Đồng thời, những nguyên nhân chủ quan như: sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát chưa chặt chẽ, trình độ năng lực Kiểm sát viên chưa cao, lãnh đạo Viện kiểm sát cấp huyện ch
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các sổ liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chinh xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chỉnh theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đoàn Quảng Hưng
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VÈ THỤC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT Tự CÔNG CỘNG 7
1.1 Một số vấn đề lý luận 7
1.1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra 7
1.1.2 Khái niệm các tội xâm phạm trật tự công cộng 13
1.1.3 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng 17
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng 21
1.2 Pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng • > • • • • CT 28 1.2.1 Pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra 28
1.2.2 Pháp luật về nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng 32
CHƯƠNG 2: THỤC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỤC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ Ồ GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT• • • • TỤ CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN HẢI PHÒNG 39 2.1 Thực trạng thực hành quyền công tố ồ' giai đoạn điều tra các
tội xâm phạm trật tự công cộng trên địa bàn Hải Phòng 39• 1 • • • • ơ •
Trang 42.1.1 Tình hình chung trên địa bàn thành phố Hải Phòng 39
2.1.2 Thực trạng thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng trên địa bàn Hải Phòng 41
2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 66
2.2.1 Kiến nghị hoàn thiện chế định Thực hành quyền công tố 66
2.2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự công cộng 68
2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng trên địa• • 1 • • • ” • c_y • bàn Hăi Phòng 69
2.3.1 Những giải pháp chung 69
2.3.2 Giải pháp cụ thể 74
KÉT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẲT
BLHS: Bô luât hình sư• • •
BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự
BPNC: Biện pháp ngăn chặn
CQCT: Cơ quan cạnh tranh
CQĐT: Cơ quan điều tra
VKSND: Viên kiểm sát nhân dân•
VKSNDTC: Viên kiểm sát nhân dân tối cao•
Trang 6DANH MỤC BẢNG
r
Bảng 2.1 Thống kê tội phạm xâm phạm trật tự công cộng ở Hải
Bảng 2.2 Thống kê BPNC áp dụng đối với bị can phạm tội xâm
phạm đến trật tự công cộng ở Hải Phòng từ năm 2016
Trang 7MỞ ĐÀU
1 Tính câp thiêt của đê tài
Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết vụ án hình sự là một trong những chức năng trọng tâm của Viện kiếm sát nhân dân, được ghi nhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Viện kiểm sát nhân dân cùng Cơ quan điều tra là hai cơ quan có trách nhiệm chính trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm thể hiện rõ nét nhất khi Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra Viện kiềm sát nhân dân phải thực hiện tốt trách nhiệm thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra mới có thể đảm bào mọi hành vi phạm tội và người phạm tội được phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội
Trong những năm vừa qua, hoạt động thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra được Viện kiểm sát nhân dân hai cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã được chú trọng, góp phần tích cực vào công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm, ồn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Đặc biệt, khi giải quyết các vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng, hoạt động thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra được đề cao và thu được những thành tựu nhất định Tuy nhiên hoạt động thực hành công quyền công tố còn bộc lộ những hạn chế nhất định, như: sự thiếu thống nhất trong việc xác định tội danh, áp dụng điều luật và khoản, điểm của Bộ luật Hình sự dẫn đến việc giải quyết các vụ việc tương tự lại có các kết quả khác nhau; nhiều Kiềm sát viên chưa làm hết trách nhiệm khi được thực hành quyền công tố dẫn đến tình trạng phải trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần Những hạn chế này xuất phát từ những nguyên khách quan, chủ quan, trong
đó phải kể đến nguyên nhân pháp luật về thực hành quyền công tố và pháp luật hình sự chưa cụ thể, rõ ràng gây khó khăn cho Kiểm sát viên khi thực
1
Trang 8hành quyền công tố giải quyết vụ án Đồng thời, những nguyên nhân chủ quan như: sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát chưa chặt chẽ, trình độ năng lực Kiểm sát viên chưa cao, lãnh đạo Viện kiểm sát cấp huyện chưa thực sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát hoạt động thực hành quyền công tố
Trước yêu cầu cải cách tư pháp, yêu cầu giữ vững trật tự an toàn xã hội bão đăm cho sự phát triển đất nước trong thời đại công nghệ lần thứ tư, bào
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và sự ổn định, phát triển của thành phố Hải Phòng học viên chọn đề tài:
“Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hải Phòng” góp phần nâng cao chất lượng thực hành quyền công tổ của Viện kiểm sát nhân dân, đấu tranh xử lý các tội xâm phạm trật tự công cộng trên địa bàn thành phố
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hành quyền công tổ trong giai đoạn điều tra đối với các tội xâm phạm trật tự công công trên địa bàn thành phố Hải Phòng, luận văn đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra đối với loại tội phạm này đáp ứng yêu cầu cùa công cuộc cải cách tư pháp
và nhiệm vụ chính trị của địa phương
2.2 Mục tiêu cụ thể• •
- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiểm sát nhân dân
- Đánh giá thực trạng qua đó nêu lên kết quả đạt được cũng như những hạn chế khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với các tội
2
Trang 9xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiêm sát nhân dân hai câp trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020;
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tại Hải phòng
3 Tính mới và những đóng góp của đề tài
3.1 Tính mới của đề tài
Nghiên cứu đề tài “Thực hành quyền công tổ trong giai đoạn điều tra
các vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiêm sát nhân dân thành phố Hải Phòng” đề cập đến những nội dung mới như sau:
- Luận văn tiếp tục nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án các tội xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiểm sát nhân dân
- Luận văn đánh giá một cách khách quan thực trạng, những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiểm sát nhân dân cấp hai cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng hiện nay
- Luận văn đề xuất phương hướng và những giải pháp cụ thể để tiếp tục hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các các tội xâm phạm trật tự công cộng cũa Viện kiếm sát nhân dân hai cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng
3.2 Những đóng góp của đề tài
- Làm sáng tỏ vị trí, vai trò của ngành Kiểm sát trong hoạt động thực hành quyền công tố, đặc biệt là vấn đề áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố của Viện kiếm sát nhân dân thành phố Hải Phòng trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng trong thời gian qua, nham đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan thực trạng tình hình, từ đó
đề ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động này
3
Trang 10- Luận văn có thê được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho Kiêm sát viên trực tiếp làm công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong điều tra vụ án hình sự và những ai quan tâm lĩnh vực này Đồng thời, luận văn cũng là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy về pháp luật nói chung và về thực hành quyền công tố, kiếm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Ve đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan
điểm, lý thuyết về thực hành quyền công tố được công bố trên các ấn phẩm;
hệ thống pháp luật Việt Nam quy định về quyền công tố và thực hành quyền công tố; hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng
- về phạm vi nghiên cứu: Đe tài nghiên cứu hoạt động thực hành quyền
công tố của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020
5 Tổng quan tài liệu
Có nhiều công trình nghiên cứu về áp dụng pháp luật trong hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp được đăng trên sách, báo, tạp chí chuyên ngành, bao gồm:
Cuốn sách “Ẩy năng thực hành quyền công to và kiêm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự" của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà
Nội năm 2006; Sách chuyên khảo "Quyền công tổ và kiêm sát các hoạt động
tư pháp trong hoạt động điều tra" cùa TS Lê Hữu Thể - Nhà xuất bản Tư
pháp năm 2008
Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về áp dụng pháp luật
4
Trang 11thực hành quyên công tô và kiêm sát các hoạt động tư pháp, như: Luận án tiên
sĩ “Quyền công tố ở Việt Nam” năm 2002 của TS Lê Thị Tuyết Hoa; Luận
văn thạc sĩ “Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn
điều tra của Viện kiêm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay” năm 2005 của tác• • •
giả Trịnh Duy Tám; Luận văn thạc sĩ “Chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thấm các vụ án hình sự của Viện kiêm sát nhân dân tỉnh Hà Nam” năm 2008 của tác giả Trần Thị Đông; Luận văn thạc sĩ “Áp dụng pháp luật trong kiêm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện Kiểm sát nhản dân thành phổ Hà Nội” năm 2010 của tác giả Nguyền Duy Hưng; Luận
văn thạc sĩ “Ảp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tổ ở giai đoạn
điều tra các vụ án hình sự của Viện kiêm sát nhân dân ở tỉnh Yên Bái” năm
2011 của tác giả Hoàng Xuân Đản
Có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn của các tác giả đăng trên các tạp chí chuyên ngành: “Đặc trưng cùa áp dụng pháp luật
hình sự” của tác giả Chu Thị Trang Vân đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp
luật số 3/2006; “Cơ quan thực hành quyền công tổ trong cải cách tư pháp ở
nước ta hiện nay” của tác giả Đỗ Văn Đưong đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp số 7/2006; “Viện kiêm sát nhân dãn các Cấp cần làm tốt việc tăng cường
trách nhiệm công tổ trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” của tác giả Trần Công Phàn đăng trên tạp chí Kiểm sát số 16/2012.
