MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 3 Chương I. So sánh những quy định pháp lý về hối phiếu theo ULB1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005 4 1. Cơ sở lý thuyết ULB 1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005 4 1.1 Luật thống nhất về hối phiếu ULB 1930: 4 1.2 Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005 (LCCCN 2005) 4 2. So sánh ULB 1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005 4 2.1. Về nội dung 4 2.2. Nghiệp vụ liên quan 6 Chương II. Phân tích tình huống liên quan về bất cập (rủi ro và tranh chấp) phát sinh khi phát hành hối phiếu theo ULB1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005 16 1. Tình huống 1: Thiếu sót trong hối phiếu theo ULB 1930 và luật công cụ chuyển nhượng 2005 dẫn đến ngân hàng không chấp nhận hối phiếu 16 1.1 Diễn giải tình huống 16 1.2. Phân tích nội dung hối phiếu 16 1.3. Đề xuất sửa chữa 19 2. Tình huống 2 : Quy trình ký phát hối phiếu sai quy định Luật các CCCN và ULB 1930 19 Chương III. Lưu ý khi sử dụng hối phiếu trong TTQT 24 1. Khái quát tình hình sử dụng hối phiếu trên thế giới và Việt Nam 24 1.1. Tình hình sử dụng hối phiếu trên thế giới 24 1.2. Tình hình sử dụng hối phiếu ở Việt Nam 24 2. Lưu ý khi sử dụng hối phiếu trong thanh toán quốc tế 25 KẾT LUẬN 27 TÀI LIỆU THAM KHẢO 28 LỜI MỞ ĐẦU Kinh tế thế giới đang trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, các giao dịch kinh tế và thương mại giữa các nước cũng ngày càng nhộn nhịp, đa dạng về cả hình thức, quy mô,... Thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng và đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình này. Để bắt kịp với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, các công cụ tín dụng đã hình thành và ngày càng phát triển đa dạng, phong phú, tính hữu ích của nó ngày một cao hơn. Mỗi công cụ tín dụng ra đời là sản phẩm riêng có của các quan hệ tín dụng tương ứng. Các công cụ lưu thông tín dụng như hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc… có vai trò rất quan trọng trong thanh toán quốc tế, đem lại sự thuận lợi trong giao dịch xuyên quốc gia. Tuy nhiên, bên cạnh những tiện ích đó, hoạt động thanh toán quốc tế cũng chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn. Một trong những lí do gây nên rủi ro là do môi trường pháp lý quốc tế của thanh toán quốc tế còn thiếu và chưa đồng bộ, thiếu nhiều luật quốc tế, các tập quán quốc tế của ICC đã được ban hành tương đối đầy đủ và rõ ràng, nhưng vẫn còn nhiều bất cập trong vận dụng. Để giảm thiểu những rủi ro đó, các điều khoản, quy định chung trong luật pháp quốc tế cũng như các quốc gia là rất quan trọng và cần tìm hiểu một cách kĩ lưỡng và chính xác. Và sau một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài “So sánh những quy định pháp lý về hối phiếu theo ULB1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005” nhằm đưa đến một cái nhìn tổng quan về những điểm khác biệt giữa hai nguồn luật này khi điều chỉnh các công cụ thanh toán đã kể trên. Bài tiểu luận gồm 3 chương: • Chương I: So sánh những quy định pháp lý về hối phiếu theo ULB1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005 • Chương II. Phân tích tình huống liên quan về bất cập (rủi ro và tranh chấp) phát sinh khi phát hành hối phiếu theo ULB1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005 • Chương III. Lưu ý khi sử dụng hối phiếu trong thanh toán quốc tế Do vốn kiến thức còn hạn hẹp nên bài tiểu luận của chúng em không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của cô để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn. Chương I. So sánh những quy định pháp lý về hối phiếu theo ULB1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005 1. Cơ sở lý thuyết ULB 1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005 1.1 Luật thống nhất về hối phiếu ULB 1930: Để hối phiếu trở thành phương tiện thanh toán trong lưu thông và hạn chế những mặt trái của hối phiếu, thì một loạt các đạo luật về hối phiếu đã được các quốc gia đã ban hành. Luật thống nhất về hối phiếu “Uniform Law for Bills of exchange” (ULB) là bộ luật thuộc công ước Geneva được các nước ký kết năm 1930. Trước đó, nhằm mục đích để hối phiếu trở thành phương tiện thanh toán trong lưu thông và hạn chế những mặt trái của hối phiếu, thì một loạt các nước tư bản như Anh, Mỹ, Pháp,... đã ban hành hàng loạt đạo luật về hối phiếu. Pháp tham gia công ước Geneva và chính thức áp dụng luật ULB cùng vào năm 1930. Việt Nam là thuộc địa của Pháp lúc bấy giờ, nên cũng áp dụng luật này từ năm 1937 cho đến nay. Vì vậy ngày nay để giải thích về hối phiếu ở nước ta cũng chỉ nên dựa vào ULB hơn là các văn bản pháp lý khác. ULB được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Ngày nay, Luật hối phiếu thống nhất ULB 1930 có hiệu lực tại tất cả các nước châu Âu (ngoại trừ Anh). Nhiều nước khác mặc dù không tham gia Công ước Geneve, nhưng vẫn xây dựng Luật hối phiếu của họ tương thích với ULB 1930. 