Bùi Quang Thanh 2016, Quản lý văn hóa và văn hóa quản lý đ i v i lễ h i c truyền Việt Nam hiện nay, công trình này không về quản lý nhà hát mà về quản lý văn hoá đưa lên nhóm trên tá
Trang 1~~~~~~***~~~~~~
PHẠM THỊ THANH HUYỀN
QUẢN LÝ NHÀ HÁT CA MÚA - KỊCH LAM SƠN
TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 60.31.06.42
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Bích Huyền
THANH HÓA, 2018
Trang 2hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Bích Huyền Mọi tham khảo
dùng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa được công bố
Thanh Hóa, ngày 28 tháng 8 năm 2018
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thanh Huyền
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH, HỘP 4
MỞ ĐẦU 5
1.Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng, phạm vi, thời gian nghiên cứu luận văn 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp của luận văn 13
7 Bố cục luận văn 14
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ HÁT VÀ TỔNG QUAN VỀ NHÀ HÁT CA MÚA - KỊCH LAM SƠN 15
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý Nhà hát 15
1.1.1 Khái niệm quản lý văn hóa 15
1.1.2 Nhà hát và quản lý Nhà hát 23
1.1.3 Nội dung, phương thức quản lý Nhà hát 25
1.2 Tổng quan về Nhà hát Ca múa – Kịch Lam Sơn 30
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 30
1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ 33
1.2.3 Cơ cấu tổ chức 34
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà hát 34
Tiểu kết 41
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ HÁT CA MÚA - KỊCH LAM SƠN 42
2.1 Chủ thể, cơ chế quản lý Nhà hát Ca múa – Kịch Lam Sơn 42
2.1.1 Chủ thể quản lý 42
2.1.2 Cơ chế quản lý 46
Trang 42.2 Các lĩnh vực quản lý Nhà hát Ca múa – Kịch Lam Sơn 48
2.2.1 Quản lý tài chính 48
2.2.2 Quản lý hành chính, tổ chức và cơ sở vật chất 51
2.2.3 Quản lý nhân lực 55
2.2.4 Quản lý hoạt động biểu diễn và hoạt động Maketting 61
2.3 Đánh giá công tác quản lý Nhà hát ca múa – Kịch Lam Sơn 71
2.3.1 Ưu điểm 71
2.3.2 Hạn chế 74
2.3.3 Nguyên nhân 77
Tiểu kết 77
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ HÁT CA MÚA - KỊCH LAM SƠN 79
3.1 Định hướng phát triển Nhà hát Ca múa – Kịch Lam Sơn và dự báo nhu cầu thưởng thức nghệ thuật 79
3.1.1 Định hướng chung 79
3.1.2 Định hướng cụ thể 80
3.1.3 Dự báo nhu cầu thưởng thức nghệ thuật công chúng 82
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà hát ca múa – Kịch Lam Sơn 95
3.2.1 Giải pháp về quản lý hoạt động tài chính 95
3.2.2 Giải pháp về tổ chức hành chính và cơ sở vật chất 97
3.2.3 Giải pháp về quản lý nhân lực 98
3.2.4 Giải pháp về các hoạt động biểu diễn nghệ thuật và hoạt động maketing 101 Tiểu kết 104
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH, HỘP
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm 2013 – 2017 51
Bảng 2.2: Kế hoạch và thực tuyển nguồn nhân lực choNhà hát Ca múa – Kịch Lam Sơn 57
Bảng 2.3: Đào tạo nguồn nhân lực Nhà hát ca múa – Kịch Lam Sơn 59
Bảng 2.4: Thành tích thi đua khen thưởng cho cán bộ nhân viên - người 60
lao động tại Nhà hát ca múa- Kịch Lam Sơn giai đoạn 2013 -2017 60
Bảng 2.5: Kết quả thực hiện chỉ tiêu kế hoạch Nhà nướcnăm 2013-2017 Nhà hát Ca múa- Kịch Lam Sơn 62
Hình 2.1: Mô phỏng tác động của chủ thể quản lý Nhà hát 42
Hình 2.2: Tổ chức quản lý của Nhà hát Ca múa – Kịch Lam Sơn 43
Hình 2.3:Thu nhập tăng thêm bình quân đầu người /tháng từ 2013-2017Nhà hát Ca múa - Kịch Lam Sơn 50
Hình 2.4: Quy trình tuyển dụng nhân lực củaNhà hát Ca múa – Kịch Lam Sơn 56
Hộp 2.1: Ý kiến của người phụ trách chuyên mônvề chất lượng kịch Nhà hát Ca múa- Kịch Lam Sơn 63
Hộp 2.2: Ý kiến khán giả về chất lượng kịch NHCMK Lam Sơn 64
Hộp 2.3: Ý kiến của người phụ trách chuyên môn về đổi mới nội dungCa múa – Kịch Nhà hát Lam Sơn đáp ứng nhu cầu thị trường 65
Trang 7MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Nhà hát Ca múa - Kịch Lam Sơn là một trong những đơn vị nghệ thuật hàng đầu của tỉnh, Sở VH TT&DL Thanh Hóa, được thành lập từ năm 2003 trên cơ sở hợp nhất ba đơn vị: Đoàn ca múa nhạc nhân dân Thanh Hóa, Đoàn kịch nói Thanh Hóa và Nhà hát Lam Sơn Trải qua 15 năm xây dựng và trưởng thành (2003 - 2018), với bề dày truyền thống biểu diễn nghệ thuật dân tộc, Nhà hát Ca múa - Kịch Lam Sơn đã có những đóng góp đáng kể trong công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu sắc thái xứ Thanh
Qua 15 năm thành lập Nhà hát Ca múa Kịch Lam Sơn đã đáp ứng được các nhiệm vụ của Tỉnh, nâng cao được uy tín, thương hiệu nghề nghiệp trong giới chuyên môn cũng như dành được nhiều tình cảm yêu mến của khán giả Nhà hát Ca múa Kịch Lam Sơn nhiều năm liền được Đảng, Nhà nước, Chính phủ cùng các Bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương trao tặng các phần thưởng cao quý: Huân chương lao động hạng Ba (năm 2006); Huân chương Lao động hạng Hai (năm 2012), có 7 nghệ sỹ được phong tặng NSƯT; nhiều nghệ sỹ, diễn viên được tặng thưởng Huy chương vàng, bạc, Bằng khen qua các kỳ Hội diễn và liên hoan sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc
Qua từng bước trưởng thành, Nhà hát Ca múa - Kịch Lam Sơn đang có nhiều cơ hội phát triển, xong cũng gặp không ít khó khăn thách thức bởi sự ảnh hưởng của toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, xã hội hóa… Sự thay đổi về cơ chế, chính sách quản lý, nguồn lực, đào tạo, tư duy, thẩm mỹ, nhu cầu thưởng thức của công chúng… đòi hỏi phải đổi mới nhiều mặt để phát triển Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, các Nhà hát mất dần lượng khán giả do quản lý Nhà hát còn nhiều bất cập như sự trông trờ vào kinh phí nhà nước, nhiều yếu tố như chất lượng sản phẩm không cao, sự sáng tạo hạn chế, có nhiều chương trình giải trí khác cạnh
Trang 8tranh, hoạt động marketing chưa tốt Vì vậy, cần phải thay đổi cách quản lý để tiếp cận và hướng đến lộ trình tự chủ trong quản lý và tiến tới xóa bỏ cơ chế bao cấp về kinh phí, bởi khi được trao quyền tự chủ, Nhà hát sẽ chủ động trong việc quản lý chi tiêu tài chính của đơn vị, thu nhập của người lao động từng bước được cải thiện, phân phối tiền lương của đơn vị sự nghiệp sẽ gắn với chất lượng, hiệu quả công việc; hướng đi này cũng tạo nền tảng để các đơn vị thích nghi với quy luật xã hội, thích nghi với nền kinh tế thị trường, giải phóng sức sáng tạo, đặc biệt là xóa bỏ sự trì trệ, lực cản trong tư duy bao cấp
Là một học viên của lớp Cao học quản lý văn hóa của Trường Đại học VH, TT&DL Thanh Hóa, với nhận thức đây là vấn đề cấp thiết cần phải nghiên cứu nhằm hiểu rõ thực trạng quản lý và sự thay đổi phương thức hoạt động của Nhà hát Ca múa - Kịch Lam Sơn trong lộ trình tiến tới tự chủ, đưa ra những định hướng, đề xuất những giải pháp, giúp cho công tác quản lý Nhà hát trong thời gian tới phù hợp và hiệu quả hơn Bên cạnh đó, học viên mong muốn được góp phần hoàn thiện các chính sách quản lý đối với các đơn vị nghệ thuật trên cả
nước Với ý nghĩa trên, học viên đã chọn đề tài: “Quản lý Nhà hát Ca múa -
Kịch Lam Sơn” để làm luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu có nội dung liên quan đến Quản lý Nhà hát Về các nghiên cứu đó, tác giả tổng hợp
theo các nhóm vấn đề sau:
2.1 Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật
Tác giả: Lương Hồng Quang (2001), trong công trình Quản lý văn hóa
nghệ thuật, chuyên luận khoa học Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội đã chỉ ra rằng,
quản lý văn hóa nghệ thuật không chỉ chú ý đến hoạt động sáng tác mà còn phải quan tâm tác động đến cả công chúng và sự tiếp nhận của họ với mọi chiều cạnh phức tạp của đời sống: Quản lý cái phần động của văn hóa nghệ thuật, quản lý sự
Trang 9phát triển của văn hóa nghệ thuật Từ đó, tác giả chỉ ra 3 nhóm giải pháp quản lý
văn hóa nghệ thuật [25] Phan Văn Tú (2002) trong Marketing hỗn hợp trong
quản lý văn hóa nghệ thuật, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật đã chỉ ra biểu diễn nghệ
thuật là một dạng hoạt động trong các hoạt động văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của con người trong đời sống xã hội Chiến lược marketing cần
có cho các nhà hát gồm 5 nội dung bao gồm: Thâm nhập thị trường; Tổ chức các câu lạc bộ; Tổ chức các cuộc điều tra xã hội hội học; Phát triển sản phẩm; Đa dạng hóa các loại hình nghệ thuật [38]
Lê Thị Thúy Hà (2016), Truyền thông về các loại hình nghệ thuật biểu
diễn trên báo điện tử, Luận văn thạc sỹ chuyên nghành báo chí học; Trường