Các công trình nghiên cứu luận giải về áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiếm sát các hoạt động tư pháp nói chung và áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nói riêng Đây là những công trình khoa học có giá trị tham khảo trong quá trình tác giả thực hiện luận văn Tuy vậy, đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn thành phố Hải Phòng hiện nay
5
Trang 126 Phương pháp nghiên cứu
Học viên sử dụng các phương pháp nghiên cửu khoa học cụ thể như: Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, hệ thống hóa; trao đổi nghiệp vụ với đội ngũ Kiểm sát viên hai cấp trên địa bàn thành phố Hải phòng trực tiếp tiến hành hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng
7 Cơ cấu đề tài
Đe tài gồm lời nói đầu, kết luận và hai chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công
tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng
Chương 2' Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp nâng cao hiệu quả
thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng trên địa bàn Hải Phòng
6
Trang 13CHƯƠNG 1 MỘT SÓ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THựC HÀNH
QUYỀN CÔNG TÓ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIÈU TRA CÁC
TỘI XÂM PHẠM TRẬT Tự CÔNG CỘNG • • • • •
1.1 Một số vấn đề lý luận
1.1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
Đi vào tìm hiểu hiểu khái niệm thực hành quyền công tố, trước hết phài hiểu thế nào là quyền công tố bởi lẽ, quyền công tố và thực hành quyền công
tố có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong TTHS, quyền công tố có nội dung là sự buộc tội của Nhà nước đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội (truy cứu TNHS đối với người phạm tội) còn THQCT là tổng hợp các quyền năng pháp lý để thực hiện việc buộc tội ấy - là chức năng của một cơ quan Nhà nước (CQCT) [15, tr 53],
1.1.1.1 Khái niệm quyền công tố
Trong lịch sử xã hội, quyền công tố xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước, ke cả là Nhà nước cồ đại cho đến Nhà nước hiện đại Khi Nhà7 • • •
nước xuất hiện đồng thời kéo theo sự xuất hiện của các thế lực chống lại sự tồn tại hoặc quyền và lợi ích của Nhà nước Tất yếu dẫn đến sự ra đời của quyền công tố với chức năng đầu tiên là bảo vệ giai cấp, quyền và lợi ích của giai cấp, sau đó mở rộng ra bảo vệ sự ổn định chung cho toàn xã hội
Kể từ khi xuất hiện trong Hiến pháp năm 1980 cùng những khái niệm truyền thống như “kiểm sát việc tuân theo pháp luật”, khái niệm “quyền công tố” cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các quan điểm giải thích cho khái niệm này Có thể kể đến một vài công trình điển hình như: Công trình nghiên cứu về “Những vấn đề lý luận về chế định công tố” của GS.TSKH Lê Văn Cảm trong Kỷ yếu Hội nghị khoa học: Tổ chức và hoạt động của Viện kiếm sát trong tình hình mới, do úy ban Pháp luật của Quốc
7
Trang 14hội tô chức năm 2001 [4]; Luận án tiên sĩ “Quyên công tô ờ Việt Nam” của
TS Lê Thị Tuyết Hoa năm 2005 [15]; Công trình nghiên cứu về “Chế định Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp Việt Nam” của GS.TSKH Đào Trí
Úc đăng trong Tạp chí kiểm sát số 13/2012 [40]; Sách chuyên khảo “Quyền công tố và kiếm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” của TS Lê Hữu Thể - Nhà xuất băn Tư pháp năm 2008 [39]; Công trình nghiên cứu “Một
số vấn đề về quyền công tố” của PGS.TS Trần Văn Độ [13] Từ nghiên cứu những quan điểm giải thích khái niệm quyền công tố, học viên cho rằng khái niệm của quyền công tố như sau:
Quyền công tố là quyền lực công thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan Nhà nước độc lập (ở Việt Nam thì Viện kiêm sát nhân dân là cơ quan Nhà nước được giao thực hành quyền công tố) thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm đưa người đó ra xét xử trước tòa án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó Phạm vi của quyền công tổ bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Quyền công tổ theo đó sẽ bao gồm các đặc điểm sau:
Thứ nhất, C.Mác đã khẳng định: “Quyền công tố thê hiện rõ mối quan
hệ giữa Nhà nước với người phạm tội và moi quan hệ ấy do chính hành vi phạm tội làm phát sinh ra " [3, tr 128-129], theo quan niệm này thì quyền
công tố là khái niệm pháp lý xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật Quyền công tố bảo đảm cho Nhà nước có khả năng xử lý tội phạm
- một hiện tượng xã hội xuất hiện, tồn tại khách quan trong xã hội có Nhà nước Khi Nhà nước xuất hiện, ngoài nhu cầu bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, để duy trì sự xung đột xã hội trong vòng trật tự do Nhà nước thiết lập, Nhà nước đã giành lấy quyền trừng trị những hành vi xâm hại lợi ích chung từ tay cá nhân (sự thay thế quyền tư tố bằng quyền công tổ) Vì vậy,
8
Trang 15quyên lực Nhà nước cũng được hiêu là quyên lực công cộng, theo đó quyên công tố với tính chất là công quyền hoàn toàn không thể tách rời sự ra đời của Nhà nước [21, tr 133-135],
Thứ hai, quyền công tố được thực hiện trong lĩnh vực TTHS, bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra cho đến khi có phán quyết cùa Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị GS.TSKH Lê Văn Cảm đã khẳng định tại
công trình “Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tổ" như sau:
Chỉ khi nào và ở đâu có việc thực hiện tội phạm, thì khi ấy và ở đó mới có thể nói đến sự buộc tội nhân danh Nhà nước - chức năng quan trọng nhất của quyền công tố; quyền công tố mang tính cụ thể, tức chỉ xuất hiện trong trường hợp tội phạm cụ thể đã được thực hiện và đối với những người phạm tội cụ thể, không tồn tại quyền công tố chung chung [4, tr 1-12],
Quyền công tố cũng có thể kết thúc trước khi mở phiên tòa khi có đủ căn cứ để giải quyết vấn đề TNHS đối với người bị tình nghi phạm tội (Theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì quyền công tố có thể bị triệt tiêu trong giai đoạn điều tra, truy tố, giai đoạn chuẩn bị xét xử nếu có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật TTHS để đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với bị can hoặc trước khi mở phiên tòa, VKS có căn cứ rút toàn bộ quyết định truy
tố đối với bị can theo quy định của pháp luật TTHS [14, tr 48]
Thứ ba, quyền công tố được giao cho CQCT để thực hiện truy tố người phạm tội ra xét xử trước Toà án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó nên quyền công tố gắn liền với quyền tài phán của Tòa án Trong khoa học pháp lý TTHS hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố nhưng các quan điểm này đều thống nhất khẳng định một trong những nội dung của quyền công tố là quyền truy tố người phạm tội ra trước Toà án và
9
Trang 16thực hiện việc buộc tội tại phiên toà Có thê nói, quyên công tô là bước khởi đầu cho quyền tài phán bởi Toà án chỉ có thể xét xử người phạm tội khi mà CQCT đại diện cho Nhà nước truy tố người phạm tội ra trước Toà án.