1.2 Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005 (LCCCN 2005) Đứng trước tình hình kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ, nhằm tăng cường lưu thông và thúc đẩy sản xuất, ngày 29122005 Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật các công cụ chuyển nhượng, có hiệu lực từ 172006. Luật này điều chỉnh các quan hệ công cụ chuyển nhượng trong việc phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện. Công cụ chuyển nhượng quy định trong Luật này gồm hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác, trừ công cụ nợ dài hạn được tổ chức phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường. Đối tượng áp dụng là các tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào quan hệ công cụ chuyển nhượng trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. So sánh ULB 1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005 2.1. Về nội dung Nội dung của hối phiếu được đề cập trong Điều 16, mục 1 thuộc chương 2 của Luật công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005 và Điều 1, Điều 2 của Luật thống nhất về hối phiếu ULB 1930. Điểm giống nhau: Nội dung của hối phiếu thường gồm 9 phần: • Tiêu đề • Lệnh đòi tiền thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán vô điều kiện một số tiền nhất định • Cách ghi số tiền trên hối phiếu • Tên và địa chỉ người bị ký phát • Thời hạn thanh toán của hối phiếu • Địa điểm thanh toán • Tên của người thụ hưởng • Ngày tháng và địa điểm ký phát hối phiếu • Tên, địa chỉ, chữ ký của người ký phát Một số quy định chung về từng mục: • Mục 2: Lệnh đòi tiền thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán vô điều kiện một số tiền nhất định: Điều 16 Luật công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005, Điều 1 ULB 1930 Vô điều kiện Người ký phát không được kèm theo bất kỳ điều kiện hay lý do nào, đơn thuần chỉ là lệnh thanh toán hoặc chấp nhận Người bị ký phát: 1)Thanh toánchấp nhận. 2)Không thanh toánchấp nhận. Không kèm theo bất cứ lý do nào. Trong mệnh lệnh ghi rõ thời hạn trả tiền và tên của người thụ hưởng. • Mục 3: Cách ghi số tiền trên hối phiếu: Phải được ghi bằng cả số và chữ Số tiền bằng chữ có giá trị thanh toán, trong trường hợp số tiền trên hối phiếu đòi nợ được ghi 2 lần bằng số và bằng chữ và có sự khác nhau thì số tiền nhỏ nhất ghi bằng chữ có giá trị thanh toán. • Mục 8: Ngày tháng và địa điểm ký phát hối phiếu: Thời điểm tạo lập hối phiếu Ngày phát sinh đòi tiền của Drawer đối với Drawee Thời hạn trả tiền hối phiếu Trong việc nhận định tính pháp lý của một hối phiếu nếu thiếu một trong các thông tin trên thì cả hai luật này có sự thống nhất chung sau: • Theo Điều 2 ULB 1930, Điều 16 Luật công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005: Khi không nêu địa điểm ký phát thì xem như đã ký phát tại nơi được nêu bên cạnh tên của người ký phát. • Khi hối phiếu không nêu rõ thời gian thanh toán thì xem như là thanh toán ngay khi xuất trình. • Khi không nêu rõ địa điểm trả tiền thì địa điểm được ghi bên cạnh tên người trả tiền được xem là nơi trả tiền. • Theo Điều 7 ULB 1930, Điều 12 Luật công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005: Nếu nội dung dung hối phiếu xuất hiện chữ ký giả mạo hoặc chữ ký của một người không được ủy quyền thì chữ ký đó không có giá trị, chữ ký của người có liên quan khác vẫn có giá trị. Điểm khác nhau: Tiêu chí so sánh ULB 1930 Luật công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005 Quy định về lãi suất, tỷ giá và việc thanh toán nhiều lần Có quy định về tỷ giá hối đoái và việc thanh toán nhiều lần (Điều 5, 39, 41) Chỉ có quy định về lãi suất (Điều 9) Tên và địa chỉ người bị ký phát Chỉ cần ghi rõ tên. Nếu không ghi tên người bị ký phát thì hối phiếu bị coi là vô hiệu (Khoản 3 Điều 1) Phải ghi rõ tên và địa chỉ. Nếu không ghi tên người bị ký phát thì hối phiếu bị coi là vô hiệu (Khoản 1,2 Điều 16) Thời hạn thanh toán của hối phiếu Thời hạn xuất trình để thanh toán hối phiếu trả ngay là 1 năm (Điều 34) Thời hạn xuất trình để thanh toán hối phiếu trả ngay là 90 ngày (Khoản 3, Điều 43) Bản nối dài Có thể ký hậu trên 1 tờ giấy và đính kèm hối phiếu, được người ký hậu ký tên vào (Điều 13) Có thể có thêm tờ phụ đính kèm, được dùng để ghi nội dung bảo lãnh, cầm cố, chuyển nhượng và nhờ thu. Phải có chữ ký giáp lai của người đầu tiên lập tờ phụ (Điều 16) Trường hợp người ký phát là cơ quan, tổ chức Không quy định thêm (Khoản 6, 8 Điều 11) Yêu cầu ngoài chữ ký phải có đóng dấu (Khoản 1 Điều 16, Khoản 18 Điều 4) 2.2. Nghiệp vụ liên quan 2.2.1. Nghiệp vụ chấp nhận a Khái niệm Cả hai nguồn luật quy định việc chấp nhận hối phiếu là việc mà người bị ký phát cam kết thanh toán số tiền cho người được thụ hưởng, cụ thể: + Khoản 16 Điều 4 Luật CCCN Việt Nam 2005: Chấp nhận là cam kết của người bị ký phát về việc sẽ thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ khi đến hạn thanh toán bằng việc ký chấp nhận trên hối phiếu đòi nợ theo quy định của Luật này. +Điều 28 ULB 1930: Bằng việc chấp nhận hối phiếu, người trả tiền cam kết thanh toán hối phiếu khi nó đến hạn. b Xuất trình hối phiếu để chấp nhận: Giống nhau: + Quy định việc xuất trình và thời gian xuất trình hối phiếu là do