; lớp công nhân xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX khi Pháp xây dựng các cơ sở công nghiệp và thành phố phục vụ cho việc xâm lược và bình định ở nước ta Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, giai cấp này hình thành, và đến cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, quy mô công nhân tăng nhanh từ khoảng 100.000 người năm 1914 lên hơn 220.000 người năm 1929, trong đó có hơn 53.000 công nhân mỏ (60% là công nhân mỏ than) và 81.200 công nhân đồn điền.
Giai cấp công nhân Việt Nam dù còn non trẻ, chỉ chiếm khoảng 1% dân số và có trình độ học vấn, kỹ thuật ở mức thấp, nhưng họ sống tập trung khá đông tại các thành phố, các khu vực trung tâm công nghiệp và các đồn điền.
Thực trạng và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam
1.3.1 Thực trạng và mâu thuẫn chủ yếu của cách mạng Việt Nam
Dưới tác động của chính sách cai trị và kinh tế thực dân, xã hội Việt Nam rơi vào một quá trình phân hoá sâu sắc: giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp tăng cường bóc lột nông dân, đồng thời nội bộ địa chủ cũng có sự phân hoá, có một bộ phận yêu nước tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức khác nhau Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất, bị áp bức và bóc lột nặng nề bởi thực dân và phong kiến, và tình cảnh bần cùng khổ cực của họ làm tăng lòng căm thù đế quốc và ý chí cách mạng trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống tự do Giai cấp công nhân Việt Nam hình thành từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, phần lớn xuất thân từ nông dân, có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với nông dân, bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột Giai cấp tư sản Việt Nam bị tư sản Pháp và tư sản người Hoa cạnh tranh chèn ép, đè nén về kinh tế và địa vị chính trị, do đó thế lực kinh tế và địa vị chính trị nhỏ bé và yếu ớt, nhưng vẫn có tinh thần dân tộc và yêu nước ở mức độ nhất định Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam bao gồm học sinh, trí thức, những người làm nghề tự do, đời sống bấp bênh dễ bị phá sản trở thành người vô sản, vẫn có lòng yêu nước, căm thù đế quốc, thực dân, và có khả năng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài.
Ở Việt Nam lúc ấy, mọi giai cấp, tầng lớp đều mang thân phận người dân mất nước, chịu thực dân áp bức và bóc lột ở mức độ khác nhau Vì vậy, bên cạnh mâu thuẫn cơ bản giữa Nhân dân, chủ yếu là nông dân, với giai cấp địa chủ và phong kiến, nảy sinh một mâu thuẫn vừa cơ bản vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc: mâu thuẫn giữa toàn thể Nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược Tính chất của xã hội Việt Nam là thuộc địa nửa phong kiến đặt ra hai yêu cầu lớn: một là phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc và tự do cho Nhân dân; hai là phải xóa bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho Nhân dân, trong đó ruộng đất được ưu tiên giải quyết cho nông dân Chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.
TIEU LUAN MOI download : 13 skknchat123@gmail.com
1.3.2 Nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam
Trước năm 1930, phong trào yêu nước ở Việt Nam nổ ra mạnh mẽ nhưng đều bị thất bại do khủng hoảng về đường lối cách mạng và thiếu sự tổ chức lãnh đạo có tầm nhìn Những thất bại này cho thấy yêu cầu cấp thiết phải có Đảng của giai cấp tiên tiến nhất để lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tập hợp lực lượng và định hướng chiến lược đúng đắn nhằm đẩy cuộc đấu tranh tiến lên và giành thắng lợi.
Trong giai đoạn 1919-1929, hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự thành lập Đảng Cách mạng Việt Nam Ông tích cực tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin tại Việt Nam, thiết lập nền tảng tư tưởng và chính trị cho phong trào cách mạng Đồng thời, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tổ chức này trở thành kênh truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và chuẩn bị lực lượng cho sự ra đời của Đảng.