Đại học Khoa học xã hội và nhân văn; cho thấy các loại hình truyền thông và chỉ ra thực trạng truyền thông các loại hình nghệ thuật và khảo sát các loại hình truyền thông năm 2015, đưa ra 3 nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả lĩnh vực truyền thông các loại hình nghệ thuật biểu diễn trên báo điện tử như: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý báo điện tử trong truyền thông các loại hình nghệ thuật biểu diễn; Nâng cao nhận thức về vai trò cũng như tần suất, hiệu quả của truyền thông các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống; tăng cường hợp tác, liên thông với ngành du lịch, các đơn vị nghệ thuật, các sự kiện lớn… để nâng cao hiệu quả truyền thông các loại hình nghệ thuật biểu diễn trên báo điện tử [10]
Bùi Quang Thanh (2016), Quản lý văn hóa và văn hóa quản lý đ i v i lễ
h i c truyền Việt Nam hiện nay, (công trình này không về quản lý nhà hát
mà về quản lý văn hoá đưa lên nhóm trên) tác giả chỉ ra nội dung quản lý văn hóa công việc của nhà nước, được thực hiện thông qua việc ban hành quy chế, chính sách, tổ chức triển khai, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và cả nước Nhìn vào thực
Trang 10tiễn, không khó để nhận thấy, quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động
chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ
quan đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao
quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (mọi thành phần/thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn
(bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân [31]
Tắc giả Lê Lan Hiên (2015), Quản lý hoạt đ ng biểu diễn Nghệ thuật
S VHTT&DL Ninh Bình, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Tác giả nêu lên bản chất quản lý các hoạt động nghệ thuật và chỉ ra 4 nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật Sở VHTT&DL Ninh Bình [12]
Tác giả Nguyễn Thanh Xuân (2017), Quản lý nguồn nhân lực trong các
t chức nghệ thuật biểu diễn công lập trên địa bàn Hà N i, Luận án Tiến sỹ
văn hóa học, Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam đã chỉ ra thực trạng quản lý nguồn nhân lực gồm phân tích công việc, hoạch định nguồn nhân lực, tuyển dụng và duy trì nguồn nhân lực, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, bố trí công việc, đánh giá năng lực của cán bộ Từ đó tác giả đã đề xuất được 6 nhóm giải pháp tương ứng [40]
Những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các học giả nêu trên đóng vai trò là nền tảng lý luận, phương pháp luận về công tác quản lý văn hóa nghệ thuật, nội dung và nguyên tắc trong quản lý văn hóa nghệ thuật, mối liên
hệ giữa văn hóa nghệ thuật với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Từ những công trình này các chính sách, lý luận về quản lý văn hóa nghệ thuật sẽ dần được bổ sung hoàn thiện, phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc dưới ánh sáng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về Văn hóa
Trang 112.2 Các công trình nghiên cứu về Nhà hát và quản lý Nhà hát
Tác giả Trần Thục Quyên (2006), Quản lý hoạt đ ng biểu diễn nghệ thuật
tại Nhà hát Tu i trẻ, Luận văn Thạc sỹ Văn hóa học, Trường Đại học Văn hóa
Hà Nội chỉ ra các hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Nhà hát Tuổi trẻ và phân tích rõ thực trạng quản lý về các hoạt động như hoạt động văn nghệ quần chúng, hoạt động phục vụ lễ hội du lịch của các tỉnh, các ngày lễ lớn của cả nước và các hoạt động khác; Từ đó đề xuất các nhóm giải pháp cho từng hoạt động
Nguyễn Thị Anh Quyên (2014), Maketing Văn hóa nghệ thuật của các Nhà
hát trên địa bàn Hà N i, Luận án tiến sỹ chuyên ngành Văn hóa học, Trường
Đại học Văn hóa Hà Nội Luận án phân tích rõ thực trạng hoạt động marketing văn hoá nghệ thuật của các nhà hát trên địa bàn Hà Nội và chỉ ra 5 nhóm giải pháp; tiếp cận marketing văn hoá nghệ thuật từ góc nhìn văn hóa
học [28] Tác giả Phan Mạnh Đức (2014), Quản lý Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt
Nam, Luận văn thạc sỹ Quản lý Văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Luận văn phân tích thực trạng quản lý Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam dưới 2 góc độ quản lý dàn hòa nhạc giao hưởng, hợp xướng và nhạc kịch, vũ kịch [9]
Với tác giả Nguyễn Thị Hải Yến (2015), Tăng cường quản lý nhà nư c
đ i v i hoạt đ ng biểu diễn nghệ thuật tỉnh Thanh Hóa, Tạp chí Văn hóa
nghệ thuật, Hà Nội; đã nêu rõ quan điểm về quản lý nhà nước trong hoạt động
biểu diễn nghệ thuật, chỉ ra vai trò quan trọng của quản lý nhà nước trong lĩnh vực này Từ đó phân tích thực trạng về quản lý nhà nước đối với hoạt động biểu diễn nghệ thuật trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, nhằm chỉ ra tồn tại hạn chế
và khuyến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động biểu
diễn nghệ thuật như: Quy hoạch lại mạng lưới các đoàn nghệ thuật biểu diễn; Đầu tư cho sáng tác và dàn dựng tiết mục; Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ
thuật; Cải thiện chế độ, chính sách đối với nghệ sĩ, diễn viên; Đổi mới công
tác quản lý [42]
Trang 12Dưới cái nhìn của tác giả Trần Ngọc Thuần (2016), Hoạt đ ng biểu
diễn nghệ thuật tại m t s câu lạc b trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, phân
tích thực trạng phát triển hoạt động nghệ thuật tại các câu lạc bộ này, các
ưu điểm và hạn chế trong các hoạt động và đưa ra 2 nhóm giải pháp nâng cao chất lượng các hoạt động gồm: Liên kết với Nhà hát Ca múa - Kịch Lam Sơn và cần thường xuyên tổ chức tham gia các hội diễn nghệ thuật do tỉnh Thanh Hóa tổ chức [47]
Đánh giá về hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại Nhà hát Ca múa - Kịch
Lam Sơn, tác giả Trịnh Ngọc Thụy (2016), Nghệ thuật biểu diễn Nhà hát Ca
múa - Kịch Lam Sơn m t chặng đường đáng nh , nghiên cứu đã chỉ ra Nhà
hát cần đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng nghệ thuật ca - múa - kịch đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân”, góp phần đưa Nhà hát Ca - Múa - Kịch Lam Sơn thực sự là điểm đến thường xuyên của công chúng yêu mến nghệ thuật đích thực, yêu mến văn hóa lành mạnh [46] Những bài viết, những chuyên đề nghiên cứu trước đây chủ yếu đề cập tới lịch sử phát triển và các hoạt động quản lý của các Nhà hát nói chung, hoặc mới chỉ dừng lại ở góc độ tiếp cận đánh giá các khía cạnh khác nhau trong nội dung quản lý về Nhà hát Chưa có một công trình nào đi sâu vào khảo sát, nghiên cứu phân tích tổng hợp, đánh giá công tác quản lý tại Nhà hát Ca múa - Kịch Lam Sơn để nhìn ra thực trạng công tác quản lý Nhà hát hiện nay và tính đặc thù chuyên biệt của Nhà hát, vì vậy: Đề tài luận văn này
là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên về Nhà hát Ca múa - Kịch Lam Sơn Đây chính là mặt thuận lợi nhưng cũng đồng thời là khó khăn thách thức với học viên, đòi hỏi phải nỗ lực, tư duy tổng hợp phân tích chặt chẽ bằng nguồn tư liệu trực tiếp, gián tiếp có được qua nhiều hình thức khác nhau, từ
đó có sự đánh giá xác thực, đúng đắn, đề ra những giải pháp góp phần phát triển Nhà hát trong những năm tiếp theo
Trang 133 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý Nhà hát
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý tại Nhà hát
Ca múa kịch Lam Sơn từ năm 2013 đến 2017
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà hát Ca múa Kịch Lam Sơn
4 Đối tượng, phạm vi, thời gian nghiên cứu luận văn
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên các quan điểm chỉ đạo, các chủ trương chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước về văn hóa, qua đó xem xét, đánh giá
Trang 14hoạt động quản lý Nhà hát Ca múa kịch Lam Sơn trong mối quan hệ chặt chẽ với thực tiễn cuộc sống
5.2 Các phương pháp cụ thể
5.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Phương pháp thu thập thông tin, s liệu thứ cấp
Luận văn sử dụng số liệu thứ cấp được công bố tại Nhà hát Ca múa kịch Lam Sơn; Báo cáo tổng kết các năm từ 2013-2017 Ngoài ra, số liệu thứ cấp còn được tập hợp từ các báo cáo, công trình nghiên cứu, đề tài đã được thực hiện liên quan đến nội dung nghiên cứu
Phương pháp thu thập s liệu sơ cấp
Thông tin sơ cấp chủ yếu phục vụ cho nghiên cứu dựa trên các phương pháp khác nhau gồm điều tra, phỏng vấn sâu cán bộ ngành
Phương pháp phỏng vấn sâu bằng cách đặt câu hỏi khai thác sâu hơn những vấn đề quản lý Nhà hát Ca múa kịch Lam Sơn để có cái nhìn khách quan, đa chiều Hỏi trực tiếp, sau đó ghi âm hoặc ghi chép theo nội dung chuẩn bị sẵn
Phương pháp xử lý số liệu:
Dữ liệu sau khi thu thập được sẽ được kiểm tra lại theo tiêu chuẩn đầy
