Trước yêu cầu cải cách tư pháp, yêu cầu giữ vững trật tự an toàn xãhội bảo đảm cho sự phát triển đất nước trong thời đại công nghệ lần thứ tư, bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của công d
Trang 1Công trình được hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dân khoa học: PGS.TS NGUYEN NGỌC CHI
Phản biện 1: PGS.TS ĐỎ THỊ PHƯỢNG
Phản biện 2: TS LÊ LAN CHI
Luận văn đưọ*c bảo vệ tại Hội đông châm luận văn, họp • • • • • >
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi giỏ’ , ngày tháng năm 2022
Có thể tìm hiểu luận văn tại
Trung tâm tư liệu Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm tư liệu - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 2MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1: MỘT SÓ VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VÈ• • •
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỤ CÔNG CỘNG 7
1.1 Một số vấn đề lý luận 71.1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra 71.1.2 Khái niệm các tội xâm phạm trật tự công cộng 131.1.3 Đặc điểm thục hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các
tội xâm phạm trật tự công cộng 171.1.4 Các yếu tố ảnh huởng đến thực hành quyền công tố trong giai
đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng 21
1.2 Pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều
tra các tội xâm phạm trật tự công cộng • < • • • ~ • ơ 28
1.2.1 Pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra 28
1.2.2 Pháp luật về nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng 32
CHƯƠNG 2: THựC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THựC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ Ở GIAI ĐOẠN ĐIÈU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT Tự CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN HẢI PHÒNG 39
2.1 Thực trạng thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra
các tội xâm phạm trật tự công cộng trên địa bàn Hải Phòng 39
2.1.1 Tình hình chung trên địa bàn thành phố Hải Phòng 39
1
Trang 32.1.2 Thực trạng thực hành quyên công tô ở giai đoạn điêu tra các tội
xâm phạm trật tự công cộng trên địa bàn Hải Phòng 41
2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 66
2.2.1 Kiến nghị hoàn thiện chế định Thực hành quyền công tố 66
2.2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự công cộng 68
Ạ r 2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyên công tô ở giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng trên ~ • • > • • • — • — địa bàn Hải Phòng 69
2.3.1 Những giải pháp chung 69
2.3.2 Giải pháp cụ thể 74
KÉT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO • • 83
2
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính câp thỉêt của đê tài
Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết vụ án hình sự là một
trong những chức năng trọng tâm của Viện kiểm sát nhân dân, được ghinhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam VKSND
phải thực hiện tốt công tác thực hành quyền công tố trong hoạt động điềutra mới có thể đảm bảo mọi hành vi phạm tội và người phạm tội được phát
hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội
Trong những năm vừa qua, hoạt động thực hành quyền công tố trong
hoạt động điều tra được Viện kiểm sát nhân dân hai cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã được chú trọng, góp phần tích cực vào công tác đấu
tranh, phòng, chống tội phạm, ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội Đặc biệt, khi giải quyết các vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm
trật tự công cộng, hoạt động thực hành quyền công tố trong hoạt động điềutra được đề cao và thu được những thành tựu nhất định Tuy nhiên hoạt
động thực hành công quyền công tố còn bộc lộ những hạn chế nhất định.Những hạn chế này xuất phát từ những nguyên khách quan, chủ quan, trong đó phải kể đến nguyên nhân pháp luật về thực hành quyền công tố vàpháp luật hình sự chưa cụ thể, rõ ràng gây khó khăn cho Kiểm sát viên khithực hành quyền công tố giải quyết vụ án
Trước yêu cầu cải cách tư pháp, yêu cầu giữ vững trật tự an toàn xãhội bảo đảm cho sự phát triển đất nước trong thời đại công nghệ lần thứ tư,
bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của công dân và sự ổn định, phát triển của thành phố Hải Phòng học viên chọn đề tài: “Thực hành quyền công to trong giai đoạn điều tra đổi với các tội xâm phạm trật tự công cộng trên
cơ sở thực tiễn địa bàn thành phổ Hải Phòng
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận về thực hànhquyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với các tội xâm phạm trật tự
công cộng của VKSND Phân tích, đánh giá thực trạng thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng
3
Trang 5của VKSND hai câp tại Hải Phòng giai đoạn từ năm 2016 đên năm 2020, rút ra kết quả đạt được cũng như những hạn chế của công tác trên Qua đó,
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với các tội xâm phạm trật tự
công cộng của VKSND hai cấp tại Hải phòng
3 Tính mói và những đóng góp của đề tài
3.1 Tính mới của đề tài
- Luận văn tiếp tục nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án các tội xâm phạm trật tự
công cộng của VKSND
- Luận văn đánh giá một cách khách quan thực trạng, những khó
khăn, vướng mắc và nguyên nhân của thực trạng thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiểm
sát nhân dân cấp hai cấp tại Hải Phòng hiện nay
- Luận văn đề xuất phương hướng và những giải pháp cụ thể để tiếp tục hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra các các tội xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiếm sát nhân dân hai cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng
3.2 Những đóng góp của đề tài
- Làm sáng tỏ vị trí, vai trò của ngành Kiếm sát trong hoạt động thực
hành quyền công tố, đặc biệt là vấn đề áp dụng pháp luật trong thực hành
quyền công tố của VKSND hai cấp tại Hải Phòng trong giai đoạn điều tra
các tội xâm phạm trật tự công cộng trong thời gian qua, nhằm đánh giá
một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan thực trạng tình hình, từ đó đề ra
những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động này
- Luận văn có thể được sử dựng làm tài liệu tham khảo cho Kiểm sát
viên trực tiếp làm công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư
pháp trong điều tra vụ án hình sự và những ai quan tâm lĩnh vực này Đồng
thời, luận văn cũng là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy về pháp luật nói chung và về thực hành quyền công tố, kiếm sát các hoạt động
tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan điểm, lý thuyết về thực
4
Trang 6hành quyên công tô được công bô trên các ân phâm; hệ thông pháp luậtViệt Nam quy định về quyền công tố và thực hành quyền công tố; hoạt
động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự
đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng của VKSND hai cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng
- Đe tài nghiên cứu hoạt động thực hành quyền công tố của VKSND
hai cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020
5 Tổng quan tài liệu
Có nhiều công trình nghiên cứu về áp dụng pháp luật trong hoạt độngthực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp được đăng trên
sách, báo, tạp chí chuyên ngành, bao gồm:
Cuốn sách “Kỹ năng thực hành quyền công tổ và kiêm sát việc tuân theo pháp luật trong tổ tụng hình sự” của Trường Đại học Quốc gia HàNội; “ Thực hành quyền công tố và kiêm sát các hoạt động tư pháp trong hoạt động điều tra ” của Lê Hữu Thể
Một số luận án tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về áp dụng pháp
luật thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, như:
“Quyền công tố ở Việt Nam” của Lê Thị Tuyết Hoa; “Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiêm sát nhân dãn ở Việt Nam hiện nay ” của Trịnh Duy Tám; “ Chat lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hỉnh sự của Viện kiêm sát nhân dãn tỉnh Hà Nam' ” của Trần Thị Đông; “Áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện Kiêm sát nhân dân thành phố Hà Nội ” của Nguyễn Duy Hưng; “Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiêm sát nhân dân ở tỉnh Yên Bải ” của Hoàng Xuân Đản
Có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn của
các tác giả đăng trên các tạp chí chuyên ngành: “Đặc trưng của áp dụng pháp luật hình sự ” của Chu Thị Trang Vân; “ Cơ quan thực hành quyền công tổ trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay” của tác giả Đỗ Văn