người ký phát quy định (điểm a khoản 1 Điều 18 Luật CCCN Việt Nam 2005 và Điều 22 ULB 1930) + Quy định thời hạn để xuất trình xin chấp nhận là l năm kể từ ngày ký phát hối phiếu (điểm b khoản 1 Điều 18 LCCCN Việt Nam 2005 và Điều 23 ULB 1930) Khác nhau: ULB 1930 Luật CCCN Việt Nam 2005 Người ký phát có thể rút ngắn hoặc kéo dài thời hạn xuất trình xin chấp nhận (Điều 23) Không đề cập Không đề cập Hối phiếu có thể được xuất trình dưới hình thức bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng (khoản 3 Điều 18) Không có (Điều 20) Vi phạm nghĩa vụ xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận: Khi người thụ hưởng không xuất trình hối phiếu đòi nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này thì người ký phát, người chuyển nhượng và người bảo lãnh cho những người này không có nghĩa vụ thanh toán hối phiếu đòi nợ, trừ người bảo lãnh cho người bị ký phát. c Thời hạn để chấp nhận: Điều 19 Luật CCCN Việt Nam 2005: Thời hạn chấp nhận hối phiếu là 2 ngày kể từ ngày xuất trình hối phiếu. Trong trường hợp hối phiếu được xuất trình dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng, thì thời hạn nảy được tính từ ngày người bị ký phát xác nhận đã nhận được hối phiếu. ULB 1930: không đề cập. d Hình thức, nội dung của chấp nhận Cả hai nguồn luật đều tương đồng nhau trong quy định về hình thức, nội dung của chấp nhận. Cụ thể: Việc chấp nhận là do người bị ký phát ghi cụm từ “chấp nhận” lên mặt trước của tờ hối phiếu cùng với đó là ngày chấp nhận cộng với chữ ký của họ (khoản 1 Điều 21 Luật CCCN Việt Nam 2005 và Điều 25 ULB 1930) Người bị ký phát có thể thanh toán một phần hoặc toàn bộ số tiền trên hối phiếu (Khoản 2 Điều 21 Luật CCCN Việt Nam 2005 và Điều 26 ULB 1930) eTừ chối chấp nhận ULB 1930 Luật CCCN Việt Nam 2005 Mọi sự chấp nhận thay đổi nội dung của hối phiếu được xem như sự từ chối chấp nhận (Điều 26). Khi người trả tiền là người đã ký chấp nhận hối phiếu đã huỷ bỏ nó trước khi hoàn trả lại hối phiếu thì sự chấp nhận được xem như bị từ chối (Điều 29) (Điều 23) Hối phiếu đòi nợ được coi là bị từ chối chấp nhận, nếu không được người bị ký phát chấp nhận trong thời hạn quy định tại Điều 19 của Luật này 2.2.2. Nghiệp vụ chuyển nhượng a Hình thức chuyển nhượng Luật CCCN Việt Nam 2005 (Điều 27): có 2 hình thức là ký chuyển nhượng và chuyển giao ULB 1930: chỉ đề cập đến hình thức ký hậu b Nguyên tắc chuyển nhượng Cả hai nguồn luật đều có những nguyên tắc giống nhau. Cụ thể: Việc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ là chuyển nhượng toàn bộ số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ. Việc chuyển nhượng một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ không có giá trị (khoản 1 Điều 29 Luật CCCN Việt Nam 2005 và Điều 12 ULB 1930) c Hình thức và nội dung của chuyển nhượng Giống nhau: Đều có 2 hình thức ký chuyển nhượng là Ký chuyển nhượng để trống và ký chuyển nhượng đầy đủ. Đối với ký chuyển nhượng để trống: để ký hậu có hiệu lực thì nó phải được ghi lên phía sau hối phiếu (khoản 3 Điều 31 Luật CCCN Việt Nam 2005 và điều 13 ULB 1930) Khác nhau: Luật CCCN Việt Nam 2005 yêu cầu chữ ký của người thụ hưởng là ở mặt sau của tờ hối phiếu; ULB 1930 thì chỉ cần có chữ ký. Cụ thể: + Điều 13 ULB 1930: Sự ký hậu phải được viết trên hối phiếu hoặc lên một mảnh giấy gắn vào hối phiếu. Nó phải được người ký hậu ký tên vào. + Khoản 1 Điều 31 Luật CCCN Việt Nam 2005: Việc chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng phải được người thụ hưởng viết, ký tên trên mặt sau của hối phiếu đòi nợ. d Quyền của người nhận chuyển nhượng hối phiếu với ký chuyển nhượng để trống Cả 2 nguồn luật đều có những quy định giống nhau về quyền này. Cụ thể, theo Điều 34 Luật CCCN Việt Nam 2005 và Điều 14 ULB 1930: Điền vào chỗ trống tên của mình hoặc tên của người khác; Tiếp tục ký chuyển nhượng để trống hối phiếu đòi nợ bằng cách ký trên hối phiếu đòi nợ; Tiếp tục chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ cho người khác bằng chuyển giao; Ký chuyển nhượng đầy đủ hối phiếu đòi nợ e Chiết khấu, tái chiết khấu hối phiếu đòi nợ Điều khoản này không có ở ULB 1930 mà chỉ có ở Luật CCCN Việt Nam 2005 để phù hợp với các quy định ở Việt Nam. Điều 35 Luật CCCN Việt Nam 2005: Hối phiếu đòi nợ có thể được chiết khấu hoặc tái chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 2.2.3. Nghiệp vụ bảo lãnh a Hình thức bảo lãnh: Giống nhau: Cả hai nguồn luật đều cho phép bảo lãnh bằng cách ký trực tiếp lên hối phiếu hoặc bằng một văn bản riêng đính kèm và nếu bảo lãnh không ghi rõ tên của người được bảo lãnh thì việc bảo lãnh được coi là cho người ký phát. (Điều 31 ULB 1930 và Điều 25 Luật CCCN Việt Nam 2005) Khác nhau: + Trong ULB 1930 yêu cầu người bảo lãnh ký lên hối phiếu hoặc văn bản riêng đính kèm. + Trong Luật CCCN Việt Nam 2005, ngoài yêu cầu trên thì còn yêu cầu cả tên, địa chỉ, chữ ký của người bảo lãnh và tên của người được bảo lãnh. b Quyền và nghĩa vụ của người bảo lãnh Cả hai nguồn luật đều giống nhau về quyền hạn và nghĩa vụ của người bảo lãnh. Cụ thể, theo Điều 26 Luật CCCN Việt Nam 2005 và Điều 32 ULB 1930: Người bảo lãnh bị ràng buộc giống như người mà anh ta trở thành người bảo lãnh. Cam kết của người bảo lãnh có hiệu lực ngay khi cả trách nhiệm mà anh ta bảo lãnh không có hiệu lực đối với bất cứ lý do nào trừ trường hợp có sai sót về hình thức tạo lập hối phiếu. Khi thanh toán một hối phiếu, anh ta có những quyền hạn phát sinh từ hối phiếu đối với người được đảm bảo và đối với những người chịu trách nhiệm với người này về hối phiếu. 