đủ, chính xác và logic, sau đó sắp xếp theo nội dung nghiên cứu Trong đề tài, Các số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel theo nội dung phân tích
Trang 15dụng phương pháp này để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đó là phản ánh mức độ phát triển Nhà hát Ca múa kịch Lam Sơn về cơ sở vật chất, về nguồn nhân lực
Phương pháp so sánh: Trên cơ sở các chỉ tiêu thống kê mô tả, so sánh các nhóm chỉ tiêu giữa các năm; so sánh mức độ tổ chức biểu diễn và quản lý hoạt động marketing với các Nhà hát ca múa nhạc khác trên địa bàn thuộc cấp tỉnh quản lý
6 Đóng góp của luận văn
Thông qua những chủ trương, chính sách về văn hóa nghệ thuật và quản
lý các thiết chế văn hóa của Đảng và Nhà nước; Bộ VH,TT&DL từ lịch sử và thực tiễn hoạt động của Nhà hát Ca múa kịch Lam Sơn, luận văn phản ánh hiện trạng công tác quản lý Nhà hát, những mặt đã đạt được và những mặt còn hạn chế, phân tích và đánh giá các yếu tố mới tác động đến hoạt động biểu diễn nghệ thuật (tác động của toàn cầu hóa văn hóa, giao lưu văn hóa quốc tế, ảnh hưởng của kinh tế thị trường, xã hội hóa, cơ chế tự chủ tài chính,
sự thay đổi về thẩm mỹ và nhu cầu của thị trường văn hóa…) nhằm đưa ra những giải pháp khắc phục phù hợp
Bằng những nhóm giải pháp và định hướng, những kiến nghị cụ thể được đề xuất trong luận văn sẽ giúp cho công tác quản lý các hoạt động của Nhà hát Ca múa Kịch Lam Sơn có thêm những hiệu quả mới, bắt kịp được với xu hướng phát triển mạnh mẽ của văn hóa xã hội, nhanh chóng hòa nhập với các nước có nền nghệ thuật ca múa nhạc phát triển, tiến tới từng bước đổi mới phương thức hoạt động, cơ cấu tổ chức, thực hiện thành công chiến lược phát triển lâu dài của Nhà hát
Kết quả nghiên cứu của luận văn đóng góp thêm tư liệu nghiên cứu công tác quản lý các Nhà hát trực thuộc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Là cơ sở
để các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý tiếp tục quan tâm đầu tư lâu dài, cụ thể và
Trang 16xứng tầm hơn cho các Nhà hát
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý Nhà hát và Tổng quan về Nhà hát
Ca múa Kịch Lam Sơn
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý Nhà hát Ca múa kịch Lam Sơn Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quản lý Nhà hát
Ca múa Kịch Lam Sơn
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ HÁT
VÀ TỔNG QUAN VỀ NHÀ HÁT CA MÚA - KỊCH LAM SƠN
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý Nhà hát
1.1.1 Khái niệm quản lý văn hóa
* Khái niệm quản lý
Từ khi xã hội loài người được hình thành, hoạt động tổ chức, quản lý
đã được quan tâm Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn Đó là hoạt động giúp cho người đứng đầu
tổ chức phối hợp sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt được mục tiêu đề ra Quản lý là một hoạt động tất yếu khách quan, diễn ra ở mọi tổ chức dù quy mô lớn hay nhỏ, có cấu trúc đơn giản hay phức tạp
Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau Chính vì sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú về quan niệm
Từ góc độ hoạt động, quản lý được hiểu là sự tác động chỉ huy và điều khiển các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người nhằm đạt được mục tiêu của nhà quản lý Cách tiếp cận này nhìn nhận những hoạt động cơ bản của quản lý Thực chất của quản lý là quá trình chỉ huy điều khiển người khác để để đạt được mục tiêu
Từ góc độ chính trị pháp lý, quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức và lao động Hoạt động quản lý là lao động của con người Tuy nhiên, đây là một hoạt động lao động mang tính chất đặc biệt trong đó nhà quản lý
sử dụng những tri thức, sự sáng tạo nhằm tác động lên đối tượng quản lý
Từ mối quan hệ giữa các quá trình trong quản lý, thì quản lý được hiểu là hoạt động bao gồm 2 quá trình đan xen nhau một cách chặt chẽ là
Trang 18duy trì và phát triển Quá trình đầu tiên trong quản lý là quá trình duy trì để đảm bảo ổn định trật tự các hoạt động trong tổ chức đồng thời cũng phải tiến hành các hoạt động của tổ chức để phát triển tổ chức theo một hướng cao hơn Hai quá trình duy trì và phát triển này đan xen lồng ghép vào nhau nhằm đảm bảo cho hoạt động của tổ chức vừa mang tính ổn định đồng thời đảm bảo cho sự phát triển đi lên [43, tr24-26]
Thuật ngữ “Quản lý” thường được hiểu đó là quá trình mà chủ thể quản lý sử dụng các công cụ quản lý và phương pháp quản lý thích hợp nhằm điều khiển đối tượng quản lý hoạt động và phát triển nhằm đạt đến những mục tiêu đã định Quản lý được sử dụng khi nói tới các hoạt động và các nhiệm vụ mà nhà quản lý phải thực hiện thường xuyên từ việc lập kế hoạch đến quá trình thực hiện kế hoạch đồng thời tổ chức kiểm tra Ngoài
ra nó còn hàm ý cả mục tiêu, kết quả và hiệu năng hoạt động của tổ chức Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của các nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tố chức về quản lý là một khoa học [16, tr13]
Vậy có thể hiểu quản lý là sự điều khiển chiến thuật, là quá trình đi từ chỗ nắm được, nắm đúng cái hiện có, thấy được, thấy đúng cái cần có Biết tìm mọi biện pháp khả thi và tối ưu đưa ra từ cái nhìn hiện thực lên cái cần
có Quản lý trong xã hội chính là quản lý con người, ở đây chủ thể và khách thể quản lý là con người Vì vậy trong quản lý xã hội nói chung và quản lý văn hóa nói riêng, phải quản lý trên nguyên tắc tôn trọng, định hướng tạo điều kiện cho các cá nhân phát triển
Từ khái niệm quản lý, nhận thấy:
Trang 19Quản lý là sự tác động có kế hoạch có khoa học chặt chẽ không phải là hoạt động ngẫu nhiên tuỳ tiện Chủ thể sẽ xây dựng các kế hoạch, tổ chức
bộ máy nhân sự, thực hiện hoạt động lãnh đạo, phối hợp và kiểm soát người thừa hành
Quản lý là phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý Trong đó chủ thể là người đưa ra mệnh lệnh, đối tượng quản lý là người thực thi các mệnh lệnh
Hoạt động quản lý hướng đến đạt những mục tiêu đã được xác định Mục tiêu là cái định hướng cho hoạt động quản lý, là đích đến mà cả chủ thể quản lý và đối tượng quản lý đều hướng tới
Sự tác động trong quản lý được thể hiện thông qua các hoạt động như
là chỉ huy, điều khiển, kiểm tra, giám sát
Quan hệ quản lý là quan hệ mang tính chất phục tùng mệnh lệnh, chứa đựng yếu tố quyền lực (quyền lực thuộc về chủ thể quản lý)
Quản lý được cấu thành bởi 4 yếu tổ gồm: chủ thể, đối tượng, mục tiêu và môi trường quản lý, cụ thể:
(1) Chủ thể quản lý: Là yếu tố tạo ra tác động quản lý trong mọi quá trình hoạt động Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hoặc tổ chức Chủ thể quản lý là người đưa ra mệnh lệnh quản lý, thực hiện hoạt động quản
lý Trong quá trình quản lý, chủ thể quản lý sẽ sử dụng các công cụ, phương pháp quản lý để tác động lên đối tượng quản lý
(2) Đối tượng quản lý: Là thực thể tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Đối tượng quản lý có thể là con người, giới vô sinh, giới sinh vật
(3) Mục tiêu quản lý: Là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm trong tương lai được chủ thể quản lý đặt ra Mục tiêu trong quản thể hiện hết sức đa dạng phong phú Đó có thể là mục tiêu chung của tổ chức,
Trang 20cũng có thể là các mục tiêu cụ thể Mục tiêu quản lý là sợi dây liên kết giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý
(4) Môi trường quản lý: Là tập hợp những điều kiện ảnh hưởng và tác động đến hoạt động quản lý của tổ chức Môi trường quản lý tồn tại hết sức đa dạng và phong phú (môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc tế)
Nguyên tắc quản lý: 14 nguyên tắc của Fayol [44]
Nguyên tắc 1: Chuyên môn hóa/ phân công hóa lao động: Sự phân
bổ công việc và chuyên môn hóa từng bước làm trong một chu trình sẽ kéo theo sự chuyên môn hóa trong kỹ năng, thúc đẩy tính tập trung và hiệu quả công việc Khi nhân viên được chuyên môn hóa, sản lượng có thể tăng lên
Nguyên tắc 2: Lãnh đạo đi kèm trách nhiệm tương ứng: Nhà quản lý
có quyền ra lệnh, nhưng họ phải ghi nhớ rằng quyền chính là trách nhiệm Herb - Kelleher - cựu Chủ tịch Tập đoàn Southwest Airlines cũng cho rằng
"các vị trí và chức danh đều không quan trọng, chất lượng quản lý mới là điều có ý nghĩa hơn hết Bất kỳ ai, đang đảm nhận cương vị hay chức danh nào cũng có thể là một nhà lãnh đạo qua hành động của mình"
Nguyên tắc 3: Kỷ luật: Kỷ luật phải được tôn trọng trong các tổ chức,
nhưng các phương pháp để áp dụng nó có thể khác nhau “Sự đồng thuận giữa công ty và nhân viên về bản chất được thể hiện qua sự tuân thủ, tính
áp dụng, hành vi thể hiện sự tôn trọng.”