Thứ tư, quyền công tố tồn tại độc lập đối với quyền tài phán của Toà án
và CQCT độc lập với cơ quan điều tra Quyền công tố theo bản chất của mình
là quyền yêu cầu trừng trị công khai những hành vi phạm tội, do đó để đảm bảo tính khách quan và sự công bằng thì quyền này phải độc lập với quyền tài phán của Toà án [15, tr 24] Cùng với sự phát triển của Nhà nước, quyền công tố dần hình thành là một chế định pháp lý độc lập trong TTHS về mặt nguyên tắc, quyền công tố chỉ có thể do một cơ quan thực hiện (CQCT), độc lập với Toà án, CQĐT
ỉ 1.1.2 Khái niệm thực hành quyền công tổ
Như đã phân tích ở trên, quyền công tố là quyền lực công của Nhà nước, gắn liền băn chất Nhà nước Để đảm bảo thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội, Nhà nước thể chế những quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố vào luật TTHS và giao cho CQCT thực hiện các quyền năng đó
để phát hiện và thực hiện truy cứu TNHS đối với người phạm tội
CQCT thực hành quyền công tố phải là một cơ quan nhà nước và là một cơ quan độc lập với CQĐT và Toà án Trong nghiên cứu của mình về quyền công tố, C.Mác khẳng định: “■S'w’ trừng phạt là quyền của Nhà nước,
không thê chuyên giao cho tư nhân” [3, tr 218-219] Quyền công tố là quyền
lực công thuộc về Nhà nước nên THQCT phải do cơ quan Nhà nước được giao tiến hành các hoạt động pháp lý quy định trong luật TTHS để thực hiện chức năng buộc tội Đế đảm bảo tính khách quan, công bằng trong quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự thì CQCT phải là một cơ quan Nhà nước độc lập CQĐT, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra cũng tham gia vào quá trình buộc tội như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến
10
Trang 17hành các hoạt động điêu tra nhưng CQĐT không phải CQCT mà đóng vai trò
là một thiết chế quan trọng hỗ trợ CQCT thu thập chứng cứ xác định tội phạm, người phạm tội Chỉ có cơ quan có thẩm quyền đầy đủ và độc lập thay mặt Nhà nước truy tố người phạm tội ra Toà án đế xét xử và thực hiện việc buộc tội của Nhà nước tại phiên toà mới là chủ thể THQCT [15, tr 47],
Quyền công tố có nội dung là sự buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội nên nội dung của THQCT là việc CQCT sử dụng những quyền năng được quy định trong TTHS để truy cứu TNHS đối với người phạm tội THQCT bắt đầu kể từ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự và kết thúc khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án không bị kháng nghị
CQCT cùa nước ta là hệ thống cơ quan Viện kiểm sát Ngay từ khi thành lập vào ngày 26 tháng 7 năm 1960, VKS đã được Nhà nước giao cho thực hiện chức năng công tố “trụy tố trước Toà án nhân dân những người
phạm pháp hình sự” [24, Điều 3, khoản b], bên cạnh chức năng chủ yếu khi đó
là kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đăm bào tính thống nhất của pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, pháp luật TTHS của nước
ta thời điểm trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định phạm vi của THQCT chỉ giới hạn bắt đầu kể từ khi VKS thực hiện “kiểm sát việc khởi tố, tự mình khởi tố vụ án hình sự và chuyền đến cơ quan điều tra để yêu cầu tiến hành điều tra; trực tiếp điều tra” [27, Điều 141, khoản 3, điểm a] hay “quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi
tố vụ án hình sự, khởi tố bị can” [33, Điều 36, khoản 2, điểm a] Việc quy định phạm vi THQCT chỉ bắt đầu kể từ giai đoạn điều tra đã giới hạn phạm vi THQCT hẹp hơn phạm vi của quyền công tố dẫn đến câu hởi đặt ra là cơ quan
sẽ tiến hành hoạt động công tố trước khi tội phạm bị khởi tố Bộ luật Tố tụng
11
Trang 18hình sự năm 2015 đã trả lời câu hỏi đó băng cách quy định bô sung hoạt động pháp lý TTHS của VKS trong giai đoạn tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm tại điểm a, b khoản 2 Điều 41 của Bộ luật:
- Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình
sự, khởi tố bị can; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can;
- Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; quyết định khởi tố, không khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án; quyết định khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố bị can; quyết định nhập, tách vụ án [36],
Từ đó mở rộng phạm vi của THQCT bằng với phạm vi của quyền công
tố, đồng thời, đánh giá đúng bản chất, phạm vi hoạt động pháp lý TTHS của VKS trong việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm THQCT như sau:
Thực hành quyền công tổ là việc sử dụng quyền năng pháp lý trong tố tụng hình sự của cơ quan công tố (tại Việt Nam là Viện kiêm sát nhân dân) đê truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội ra xét xử trước tòa án và đồng thời hảo vệ sự buộc tội đó.