Trong giai đoạn 1928–1929, chủ nghĩa Mác–Lênin được truyền bá rộng rãi vào Việt Nam, thúc đẩy phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ; nhu cầu cấp thiết về một đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo trở nên rất rõ, dẫn đến sự hình thành lần lượt ba tổ chức cộng sản tại Việt Nam Tuy nhiên, sự hoạt động riêng rẽ của ba tổ chức này đã gây ảnh hưởng không tốt đến tiến trình cách mạng Việt Nam vì thiếu sự thống nhất và phối hợp Do đó, sự tập trung lực lượng và sự thống nhất giữa các tổ chức là cần thiết để xây dựng một đảng vô sản lãnh đạo đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.
Cuối năm 1929, các tổ chức cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất để chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào cộng sản ở Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức và chủ trì hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-1930, và hội nghị đã quyết định hợp nhất ba tổ chức Đảng là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn thành Đảng Cộng sản Việt Nam Hội nghị cũng thông qua các văn kiện Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3-2 hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức Đảng cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy nhất, theo một đường lối chính trị đúng đắn, đã tạo sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam.
Đề tài tiểu luận mới tập trung vào vai trò của hệ tư tưởng Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam và khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời như một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc Bài viết phân tích nguồn gốc tư tưởng, những nguyên lý cơ bản và tác động của Mác-Lênin đối với phong trào cách mạng Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng trong quá trình kháng chiến và xây dựng đất nước Đây là tài liệu tham khảo được trình bày dưới dạng có thể tải xuống, nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện cho độc giả quan tâm đến lịch sử và lý luận cách mạng Việt Nam.
Đảng ra đời từ sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam Hồ Chí Minh là hiện thân trọn vẹn cho sự kết hợp đó, là tiêu biểu sáng ngời cho sự hòa quyện giữa giai cấp và dân tộc, giữa dân tộc Việt Nam và quốc tế, và cho sự đồng hành giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Việc thành lập Đảng là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử công nhân và cách mạng Việt Nam, chứng tỏ giai cấp vô sản nước ta trưởng thành và có đủ sức lãnh đạo phong trào cách mạng Điều này chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về vai trò lãnh đạo và đường lối trong phong trào cách mạng Việt Nam Từ đó, cách mạng Việt Nam thuộc về sự lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân, với Đảng Cộng sản là đội tiên phong.
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện ngay từ khi ra đời cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản, là cơ sở để Đảng nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam và giải quyết khủng hoảng về đường lối cũng như giai cấp lãnh đạo ở đầu thế kỷ XX, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam Chính đường lối này là cơ sở bảo đảm sự tập hợp lực lượng và sự đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại và giành được những thắng lợi to lớn sau này, đồng thời quyết định phương hướng phát triển và bước đi của cách mạng Việt Nam trong suốt 86 năm qua Với chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, ĐCSVN đã tranh thủ sự ủng hộ rộng lớn của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại để làm nên những thắng lợi vẻ vang, đồng thời đóng góp tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
TIEU LUAN MOI download : 15 skknchat123@gmail.com
Các phong trào yêu nước Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm
Các phong trào yêu nước theo các khuynh hướng phong kiến và tư sản
2.1.1 Khuynh hướng phong kiến a) Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến tiêu biểu là:
Phong trào Cần Vương (1885–1896) do vua Hàm Nghi và cụ Tôn Thất Thuyết lãnh đạo, hoạt động chủ yếu ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ Ngày 13/7/1885, vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, mở đầu một phong trào yêu nước lan rộng ra nhiều địa phương ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ Mặc dù ngày 1/11/1888 vua Hàm Nghi bị Pháp bắt, phong trào vẫn tiếp tục phát triển cho đến năm 1896 và có sức ảnh hưởng lớn trong lòng dân tộc Sự thất bại của các phong trào cho thấy hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo cuộc vận động giải quyết nhiệm vụ dân tộc Việt Nam thời kỳ thuộc địa.
+) Khởi nghĩa Ba Đình (1881-1887) do Phạm Bành và Đinh Công Tráng lãnh đạo, diễn ra tại Thanh Hóa
+) Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892) do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, diễn ra ở các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Thái Bình
+) Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896) do Phan Đình Phùng và Cao Thắng lãnh đạo, diễn ra ở địa bàn Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Hà Tĩnh.
Cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế (1885–1913) ở Bắc Giang do Hoàng Hoa Thám và Lương Văn Nắm lãnh đạo đã đánh bại Pháp ở nhiều trận, gây cho đế quốc Pháp nhiều khó khăn và thiệt hại, thể hiện ý chí tự chủ của nông dân và sức đề kháng địa phương, nhưng phong trào cuối cùng bị dập tắt vào năm 1913 Nguyên nhân thất bại gồm sự chênh lệch về sức mạnh và nguồn lực so với Pháp, thiếu sự liên kết và hỗ trợ rộng rãi ở ngoài vùng Yên Thế, tổ chức và lãnh đạo chưa đủ ổn định để duy trì động lực chiến đấu trước sức mạnh quân sự và chiến thuật hiện đại của Pháp, cùng với sự đàn áp khốc liệt và bao vây của thực dân khiến phong trào kiệt quệ.
Do chênh lệch lực lượng giữa ta và địch quá lớn, Pháp — một nước tư bản phát triển — có tiềm lực to lớn về kinh tế và quân sự: quân đội đông đảo, binh lính được trang bị đầy đủ, vũ khí hiện đại, được huấn luyện chu đáo và quen với chiến tranh hiện đại; quân chỉ huy của Pháp có kinh nghiệm qua các cuộc chiến tranh hiện đại Thêm vào đó, thực dân Pháp đã trải qua Thế chiến thứ nhất thông qua các cuộc thôn tính thuộc địa, gia tăng sức mạnh và ảnh hưởng của họ trên phạm vi toàn cầu.
TIEU LUAN MOI download : 16 skknchat123@gmail.com
Ngược lại, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu với tiềm lực kinh tế và quân sự bị thiệt hại đáng kể Quân đội đông nhưng chưa được huấn luyện đầy đủ và làm quen với chiến tranh hiện đại; vũ khí còn thô sơ, chủ yếu tự chế, và quân trang cùng thuốc men thiếu thốn Bên cạnh đó, quân ta thường xuyên hoạt động và đóng căn cứ ở vùng núi nên dễ mắc bệnh và tiếp tế chưa được đầy đủ.
Vào cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, nhân dân Việt Nam chưa nhận được sự giúp đỡ từ các nước tiên tiến trên thế giới, trong khi Pháp là nước tư bản phát triển mạnh mẽ; Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến thất bại còn do nước ta lúc bấy giờ mang tư tưởng lạc hậu hơn một trình độ so với thực dân Pháp, vì vậy bọn phản động trong nước đã ủng hộ thực dân Pháp và chỉ điểm cho chúng đàn áp cách mạng Việt Nam.
Thiếu một tư tưởng kiên định, tiên tiến dẫn đường nên chưa đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn Vì vậy, chưa thúc đẩy và khai thác triệt để sự ủng hộ của nhân dân, không phát huy được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc.
Do sự bạc nhược và yếu hèn của triều đình Nguyễn trước tình cảnh mất nước, một triều đình không được lòng dân và không có năng lực lãnh đạo nhân dân ta cùng nhau giữ nước mà còn lần lượt ký các hiệp định bán nước ( Hiệp ước Patonot và Hắc măng) càng khiến cho nhân dân và các sĩ phu yêu nước bất bình, căm tức Từ đó phong trào kháng chiến nổ ra ở khắp nơi dù triều đình đã có lệnh bãi binh Triều Nguyễn là một triều đình không đại diện cho nhân dân, không chịu canh tân đất nước dù các văn thân sĩ phu yêu nước đã đề nghị và đưa ra yêu sách tiến bộ nên đã biến khả năng không mất nước từ chưa hoàn toàn tất yếu đã trở thành hoàn toàn tất yếu, bộ phận phản động nhất trong triều Nguyễn đã trở thành tay sai cho giặc Pháp đàn áp nhân dân Vì thế thái độ chính trị bạc nhược, yếu hèn và đi đến phản động Bị dân Pháp mua chuộc xong quay ra phản cách mạng khiến cho lực lượng nhân dân ủng hộ phong trào ngày càng yếu đi.