Nguyên tắc 4: Thống nhất lệnh: Từ lâu, các phương châm quản lý
đều cho rằng nhân viên chỉ nên nghe lệnh từ 1 lãnh đạo duy nhất Ngày nay, với hàng loạt phương pháp và mô hình quản lý kiểu ma trận đan xen nhau, nhiều khi cùng một công việc nhân viên sẽ phải báo cáo với 2 hoặc nhiều hơn cấp lãnh đạo hay bên khách hàng Vấn đề đặt ra ở đây là, các lãnh đạo có thể sẽ đưa ra những yêu cầu trái ngược nhau, và người nhân
Trang 21viên sẽ rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan
Nguyên tắc 5: Thống nhất chỉ đạo: Đội ngũ nhân viên với cùng một
mục tiêu cần phải làm việc dưới sự chỉ đạo của một người quản lý, tuân theo một kế hoạch Điều này sẽ đảm bảo hoạt động được phối hợp đúng cách Tỷ phú Lý Gia Thành từng cho rằng "20% thành công của doanh nghiệp nằm ở quyết sách và 80% còn lại là hành động"
Nguyên tắc 6: Lợi ích chung cần đặt lên trên hết: Fayol cho rằng lợi
ích của một nhân viên hay nhóm không được đặt cao hơn lợi ích chung của
tổ chức Ý tưởng này dấy lên tranh cãi rằng, vậy ai sẽ là người quyết định xem lợi ích chung của tổ chức là gì? Và ta cũng nên hiểu rằng, các nguyên tắc của Fayol được xây dựng với giả định mọi lợi ích và quyết định của tổ chức đều trung lập và có lý
Nguyên tắc 7: Thù lao: Sự hài lòng của nhân viên phụ thuộc vào thù
lao công bằng cho tất cả mọi người
Nguyên tắc 8: Tập trung hóa: Đây là nguyên tắc thiết yếu của mọi
tổ chức và là hệ quả tất yếu của quá trình cơ cấu Ngay cả ở trong những
tổ chức có cấu trúc phẳng và quyền lực phân hóa (decentralization),
quyền hành nói chung vẫn tập trung vào tay một số người mà thôi Trong những tổ chức kiểu này, việc từng cá nhân được tự do đến đâu và hệ lụy
từ việc phân tán quyền hành lớn đến mức nào chưa bao giờ được bỏ khỏi bàn tranh luận
Nguyên tắc 9: Xích lãnh đạo: Mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân
viên cũng như mệnh lệnh từ trên xuống dưới cần được đảm bảo nguyên tắc
rõ ràng, hợp lý, hai bên cùng hiểu Nhân viên cần phải nhận thức nơi họ đứng trong hệ phân cấp của tổ chức hoặc chuỗi mệnh lệnh
Nguyên tắc 10: Trật tự: Nói đơn giản, mọi tổ chức nên để cho mỗi
nhân viên có chỗ đứng riêng, có bổn phận phù hợp với tổ chức, luôn cảm
Trang 22thấy tự tin và an toàn trong môi trường công ty Mọi nguyên tắc, luật lệ, hướng dẫn và hành động cần được thể hiện một cách dễ hiểu Một tổ chức
có trật tự sẽ phát triển ổn định
Nguyên tắc 11: Công bằng: Nhà quản lý cần công bằng với nhân viên
cả trong nguyên tắc lẫn hành động Herb Kelleher cũng cho rằng "Hãy đánh giá các ý kiến dựa vào giá trị thực của chúng hơn là dựa trên các mối quan hệ, địa vị hay thành tích của những người đề đạt chúng và khuyến khích mọi người trình bày ý kiến trực tiếp cho lãnh đạo cấp cao"
Nguyên tắc 12: Tính ổn định trong thời gian đảm nhận vị trí: Các
nhân viên cần có thời gian để thích ứng và thực hiện công việc một cách hiệu quả nhất Sự ổn định về nhiệm vụ thúc đẩy lòng trung thành với mục đích và giá trị của tổ chức
Nguyên tắc 13: Sáng kiến: Ở mọi cấp bậc trong cơ cấu tổ chức, sự
nhiệt huyết, nhiệt tình và năng lực đều đến từ những người có cơ hội thể hiện những sáng kiến cá nhân của mình
Nguyên tắc 14: Tinh thần đoàn kết: Fayol nhấn mạnh rằng, việc xây
dựng và duy trì sự hòa hợp giữa các mối quan hệ trong công việc là vô cùng cần thiết
Kèm với đó Henry Fayol cũng đưa ra 6 chức năng chính của quản lý,
có mối liên hệ chặt chẽ với các nguyên tắc trên bao gồm:
Trang 23Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội; là năng lực sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con người; trụ cột phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc và nhân loại
Văn hóa là một quá trình hoạt động của con người tự do, biến đổi thế giới tự nhiên thành thế giới tự nhiên thứ hai có cấu trúc cao hơn, có tính người, trong quá trình đó con người hình thành thiên nhiên bên trong, đồng thời thể hiện thái độ ứng xử đối với chính mình.Văn hóa là một cấu trúc toàn diện gồm ba hình thái: chuẩn mực, giá trị và biểu tượng Bởi vậy, cần quan niệm rõ văn hóa như thế nào trong khuôn khổ của ngành quản lý văn hóa, nó là khái niệm rộng hay hẹp, liệu văn hóa có phải là khái niệm bậc trên của nghệ thuật như sân khấu, âm nhạc, nhảy múa hay văn học Bởi vậy, văn hóa là hình thái chuẩn mực, hình thái giá trị và hình thái biểu tượng do con người sáng tạo nên nhằm giúp con người có những điển quy
để hành động, nhân thức và biến đổi thực tại Trong hoàn cảnh lý tưởng, những hình thái chuẩn mực, giá trị và biểu tượng này được khắc họa bởi nghệ thuật, bởi vì thông qua nghệ thuật, văn hóa trở nên có tính sáng tạo cao hơn [35, tr23] Như vậy, văn hóa đã được phân tích khá sắc nét, đa chiều, bản chất văn hóa là do con người tạo nên
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, đã chứng minh: nhờ có nền tảng văn hóa, hòa nhập và phát triển, nên nhân dân ta đã phát huy được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức sáng tạo to lớn để thắng “thiên tai, dịch họa”, giữ vững nền độc lập và bản sắc văn hóa Ngày nay, trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thì vai trò của văn hóa càng được khẳng định, nhất là trong điều tiết, cân bằng sự phát triển của đất nước, không để sự phát triển nhanh, nóng, dẫn tới những hệ lụy khó lường cả về kinh tế, văn hóa, xã hội
Trang 24Trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa thì quản lý văn hóa đóng vai trò rất quan trọng Trên phương diện vĩ mô, hoạt động quản lý văn hóa sẽ góp phần định hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ trương, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng cầm quyền, từ đó tác động đến mục tiêu, bản chất của văn hóa dân tộc Trên phương diện vi mô, hoạt động quản lý văn hóa trong các lĩnh vực, địa bàn, nhóm dân cư cụ thể sẽ giúp kiểm soát sự tùy tiện, sai lệch trong khi thực thi các cơ chế, chính sách của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa Những năm qua, quán triệt tinh thần: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục
tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước” [2] Điều đó cho thấy, quản lý
văn hóa được nhìn nhận ở nhiều góc cạnh vĩ mô và vi mô, giải pháp quản
lý văn hóa cũng cần cân nhắc phân định rõ ràng trong từng hoạt động vi mô
và vĩ mô sẽ có các giải pháp quản lý văn hóa cụ thể, minh bạch hơn
Khái niệm “quản lý văn hóa” trong xã hội hiện đại được hiểu là công việc của nhà nước, được thực hiện thông qua việc ban hành quy chế, chính sách, tổ chức triển khai, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và cả nước Nhìn vào thực tiễn, không khó để nhận thấy, quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ
quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan
đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền
và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (mọi thành phần/thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo
đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân ) [31,tr13]
Có thể hiểu quản lý về văn hóa là hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hóa