Đương; “Viện kiêm sát nhân dãn các cap cần làm tốt việc tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gan công tố với hoạt động điều tra ” của tác giả Trần Công Phàn
5
Trang 7Các công trình nghiên cứu luận giải vê áp dụng pháp luật trong thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nói chung và áp
dụng pháp luật trong kiêm sát điều tra các vụ án hình sự nói riêng Đây là những công trình khoa học có giá trị tham khảo trong quá trình tác giả thực hiện luận văn Tuy vậy, đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứuchuyên sâu, toàn diện về áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố
ở giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiểm sát
nhân dân hai cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng hiện nay
6 Phuong pháp nghiên cứu
Học viên sử dụng các phưong pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như:Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, hệ thống hóa; trao đổinghiệp vụ với đội ngũ Kiếm sát viên hai cấp trên địa bàn thành phố Hải
phòng trực tiếp tiến hành hoạt động thực hành quyền công tố trong giaiđoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng
7 Cơ cấu đề tài
Đe tài gồm lời nói đầu, kết luận và hai chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng
Chương 2: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp nâng cao hiệu quả
thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công
cộng trên địa bàn Hải Phòng
CHƯƠNG 1 MỘT SÓ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÃ PHÁP LUẬT VÈ THỤ C HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC
TỘI XÂM PHẠM TRẬT Tự CÔNG CỘNG
1.1 Một sô vân đê lý luận
1.1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
1.1.1.1 Khải niệm quyền công tố:
Ke từ khi xuất hiện trong Hiến pháp năm 1980 cùng những khái
niệm truyền thống như “kiểm sát việc tuân theo pháp luật”, khái niệm
6
Trang 8“quyên công tô” cho đên nay đã có nhiêu tác giả đua ra các quan điêm giải
thích cho khái niệm này Có thể kể đến một vài công trình điển hình như:Công trình nghiên cứu về “Những vấn đề lý luận về chế định công to” của
GS.TSKH Lê Văn Cảm; Luận án tiến sĩ “Quyền công tổ ở Việt Nam ” của
TS Lê Thị Tuyết Hoa; Công trình nghiên cứu về “Chế định Viện kiêm sát nhân dân trong Hiến pháp Việt Nam” của GS.TSKH Đào Trí úc; Sáchchuyên khảo “Thực hành quyền công tố và kiêm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra ” của TS Lê Hữu Thể Thông qua việc nghiên cứu
những quan điểm giải thích khái niệm quyền công tố, học viên cho rằng
khái niệm của quyền công tố như sau:
Quyền công tổ là quyền lực công thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan Nhà nước độc lập (ở Việt Nam thì Viện kiêm sát nhân dân là cơ quan Nhà nước được giao thực hành quyền công tổ) thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm đưa người đó ra xét xử trước tòa án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó Phạm
vỉ của quyền công tổ bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
1.1.1.2 Khái niệm thực hành quyền công to
Quyền công tố là quyền lực công của Nhà nước, gắn liền bản chất Nhà nước Để đảm bảo thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm
tội, Nhà nước thể chế những quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền
công tố vào luật TTHS và giao cho CQCT thực hiện các quyền năng đó để
phát hiện và thực hiện truy cứu TNHS đối với người phạm tội CQCT thực
hành quyền công tố phải là một cơ quan nhà nước và là một cơ quan độc lậpvới CQĐT và Toà án VKSND đã được Nhà nước giao cho thực hiện chức
năng công tố “truy tố trước Toà án nhân dân những người phạm pháp hình
sự”, bên cạnh chức năng chủ yếu khi đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật
nhằm đảm bảo tính thống nhất của pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủnghĩa Pháp luật TTHS của nước ta hiện nay quy định phạm vi của THQCT bắt đầu kể từ giai đoạn tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm THQCT như sau:
Thực hành quyền công to là việc sử dụng quyền năng pháp lý trong to tụng hình sự của cơ quan công tổ (tại Việt Nam là Viện kiểm sát nhân dân) để
7
Trang 9truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội ra xét xử trước tòa án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đỏ.