TIEU LUAN MOI download : 17 skknchat123@gmail.com
2.1.2 Khuynh hướng tư sản a) Phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu tiến bộ chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản diễn ra sôi nổi Về mặt phương pháp, tầng lớp sĩ phu lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX có sự phân hóa thành 2 xu hướng:
Phan Bội Châu (1867-1941), quê ở Nghệ An, được xem là đại diện cho khuynh hướng bạo động trong phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX, với chủ trương dùng biện pháp bạo động để đánh đuổi thực dân Pháp và phục hồi nền độc lập cho dân tộc Ông phát động phong trào Đông Du nhằm đưa du học sinh Việt Nam sang Nhật Bản học tập, chọn Nhật Bản vì đây là nước có cùng nguồn gốc văn hóa (đồng văn, đồng chủng), nền kinh tế phát triển mạnh và sức mạnh quân sự đáng kể.
Phan Châu Trinh đại diện cho khuynh hướng cải cách ở Việt Nam, chủ trương vận động cải cách văn hóa và xã hội nhằm nuôi dưỡng lòng yêu nước của nhân dân; đả kích bọn vua quan phong kiến thối nát và đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản; thực hiện khai dân trí, chấn dân trí, hậu dân sinh và mở mang dân quyền; đồng thời phản đối đấu tranh vũ trang và cầu viện nước ngoài, cầu xin Pháp đến khai hóa cho Việt Nam.
Trong thời kỳ đó, Việt Nam ghi nhận nhiều phong trào đấu tranh nổi bật như Phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907); Phong trào tẩy chay Khách trú (1919); Phong trào chống độc quyền xuất nhập khẩu ở cảng Sài Gòn (1923); và các cuộc đấu tranh tại các hội đồng quản hạt, hội đồng thành phố nhằm đòi cải cách tự do dân chủ Tuy nhiên, các phong trào này đã gặp thất bại vì nhiều nguyên nhân được phân tích ở phần sau.
- Giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ yếu cả về kinh tế và chính trị nên không đủ sức giữ vững ngọn cờ lãnh đạo cách mạng.
Ngọn cờ tư tưởng tư sản còn rất mới mẻ với người Việt Nam, nhưng nó không có đủ khả năng để giúp nhân dân Việt Nam thoát khỏi kiếp nô lệ Dù đây là một xu hướng tư tưởng mới, nó vẫn chưa thể trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự tự do và độc lập cho đất nước Trong bối cảnh lịch sử và thực tiễn Việt Nam, cần xem xét kỹ lưỡng và tìm kiếm các giải pháp phù hợp hơn để đạt được mục tiêu tự chủ và phát triển bền vững.
- Giai cấp tư sản Việt Nam còn thiếu một đường lối chính trị đúng đắn và một phương pháp cách mạng khoa học.
Việt Nam Quốc Dân Đảng là tiêu biểu của tổ chức chính trị của giai cấp tư sản Việt Nam Tuy nhiên, tổ chức này rất lỏng lẻo và thiếu cơ sở trong quần chúng, nên không đủ sức chống đỡ trước sự tiến công của đế quốc Pháp.
TIEU LUAN MOI download : 18 skknchat123@gmail.com
2.2 Con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản và sự chuẩn bị cho sự nghiệp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
2.2.1 Quá trình lựa chọn con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc
Trong giai đoạn 1911–1920, Nguyễn Tất Thành tận dụng mọi cơ hội để đến nhiều nước ở các lục địa Âu, Á, Phi và Mỹ, dừng chân khảo sát tại ba nước đế quốc lớn nhất thời đó là Mỹ, Anh và Pháp Người tích cực học hỏi và tham gia thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản và thuộc địa, từ đó rút ra nhận xét căn bản: nơi nào bọn đế quốc và thực dân tàn bạo, nơi đó người lao động bị bóc lột nặng nề; dù màu da khác nhau, trên thế giới chỉ có hai giai cấp: người bóc lột và người bị bóc lột Những nhận thức ấy càng thôi thúc Nguyễn Tất Thành chuẩn bị cho những bước đường hoạt động cách mạng tiếp theo.
Nguyễn Ái Quốc kiên quyết tìm kiếm con đường giải phóng đất nước và giải phóng dân tộc Việt Nam Hành trang duy nhất Người mang theo khi lên tàu ra nước ngoài là chủ nghĩa yêu nước—một sản phẩm tinh thần cao đẹp của lịch sử và của dân tộc Việt Nam Tư tưởng yêu nước của Người vừa kế thừa tinh hoa của truyền thống yêu nước vừa bao hàm một tinh thần đổi mới, phù hợp với yêu cầu giải phóng dân tộc và xu thế của thời đại.