Trong giới hạn của luận văn, học viên trình bày nội dung THQCT trong giai đoạn điều tra, có nghĩa là đi tìm hiểu việc VKS sữ dụng quyền năng pháp
lý trong TTHS thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội kể từ khi tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm đến khi Cơ quan điều tra kết thúc điều tra vụ án hình sự Nội dung THQCT trong giai đoạn điều tra bao gồm các hoạt động: khởi tố, thay đổi, hủy bỏ hoặc phê chuấn khởi tố vụ án, khởi tố bị can; áp dụng, thay đối, hủy bỏ các biện
12
Trang 19pháp ngăn chặn, cưỡng chê; yêu câu xác minh, điêu tra; hủy bỏ các quyêt định
tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT; quyết định việc đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án
Mặc dù Bộ luật TTHS hiện hành không quy định thủ tục tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố vào Chương X của Bộ
luật về “Những quy định chung về điều tra vụ án hình sự’’, đồng thời Điều
172 của Bộ luật cũng quy định thời hạn điều tra vụ án hình sự bắt đầu kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra, nhưng học viên nhận định quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thuộc giai đoạn điều tra bởi lẽ, khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, CQĐT tiến hành các hoạt động nghiệp vụ nhằm xác định có hay không hành vi phạm tội để từ đó có căn cứ khởi tố hoặc không khởi tố vụ
án hình sự Các tài liệu, chứng cứ CQĐT thu thập trong giai đoạn này (Biên bán khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, Kết luận giám định, định giá ) rất quan trọng để chứng minh tội phạm, là tiền đề, cơ sở để CQĐT tiến hành thu thập thêm tài liệu, chứng cứ đế cùng cố hồ sơ, mở rộng điều tra Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân cũng tiến hành một số hoạt động tương tự trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, như: phê chuấn, không phê chuẩn, hủy bở, áp dụng, thay thế biện pháp ngăn chặn; yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc khởi tố vụ án hình sự
ĩ 1.2 Khái niệm các tội xâm phạm trật tự công cộng
Trật tự công công là trạng thái ồn định, không có nhũng hành vi vượt quá tiêu chuẩn đạo đức xã hội, vượt quá khuôn khổ cho phép của Nhà nước tại những nơi phục vụ, đảm bảo lợi ích xã hội chung cúa con người như trường học, bệnh viện, công viên, khu dân cư Trật tự công cộng là một trong những đối tượng được luật hình sự bảo vệ Theo quy định tại Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây xin phép gọi tắt là Bộ
13
Trang 20luật Hình sự năm 2015) các đôi tượng đó là: “độc lập, chủ quyên, thông nhât, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội [37, Điều 8, khoản 1],
Dưới góc độ khoa học, khái niệm các tội xâm phạm TTCC được đề cập dưới nhiều quan điểm nhưng chù yếu các quan điểm đó thường gộp chung khái niệm của các tội xâm phạm TTCC với các tội xâm phạm an toàn công cộng mà không định nghĩa riêng về các tội xâm phạm TTCC
Theo GS.TS Võ Khánh Vinh:
Các tội xâm phạm an toàn, TTCC là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến an toàn công cộng, TTCC gây ra những thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của nhân dân, gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước và của cá nhân [47, tr 74, 401].Theo GS.TS Trần Minh Hưởng:
Các tội phạm xâm phạm an toàn, TTCC là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lồi, do người có đủ năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm vào những quy định cùa Nhà nước về an toàn công cộng, TTCC gây ra những thiệt hại về tài sản Nhà nước, của tổ chức, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, xâm phạm đến hoạt động bình thường ở những nơi công cộng [18, tr 439],
Với các quan điểm này, các tác giả thống nhất các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng có đầy đủ những đặc điểm chung của tội phạm đó là tính nguy hiểm cho xã hội, tính lồi và trái với luật hình sự Tuy nhiên, để đưa
ra khái niệm riêng về các tội xâm phạm TTCC thì cần đi sâu hơn nữa về “độ tuối chịu trách nhiệm hình sự” bởi tội dụ dồ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuồi phạm pháp và tội mua dâm người dưới 18 tuổi được quy định ở
14
Trang 21các Điêu 325, 327 Bộ luật hình sự 2015 đêu có chủ thê thục hiện tội phạm phải là người trên 18 tuổi Cùng quan điểm như vậy, tác giả Triệu Văn Nam phát biểu như sau:
Các tội xâm phạm TTCC là những hành vi nguy hiểm cho xã hội,
do những người có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về TTCC, gây ra những thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của
tổ chức, thiệt hại về tính mạng sức khỏe, tài sản của công dân đồng thời còn xâm phạm đến hoạt động bình thường, ổn định xã hội ở những nơi công cộng [20, tr 9-10],
Quan điểm này cũng giống như quan điểm của GS.TS Trần Minh Hưởng khi đã đều đề cập đến khách thể được BLHS bảo vệ mà các tội xâm phạm trật tự công cộng xâm phạm đó là “hoạt động bình thường, ồn định xã hội ở những nơi công cộng”, nhưng học viên cho rằng khách thế chính bị các tội xâm phạm TTCC xâm phạm phải là “hoạt động bình thường, ổn định xã hội ở những nơi công cộng”, những thiệt hại về tài sản của Nhà nước, tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân chỉ là những khách thế phụ nham phân biệt giữa các tội trong nhóm tội xâm phạm TTCC
Đồng thời, qua nghiên cứu tính lỗi của các tội xâm phạm TTCC, học viên thấy lỗi của các tội này phải là lồi cố ý bởi lẽ người thực hiện hành vi phạm tội có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi cùa mình, bàn thân người phạm tội cũng nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả nhưng mong muốn hậu quà xảy ra hoặc không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng có thái độ để mặc cho hậu quả xảy ra
Tổng hợp lại, theo quan điềm của học viên, khái niệm cùa các tội xâm phạm TTCC như sau:
15
Trang 22Các tội xâm phạm trật tự công cộng là những hành vi nguy hiêm cho xã hội, do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuối chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ỷ trực tiếp, xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về trật tự công cộng, xâm phạm đến hoạt động bình thường, ổn định xã hội ở những nơi công cộng gây thiệt hại về tài sản Nhà nước, thiệt hại
về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân.
Các tội xâm phạm TTCC gồm 12 tội danh được quy định từ Điều 318 đến Điều 329 Bộ luật Hình sự 2015 Dựa theo tiêu chí khách thể trực tiếp bị xâm hại, có thề phân chia các tội xâm phạm TTCC thành hai nhóm, đó là:
Thứ nhất, nhóm các tội xâm phạm TTCC liên quan đến tệ nạn xã hội:
- Tội hành nghề mê tín, dị đoan (Điều 320);
- Tội đánh bạc (Điều 321);
- Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Điều 322);
- Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (Điều 326);
- Tội chứa mại dâm (Điều 327);
- Tội môi giới mại dâm (Điều 328);
- Tội mua dâm người dưới 18 tuổi (Điều 329)
Thứ hai, nhóm các tội xâm phạm TTCC liên quan đến trật tự xã hội:
- Tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318);
- Tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt (Điều 319);
- Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 323);
- Tội rửa tiền (Điều 324);
- Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuối phạm pháp (Điều 325)
Bộ luật Hình sự 2015 đã quy định cấu thành cùa các tội phạm này và các hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng trường hợp
cụ thể trên cơ sở phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt
16
Trang 23Những quy định này của BLHS năm 2015 là các quy phạm vê luật nội dung
mà hoạt động công tố trong giai đoạn điều tra phải chứng minh làm rõ, trên cơ
sở đó xác định tính có càn cứ đế truy tố người phạm tội ra trước tòa án
1.1.3 Đặc điểm thực hành quyền công tổ trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng • I t • • O • O
Ở nước ta, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tổ nhằm đảm bảo:
- Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội;
- Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật [35, Điều 3, khoản 2],
Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can (xét phê chuẩn, hủy bỏ quyết định khởi tố không, các quyết định này có căn cứ và phù hợp pháp luật của CQĐT), việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người phạm tội Khi VKSND không chấp nhận việc khởi tố thì yêu cầu CQĐT hủy bỏ và ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; nếu đã khởi tố, điều tra mà xác định không
có tội phạm hoặc không có căn cứ truy cứu trách nhiệm đối với bị can thì vụ
án phải đình chi và chấm dứt mọi hoạt động tố tụng
Thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng có những đặc điểm chung của thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra đó là:
Một là, trong khi hoạt động điều tra có nhiệm vụ chứng minh toàn bộ việc phạm tội một cách khách quan, toàn diện, cả chứng cứ buộc tội và chứng
cứ gỡ tội thì hoạt động công tố nhằm thực thi quyền truy cứu trách nhiệm hình sự, quyết định việc buộc tội, việc gỡ tội; quyết định việc hạn chế các
17
Trang 24quyên công dân như băt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định việc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật.