4. Nghiệp vụ thanh toán a Thời hạn xuất trình hối phiếu để thanh toán • ULB 1930 Điều 34: Một hối phiếu được trả tiền ngay, được thanh toán vào ngày khi xuất trình. Nó phải được xuất trình để xin thanh toán trong vòng một năm kể từ ngày ký phát. Người ký phát có thể rút ngắn hoặc gia hạn thời hạn này. Nhưng thời hạn này có thể được những người ký hậu rút ngắn lại. Người ký phát có thể quy định rằng hối phiếu thanh toán ngay khi không được xuất trình xin thanh toán trước ngày chỉ định. Trong trường hợp thời gian xuất trình bắt đầu từ ngày đó. Điều 38: Người cầm giữ một hối phiếu được thanh toán vào một ngày cố định hoặc vào một thời gian cố định sau ngày ký phát hoặc sau khi xuất trình, phải được xuất trình hối phiếu để xin thanh toán ngay vào ngày hối phiếu được thanh toán vào một trong hai ngày làm việc kế tiếp. Việc xuất trình hối phiếu tại phòng bù trừ tương đương với việc xuất trình để xin thanh toán. • Luật CCCN 2005 (Điều 43) Người thụ hưởng có quyền xuất trình hối phiếu đòi nợ tại địa điểm thanh toán để yêu cầu người bị ký phát thanh toán vào ngày hối phiếu đòi nợ đến hạn thanh toán hoặc trong thời hạn năm ngày làm việc tiếp theo. Người thụ hưởng có thể xuất trình hối phiếu đòi nợ sau thời hạn ghi trên hối phiếu đòi nợ, nếu việc chậm xuất trình do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan gây ra. Thời gian diễn ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hạn thanh toán. Hối phiếu đòi nợ có ghi thời hạn thanh toán là “ngay khi xuất trình” phải được xuất trình để thanh toán trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày ký phát. Việc xác định thời điểm xuất trình hối phiếu dưới hình thức thư đảm bảo qua mạng bưu chính công cộng để thanh toán được tính theo ngày trên dấu bưu điện nơi gửi thư bảo đảm.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
=====000=====
TIỂU LUẬN MÔN THANH TOÁN QUỐC TẾ
Đề tài: So sánh những quy định pháp lý về hối phiếu theo ULB1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005 Phân tích những bất cập nếu có khi
sử dụng 2 luật này.
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
Chương I So sánh những quy định pháp lý về hối phiếu theo ULB1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005 4
1 Cơ sở lý thuyết ULB 1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 20054 1.1 Luật thống nhất về hối phiếu ULB 1930: 4
1.2 Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005 (LCCCN 2005) 4
2 So sánh ULB 1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005 4
2.1 Về nội dung 4
2.2 Nghiệp vụ liên quan 6
Chương II Phân tích tình huống liên quan về bất cập (rủi ro và tranh chấp) phát sinh khi phát hành hối phiếu theo ULB1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005 16
1 Tình huống 1: Thiếu sót trong hối phiếu theo ULB 1930 và luật công cụ chuyển nhượng 2005 dẫn đến ngân hàng không chấp nhận hối phiếu 16
1.1 Diễn giải tình huống 16
1.2 Phân tích nội dung hối phiếu 16
1.3 Đề xuất sửa chữa 19
2 Tình huống 2 : Quy trình ký phát hối phiếu sai quy định Luật các CCCN và ULB 1930 19
Chương III Lưu ý khi sử dụng hối phiếu trong TTQT 24
1 Khái quát tình hình sử dụng hối phiếu trên thế giới và Việt Nam 24
1.1 Tình hình sử dụng hối phiếu trên thế giới 24
1.2 Tình hình sử dụng hối phiếu ở Việt Nam 24
2 Lưu ý khi sử dụng hối phiếu trong thanh toán quốc tế 25
KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
mại giữa các nước cũng ngày càng nhộn nhịp, đa dạng về cả hình thức, quy mô,
Thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng và đóng vai trò rất quan trọng trong quá trìnhnày Để bắt kịp với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, các công cụ tíndụng đã hình thành và ngày càng phát triển đa dạng, phong phú, tính hữu ích của nóngày một cao hơn Mỗi công cụ tín dụng ra đời là sản phẩm riêng có của các quan hệtín dụng tương ứng Các công cụ lưu thông tín dụng như hối phiếu đòi nợ, hối phiếunhận nợ, séc… có vai trò rất quan trọng trong thanh toán quốc tế, đem lại sự thuận lợitrong giao dịch xuyên quốc gia
Tuy nhiên, bên cạnh những tiện ích đó, hoạt động thanh toán quốc tế cũng chứa đựngnhiều rủi ro tiềm ẩn Một trong những lí do gây nên rủi ro là do môi trường pháp lýquốc tế của thanh toán quốc tế còn thiếu và chưa đồng bộ, thiếu nhiều luật quốc tế, cáctập quán quốc tế của ICC đã được ban hành tương đối đầy đủ và rõ ràng, nhưng vẫncòn nhiều bất cập trong vận dụng
Để giảm thiểu những rủi ro đó, các điều khoản, quy định chung trong luật pháp quốc tếcũng như các quốc gia là rất quan trọng và cần tìm hiểu một cách kĩ lưỡng và chínhxác Và sau một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài
khác biệt giữa hai nguồn luật này khi điều chỉnh các công cụ thanh toán đã kể trên Bài tiểu luận gồm 3 chương:
Chương I: So sánh những quy định pháp lý về hối phiếu theo ULB1930 và Luậtcông cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005
Chương II Phân tích tình huống liên quan về bất cập (rủi ro và tranh chấp) phátsinh khi phát hành hối phiếu theo ULB1930 và Luật công cụ chuyển nhượngcủa Việt nam 2005
Chương III Lưu ý khi sử dụng hối phiếu trong thanh toán quốc tế
Do vốn kiến thức còn hạn hẹp nên bài tiểu luận của chúng em không tránh khỏi cònnhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của cô để bài tiểu luận được hoànthiện hơn
Trang 4Chương I So sánh những quy định pháp lý về hối phiếu theo
ULB1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005
1 Cơ sở lý thuyết ULB 1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005
1.1 Luật thống nhất về hối phiếu ULB 1930:
Để hối phiếu trở thành phương tiện thanh toán trong lưu thông và hạn chế những mặt trái của hối phiếu, thì một loạt các đạo luật về hối phiếu đã được các quốc gia đã ban hành
Luật thống nhất về hối phiếu “Uniform Law for Bills of exchange” (ULB) là bộluật thuộc công ước Geneva được các nước ký kết năm 1930 Trước đó, nhằmmục đích để hối phiếu trở thành phương tiện thanh toán trong lưu thông và hạnchế những mặt trái của hối phiếu, thì một loạt các nước tư bản như Anh, Mỹ,Pháp, đã ban hành hàng loạt đạo luật về hối phiếu
Pháp tham gia công ước Geneva và chính thức áp dụng luật ULB cùng vào năm
1930 Việt Nam là thuộc địa của Pháp lúc bấy giờ, nên cũng áp dụng luật này từnăm 1937 cho đến nay Vì vậy ngày nay để giải thích về hối phiếu ở nước tacũng chỉ nên dựa vào ULB hơn là các văn bản pháp lý khác
ULB được nhiều nước trên thế giới áp dụng Ngày nay, Luật hối phiếu thốngnhất ULB 1930 có hiệu lực tại tất cả các nước châu Âu (ngoại trừ Anh) Nhiềunước khác mặc dù không tham gia Công ước Geneve, nhưng vẫn xây dựng Luậthối phiếu của họ tương thích với ULB 1930
1.2 Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005 (LCCCN 2005)
Đứng trước tình hình kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ, nhằm tăng cườnglưu thông và thúc đẩy sản xuất, ngày 29/12/2005 Quốc hội Việt Nam đã banhành Luật các công cụ chuyển nhượng, có hiệu lực từ 1/7/2006
Luật này điều chỉnh các quan hệ công cụ chuyển nhượng trong việc phát hành,chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi,khởi kiện Công cụ chuyển nhượng quy định trong Luật này gồm hối phiếu đòi
nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác, trừ công cụ nợ dàihạn được tổ chức phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường Đối tượng ápdụng là các tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham giavào quan hệ công cụ chuyển nhượng trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam
2 So sánh ULB 1930 và Luật công cụ chuyển nhượng của Việt nam 2005
2.1 Về nội dung
Trang 5Nội dung của hối phiếu được đề cập trong Điều 16, mục 1 thuộc chương 2 của Luật công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005 và Điều 1, Điều 2 của Luật thống nhất về hối phiếu ULB 1930.
- Điểm giống nhau:
Nội dung của hối phiếu thường gồm 9 phần:
Tiêu đề
Lệnh đòi tiền thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán vô điều kiện một
số tiền nhất định
Cách ghi số tiền trên hối phiếu
Tên và địa chỉ người bị ký phát
Thời hạn thanh toán của hối phiếu
Địa điểm thanh toán
Tên của người thụ hưởng
Ngày tháng và địa điểm ký phát hối phiếu
Tên, địa chỉ, chữ ký của người ký phát
Vô điều kiện
Người ký phát không được kèm theo bất kỳ điều kiện hay lý do nào, đơn thuần chỉ là lệnh thanh toán hoặc chấp nhận
Người bị ký phát: 1)Thanh toán/chấp nhận 2)Không thanh toán/chấp nhận Không kèm theo bất cứ lý do nào.
Trong mệnh lệnh ghi rõ thời hạn trả tiền và tên của người thụ hưởng.
Mục 3: Cách ghi số tiền trên hối phiếu:
Phải được ghi bằng cả số và chữ
Số tiền bằng chữ có giá trị thanh toán, trong trường hợp số tiền trên hối phiếu đòi nợ được ghi 2 lần bằng số và bằng chữ và có sự khác nhau thì
số tiền nhỏ nhất ghi bằng chữ có giá trị thanh toán.
Mục 8: Ngày tháng và địa điểm ký phát hối phiếu:
Thời điểm tạo lập hối phiếu
Ngày phát sinh đòi tiền của Drawer đối với Drawee
Thời hạn trả tiền hối phiếu
Trong việc nhận định tính pháp lý của một hối phiếu nếu thiếu một trong các thông tin trên thì cả hai luật này có sự thống nhất chung sau:
Theo Điều 2 ULB 1930, Điều 16 Luật công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005: Khi không nêu địa điểm ký phát thì xem như đã ký phát tại nơi được nêu bên cạnh tên của người ký phát.
Trang 6 Khi hối phiếu không nêu rõ thời gian thanh toán thì xem như là thanh toán ngay khi xuất trình.
Khi không nêu rõ địa điểm trả tiền thì địa điểm được ghi bên cạnh tên người trả tiền được xem là nơi trả tiền.
Theo Điều 7 ULB 1930, Điều 12 Luật công cụ chuyển nhượng của Việt Nam 2005: Nếu nội dung dung hối phiếu xuất hiện chữ ký giả mạo hoặc chữ ký của một người không được ủy quyền thì chữ ký đó không
có giá trị, chữ ký của người có liên quan khác vẫn có giá trị.