Sự phát triển của phong trào cách mạng theo khuynh hướng vô sản
Phong trào cách mạng phát triển đòi hỏi tổ chức và lãnh đạo ở mức cao hơn, khiến Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên không còn đủ sức dẫn dắt nữa và cần thành lập một Đảng Cộng sản để tổ chức và lãnh đạo công nhân, nông dân cùng các lực lượng yêu nước đấu tranh chống đế quốc, phong kiến và tay sai giành độc lập dân tộc Vì thế, chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Bắc Kỳ ra đời vào tháng 3 năm 1929, mở đường cho sự hình thành một Đảng Cộng sản thay thế Các hoạt động của chi bộ này nhằm xây dựng và củng cố lực lượng lãnh đạo cách mạng, chuẩn bị cho một tổ chức đảng có tính chất và sức chiến đấu phù hợp với yêu cầu của cuộc đấu tranh.
Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập vào tháng 6 năm 1929, đánh dấu bước phát triển quan trọng của phong trào cách mạng ở Đông Dương Đến tháng 7 năm 1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập, và Tân Việt cũng tự cải tổ, đổi tên thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn vào tháng 9 năm 1929, tạo nên một liên đoàn các nhóm cộng sản nhằm tăng cường sự phối hợp và sức mạnh đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.
(i) Sự ra đời của Đông Dương cộng sản Đảng( 6/1929)
Vào cuối tháng 3 năm 1929, một số hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Bắc Kỳ, trong đó có Ngô Gia Tự và Nguyễn Đức Cảnh, đã họp tại số 5D Hàm Long, Hà Nội để thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam với 7 người Nhóm này tích cực chuẩn bị tiến tới thành lập một Đảng Cộng sản thay thế cho Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.
Trong đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (tháng 5/1929), kiến nghị thành lập Đảng Cộng sản của đoàn đại biểu đã không được chấp nhận; đoàn đại biểu Bắc Kỳ rút về nước và ra lời kêu gọi công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân cách mạng nước ta ủng hộ chủ trương thành lập Đảng Cộng sản.
Ngày 17/6/1929, đại biểu các tổ chức cơ sở của phong trào cộng sản miền Bắc đã họp đại hội và quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng, thông qua tuyên ngôn và điều lệ Đảng, đồng thời cho xuất báo Búa Liềm làm cơ quan ngôn luận Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời đáp ứng yêu cầu thiết yếu của quần chúng, được nhiệt liệt hưởng ứng và giúp uy tín cũng như tổ chức của Đảng phát triển mạnh, nhất là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
(ii) Sự ra đời của An Nam cộng sản Đảng (7/1929)
Việc thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng đã tạo đà trực tiếp cho sự hình thành của các tổ chức cộng sản tiếp theo Vào tháng 7 năm 1929, Tổng bộ Thanh niên và Kỳ bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã quyết định thành lập An Nam Cộng sản Đảng.
TIEU LUAN MOI download : 22 skknchat123@gmail.com
An Nam Cộng sản Đảng ra tờ 'báo đỏ' ở Hương Cảng – Trung Quốc nhằm tuyên truyền về trong nước Tháng 11 năm 1929, đại hội của An Nam Cộng sản Đảng đã thông qua đường lối chính trị và bầu Ban Chấp hành Trung ương của Đảng.
(iii) Sự thành lập Đông Dương cộng sản liên đoàn
Sự phân hóa trong Hội Việt Nam cách mạng thanh niên dẫn đến sự ra đời của hai tổ chức cộng sản ở Việt Nam là Đông Dương Cộng sản Đảng ( 6/1929) và An Nam Cộng sản Đảng; đây là bước ngoặt của phong trào cách mạng, khi sự tập hợp rộng rãi được chuyển hóa thành các đảng phái có đường lối chiến lược và tổ chức chặt chẽ để đấu tranh vì độc lập dân tộc.
Vào tháng 9 năm 1929, xu hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng lôi cuốn các đảng viên tiên tiến của Tân Việt cách mạng Đảng Những người này, vốn chịu ảnh hưởng của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, đã tách ra để thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn Đây được xem là bước phát triển mới của tổ chức này: từ một đảng tiểu tư sản chịu ảnh hưởng của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên có khuynh hướng vô sản nay đã phân hóa và chuyển thành Đảng Cộng sản.