Hai là, thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra bao gồm hành
vi và các quyết định tố tụng mang tính công khai theo trình tự, thủ tục, thấm quyền tố tụng do pháp luật quy định Các quyết định công tố thể hiện dưới dạng văn bản của người có thẩm quyền như quyết định khởi tố vụ án, khởi tố
bị can; quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can Các quyết định tố tụng của VKSND đều được gửi cho những người có liên quan theo quy định của pháp luật
Ba là, các hoạt động thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra đều nhân danh nhà nước, chịu sự lãnh đạo tập trung của Viện trưởng VKSND mỗi cấp và chịu sự lãnh đạo thống nhất cùa Viện trưởng VKSNDTC VK.SND cấp trên có quyền rút, hủy bỏ các quyết định công tố không có căn cứ và trái pháp luật của VK.SND cấp dưới và yêu cầu ra quyết định đúng pháp luật Điều này khác với tổ chức hoạt động điều tra, CQĐT cấp trên không có quyền rút hoặc hủy bỏ các quyết định tố tụng của CQĐT cấp dưới
Bốn là, thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra có đặc điểm khác với hoạt động kiểm sát điều tra Tuy cùng một chù thể tiến hành là VKS nhưng đối tượng của thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra là sự việc phạm tội, hành vi phạm tội và người phạm tội, còn đối tượng của hoạt động kiểm sát điều tra là các chủ thể tiến hành hoạt động điều tra (Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra), nếu phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, VKS có quyền kiến nghị, yêu cầu các chủ thể chấm dứt vi phạm, khôi phục lại trật tự pháp luật bị vi phạm
Năm là, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, song song với việc xem xét đánh giá những tài liệu, chứng cứ để buộc tội, VKS cũng phải xem xét, đề ra các yêu cầu điều tra đế tìm kiểm, xem xét, đánh giá
18
Trang 25những tình tiêt gỡ tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đôi với người phạm tội Đây là đặc trưng của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra với hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử bởi trong giai đoạn xét xử, khi thực hành quyền công tố, VKS chỉ thực hiện nhiệm vụ quan trọng nhất là bảo vệ bản cáo trạng và đề nghị mức hình phạt đối với người phạm tội.
Ngoài những đặc điểm trên, thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các các tội xâm phạm trật tự công cộng còn có những đặc điếm riêng như sau:
Một là, các tội xâm phạm trật tự công cộng thường phức tạp, khó phân loại hành vi phạm tội của những người thực hiện hành vi phạm tội bởi các vụ
án thường cỏ nhiều đối tượng, cùng thực hiện một hoặc nhiều hành vi vi phạm pháp luật (tội gây rối trật tự công cộng, tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, tội môi giới mại dâm, tội chứa mại dâm, tội rửa tiền), trong quá trình điều tra, các đối tượng tìm mọi cách để đổ lỗi cho nhau hoặc che giấu hành vi phạm tội của người khác Do đó, khi thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên được phân công trước hết phải phối hợp với cán bộ kiềm sát việc tạm giữ, tạm giam đảm bảo các đối tượng bị tạm giữ, tạm giam riêng rẽ, tránh việc các đối tượng thông cung, cản trở hoạt động điều tra Đồng thời, Kiểm sát viên phải phối hợp với Điều tra viên hỏi cung các bị can để đánh giá tính trung thực trong lời khai của các đối tượng, qua đó phân loại mức độ nguy hiểm, tính chất đồng phạm của các đối tượng Điều 50 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành kèm theo Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng Viện kiếm sát nhân dân tối cao quy định về kỹ năng tiến hành hởi cung của Kiểm sát viên như sau:
Khi nhận được thông báo của Điều tra viên, Cán bộ điều tra về việc tiến hành hòi cung bị can, nếu xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên trực
19
Trang 26tiếp tham gia việc hỏi cung bị can Trong trường hợp này, Kiểm sát viên phải nghiên cứu, nắm chắc hồ sơ vụ án, các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội của bị can, xác định nội dung cần làm rõ để yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra hỏi; phối hợp với Điều tra viên, Cán bộ điều tra nghiên cứu, phát hiện mâu thuẫn giữa lời khai cùa bị can với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với chứng
cứ khác nham làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh Kiếm sát viên chủ ý cách đặt câu hỏi của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, bảo đảm không để xảy ra việc bức cung, mớm cung, dụ cung; chú ý câu trả lời của bị can để phát hiện tình tiết mới, những điểm chưa rõ và yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra hỏi làm rõ Nếu thấy việc hỏi cung chưa đạt yêu cầu, Kiểm sát viên trực tiếp hỏi để làm rỗ Khi tham gia hỏi cung bị can cùng Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên ký vào biên bản hỏi cung
Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ biên bản hỏi cung do Điều tra viên, Cán bộ điều tra thực hiện Kiềm sát viên yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra cung cấp đầy đủ biên bản hỏi cung, các tài liệu khác đã thu thập được liên quan đến việc hỏi cung bị can; tiến hành phân tích, đối chiếu, so sánh với các tài liệu khác trong hồ sơ
để xác định tính có căn cứ, hợp pháp và sự phù hợp của lời khai, bảo đảm mọi tình tiết trong lời khai của bị can đều phải được kiểm tra, xác minh làm rõ
Hai là, nhóm các tội xâm phạm trật tự công cộng xảy ra trên địa bàn quận, huyện đa số thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng do đó, khi thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên phải phổi hợp cùng với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với các bị can đế vừa đảm bảo việc các bị can khai báo đúng sự thật, không bò
20
Trang 27trôn trong suôt quá trình giải quyêt vụ án, vừa đảm bảo quyên con người của các bị can bởi lẽ, đối với các bị can phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng thì việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị can phải thỏa mãn những quy định tại khoản 2 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như:
a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; b) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch bị can; c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu
bỏ trốn; d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; đ)
Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm
và người thân thích của những người này