Trang 25nước nhà Hoạt động văn hóa là một dạng hoạt động xã hội quan trọng, tất yếu phải có sự quản lý của nhà nước, bao gồm: quản lý đối với văn hóa nghệ thuật, với văn hóa - xã hội, với di sản văn hóa [23, tr18]
Trong nhà hát thường diễn ra các hoạt động văn hóa nghệ thuật như ca múa, kịch, rối dưới không gian Nhà hát nhất định Không gian nhà hát là không gian dùng để biểu diễn và thưởng thức nghệ thuật sân khấu với 2 thành phần chính là sân khấu và phòng khán giả theo tiêu chí quy định tại Quyết định về việc ban hành TCXDVN355:2005 [6], gồm:
(1) Phần sân khấu: là nơi trực tiếp hoặc gián tiếp dành cho biểu diễn
gồm 2 thành phần là sân khấu và phần phục vụ cho sân khấu (hay còn gọi
là cánh gà) Một sân khấu tốt phải đảm bảo đủ không gian để các tiết mục
có thể diễn ra một cách dễ dàng Sân khấu cần được trang trí hợp với chủ
đề của buổi diễn Tùy theo mức đầu tư và những chương trình khác nhau
mà quy mô của sân khấu được phân loại theo các cỡ như: Nhà hát cỡ 1: diện tích sàn trên 100 mét vuông; Nhà hát cỡ 2: diện tích sàn 60 - 100 mét vuông; Nhà hát cỡ 3: diện tích sàn dưới 60 mét vuông Chương trình càng lớn với sân khấu rộng thường có sức ảnh hưởng khi tổ chức những sự kiện văn hóa văn nghệ lớn
trên những hàng ghế hội trường đồng bộ để xem biểu diễn bao gồm phòng
Trang 26khán giả và không gian phục vụ khán giả xung quanh Mỗi nhà hát khác nhau được bố trí với lượng chỗ ngồi riêng Ví dụ: Nhà hát ngoại hạng: trên 1500 chỗ; Nhà hát hạng A: 1200-1500 chỗ; Nhà hát hạng B: 800-
1200 chỗ; Nhà hát hạng C: 400-800 chỗ; Nhà hát hạng D: 250-400 chỗ; Nhà hát hạng E: dưới 250 chỗ Chất lượng và tầm vóc của một nhà hát nào đó thường được đánh giá dựa trên quy mô và số lượng ghế hội trường trong phòng khán giả
nghệ thuật dành cho khán giả và thường được trang trí nội thất bắt mắt kèm theo như: phông nền, đạo cụ Sàn diễn này càng được chú ý trang trí thì càng thu hút tầm nhìn của người xem
(4) Các không gian phụ trợ cho sàn diễn: Khái niệm này bao gồm
tiền đài, hố nhạc, sân khấu phụ, gầm sân khấu (nếu có)… Bộ phận này sẽ nằm ngay liền kề hoặc nằm trong khu vực sân khấu trực tiếp biểu diễn để
hỗ trợ tối đa cho tiết mục văn nghệ trên sân khấu chính
(5) Tiền đài là phần diện tích của sản diễn mở rộng về khán giả mà
chúng ta thường thấy nhất là trong biểu diễn thời trang sàn catwalk đó Các nhà hát có phần tiền đài sẽ giúp nghệ sỹ hay người biểu diễn dễ giao lưu với khán giả hơn
(6) Hố nhạc là phần không gian nằm giữa sân khấu và khán giả để
người biểu diễn có thể bước xuống Thiết kế hố nhạc càng phá cách và tiện dụng khi di chuyển càng được đánh giá cao
* Quản lý Nhà hát
Quản lý Nhà hát là quá trình mà chủ thể quản lý Nhà hát sử dụng các công cụ quản lý và phương pháp quản lý thích hợp nhằm điều khiển đối tượng quản lý hoạt động và phát triển nhằm đạt đến những mục tiêu đã định của Nhà hát
Trang 27Quản lý Nhà hát là quản lý đơn vị nghệ thuật, quản lý toàn bộ lĩnh vực hoạt động trong Nhà hát như: quản lý hoạt động tài chính; quản lý hoạt động hành chính, tổ chức và cơ sở vật chất; quản lý nguồn nhân lực; quản
lý hoạt động chuyên môn; quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật và hoạt động Marketing
1.1.3 Nội dung, phương thức quản lý Nhà hát
Dựa trên định hướng này, kế thừa các nghiên cứu trước đây có liên quan; với trên hiểu biết của tác giả, nội dung quản lý Nhà hát gồm:
- Quản lý hoạt động tài chính
Quản lý hoạt động tài chính là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một doanh nghiệp để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của nó và lập các kế hoạch kinh doanh, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài sản cố định và nhu cầu nhân công trong tương lai nhằm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Việc quản lý tài chính bao gồm việc lập các kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn, đồng thời quản lý có hiệu quả vốn hoạt động thực của công ty Đây là công việc rất quan trọng đối với tất
cả các doanh nghiệp bởi vì nó ảnh hưởng tới cách thức và phương thức mà nhà quản lý thu hút vốn đầu tư để thành lập, duy trì và mở rộng công việc kinh doanh
Lập báo cáo tài chính sẽ cho phép quyết định lượng nguyên vật liệu
mà doanh nghiệp có thể mua, sản phẩm có thể tung ra thị trường và khả năng công ty có thể tiếp thị, quảng cáo để bán sản phẩm ra thị trường Khi
có kế hoạch tài chính, doanh nghiệp cũng có thể xác định chính xác được nguồn nhân lực mà doanh nghiệp cần [15, tr23]
Từ đó; Đối với Nhà hát, quản lý hoạt động tài chính gồm :(1) Hoạt động quản lý thu chi tài chính; (2) Hoạt động đa dạng hóa nguồn thu; (3) Phân phối lợi nhuận thu thêm; (4) Kế hoạch thu tài chính được lập và từ đó
Trang 28đưa ra kế hoạch hoạt động cụ thể cho năm sau
- Quản lý hoạt động hành chính, tổ chức và cơ sở vật chất
* Quản lý hoạt động hành chính, tổ chức đoàn thể trong Nhà hát là tác động có mục đích của người quản lý nhằm xây dựng, phát triển tập thể Nhà hát vững mạnh, tạo tiền đề cơ sở phát triển Nhà hát Các đoàn thể hiện nay trong Nhà hát như: Chi bộ Đảng, Công đoàn, Nữ công, Chi đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh
* Quản lý cơ sở vật chất Nhà hát: Là tác động có mục đích của người quản lý nhằm xây dựng, phát triển và sử dụng có hiệu quả hệ thống cơ sở vật chất phục vụ đắc lực cho hoạt động Nhà hát Cơ sở vật chất Nhà hát gồm có phòng ốc, sân khấu, loa đài phục vụ cho hoạt động Nhà hát Nội dung cơ bản của quản lý cơ sở vật chất Nhà hát: (1) Xây dựng và bổ sung thường xuyên để hình thành một hệ thống hoàn chỉnh cơ sở vật chất (2) Duy trì, bảo quản và sử dụng cơ sở vật chất
- Quản lý nguồn nhân lực
Quản lý nguồn nhân lực, là quản lý con người trong công việc một cách hiệu quả, là tổng thể các hoạt động nhằm xây dựng, sử dụng, duy trì phát triển và gìn giữ lực lượng lao động đáp ứng mục tiêu hoạt động của tổ chức bao gồm các hoạt động như: Quy hoạch nguồn nhân lực, Tuyển dụng
và thu hút nhân lực, Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, Đánh giá thực hiện công việc, Chính sách thù lao, đãi ngộ với người lao động Cụ thể:
Quy hoạch nguồn nhân lực: Quy hoạch nguồn nhân lực là một quá
trình dự báo, nghiên cứu, xác định nhu cầu nguồn nhân lực trong tổ chức,
để từ đó đưa ra các chính sách, chương trình hành động cho tương lai đảm bảo cho Nhà hát có đủ nhân lực với phẩm chất và kỹ năng phù hợp thực hiện các công việc, nhằm thực hiện mục tiêu của Nhà hát đề ra Quy hoạch nguồn nhân lực là cơ sở cho các hoạt động nâng cao chất lượng nguồn nhân
Trang 29lực, góp phần tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng trong chu trình thực hiện
Tuyển dụng và thu hút nhân lực: Tuyển dụng là quá tình tìm kiếm
và lựa chọn nguồn nhân lực có chất lượng, phù hợp với nhu cầu sử dụng của Nhà hát Tuyển dụng gồm 2 khâu tuyển mộ và tuyển chọn Tuyển mộ giúp thu hút và tìm kiếm các ứng viên tốt, có năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức tốt cho Nhà hát, còn tuyển chọn là tìm ra người phù hợp với công việc cụ thể cho Nhà hát Hai khâu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để hướng đến mục tiêu chung lựa chọn được ứng viên có chất lượng, đồng thời tăng uy tín cho Nhà hát