(Khoản 3 Điều 1)
Phải ghi rõ tên và địa chỉ Nếu không ghi tên người bị ký phát thì hối phiếu bị coi là vô hiệu
(Điều 34)
Thời hạn xuất trình để thanh toán hối phiếu trả ngay là 90 ngày (Khoản 3, Điều 43)
Bản nối dài Có thể ký hậu trên 1
tờ giấy và đính kèm hối phiếu, được người ký hậu ký tên vào
(Điều 13)
Có thể có thêm tờ phụ đính kèm, được dùng để ghi nội dung bảo lãnh, cầm cố, chuyển nhượng và nhờ thu Phải có chữ ký giáp lai của người đầu tiên lập tờ phụ
(Điều 16) Trường hợp
Trang 7- Cả hai nguồn luật quy định việc chấp nhận hối phiếu là việc mà người bị
ký phát cam kết thanh toán số tiền cho người được thụ hưởng, cụ thể: + Khoản 16 Điều 4 Luật CCCN Việt Nam 2005: Chấp nhận là cam kết của người bị ký phát về việc sẽ thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ khi đến hạn thanh toán bằng việc ký chấp nhận trên hối phiếu đòi nợ theo quy định của Luật này.
+Điều 28 ULB 1930: Bằng việc chấp nhận hối phiếu, người trả tiền cam kết thanh toán hối phiếu khi nó đến hạn.
b/ Xuất trình hối phiếu để chấp nhận:
- Giống nhau:
+ Quy định việc xuất trình và thời gian xuất trình hối phiếu là do người
ký phát quy định (điểm a khoản 1 Điều 18 Luật CCCN Việt Nam 2005
c/ Thời hạn để chấp nhận:
- Điều 19 Luật CCCN Việt Nam 2005: Thời hạn chấp nhận hối phiếu là 2 ngày kể từ ngày xuất trình hối phiếu Trong trường hợp hối phiếu được xuất trình dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng, thì thời hạn nảy được tính từ ngày người bị ký phát xác nhận đã nhận được hối phiếu.
- ULB 1930: không đề cập.
Trang 8d/ Hình thức, nội dung của chấp nhận
Cả hai nguồn luật đều tương đồng nhau trong quy định về hình thức, nội dung của chấp nhận Cụ thể:
- Việc chấp nhận là do người bị ký phát ghi cụm từ “chấp nhận” lên mặt trước của tờ hối phiếu cùng với đó là ngày chấp nhận cộng với chữ ký của
họ (khoản 1 Điều 21 Luật CCCN Việt Nam 2005 và Điều 25 ULB 1930)
- Người bị ký phát có thể thanh toán một phần hoặc toàn bộ số tiền trên hối phiếu (Khoản 2 Điều 21 Luật CCCN Việt Nam 2005 và Điều 26 ULB 1930)
e/Từ chối chấp nhận
Mọi sự chấp nhận thay đổi nội dung của hối
phiếu được xem như sự từ chối chấp nhận
(Điều 26) Khi người trả tiền là người đã ký
chấp nhận hối phiếu đã huỷ bỏ nó trước khi
hoàn trả lại hối phiếu thì sự chấp nhận được
xem như bị từ chối (Điều 29)
(Điều 23) Hối phiếu đòi nợ được coi
là bị từ chối chấp nhận, nếu khôngđược người bị ký phát chấp nhậntrong thời hạn quy định tại Điều 19của Luật này
2.2.2 Nghiệp vụ chuyển nhượng
a/ Hình thức chuyển nhượng
- Luật CCCN Việt Nam 2005 (Điều 27): có 2 hình thức là ký chuyển nhượng và chuyển giao
- ULB 1930: chỉ đề cập đến hình thức ký hậu
b/ Nguyên tắc chuyển nhượng
Cả hai nguồn luật đều có những nguyên tắc giống nhau Cụ thể:
Việc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ là chuyển nhượng toàn bộ số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ Việc chuyển nhượng một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ không có giá trị (khoản 1 Điều 29 Luật CCCN Việt Nam
2005 và Điều 12 ULB 1930)
c/ Hình thức và nội dung của chuyển nhượng
- Giống nhau:
Đều có 2 hình thức ký chuyển nhượng là Ký chuyển nhượng để trống và
ký chuyển nhượng đầy đủ Đối với ký chuyển nhượng để trống: để ký hậu
Trang 9có hiệu lực thì nó phải được ghi lên phía sau hối phiếu (khoản 3 Điều 31 Luật CCCN Việt Nam 2005 và điều 13 ULB 1930)
d/ Quyền của người nhận chuyển nhượng hối phiếu với ký chuyển nhượng để trống
Cả 2 nguồn luật đều có những quy định giống nhau về quyền này Cụ thể, theo Điều 34 Luật CCCN Việt Nam 2005 và Điều 14 ULB 1930:
- Điền vào chỗ trống tên của mình hoặc tên của người khác;
- Tiếp tục ký chuyển nhượng để trống hối phiếu đòi nợ bằng cách ký trên hối phiếu đòi nợ;
- Tiếp tục chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ cho người khác bằng chuyển giao;
- Ký chuyển nhượng đầy đủ hối phiếu đòi nợ
e/ Chiết khấu, tái chiết khấu hối phiếu đòi nợ
Điều khoản này không có ở ULB 1930 mà chỉ có ở Luật CCCN Việt Nam
2005 để phù hợp với các quy định ở Việt Nam.
Điều 35 Luật CCCN Việt Nam 2005: Hối phiếu đòi nợ có thể được chiết khấu hoặc tái chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Trang 10+ Trong Luật CCCN Việt Nam 2005, ngoài yêu cầu trên thì còn yêu cầu cả tên, địa chỉ, chữ ký của người bảo lãnh và tên của người được bảo lãnh.
b/ Quyền và nghĩa vụ của người bảo lãnh
Cả hai nguồn luật đều giống nhau về quyền hạn và nghĩa vụ của người bảo lãnh Cụ thể, theo Điều 26 Luật CCCN Việt Nam 2005 và Điều 32 ULB 1930:
- Người bảo lãnh bị ràng buộc giống như người mà anh ta trở thành người bảo lãnh.