Thông qua những đặc điểm đã phân tích trên, theo quan điểm của học viên: “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm
trật tự công cộng là việc sử dụng quyền năng pháp lý mang tính quyền lực Nhà nước trong tổ tụng hình sự Trong đó, Viện kiêm sát nhân dân ban hành các văn bản cả biệt có tác dụng làm phát sinh, thay đổi hay chẩm dứt quan hệ pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án, bảo đảm cho việc truy cứu trách nhiệm đủng pháp luật hình sự đoi với người thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm đến trật tự công cộng
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quyển công tố trong giai đoạn điều tra các tội xăm phạm trật tự công cộng • • A • • • O • O
Quá trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự nói chung và các tội xâm phạm trật tự công cộng nói riêng đều có sự tác động bởi các yếu tố như sau:
21
Trang 28ỉ 1.4.1 Yêu tô vê mặt pháp lý
Thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiểm sát nhân dân là hoạt động tố tụng hình sự, phải được tuân theo trình tự, thủ tục tổ tụng nghiêm ngặt giữa một bên là tội phạm
và người phạm tội với một bên là các cơ quan tiến hành tố tụng được Nhà nước trao quyền xử lý TNHS đối với người phạm tội Cơ sở pháp lý để áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố là Hiến pháp, Bộ luật hình sự,
Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan Cơ sở pháp lý càng hoàn thiện thì công tác thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự nói chung và với các tội xâm phạm trật tự công cộng nói riêng của Viện kiểm sát nhân dân càng được bảo đảm
về Hiến pháp, Điều 14 Hiến pháp năm 2013, khẳng định:
1 Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật
2 Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cùa cộng đồng [34],
Đồng thời Điều 31, khoản 1 Hiến pháp cũng nêu rõ:
Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật [34J
Như vậy, Hiển pháp, đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất khắng định việc tôn trọng, bảo vệ, bào đăm quyền con người, quyền công dân trong tất cả mọi trường hợp Mặt khác, việc kết tội phải đúng theo trình tự luật định và chỉ
do cơ quan có thẩm quyền thực hiện
22
Trang 29Vê Bộ luật Hình sự: Hiện nay Bộ luật Hình sự là văn bản pháp luật duy nhất quy định về tội phạm và hình phạt đối với mọi tội phạm nói chung và các tội xâm phạm trật tự công cộng nói riêng Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng Khi xây dựng pháp luật nói chung hay pháp luật hình sự nói riêng, nhà làm luật luôn cố gắng dự trù các tình huống, mối quan hệ có thể xảy ra trong đời sống xã hội thực tế để đưa ra các quy định pháp luật phù hợp
để điều chỉnh những tình huống, mối quan hệ đó Tuy nhiên, đời sống xã hội luôn biến đổi, diễn ra phức tạp, hành vi phạm tội ngày càng tinh vi, khó phát hiện do đó để đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung và hoạt động thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm trật tự công cộng có hiệu quả pháp luật hình sự ở mồi giai đoạn phát triển của
xã hội phải phù hợp với thực tiễn, mức độ của hành vi phạm tội Từ năm 1985 đến nay đã 03 lần pháp điển hóa với 03 Bộ luật Hình sự, trải qua 08 lần sửa đổi, bổ sung đã kịp thời đáp ứng được công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm trật tự công cộng nói riêng
về Bộ luật Tố tụng hình sự, đây là văn bản quy phạm pháp luật quy định các vấn đề liên quan đến thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có thực hành quyền công
tố ở giai đoạn điều tra cũa Viện kiểm sát nhân dân Bộ luật Tố tụng hình sự quy định một cách toàn diện những vấn đề liên quan đến thủ tục tố tụng giải quyết án hình sự
Ngoài ra còn có các văn bản hướng dẫn việc áp dụng pháp luật, các quy định tại chương về các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, xâm phạm trật
tự xã hội, các văn băn hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, nhất là các văn bản của các cơ quan tư pháp ở Trung ương như Thông tư liên tịch, nghị quyết cùa Hội đồng thẩm phán, thông tư liên ngành
Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân Tuy là văn bản dưới luật nhưng đây
23
Trang 30chính là hành lang pháp lý đê định hướng cho hoạt động thực hành quyên công
tố của Viện kiếm sát nhân dân đúng thấm quyền, trình tự, thủ tục, trên cơ sở đó đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật về nội dung đầy đủ giá trị pháp lý
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thể hiện
sự cải tiến trong kỹ thuật lập pháp, thay thế những điều luật chung chung bằng những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục tiến hành giải quyết vụ án hình sự cũng như các dấu hiệu tội phạm một cách khoa học, mang tính khái quát cao, quy định chặt chẽ yếu tố định tội, định khung hình phạt, đảm bảo thống nhất trong áp dụng pháp luật Sự cải tiến của Bộ luật Tố tụng hình sự và Bộ luật Hình sự 2015 góp phần đảm bảo công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung và hoạt động thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm trật tự công cộng nói riêng có hiệu quả, thể hiện rõ nét ở mối quan
hệ công tác giữa Cơ quan điều tra và Viện kiếm sát trong việc xác định tội danh, áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người thực hiện hành vi phạm tội
1.1.4.2 Yếu tổ về mặt tô chức, nhân sự
Yếu tố về mặt tổ chức là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến công tác thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiếm sát nhân dân
Viện kiếm sát nhân dân tối cao trong thực tiễn chỉ đạo điều hành đã luôn chú ý xây dựng và hoàn thiện bộ máy, trong đó xác định rõ, cụ thề cơ cấu, chức năng nhiệm vụ của các cục, vụ, việc thích ứng với từng giai đoạn lịch sử, phù hợp với Hiến pháp và Luật Tố chức Viện kiếm sát nhân dân mỗi khi Quốc hội, Nhà nước ban hành mới hoặc sửa đổi bổ sung các văn bản
đó Đặc biệt, để bảo đảm nguyên tắc chỉ đạo tập trung thống nhất toàn ngành của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đồng thời bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy vai trò ủy ban Kiểm sát theo quy định, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã chú ý lựa chọn các thành viên của úy ban kiểm sát, bảo đảm các ùy viên có năng lực chuyên môn và bản lĩnh chính trị
24
Trang 31Viện kiêm sát nhân dân tôi cao bảo đảm cho toàn ngành hoạt động thống nhất, phối hợp với các cơ quan tư pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả.