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực được hiểu theo nghĩa rộng là các hoạt động nhằm duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Nhà hát Các hoạt động học tập của người lao động trong Nhà hát được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động [7, tr21]
Đánh giá thực hiện công việc: Đánh giá nguồn nhân lực Nhà hát phải
được thực hiện thường xuyên, định kỳ Đánh giá phải chính xác mới xác định được chất lượng nguồn nhân lực của Nhà hát hiện đang ở mức nào Để đánh giá chính xác thì trước hết phải có các tiêu chí đánh giá cụ thể, rõ ràng, hoàn chỉnh Đánh giá nguồn nhân lực là hoạt động quan trọng khuyến khích người lao động làm việc tốt hơn, đồng thời giúp Nhà hát thấy được thành tích của người lao động để khen thưởng, động viên
Chính sách thù lao, đãi ngộ với người lao động Thù lao lao động
bao gồm thù lao cơ bản: Tiền lương, các tiền thưởng, tiền phụ cấp và phúc lợi xã hội, trợ cấp, thăm quan, du lịch… Thù lao cơ bản là cơ sở để người lao động tái sản xuất sức lao động Đảm bảo thù lao cơ bản thì người lao động mới đảm bảo về mặt thể lực và trí lực Đãi ngộ nhân sự là quá trình
Trang 30chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người lao động để người lao động có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao qua đó góp phần hoàn thành mục tiêu chung Chính sách đãi ngộ được thực hiện qua hai hình thức
cơ bản là đãi ngộ tài chính và đãi ngộ phi tài chính Đãi ngộ tài chính là hình thức đãi ngộ thực hiện bằng các công cụ tài chính, bao gồm nhiều loại khác nhau như tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, thu nhập tăng thêm Đãi ngộ phi tài chính được thực hiện thông qua hai hình thức là đãi ngộ qua công việc và môi trường làm việc nhằm đáp ứng những nhu cầu đời sống tinh thần giúp tạo sự hứng thú, say mê làm việc, được đối xử công bằng, được kính trọng, được giao tiếp với mọi người
Quản lý hoạt động chuyên môn (gồm chất lượng nội dung kịch và
ca múa)
Hoạt động chuyên môn Nhà hát là lĩnh vực nghệ thuật mà Nhà hát thực hiện, với từng Nhà hát có lĩnh vực chuyên môn riêng Ở Việt Nam có các Nhà hát như Nhà hát chèo Việt Nam; Nhà hát múa rối Việt Nam, Nhà hát cải lương, Nhà hát dân ca quan họ Bắc Ninh; Với NHCMK Lam Sơn
có 2 hoạt động chuyên môn chính là ca múa và kịch
Quản lý hoạt động chuyên môn Nhà hát là Nhà hát quản lý sử dụng các công cụ quản lý và phương pháp quản lý thích hợp nhằm điều khiển đối tượng quản lý hoạt động và phát triển nhằm đạt đến những mục tiêu nâng cao chất lượng chuyên môn Nhà hát phải thực hiện thường xuyên từ việc lập kế hoạch đến quá trình thực hiện kế hoạch đồng thời tổ chức kiểm tra hoạt động chuyên môn Nhà hát nhằm đạt được mục tiêu đặt ra về chuyên môn Vậy quản lý hoạt động chuyên môn Nhà hát gồm: (1) xây dựng kế họach chuyên môn; (2) Thực hiện kế hoạch chuyên môn; (3) Kiểm tra hoạt động chuyện môn; nhằm mục đích nâng cao chất lượng chuyên môn hướng tới đáp ứng yêu cầu khán giả
Trang 31- Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật và hoạt động Marketing
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật nghệ thuật tổng hợp, là một công trình tập thể Tổng hợp vì nó bao gồm cả giá trị văn học, hội họa, âm nhạc, vũ đạo; thể hiện ra trong câu ca, nhạc nền, điệu bộ, dáng múa, phục trang, ánh sáng Tập thể vì đây là công sức góp lại của nhiều người, từ đạo diễn, tác giả, diễn viên đến nhạc sĩ Nghệ thuật biểu diễn là sự thể hiện sáng tạo của nghệ sỹ trước khán giả, là tiếng nói từ trái tim đến trái tim, từ tình cảm đến với tình cảm và trở thành một bảo tàng sống của dân tộc Trong hệ thống văn bản luật của Nhà nước cũng nêu rõ biểu diễn và tổ chức biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp là hoạt động đưa chương trình, tiết mục, vở diễn đến với công chúng qua sự trình diễn của diễn viên chuyên nghiệp, thể hiện hình tượng nghệ thuật, phản ánh cuộc sống thông qua tác phẩm sân khấu,
ca, múa, nhạc
Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật là “một quá trình đi từ chỗ nắm được, nắm đúng cái hiện có; thấy được, thấy đúng cái cần có và biết
tìm mọi biện pháp khả thi, tối ưu để đưa từ cái hiện có lên cái cần có” [33]
Marketing nghệ thuật là một quy trình quản lý thống nhất, xem những mối quan hệ trao đổi qua lại làm hài lòng khách hàng là nguyên tắc để đạt được mục tiêu tổ chức và nghệ thuật Hoạt động marketing đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các tổ chức văn hóa thuật nói chung và Nhà hát ca múa – Kịch Lam Sơn ở nói riêng
Marketing nghệ thuật giúp các nhà hát nghiên cứu nhu cầu về nghệ thuật và cách thức làm hài lòng khán giả, tạo dựng và phát triển khán giả là cầu nối giúp các nhà hát liên kết sản phẩm của mình với khán giả/thị trường Như vậy cần xác định nhu cầu và mong muốn của khán giả là cơ sở
và trung tâm cho mọi hoạt động của các tổ chức nghệ thuật
Quản lý hoạt động Marketing nghệ thuật gồm 5 giai đoạn:
Trang 32(1) Tập trung vào sản phẩm, cung cấp cho khán giả những sản phẩm
có chất lượng nghệ thuật cao, giá cả phù hợp
(2) Tập trung vào bán hàng, nghĩa là có các nỗ lực bán hàng nhưng
nếu sản phẩm của chúng ta không phù hợp với nhu cầu của các phân đoạn thị trường nhất định và nếu một sản phẩm tốt được tung ra trên thị trường nhưng không được quảng bá thì cũng sẽ rất khó để thu hút công chúng
(3) Tập trung nghiên cứu thị trường, cần phải nghiên cứu thị trường
(nghiên cứu đặc điểm và nhu cầu của khán giả) trước khi cho ra đời một sản phẩm, Tuy nhiên, các tổ chức nghệ thuật vào các thời điểm khác nhau, đối với các sản phẩm khác nhau có thể có những mục tiêu ưu tiên khác nhau như tối đa doanh thu hoặc chất lượng nghệ thuật
(4) Tập trung vào khách hàng, Để sản phẩm của các tổ chức nghệ
thuật thu hút được đông đảo khán giả cần thực hiện nhiều chiến lược marketing khác nhau phù hợp với nhu cầu, mong muốn, thái độ và động cơ cũng như những lợi ích mà khán giả tìm kiếm từ sản phẩm nghệ thuật
(5) Hư ng đến c ng đồng xã h i, Giai đoạn này đòi hỏi marketing
“phải cân nhắc và kết hợp ba loại lợi ích, cụ thể: lợi ích của doanh nghiệp,
sự thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng và lợi ích của xã hội trước khi thông qua các quy định marketing [27]
1.2 Tổng quan về Nhà hát Ca múa – Kịch Lam Sơn
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển
Nhà hát Ca múa - Kịch Lam Sơn Thanh Hóa được thành lập theo Quyết định số 288/QĐ-CT của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa ngày 23/1/2003 trên cơ sở hợp nhất ba đơn vị: Đoàn Ca múa nhân dân Thanh Hóa, Đoàn Kịch nói Thanh Hóa và Nhà hát Lam Sơn Nhà hát Ca múa - Kịch Lam Sơn đóng trên địa bàn phường Điện Biên, thành phố Thanh Hóa,
là một trong những trung tâm văn hóa của tỉnh, môi trường tự nhiên, môi