1.1.2 Khái niệm các tội xâm phạm trật tự công cộng
Dưới góc độ khoa học, khái niệm các tội xâm phạm TTCC được đềcập dưới nhiều quan điểm nhưng chủ yếu các quan điểm đó thường gộpchung khái niệm của các tội xâm phạm TTCC với các tội xâm phạm an toàn công cộng mà không định nghĩa riêng về các tội xâm phạm TTCC
GS.TS Võ Khánh Vinh và GS.TS Trần Minh Hưởng có quan điểm tương đồng: các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng có đầy đủ những đặc điểm chung của tội phạm đó là tính nguy hiểm cho xã hội, tính lồi và trái với luật hình sự Tuy nhiên, đề đưa ra khái niệm riêng về các tội xâmphạm 1 • TTCC thì cần đi sâu hơn nữa về “ độ• • tuôỉ chịu trách nhiệm• • hình sự”
bởi tội dụ dồ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp và
tội mua dâm người dưới 18 tuổi được quy định ở các Điều 325, 327 Bộ luật hình sự 2015 đều có chủ thể thực hiện tội phạm phải là người trên 18
tuổi Tác giả Triệu Văn Nam có quan điểm về khách thể mà các tội xâm
phạm trật tự công cộng tác động đến là “hoạt động bình thường, ổn định xãhội ở những nơi công cộng”, nhưng học viên cho rằng khách the chính bịcác tội xâm phạm TTCC xâm phạm phải là “hoạt động binh thường, ổn
định xã hội ở những nơi công cộng”, những thiệt hại về tài sản của Nhà
nước, tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân chỉ là những khách thể phụ nhằm phân biệt giữa các tội trong nhóm tội xâm phạm TTCC
Đồng thời, qua nghiên cứu tính lỗi của các tội xâm phạm TTCC, học viên thấy lồi của các tội này phải là lồi cố ý bởi lẽ người thực hiện hành vi phạm tội có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình, bản thân người phạm tội cũng nhận thức rõ hành
vi phạm tội của mình gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu
quả nhưng mong muốn hậu quả xảy ra hoặc không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng có thái độ để mặc cho hậu quả xảy ra
Theo quan điểm của học viên, khái niệm của các tội xâm phạm TTCC như sau: “ Các tội xâm phạm trật tự công cộng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cổ ý trực tiếp, xâm phạm
8
Trang 10vào các quy định của Nhà nước vê trật tự công cộng, xâm phạm đên hoạt động bình thường, ôn định xã hội ở những nen công cộng gây thiệt hại về tài sản Nhà nước, thiệt hại về tỉnh mạng, sức khỏe, tài sản của công dân ”
Các tội xâm phạm TTCC gồm 12 tội danh được quy định từ Điều
318 đến Điều 329 Bộ luật Hình sự 2015 Dựa theo tiêu chí khách thể trực tiếp bị xâm hại, có thể phân chia các tội xâm phạm TTCC thành hai
nhóm, đó là:
Thứ nhất, nhóm các tội xâm phạm TTCC liên quan đến tệ nạn xã hội:Tội hành nghề mê tín, dị đoan (Điều 320); Tội đánh bạc (Điều 321); Tội tổ
chức đánh bạc hoặc gá bạc (Điều 322); Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi
trụy (Điều 326); Tội chứa mại dâm (Điều 327); Tội môi giới mại dâm(Điều 328); Tội mua dâm người dưới 18 tuổi (Điều 329)
Thứ hai, nhóm các tội xâm phạm TTCC liên quan đến trật tự xã hội:
Tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318); Tội xâm phạm thi thể, mồ mả,hài cốt (Điều 319); Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khácphạm tội mà có (Điều 323); Tội rủa tiền (Điều 324); Tội dụ dồ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp (Điều 325)
1.1.3 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng
Thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng có những đặc điểm chung của thực hành quyền công tố
của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra đó là:
- Trong khi hoạt động điều tra có nhiệm vụ chứng minh toàn bộ việc
phạm tội một cách khách quan, toàn diện, cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ
gỡ tội thì hoạt động công tố nhằm thực thi quyền truy cứu trách nhiệm hình
sự, quyết định việc buộc tội, việc gỡ tội; quyết định việc hạn chế các quyền
công dân như bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định việc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật
- Thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra bao gồm hành vi
và các quyết định tố tụng mang tính công khai theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền tố tụng do pháp luật quy định Các quyết định công tố thể hiện dưới
dạng văn bản của người có thẩm quyền như quyết định khởi tố vụ án, khởi
tố bị can; quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định khởi tố
9
Trang 11bị can Các quyêt định tô tụng của VKSND đêu được gửi cho những người