Viện kiếm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có vị trí, vai trò quan trọng trong cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân Viện kiếm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được bảo đảm
về tổ chức, cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh, trong đó có vai trò của lãnh đạo Viện, lãnh đạo các phòng nghiệp vụ cũng như của đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên có năng lực chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất chính trị vững vàng, trong sáng thi sẽ đảm bảo đế Viện kiếm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sẽ thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của ngành Kiếm sát trong điều kiện đối mới và hội nhập hiện nay Việc kịp thời hoàn thiện tồ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên có năng lực phẩm chất tốt sẽ phát huy được vai trò quan trọng bảo đảm việc áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra đối với các loại tội phạm, trong đó có các tội phạm trong nhóm các tội xâm phạm trật tự công cộng
yếu tố về mặt tổ chức có ảnh hưởng trong công tác thực hành quyền công
tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân đổi với các tội xâm phạm trật
tự công cộng còn được thể hiện ở mức độ hoàn thiện và đồng bộ về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp khác, đặc biệt là Cơ quan điều tra, Tòa án các cấp cũng như cơ chế phối hợp giữa Viện kiểm sát với các cơ quan này
Ngoài ra, trong giải quyết án hình sự về các tội xâm phạm trật tự công cộng còn có vai trò tham gia hết sức quan trọng của các cơ quan hồ trợ tư pháp như hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, tổ chức giám định cũng như chất lượng giám định viên, luật sư Chất lượng tổ chức của cơ quan này cũng ảnh hưởng đến công tác thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng
25
Trang 32Chât lượng thực hành quyên công tô nói chung và thực hành quyên công tố ở giai đoạn điều tra vụ án xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiểm sát nhân dân là do con người quyết định và phụ thuộc vào khả năng chuyên môn, tinh thần trách nhiệm của những người trực tiếp thực hiện Đảm bảo về mặt tổ chức là yếu tố quan trọng nâng cao chất lượng thực hành quyền công
tố trong giai đoạn điều tra cùa Viện kiểm sát nhân dân, cụ thể là các chức danh pháp lý có thấm quyền: Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp phải là những cán bộ có năng lực chuyên môn tốt, tinh thần trách nhiệm trong công việc
1.1.4.3 Các yếu tổ khác
- Hoạt động thực hành quyền công tổ của Viện kiếm sát nhân dân là hoạt động thực thi quyền lực Nhà nước do đó việc giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân cũng như các tồ chức xã hội và của nhân dân là yếu tố không thể thiếu đối với hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân Một mặt, nó thể hiện tính công khai, dân chủ, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong
đó có Viện kiếm sát Mặt khác, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các cơ quan, đại biểu dân cử và của toàn xã hội đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo mọi hành vi phạm tội xảy ra đều được phát hiện và
xử lý công minh, kịp thời, đảm bão đúng người, đúng tội đúng pháp luật, không đe xảy ra oan, sai bỏ lọt người thực hiện hành vi phạm tội Trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề này, coi đây là giải pháp quan trọng nâng cao chất lượng công tác tư pháp ở nước ta Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị khắng định: Tăng cường sự giám sát cũa Quốc hội, Hội đồng nhân dân, của các tồ chức xã hội và của công dân đối với công tác tư pháp Công tác giám sát của Quốc hội, của Hội đồng nhân dân đối với các cơ quan tư pháp tập
26
Trang 33trung vào việc châp hành pháp luật trong lĩnh vực băt, tạm giữ, tạm giam, truy tố, xét xử, thi hành án và giám sát của việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực tư pháp [ 1 ]
Thể chế hóa Nghị quyết của Bộ Chính trị, Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015 quy định về giám sát của các cơ quan, tồ chức, đại biểu dân cừ đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Đây được coi là một nguyên tắc của hoạt động tố tụng hình sự
Tuy nhiên, giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân cũng như các tổ chức xã hội và nhân dân là những hình thức giám sát từ bên ngoài, về mặt lý luận, đây là những hình thức đem lại hiệu quả lớn, nhưng trên thực tế, những hình thức này còn có hạn chế nhất định, bởi lẽ chất lượng hoạt động của các cơ quan và đại biểu dân cử vẫn chưa đáp ứng yêu cầu Quốc hội và Hội đồng nhân dân chủ yếu thực hiện quyền giám sát thông qua xem xét các báo cáo của các
cơ quan tư pháp, trong đó có Viện kiếm sát tại các kỳ họp của mình; giám sát thông qua chất vấn của các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tại các kỳ họp của hai cơ quan này đối với người đứng đầu các cơ quan tư pháp
- Công tác quản lý, chỉ đạo điều hành và công tác thanh tra, kiểm tra trong ngành Kiếm sát nhân dân:
Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành và công tác thanh tra- kiểm tra trong ngành Kiểm sát được coi là yếu tố ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiếm sát nhân dân Nếu giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các tố chức xã hội
và của nhân dân được coi là hình thức giám sát từ bên ngoài, thì đây được coi
là hình thức giám sát từ bên trong Ket hợp tốt hai hình thức giám sát này sẽ
là yếu tố quan trọng đảm bảo tốt việc áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
- Cơ sở vật chất, kỳ thuật, trang thiết bị của Kiểm sát viên:
27
Trang 34Đáp ứng nhu câu hội nhập quôc tê và quyên con nguời trong tô tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã quy định về việc ghi âm, ghi hình có
âm thanh khi tiến hành hỏi cung bị can (khoản 6 Điều 183) Liên ngành các
cơ quan tiến hành tố tụng đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT- BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP ngày 01/02/2018 để hướng dẫn trình tự, thủ tục ghi âm, ghi hình có âm thanh trong điều tra, truy tố, xét xử, tuy nhiên, việc triển khai ghi âm, ghi hình có âm thanh của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chưa đạt hiệu quả cao và còn nhiều bất cập bởi cơ sở vật chất, kỳ thuật của
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chưa đáp ứng được điều kiện tiến hành thủ tục ghi âm, ghi hình có âm thanh và bảo quản các dữ liệu đã thu thập được; cán bộ điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên chưa được đào tạo bài bản về việc ghi âm, ghi hình có âm thanh
Trang thiết bị cung cấp cho Kiểm sát viên khi tiến hành hoạt động thực hành quyền công tố chưa đầy đủ, phụ thuộc nhiều vào trang thiết bị của Điều tra viên nên việc đề ra yêu cầu xác minh, yêu cầu thu thập tài liệu chứng cứ của Kiểm sát viên khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi chưa sát với nội dung vụ án, chưa thế hiện được vai trò của Viện kiếm sát trong hoạt động thực hành quyền công tố
- Ngoài ra còn có nhiều yếu tố ảnh hường đến hoạt động thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiếm sát nhân dân Đó là việc tăng cường và hoàn thiện chế độ, chính sách đổi với cán bộ, Kiểm sát viên; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của ngành Kiếm sát nói chung, hoạt động thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra nói riêng; tăng cường mối quan hệ phối hợp liên ngành trong giải quyết án hình sự
1.2 Pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng• > • • • • ơ
1.2.1 Pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
Bộ luật TTHS năm 2003 đã thể chế các quan điểm cùa Đãng về đấu
28
Trang 35tranh phòng chông tội phạm được thê hiện trong Nghị quyêt Đại hội Đảng lân thứ X và các nghị quyết khác cùa Ban chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị,
cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2011) Trải qua hơn 15 năm thực hiện đã bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc do chưa quy định cụ thể chức năng THQCT của VKSND trong giai đoạn điều tra các
vụ án hình sự nói chung, trong đó có nhóm các tội xâm phạm trật tự công cộng Cụ thể:
- Điều 112, 114 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra và mối quan hệ giữa cơ quan điều tra và VKS nhưng không quy định nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
- Chưa quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với hoạt động điều tra và các quyết định tố tụng của CQĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như:
+ Phê chuẩn hoặc hủy bò quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can không có căn cử pháp luật
+ Chưa quy định cụ thể về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của VKSND.+ Phê chuẩn lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lãnh, đặt tiền để bào chữa, khám xét thư giữ, tạm giữ
đồ vật thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định khác không có căn
cứ và trái pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
+ Không quy định quyền quyết định áp dụng, thay đồi, hủy bỏ biện pháp cưỡng chế
29
Trang 36+ Không quy định VKS trực tiêp tiên hành một sô hoạt động điêu tra trong những trường hợp nào.