- Cam kết của người bảo lãnh có hiệu lực ngay khi cả trách nhiệm mà anh
ta bảo lãnh không có hiệu lực đối với bất cứ lý do nào trừ trường hợp có sai sót về hình thức tạo lập hối phiếu.
- Khi thanh toán một hối phiếu, anh ta có những quyền hạn phát sinh từ hối phiếu đối với người được đảm bảo và đối với những người chịu trách nhiệm với người này về hối phiếu.
4 Nghiệp vụ thanh toán
a/ Thời hạn xuất trình hối phiếu để thanh toán
- Điều 38: Người cầm giữ một hối phiếu được thanh toán vào một ngày cố định hoặc vào một thời gian cố định sau ngày ký phát hoặc sau khi xuất trình, phải được xuất trình hối phiếu để xin thanh toán ngay vào ngày hối phiếu được thanh toán vào một trong hai ngày làm việc kế tiếp Việc xuất trình hối phiếu tại phòng bù trừ tương đương với việc xuất trình để xin thanh toán.
Luật CCCN 2005 (Điều 43)
Người thụ hưởng có quyền xuất trình hối phiếu đòi nợ tại địa điểm thanh toán để yêu cầu người bị ký phát thanh toán vào ngày hối phiếu đòi nợ đến hạn thanh toán hoặc trong thời hạn năm ngày làm việc tiếp theo.
Người thụ hưởng có thể xuất trình hối phiếu đòi nợ sau thời hạn ghi trên hối phiếu đòi nợ, nếu việc chậm xuất trình do sự kiện bất khả kháng hoặc
Trang 11trở ngại khách quan gây ra Thời gian diễn ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hạn thanh toán.
Hối phiếu đòi nợ có ghi thời hạn thanh toán là “ngay khi xuất trình” phải được xuất trình để thanh toán trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày ký phát.
Việc xác định thời điểm xuất trình hối phiếu dưới hình thức thư đảm bảo qua mạng bưu chính công cộng để thanh toán được tính theo ngày trên dấu bưu điện nơi gửi thư bảo đảm.
b/ Thời hạn thanh toán
ULB 1930
- Điều 34: Hối phiếu trả tiền ngay, được thanh toán vào ngày khi xuất trình.
- Điều 35: Hối phiếu được thanh toán vào một thời gian cố định sau khi xuất trình được xác định hoặc tính từ ngày chấp nhận hoặc tính từ ngày kháng nghị.
Trong trường hợp không có kháng nghị, sự chấp nhận không ghi ngày tháng được tính đối với người chấp nhận, vào ngày cuối cùng của thời hạn quy định bắt buộc phải xuất trình để chấp nhận.
- Điều 36: Khi một hối phiếu quy định thời hạn sau một hay nhiều tháng
kể từ ngày ký phát hoặc sau khi xuất trình, thì hối phiếu đến hạn vào ngày tương ứng của tháng mà việc thanh toán phải thực hiện Nếu không có ngày tương ứng thì hối phiếu hết hạn vào ngày cuối cùng của tháng này.
Khi một hối phiếu quy định thời hạn thanh toán sau một tháng hoặc nhiều tháng và nửa tháng kể từ ngày ký phát hoặc khi xuất trình, thì phải tính cả tháng.
Luật CCCN Việt Nam 2005 (Khoản 1 Điều 44)
Người bị ký phát phải thanh toán hoặc từ chối thanh toán trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi nhận được hối phiếu đòi nợ Trong trường hợp hối phiếu đòi nợ được xuất trình thanh toán dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng thì thời hạn này được tính kể từ ngày người bị
ký phát xác nhận đã nhận được hối phiếu đòi nợ.
Trang 12Luật CCCN Việt Nam 2005 (Điều 46)
Quy định việc thanh toán là hoàn thành khi toàn bộ số tiền ghi trên hối phiếu đã được thanh toán cho người thụ hưởng và người thụ hưởng hủy bỏ quyền đối với hối phiếu đòi nợ bằng việc ghi rõ “hủy bỏ” hoặc từ tương đương kèm ngày tháng, chữ ký.
Việc thanh toán hối phiếu đòi nợ được coi là hoàn thành trong các trường hợp sau đây:
1 Người ký phát, người bị ký phát, người chấp nhận đã thanh toán toàn bộ
số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ cho người thụ hưởng;
2 Người chấp nhận trở thành người thụ hưởng của hối phiếu đòi nợ vào ngày đến hạn thanh toán hoặc sau ngày đó
3 Người thụ hưởng hủy bỏ hối phiếu đòi nợ hoặc từ bỏ quyền đối với hối phiếu đòi nợ khi việc hủy bỏ hoặc từ bỏ này được ghi rõ trên hối phiếu đòi
nợ bằng cụm từ “hủy bỏ”, "từ bỏ” hoặc cụm từ khác có ý nghĩa tương tự, ngày hủy bỏ, từ bỏ và chữ ký của người thụ hưởng
2.2.5 Nghiệp vụ truy đòi
a/ Khái niệm quyền truy đòi
So với ULB 1930, Luật CCCN Việt Nam 2005 quy định thêm các trường hợp người ký phát giải thể, chết hoặc mất tích, cũng như quyền truy đòi nếu người chuyển nhượng đã trả tiền trước cho người thụ hưởng.
ULB 1930 (Điều 43)
Người cầm giữ phiếu có thể thực hiện quyền truy đòi của mình đối với những người ký hậu, người ký phát hoặc những bên có trách nhiệm khác:
- Khi hối phiếu đến kỳ hạn trả tiền
- Nếu việc thanh toán không được thực hiện
- Thậm chí trước khi hối phiếu đến hạn
- Nếu có sự từ chối một phần hay từ chối hoàn toàn việc chấp nhận.
- Trong các trường hợp người trả tiền bị phá sản, dù ông ta có chấp nhận hay không, hoặc trong trường hợp có sự phán xét của Tòa án, hoặc khi việc tiến hành đối với hàng hóa của ông ta không có kết quả.
- Trong trường hợp người ký phát bị phá sản mà hối phiếu không được chấp nhận.