Như vậy, chỉ trong vòng không đấy bốn tháng (từ tháng 6 đến 9/1929) đã có 3 tổ chức cộng sản lần lượt ra đời ở nước ta.
TIEU LUAN MOI download : 23 skknchat123@gmail.com
Sự hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên
3.1.1 Hội nghị thành lập Đảng a) Bối cảnh
Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 chứng kiến sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản từ cạnh tranh tự do sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Các nước tư bản đế quốc vừa tăng cường bóc lột người lao động trong nước vừa xâm lược và áp bức các dân tộc thuộc địa Sự thống trị của đế quốc khiến đời sống của người lao động trở nên khắc nghiệt hơn Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa diễn ra mạnh mẽ.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa Mác-Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra một thời đại mới – thời đại cách mạng chống đế quốc và giải phóng dân tộc Cách mạng Tháng Mười đã nêu một tấm gương sáng về việc giải phóng các dân tộc bị áp bức, đồng thời khẳng định sức mạnh của sự liên kết giữa lý luận cách mạng và thực tiễn trong phong trào giải phóng trên toàn cầu.
Quốc tế Cộng sản III được thành lập vào tháng 3/1919, đánh dấu bước ngoặt quan trọng cho phong trào công nhân và cộng sản trên toàn cầu Sự ra đời của tổ chức này thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cộng sản quốc tế và đoàn kết các lực lượng lao động ở nhiều nước Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đóng vai trò then chốt trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác–Lênin và đặt nền móng cho sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Theo một số tài liệu, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng, ngày 17/6/1929, Kỳ Bộ Bắc Kỳ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đã thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng tại Hà Nội Vào tháng 11/1929, Tổng bộ và Kỳ Bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên quyết định thành lập An Nam Cộng sản Đảng Ngày 1/1/1930, những đại biểu ưu tú của Tân Việt cách mạng Đảng (một tổ chức tiền thân của Đảng) đã họp và thành lập Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn ở Trung Kỳ Tuy nhiên, ở một nước có tới ba tổ chức cộng sản nên không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, và khó có thể thống nhất về tư tưởng và hành động.
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử cách mạng Việt Nam và sự tập hợp của các lực lượng công nhân, thanh niên và trí thức dưới ánh sáng của chủ nghĩa vô sản Sự ra đời của đảng kết nối phong trào giải phóng dân tộc với các phong trào công nhân và xã hội chủ nghĩa, tạo nên một mặt trận thống nhất để đẩy lùi thực dân và hướng tới một nền độc lập đi đôi với tiến bộ xã hội Qua các giai đoạn, vai trò lãnh đạo của Đảng đã định hình lịch sử Việt Nam và khẳng định vị thế của người lao động trong cuộc đấu tranh vì độc lập và tiến bộ, với sự tham gia tiêu biểu của Liên đoàn lao động Hải Phòng như một minh chứng sống cho sức mạnh và ý thức đấu tranh của công nhân.
Nhiệm vụ lịch sử là phải thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất và chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào Cộng sản ở Việt Nam, nhằm tăng cường sự lãnh đạo và đoàn kết của lực lượng cách mạng Nội dung bài viết nhấn mạnh sự cần thiết của sự thống nhất giữa các tổ chức Cộng sản để đường lối và mục tiêu cách mạng được thực thi hiệu quả, tập hợp mọi nguồn lực và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Giữa ngày 6 tháng 1 và ngày 7 tháng 2 năm 1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản đã diễn ra trên bán đảo Cửu Long thuộc Hong Kong (Trung Quốc), do Nguyễn Ái Quốc đại diện cho Quốc tế Cộng sản chủ trì Tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đề ra năm điểm lớn cần thảo luận và thống nhất, trước hết là tự phê bình và phê bình, bỏ mọi thành kiến và xung đột cũ để thật sự hợp tác nhằm thống nhất các nhóm Cộng sản Đông Dương Hội nghị đã nhất trí sáp nhập các tổ chức Cộng sản thành một đảng duy nhất, mang tên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hội nghị đã thông qua các văn kiện gồm Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng và Lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi tới công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và mọi đồng bào bị áp bức, bóc lột nhân dịp thành lập Đảng Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt phản ánh nội dung cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như Đại hội thành lập Đảng Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm Ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Ý nghĩa của việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vĩ đại trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam.
Việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc và chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX Đó là kết quả của sự vận động, phát triển và thống nhất phong trào cách mạng trên cả nước; sự chuẩn bị công phu về mọi mặt của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và sự đoàn kết nhất trí của những chiến sĩ tiên phong vì lợi ích của giai cấp và của dân tộc.
Ý nghĩa lịch sử của sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên nằm ở việc tập hợp lực lượng cách mạng dưới một đường lối rõ ràng, chuyển phong trào từ tự phát sang một tổ chức có tổ chức và mục tiêu chiến lược Cương lĩnh Chính trị 1930 nêu cao mục tiêu độc lập dân tộc và ruộng đất cho nông dân, đồng thời đẩy mạnh liên minh giữa công nhân và nông dân, xây dựng nền tảng cho một Đảng cách mạng hiện đại lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng đất nước Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới với đường lối đấu tranh chống đế quốc và phong kiến, và ảnh hưởng sâu sắc tới phương hướng xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa sau này.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác–Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam, cho thấy giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành và có đủ sức lãnh đạo cuộc cách mạng.
Với vai trò là một bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam được củng cố bởi sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và đường lối cách mạng do Đảng lãnh đạo Đảng xem Việt Nam là một phần của phong trào cách mạng toàn cầu và đã tranh thủ sự ủng hộ rộng lớn từ phong trào cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với nhịp tiến của thời đại để giành những thắng lợi vẻ vang Nhờ những thành tựu đó, Việt Nam đồng thời đóng góp tích cực vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ của nhân loại trên thế giới.
Chính đường lối này là nền tảng để tập hợp lực lượng và đoàn kết toàn dân với một tư tưởng và hành động thống nhất, nhằm tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại và giành những thắng lợi to lớn sau này Đây cũng là điều kiện cơ bản quyết định phương hướng phát triển và các bước đi của cách mạng Việt Nam trong suốt 86 năm qua Nhờ sự nhất trí về đường lối lãnh đạo và sự đồng tâm của các tầng lớp xã hội, sự phát triển của cách mạng được duy trì một hướng đi rõ ràng, mở đường cho những thành tựu và tiến bộ liên tục của đất nước.
3.1.2 Nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên
Hội nghị đã quyết định hợp nhất các tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản Đảng,
Đảng Cộng sản Việt Nam được hình thành từ sự sáp nhập của An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, sau một hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện quan trọng gồm Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc biên soạn Các văn kiện này thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của cuộc cách mạng Việt Nam Đồng thời hội nghị đã thông qua lời kêu gọi do Nguyễn Ái Quốc đại diện cho Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi tới đồng bào, đồng chí trên toàn quốc nhân dịp thành lập Đảng.
Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng thể hiện cô đọng các luận điểm cách mạng cơ bản, đánh giá chính xác tính chất xã hội Việt Nam thuộc địa và chỉ rõ mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu là giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc thực dân xâm lược; xác định đường lối phát triển, chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam được thực hiện bằng sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Giá trị thực tiễn của sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên
3.2.1 Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ra đời, xác định những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam và đáp ứng những nhu cầu bức thiết của lịch sử Nó trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết và thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc.
Cương lĩnh này nhấn mạnh tiến hành cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất để giành chính quyền về tay nhân dân, từ đó đi tới xã hội cộng sản; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng cốt lõi, định hình mục tiêu và chiến lược của phong trào.
3.2.2 Giá trị và đối với sự phát triển của đất nước hiện nay
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng được xem là đúng đắn và sáng tạo, định hình theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh Nó phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới và đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử Cương lĩnh thể hiện sự nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp và thấm nhuần tinh thần dân tộc, làm nền tảng cho hoạt động cách mạng.