Trang 33trường xã hội thuận lợi cho các hoạt động nghệ thuật của đơn vị Từ ngày thành lập đến nay, Nhà hát luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh
ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng ủy, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa, sự quan tâm tạo điều kiện của Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch, Cục Nghệ thuật biểu diễn, Hội Nghệ sỹ sân khấu, các cơ quan chức năng ở Trung ương và địa phương đã tạo điều kiện tốt nhất để đơn vị
bộ, chính quyền tỉnh và đông đảo khán giả yêu nghệ thuật xứ Thanh
Nhà hát Ca múa kịch Lam Sơn hội tụ nhiều nghệ sỹ, diễn viên tài năng
và tâm huyết với nghề Trong đó có nhiều người được tặng các danh hiệu cao quý như NSND, NSƯT, Huy chương Vàng, Bạc, Bằng khen qua các kỳ liên hoan, hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc Bên cạnh đó, Nhà hát còn
có đội ngũ cán bộ, viên chức, người lao động được đào tạo bài bản, có trình
độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng được yêu cầu công việc nhanh và hiệu quả Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động từ năm 2003 đến năm 2013, Nhà hát cũng gặp không ít khó khăn về cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ công tác tập luyện và biểu diễn Trang thiết bị còn lạc hậu, thiếu đồng bộ
Được sự quan tâm đầu tư của UBND tỉnh Thanh Hóa, từ tháng 4/2014, Nhà hát Ca múa Kịch Lam Sơn đã nhận bàn giao công trình Nhà hát Lam Sơn mới được xây dựng với kiến trúc phù hợp, hệ thống trang thiết bị âm thanh, ánh sáng hiện đại đã đáp ứng được nhu cầu thưởng
Trang 34thức nghệ thuật của nhân dân Ngoài ra, công trình còn có hệ thống văn phòng rộng rãi trụ sở làm việc cho Nhà hát Ca múa Kịch Lam Sơn
Trải qua 15 năm xây dựng và trưởng thành, NHCMK Lam Sơn đã xây dựng thành công nhiều chương trình nghệ thuật ca múa nhạc đặc sắc mang chủ
đề như: “Lam Sơn rừng vọng”, “Âm vang nguồn cội”, “Từ Lam Kinh đến Thăng Long”, “Quê Thanh nhớ Bác”, “Bay lên dáng núi rồng thiêng”, “Sầm Sơn sắc mới”, “Tiếng vọng xứ Thanh”, “Sử thi Đẻ đất đẻ nước” Các chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng kỷ niệm ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, giao lưu với tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào
Cùng với các chương trình ca múa nhạc, trong 15 năm qua, lần lượt các vở diễn của sân khấu kịch nói được công diễn như: “Người trong cát”,
“Người cần được bảo vệ”, “Tình yêu và sắc phục”, “Hồn trinh nữ”, “Người đánh trống ngũ liên”, “Cuộc chiến không khoan nhượng”, “Một người làm chằng nên non”, “Những mảnh đời run rẩy”, chùm hài kịch: “Bệnh tòng khẩu nhập”, “Tìm người tài trong thiên hạ”, “Của gia bảo”,
Bên cạnh các chương trình nghệ thuật được xây dựng hằng năm, công tác xã hội hóa hoạt động văn hóa trên cơ sở khai thác các nguồn lực từ bên ngoài, phục vụ cho công tác sáng tạo nghệ thuật và tổ chức biểu diễn nghệ thuật đã được quan tâm xây dựng Đó là các chương trình thuộc đề án “Sân khấu truyền hình chiều thứ 7” phát sóng hàng tháng trên Đài PT&TH Thanh Hóa; đề án “Sân khấu thiếu nhi” giai đoạn 2011 - 2015 và 2016 -
2020 Nhà hát chú trọng khai thác những đối tượng khán giả mới, đưa hoạt động nghệ thuật vào hệ thống các trường tiểu học, mầm non Nâng cao hiệu quả hoạt động về văn hóa, xã hội và kinh tế
Được sự quan tâm, chỉ đạo của tỉnh và Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Nhà hát Ca múa - Kịch Lam Sơn đã thực sự ổn định và phát triển, tổ chức nhiều hoạt động biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhân dân trong và
Trang 35ngoài tỉnh Hằng năm, xây dựng kế hoạch và triển khai biểu diễn phục vụ đồng bào dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa của các huyện như: Mường Lát, Quan Sơn, Cẩm Thủy, Bá Thước, Như Xuân, Thường Xuân
Trong quá trình hoạt động của mình, Nhà hát luôn khuyến khích cán
bộ, nghệ sỹ, người lao động tích cực mở rộng các mối quan hệ, khai thác hợp đồng biểu diễn với các cơ quan, ban, ngành, địa phương để quảng bá thương hiệu Nhà hát rộng hơn, tăng nguồn thu cho đơn vị và cải thiện đời sống vật chất cho cá nhân cán bộ, nghệ sỹ, người lao động; tạo điều kiện để
họ yên tâm công tác, cống hiến hết mình cho nghệ thuật và đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ được giao
Qua từng bước trưởng thành, thế hệ cán bộ, nghệ sỹ, nhân viên Nhà hát Ca múa Kịch Lam Sơn hôm nay luôn ghi nhớ và biết ơn tới các bác, các anh, các chị - thế hệ đi trước đã cống hiến, xây dựng nền móng Nhà hát đầu tiên để cho thế hệ hôm nay vững bước đi lên
Với những thành tựu đã đạt được trong 15 năm qua, tin rằng tập thể cán bộ, nghệ sỹ, diễn viên, nhân viên Nhà hát Ca múa Kịch Lam Sơn sẽ tiếp tục đoàn kết, năng động, sáng tạo, không ngừng nâng cao chất lượng nghệ thuật đáp ứng nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thưởng thức ngày càng
đa dạng của nhân dân, xây dựng Nhà hát ngày càng phát triển vững mạnh
1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ
Quyết định số: 288/QĐ-CT ngày 23/01/2003 của Chủ tịch UBND Tỉnh Thanh Hóa quy định chức năng, nhiệm vụ của Nhà hát Ca múa Kịch Lam Sơn: Xây dựng chương trình phim; Chương trình, tiết mục: Ca, múa, nhạc, Kịch nói đảm bảo chất lượng nghệ thuật, phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần, nhu cầu thẩm mỹ của nhân dân
Tổ chức các hoạt động tại chỗ về biểu diễn nghệ thuật Ca múa nhạc, kịch nói, chiếu phim và các hoạt động văn hóa khác như: Câu lạc bộ, hội
Trang 36nghị, hội thảo, mít tinh, lễ hội, hội thi văn hóa, thể thao, tổ chức các dịch
vụ văn hóa
Tổ chức biểu diễn lưu động phục vụ đồng bào các dân tộc trong tỉnh về
ca múa nhạc, kịch nói, tổ chức giao lưu và giới thiệu sản phẩm văn hóa nghệ thuật Ca múa nhạc, Kịch nói Thanh Hóa với khán giả trong và ngoài nước; Nghiên cứu sưu tầm chất liệu ca, múa, nhạc, kịch truyền thống dân tộc phục vụ cho việc sáng tạo và biểu diễn nghệ thuật của Nhà hát
1.2.3 Cơ cấu tổ chức
Tổng số cán bộ, viên chức, lao động hợp đồng của Nhà hát năm 2017
là 126 người (Trong đó: Biên chế: 86 người; Hợp đồng lao động: 35 người; Hợp đồng thời vụ, thử việc: 05 người)
Cơ cấu bộ máy của Nhà hát được tổ chức theo mô hình: Ban Giám đốc; Các Phòng, Đoàn chuyên môn; Dưới các Phòng, Đoàn có các Đội chuyên môn Cụ thể:
+ Ban Giám đốc Nhà hát gồm có 04 đồng chí
Trong đó: 01 đồng chí Giám đốc: Lãnh đạo chung 03 đồng chí Phó Giám đốc lãnh đạo trực tiếp 03 bộ phận chuyên môn (01 Phó Giám đốc kiêm Trưởng đoàn Ca múa; 01 Phó Giám đốc kiêm Trưởng đoàn Kịch nói;
01 Phó Giám đốc phụ trách Phòng Kế hoạch nghiệp vụ)
+ Nhà hát có 02 đoàn nghệ thuật là Đoàn Ca múa và Đoàn Kịch nói;
02 phòng chuyên môn là Phòng Kế hoạch nghiệp vụ và Phòng Tổng hợp hành chính
+ Dưới các Phòng, Đoàn là các đội chuyên môn: Đội diễn viên Ca, Đội diễn viên Múa, Đội diễn viên Kịch nói, Đội Nhạc, Đội Kỹ thuật hậu đài và Hành chính
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà hát
Yếu tố bên trong Nhà hát
Trang 37Thứ nhất, Do năng lực của người quản lý Nhà hát: Người quản lý Nhà
hát với vai trò rà soát, liên kết bên trong và bên ngoài tổ chức; truyền đạt thông tin cho cán bộ nhân viên Nhà hát, Phân công hướng dẫn dánh giá kết quản thực hiện [11,tr17]