Luật CCCN Việt Nam 2005 (Điều 48)
Người thụ hưởng có quyền truy đòi số tiền quy định tại Điều 52 của Luật này đối với những người sau đây:
- Người ký phát, người bảo lãnh, người chuyển nhượng trước mình trong trường hợp hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận một phần hoặc toàn bộ theo quy định của Luật này
Trang 13- Người ký phát, người chuyển nhượng, người bảo lãnh khi hối phiếu đòi nợ đến hạn thanh toán mà không được thanh toán theo nội dung của hối phiếu đòi nợ
- Người ký phát, người chuyển nhượng, người bảo lãnh trong trường hợp người bị ký phát bị tuyên bố phá sản, giải thể, chết hoặc mất tích, kể cả trường hợp hối phiếu đòi nợ đã được chấp nhận hoặc chưa được chấp nhận
- Người chuyển nhượng, người bảo lãnh trong trường hợp hối phiếu đòi nợ chưa đến hạn thanh toán nhưng người ký phát bị tuyên bố phá sản, giải thể, chết hoặc mất tích và hối phiếu đòi nợ chưa được chấp nhận.
- Người chuyển nhượng đã trả tiền cho người thụ hưởng được quyền truy đòi đối với người ký phát hoặc người chuyển nhượng trước mình.
b/ Hình thức truy đòi:
Trong khi việc thông báo có thể được tiến hành dưới mọi hình thức theo ULB
1930 thì Luật CCCN Việt Nam 2005 yêu cầu thông báo truy đòi phải bằng văn bản Tuy nhiên trước khi thông báo phải có chứng nhận xác thực không chấp nhận hoặc không thanh toán.
ULB 1930:
- Điều 44: Sự không chấp nhận hoặc không thanh toán phải được chứng minh bằng một tờ chứng nhận xác thực (tờ kháng nghị không chấp nhận hoặc không thanh toán).
- Điều 45: Một người phải gửi thông báo, có thể gửi thông báo dưới mọi hình thức, thậm chí bằng cách gửi trả lại hối phiếu.
Luật CCCN Việt Nam 2005 (Điều 49)
Trong trường hợp hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán, người thụ hưởng phải thông báo bằng văn bản cho người ký phát, người chuyển nhượng cho mình, người bảo lãnh cho những người này về việc từ chối đó.
c/ Thời hạn thông báo
Luật CCCN Việt Nam cho phép mỗi người chuyển nhượng có 4 ngày để chuyển thông báo bằng văn bản cho người chuyển nhượng cho mình; còn ULB 1930 là 2 ngày.
ULB 1930
- Điều 44: Việc kháng nghị do không thanh toán một hối phiếu được thanh toán vào một ngày cố định hoặc vào một thời gian cố định sau ngày ký phát hoặc sau khi xuất trình phải được thực hiện vào một ngày hoặc 2 ngày làm việc kế tiếp ngày mà hối phiếu được thanh toán.
- Điều 45: Người cầm giữ phiếu phải thông báo việc không chấp nhận hoặc không thanh toán cho người ký hậu và người ký phát trong vòng 4 ngày làm việc kế tiếp theo ngày kháng nghị hoặc trong trường hợp có một quy định
"Retour sans frais", ngày xuất trình Mỗi người ký hậu, trong vòng 2 ngày làm
Trang 14việc kế tiếp ngày mà ông ta nhận thông báo, phải thông báo cho người ký hậu
về thông tin mà anh ta nhận được, phải nêu tên và những địa chỉ của những người này cho đến người ký phát Những thời gian được nêu ở trên được tính bắt đầu kể từ khi nhận được thông báo trước đó.
Luật CCCN Việt Nam 2005 (Điều 50)
Người thụ hưởng phải thông báo cho người ký phát, người chuyển nhượng cho mình, người bảo lãnh cho những người này về việc hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán trong thời hạn 4 ngày làm việc, kể
từ ngày bị từ chối.
Trong thời hạn 4 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, mỗi người chuyển nhượng phải thông báo bằng văn bản cho người chuyển nhượng cho mình về việc hối phiếu đòi nợ bị từ chối, kèm theo tên và địa chỉ của người đã thông báo cho mình Việc thông báo này được thực hiện cho đến khi người ký phát nhận được thông báo về việc hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc
bị từ chối thanh toán.
Theo khoản l và khoản 2 Điều này, nếu việc thông báo không thực hiện được
do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan gây ra thì thời gian diễn ra
sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hạn thông báo.
d/ Trách nhiệm những người có liên quan
Hai nguồn luật có sự khác nhau về quyền kiện của những người liên quan.
ULB 1930 quy định tất cả những người ký vào hối phiếu, đã nhận và thanh toán hối phiếu đều có quyền kiện tất cả những người ký phát, chấp nhận, những người ký hậu hoặc bảo lãnh hối phiếu
Luật CCCN Việt Nam không quy định quyền kiện của những người liên quan.
ULB 1930 (Điều 47)
Tất cả những người ký phát, chấp nhận, những người ký hậu hoặc bảo đảm bằng bảo lãnh một hiếu phiếu đều chịu trách nhiệm liên đới và cá nhân đối với người cầm giữ phiếu Người cầm giữ có quyền kiện tất cả những người này từng người một hoặc có chọn lọc mà không phải tôn trọng trật tự mà những người này bị ràng buộc Tất cả những ai ký vào hối phiếu, đã nhận và thanh toán hối phiếu đều có quyền tương tự.
Việc kiện tụng một trong những bên chịu trách nhiệm không ngăn cản việc kiện tụng những bên khác, cho dù họ có thể ở vị trí sau bên bị kiện đầu tiên.
Luật CCCN Việt Nam 2005 (Điều 51)
- Người ký phát, người chuyển nhượng chịu trách nhiệm liên đới thanh toán cho người thụ hưởng toàn bộ số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ.
- Người chấp nhận, người bảo lãnh chịu trách nhiệm liên đới thanh toán cho người thụ hưởng số tiền đã cam kết chấp nhận hoặc cam kết bảo lãnh.