PGS, TS Vũ Quang Vinh (20/01/2016) trình bày Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng như ngọn cờ dẫn lối cho cách mạng Việt Nam, đóng vai trò là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho sự lãnh đạo và hoạt động của phong trào Bài viết làm rõ tầm quan trọng của văn kiện này trong việc hình thành đường lối chiến lược và tổ chức của Đảng trong giai đoạn đầu, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của nó đối với cách mạng Việt Nam Tham khảo nguồn: Truy cập từ http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nhan-vat-su-kien/item/1261-cuong-linh-chinh-tri-dau-tien-cua-dang-ngon-co-dan-loi-cho-cach-mang-viet-nam.html
Xin lỗi, tôi không thể trực tiếp paraphrase hoặc tái hiện nội dung bài viết bản quyền khi bạn chưa cung cấp đầy đủ văn bản gốc Bạn có thể dán nội dung bài viết hoặc cho tôi biết các ý chính bạn muốn nhấn mạnh, tôi sẽ viết một đoạn văn ngắn bằng tiếng Việt, tối ưu SEO, dựa trên đó.
TIEU LUAN MOI download : 28 skknchat123@gmail.com
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng định hình những nội dung cốt lõi của cách mạng Việt Nam và trở thành nền tảng cho mọi hoạt động đấu tranh và quá trình xây dựng đất nước Sự đúng đắn của Cương lĩnh được khẳng định qua thực tiễn đấu tranh và phát triển đất nước suốt 85 năm qua, thể hiện qua sự kiên định với mục tiêu và đường lối mà nó đề ra Những thành tựu của 85 năm đấu tranh chứng minh tính đúng đắn và hiệu quả của cương lĩnh trong việc định hướng sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Cương lĩnh xác định rõ nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền, sau này gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, là chống đế quốc, chống phong kiến và thực hiện độc lập dân tộc cùng với người cày có ruộng Xuất phát từ chế độ thuộc địa nửa phong kiến, cương lĩnh phân tích mối quan hệ gắn bó giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, nhấn mạnh rằng trước hết phải đánh đổ đế quốc để nước Việt Nam hoàn toàn độc lập Đây là nền tảng để giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người; chỉ có độc lập tự do của đất nước mới tạo điều kiện cho thực hiện quyền con người, quyền công dân.
Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên, làm kim chỉ nam cho mọi quá trình cách mạng Việt Nam từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay Tư tưởng này thể hiện rõ trong Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng về các lực lượng cách mạng, trong đó Đảng chủ trương tập hợp và đoàn kết các lực lượng như tiểu tư sản, trí thức, trung và tiểu địa chủ thành một lực lượng cách mạng do công nông làm nòng cốt.
TIEU LUAN MOI download : 29 skknchat123@gmail.com
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước, mở ra một bước ngoặt lịch sử vĩ đại cho cách mạng Việt Nam và biến Việt Nam thành một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới Thành quả này là kết quả của sự vận động, phát triển và thống nhất của phong trào cách mạng trong cả nước, sự chuẩn bị tích cực, sáng tạo, bản lĩnh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, cùng sự đoàn kết và nhất trí của những chiến sĩ cách mạng tiên phong vì lợi ích của giai cấp và dân tộc.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, đồng thời là kết quả của sự phát triển cao và thống nhất của các phong trào này được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác-Lênin Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng sự kết hợp này đã dẫn tới việc thành lập Đảng và cho thấy giai cấp vô sản đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh chính trị đầu tiên được thông qua tại hội nghị thành lập Đảng, khẳng định lần đầu có một bản cương lĩnh phản ánh quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng những nhu cầu cơ bản và cấp bách của xã hội, phù hợp với xu thế của thời đại, định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam Đường lối đó là kết quả của sự vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam một cách đúng đắn, sáng tạo và có phát triển trong điều kiện lịch sử mới.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh chính trị đầu tiên, khẳng định lựa chọn con đường cách mạng vô sản cho dân tộc Việt Nam—con đường duy nhất đúng để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Lựa chọn này phù hợp với nội dung và xu thế của thời đại mới, mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại: Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thật sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân Đây là sự lựa chọn của lịch sử, đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời được xem là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, đóng vai trò hàng đầu và là động lực quyết định đưa cách mạng Việt Nam vượt qua nhiều thử thách, biến thắng lợi này thành thắng lợi khác, đồng thời mở ra con đường độc lập, thống nhất và xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh.
TIEU LUAN MOI download : 31 skknchat123@gmail.com