Do người quản lý Nhà hát hiện nay hầu hết ít đươc đào tạo về kiến thức quản lý chung như Kinh tế, quản trị, tài chính, nhân lực và pháp luật trong kinh doanh, quản lý nên ảnh hưởng lớn đến việc lập chiến lược, kế hoạch về tà chính, tổ chức, nhân sự những vấn đề liên quan quản lý Nhà hát; đặc biệt trong bối cảnh dần hướng tới lộ trình tự chủ thì quản lý Nhà hát ngày càng khó khăn và phức tạp hơn Hiện nay, các Nhà hát người đứng đầu thường là người có chuyên môn trong lĩnh vực nghệ thuật như Nhà hát chèo giám đốc là NSND Thúy Mùi; Nhà hát Chèo Ninh Bình giám đốc là NSƯT Nguyễn Quang Thập; giám đốc Nhà hát ca múa nhạc Trung ương là NSƯT Nguyễn Quang Vinh Đối với Nhà hát Ca múa - Kịch Lam Sơn, giám đốc là NSƯT Nguyễn Thế Việt, với các chuyên môn đào tạo là
cử nhân âm nhạc, chính trị và văn hóa
Thứ hai; Chức năng phân cấp quản lý tại Nhà hát Việc phân cấp
quản lý Nhà hát mang tính chất kiêm mà không được tách riêng như công tác quản lý tài chính do nhân viên kế toán đảm nhiệm mà không có phòng ban quản lý tài chính riêng biệt, chuyên nghiệp; công tác Maketing cũng hoạt động chung sự không chuyên nghiệp ảnh hưởng đến hiệu qủa quản
lý Nhà hát
Đối với các Nhà hát địa phương trực thuộc Sở Văn hóa thể thao và du lịch quản lý, hầu như cơ sở vật chất, nguồn nhân lực hạn chế, Nhà hát Ca múa - Kịch Lam Sơn cũng vậy, nên việc bóc tách phân cấp quản lý chuyên nghiệp còn khó khăn
Thứ ba; Ảnh hưởng tính thời vụ trong Nhà hát Tính thời vụ trong Nhà
Trang 38hát thường được biểu hiện ở các lịch biểu diễn nghệ thuật vào các dịp lễ lớn của cả nước, tỉnh và các địa phương Vì vậy, ảnh hưởng nhiều đến vấn
đề lập kế hoạch ký hợp đồng diễn, xếp lịch diễn, lịch tập luyện
Thứ tư; Uy tín thương hiệu Nhà hát Một Nhà hát có thương hiệu tốt sẽ có
nhiều thuận lợi trong quản lý, nhất là quản lý tài chính Các hoạt động quản lý tài chính như quản lý nguồn thu sẽ đa dạng, phân cấp phúc lợi dễ dàng hơn Ngược lại, nếu thương hiệu không tốt, hoạt động không có nguồn thu sẽ khó khăn cho quản lý hoạt động tài chính, hoạt động Maketing Hiện nay uy tín các Nhà hát địa phương hiện nay còn chưa được khẳng định nhiều do hạn chế
về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực chất lượng cao
Thứ năm; Môi trường văn hóa trong Nhà hát Với mỗi Nhà hát đều có
những nét văn hóa riêng, việc tạo nên nét văn hóa này phụ thuộc vào cán
bộ, nghệ sỹ trong Nhà hát Một Nhà hát có sự hỗ trợ, giúp đỡ, chia sẻ lẫn nhau, chắc chắn đây sẽ là cơ sở cho sự nâng cao trình độ chuyên môn nghệ thuật, kinh nghiệm, họ có thể tự trau dồi kiến thức tại đơn vị Khi yếu tố văn hóa được đề cao, mỗi cá nhân làm việc sẽ luôn đặt lợi ích của Nhà hát lên trên hết, sẵn sàng cố gắng để hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần thực hiện nhiệm vụ chung của Nhà hát Một tập thể đoàn kết sẽ rất thuận lợi cho người quản lý điều hành Nhà hát
Trong môi trường văn hóa thì văn hóa tổ chức ảnh hưởng lớn đến quản lý Nhà hát Văn hóa tổ chức là toàn bộ các giá trị niềm tin truyền thống và thói quen có khả năng điều phối các hành vi của các thành viên trong tổ chức [41,tr24]
Văn hóa tổ chức Nhà hát sẽ chi phối ảnh hưởng đến hành vi, cách ứng
xử của các thành viên trong tổ chức Văn hóa tổ chức sẽ hình thành nên những giá trị bản sắc riêng của tổ chức Văn hóa tổ chức sẽ chi phối mối quan hệ giữa các thành viên với các bộ phận trong tổ chức
Trang 39Yếu tố bên ngoài Nhà hát
Thứ nhất, Cơ chế chính sách quan tâm của Đảng Nhà nước và chính
quyền địa phương Các văn bản, quy định được ban hành kèm theo như Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 về việc ban hành Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá cộng đồng;
Nghị định số 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006 về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập; Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng bá;
Quyết định số 14/2015/QĐ-TTg ngày 20/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề nghiệp và chế độ bồi dưỡng đối với người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn… là căn cứ để nhà quản lý quản lý hoạt động Nhà hát theo đúng quy định
Các chế độ chính sách của Nhà nước đối với văn học, nghệ thuật cũng được chú trọng hơn như: Chính phủ có Nghị định về “Nhuận bút, thù lao đối với tác phẩm điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác” Đặc biệt là Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập (Nghị định 16) đặt ra lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công, đến năm 2016 phải đảm bảo tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp Thực hiện quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Đối với các Nhà hát các tiến trình thực hiện, đã có 2 đơn vị tự chủ 100% (Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam, Nhà hát Nghệ thuật đương đại Việt Nam); các đơn vị còn lại cắt giảm 30% ngân sách trong năm 2015 - 2016 và tới năm 2017, các đơn vị sẽ phải đảm bảo tự chủ 100% Điều này ảnh hưởng lớn đến quản lý Nhà hát để thích nghi và tồn tại trong quy chế tự chủ hiện nay
Trang 40Ngoài ra, các cơ chế chính sách còn tạo lập sân chơi bình đẳng cho các chủ thể sáng tạo tham gia hoạt động trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật
và bảo vệ lợi ích hợp pháp của chủ thể sáng tạo và người tiêu dùng sản phẩm đó Bên cạnh đó, có nhiều chính sách quan tâm phát triển của địa phương, đối với Nhà hát Ca múa - Kịch Lam Sơn, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND, của Đảng ủy, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch Thanh Hóa đã nghiêm túc thực hiện hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu, kế hoạch Nhà nước giao hằng năm Đề ra nghị quyết đúng đắn lãnh đạo đơn vị, bám sát nội dung hoạt động chuyên môn hằng tháng, hằng quý, hằng năm
Thứ hai; Môi trường pháp luật Pháp luật đưa ra những quy định cho
phép hoặc những ràng buộc đòi hỏi Nhà hát phải tuân theo Các quy định pháp luật đưa ra về các chế độ hoạt động của Nhà hát Vì vậy, quản lý Nhà hát phải dựa trên môi trường pháp luật để hoạt động
Thứ ba; Môi trường văn hóa xã hội Các hành vi của con người chịu
sự điều chỉnh của văn hóa Do đó, quản lý Nhà hát chịu ảnh hưởng của văn hóa Người có trình độ học vấn cao, sự hiểu biết rộng sẽ thể hiện được văn hóa tương xứng với mức độ hiểu biết của họ Vì vậy, nhận thức của họ với nghệ thuật cũng sẽ khác nhau, mức độ lĩnh hội nghệ thuật cao hơn đòi hỏi quản lý lĩnh vực chuyên môn của Nhà hát càng cao
Nhà hát Ca múa - Kịch Lam Sơn nằm trên một tỉnh Thanh Hóa, có dân
số đông, có nhiều sự khác biệt vùng miền Vì vậy, môi trường văn hóa xã hội có điểm khác biệt, cần khai thác yếu tố này để quản lý, khai thác chất lượng chuyên môn nghệ thuật của Nhà hát cho phù hợp vùng miền, đáp ứng được yêu cầu của thị hiếu người thưởng thức nghệ thuật
Điều kiện kinh tế xã hội ngày càng cao, dẫn đến nhu cầu thưởng thức nghệ thuật càng nhiều nhưng đòi hỏi chất lượng càng khắt khe Vì vậy,