có liên quan theo quy định của pháp luật
- Các hoạt động thực hành quyền công tố trong hoạt động điều trađều nhân danh nhà nước, chịu sự lãnh đạo tập trung của Viện trưởng
VKSND mỗi cấp và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng
VKSNDTC VKSND cấp trên có quyền rút, hủy bở các quyết định công tố
không có căn cứ và trái pháp luật của VKSND cấp dưới và yêu cầu raquyết định đúng pháp luật Điều này khác với tổ chức hoạt động điều tra, CQĐT cấp trên không có quyền rút hoặc hủy bỏ các quyết định tố tụng của
CQĐT cấp dưới
- Thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra có đặc điểm khác với hoạt động kiểm sát điều tra Tuy cùng một chủ thể tiến hành là VKS nhưng đổi tượng của thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra là
sự việc phạm tội, hành vi phạm tội và người phạm tội, còn đối tượng của
hoạt động kiểm sát điều tra là các chủ thể tiến hành hoạt động điều tra (Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra), nếu
phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, VKS có quyền kiến nghị, yêu cầucác chú the chấm dứt vi phạm, khôi phục lại trật tự pháp luật bị vi phạm
Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, song song với
việc xem xét đánh giá những tài liệu, chứng cứ để buộc tội, VKSND cũng
phải xem xét, đề ra các yêu cầu điều tra đe tìm kiếm, xem xét, đánh giá những tinh tiết gỡ tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Đây là đặc trưng của hoạt động thực hành quyền công tố trong giaiđoạn điều tra với hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét
xử bởi trong giai đoạn xét xử, khi thực hành quyền công tố, VKS chỉ thực hiện nhiệm vụ quan trọng nhất là bảo vệ bản cáo trạng và đề nghị mứchình phạt đối với người phạm tội
Ngoài những đặc điểm trên, thực hành quyền công tố ở giai đoạn
điều tra các các tội xâm phạm trật tự công cộng còn có những đặc điểm
riêng như sau:
- Nhóm các tội xâm phạm trật tự công cộng thường phức tạp, khó
phân loại hành vi phạm tội của những người thực hiện hành vi phạm tội
bởi các vụ án thường có nhiều đối tượng, cùng thực hiện một hoặc nhiều
10
Trang 12hành vi vi phạm pháp luật (tội gây rối trật tự công cộng, tội đánh bạc, tội
tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, tội môi giới mại dâm, tội chứa mại dâm,
tội rửa tiền), trong quá trình điều tra, các đối tượng tìm mọi cách để đổ lỗi
cho nhau hoặc che giấu hành vi phạm tội của người khác Do đó, khi thực
hành quyền công tố, Kiểm sát viên được phân công trước hết phải phối
hợp với cán bộ kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam đảm bảo các đối tượng bị tạm giữ, tạm giam riêng rẽ, tránh việc các đối tượng thông cung, cản trở
hoạt động điều tra Đồng thời, Kiểm sát viên phải phối hợp với Điều tra viên hỏi cung các bị can để đánh giá tính trung thực trong lời khai cùa cácđối tượng, qua đó phân loại mức độ nguy hiểm, tính chất đồng phạm của
các đối tượng
- Nhóm các tội xâm phạm trật tự công cộng xảy ra trên địa bàn quận,
huyện đa số thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng
do đó, khi thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên phải phối họp cùng với
Cơ quan Cành sát điều tra trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với
các bị can để vừa đảm bảo việc các bị can khai báo đúng sự thật, không bỏ trốn trong suốt quá trình giải quyết vụ án, vừa đảm bảo quyền con người của các bị can bởi lẽ, đối với các bị can phạm tội thuộc trường họp ít
nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng thi việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị can phải thỏa mãn những quy định tại khoản 2 Điều 119
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Thông qua những đặc điểm đã phân tích trên, theo quan điểm của
học viên: “Thực hành quyền công to trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng là việc sử dụng quyền năng pháp lỷ mang tính quyền lực Nhà nước trong tổ tụng hình sự Trong đó, Viện kiểm sát nhân dân ban hành các văn bản cả biệt có tác dụng làm phát sinh, thay đôi hay chẩm dứt quan hệ pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án, bảo đảm cho việc truy cứu trách nhiệm đủng pháp luật hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm đen trật tự công cộng ”
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng
1.1.4.1 yếu tố về mặt pháp lý
Thực hành quyền công tố ở giai đoạn VKSND kiểm sát nhân dân là
11