Những tồn tại trên của BLTTHS năm 2003 đã được tháo gỡ một số nội dung tại Thông tư liên tịch số 05/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005 của VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và trong các quy chế phối hợp giữa CQĐT và VKSND trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2003 Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn những khó khăn, vướng mắc nhất định khi THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự nói chung và các
vụ án xâm phạm trật tự công cộng nói riêng, làm ảnh hưởng đến việc áp dụng thống nhất pháp luật giữa các cơ quan tư pháp
Bộ luật TTHS năm 2015 thể chế hóa quan điểm của Đảng được ghi nhận trong Nghị quyết Đại hội Đẳng lần thứ XI và lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 06/02/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm
2013 đã sửa đổi bổ sung những nội dung nêu trên và pháp điển hóa các vãn bản dưới luật có liên quan đến chức năng THQCT của VKSND trong TTHS góp phần hoàn thiện pháp luật, bảo đảm áp dụng thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
So với BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể và
rõ ràng hơn về THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Cụ thể: Điều
165 BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án, theo đó, VKSND có những nhiệm
vụ, quyền hạn đó là: (1) Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; (2) Phê chuẩn hoặc húy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can không có căn cứ và trái pháp luật; (3) Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định
30
Trang 37khởi tô vụ án hình sự, khởi tô bị can trong các trường hợp do Bộ luật này quy định; (4) Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này; hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; (6) Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; (7) Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuấn lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bang văn bản nhưng không được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc truy tố; (8) Khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thấm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành
vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; (9) Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam; quyết định chuyền vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chừa bệnh; hủy bò quyết định tách, nhập vụ án [36, Điều 165],
31
Trang 38- Thứ hai, BLTTHS năm 2015 có những điêu luật quy định nhăm bảo
vệ quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị nghi thực hiện tội phạm, bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Nhằm thể chế quy định của Hiến pháp năm 2013: “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án
nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn cùa Viện kiêm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam, giữ người do luật định” [34, Đ.20],
BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể thủ tục bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, theo đó một người chỉ bị bắt khẩn cấp khi VK.S phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp của CQĐT
1.2.2 Pháp luật về nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng
Trong thời kỳ áp dụng luật hình sự giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ nhất - ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985, Nhà nước
ta đã ban hành một số văn bản pháp luật hình sự quy định về các tội phạm xâm phạm TTCC, cụ thể:
- Từ những năm 60 của thế kỷ XX, trên cơ sở những kinh nghiệm của thực tiễn xét xử, TANDTC đã ban hành các báo cáo tổng kết, các chi thị hướng dần về đường lối xử lý một số tội phạm nguy hiểm và phổ biến, tuy nhiên các tội phạm liên quan đến trật tự, an toàn công cộng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể
- Đến ngày 15/3/1976, sau khi giải phóng đất nước, Chính phù Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam đã ban hành sắc luật 03-SL/76
ngày 15/3/1976 quy định “Các tội và hình phạt” trong đó các tội phạm xâm
phạm đến trật tự công cộng đã được quy định tại Điều 9 Tiếp ngay sau đó, Thông tư số 03-BTP tháng 4/1976 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành sắc luật 03-SL/76 ngày 15/3/1976 cụ thể hơn các hành vi xâm phạm đến trật tự công cộng [2, tr 59]:
+ Tụ tập đông người nhằm gây náo động trong dân chúng và gây rối
32
Trang 39trật tự ngoài đường phô hoặc ở các nơi công cộng chông lại nhân viên nhà nước khi làm nhiệm vụ.
+ Tổ chức du đãng có hành động càn quấy, đe dọa tính mạng người khác và an toàn xã hội
+ Cờ bạc, tồ chức ổ mại dâm, buôn bán, tàng trữ ma túy và các chất độc khác trái phép
- Phạm các tội trên nếu vượt quá mức độ xử lý hành chính thì bị truy tố
và xét xử về hình sự và bị phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 15 năm Ngoài ra, còn có thể bị phạt tiền đến 1000 đồng và có thể bị thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
Bộ luật Hình sự năm 1985 được Quốc hội nước ta thông qua ngày 27/6/1985 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 Đây là đạo luật được pháp điển hóa hoàn chỉnh bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự quy định
về tội phạm và hình phạt nói chung cũng như về các tội phạm cụ thế và các khung hình phạt cụ thế đối với tội phạm đó Trong đó, Mục B Chương VIII quy định về các tội xâm phạm trật tự công cộng gồm: “Tội gây rối trật tự
câng cộng; Tội hành nghề mê tín, dị đoan gây hậu quả nghiêm trọng; Tội đánh bạc, tô chức đánh bạc hoặc gả bạc; Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản
do người khác phạm tội mà có; Tội chứa mại dâm, tội môi giới mại dâm; Tội
tô chức dùng chất ma túy; Tội xâm phạm mồ mả, hài cốt” Bộ luật Hình sự
năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các năm 1989, 1991, 1992 và năm 1997 Qua các lần sửa đổi, bổ sung, Bộ luật Hình sự năm 1985 đã tương đối hoàn thiện, góp phần không nhỏ vào công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm nói chung cũng như đảm bão trật tự công cộng nói riêng
Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thực hiện, Bộ luật Hình sự năm 1985 dù đã được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn tồn tại nhiều điểm bất cập, hạn chế trong quy định về các tội phạm Do vậy, ngày 21/12/1999, Quốc hội khóa X, kỳ họp
33
Trang 40thứ 6 đã thông qua Bộ luật Hình sự 1999, có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2000 trên phạm vi cá nước Neu trong Bộ luật Hình sự 1985, nhóm tội xâm phạm
an toàn công cộng, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính được quy định trong Chương VIII phần các tội phạm với ba mục khác nhau, thì đến Bộ luật Hình sự 1999, các tội phạm này được chia thành hai chương bao gồm: Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng và Chương XX - Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính Cụ thể đối với nhóm các tội xâm phạm trật tự công cộng có những thay đối sau:
- Tách riêng một chương quy định về tội phạm và hình phạt đối với các hành vi liên quan đến ma túy, do đó, tội tổ chức dùng chất ma túy không còn thuộc nhóm các tội phạm xâm phạm trật tự công cộng
- Tách riêng tội Đánh bạc và tội Tổ chức đánh bạc, gá bạc; tách riêng tội Môi giới mại dâm và tội Chứa mại dâm
- Bổ sung tội Mua dâm người chưa thành niên
- Chuyển tội Dụ dồ, ép buộc người chưa thành niên phạm tội từ Chương các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình và các tội phạm đối với người chưa thành niên về Chương các tội xâm phạm trật tự công cộng
- Chuyển tội Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy từ Chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia về Chương các tội xâm phạm trật tự công cộng
- Bổ sung một số yếu tổ định tội để làm rõ cấu thành các tội: Gây rối trật tự công cộng; Đánh bạc; Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc; Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy
- Sửa đổi, mở rộng phạm vi các hành vi được coi là tội phạm ở các tội: Xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt; Hành nghề mê tín, dị đoan; Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy
- Bổ sung yếu tố định khung hình phạt ở các tội: Gây rối trật tự công cộng; Đánh bạc; Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc; Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; Dụ dồ ép buộc người chưa thành niên
34