Rủi ro về số lượng hàng hóa Tên hàng được coi là một phần quan trọng của điều khoản hàng hóa trong các hợp đồng mua bán, nó nêu lên chính xác đối tượng giao dịch của hợp đồng để mua bán,
TỔNG QUAN HỢP ĐỒNG
Bài tiểu luận sẽ đi vào phân tích các rủi ro có thể phát sinh hoặc có liên quan tới ba điều khoản Hàng Hóa, Giao hàng và Thanh toán trong hợp đồng xuất khẩu mặt hàng Mật hoa dừa giữa Công ty TNHH MỘT THÀNH VIÊN TRƯƠNG PHÚ VINH (Bên xuất khẩu) và Công ty PURESUN TRADING CO., LTD (Bên nhập khẩu).
Tổng quan về Hợp đồng:
1 Về nội dung về Hàng hóa:
- Tên mặt hàng xuất khẩu: Coconut sap and extract (class A)
2 Về nội dung vận tải:
- Cho phép giao hàng từng phần.
- Nơi giao hàng: cảng bất kỳ tại TP Hồ Chí Minh.
- Thời hạn giao hàng: ngày 28 tháng 03 năm 2020.
3 Về các thời hạn trong L/C:
- Thời hạn hiệu lực của L/C: ngày 21 tháng 04 năm 2020.
- Nơi hết hạn hiệu lực ở nước người xuất khẩu.
- Chiết khấu hối phiếu tại ngân hàng bất kỳ
- Hối phiếu có giá trị ngay khi xuất trình.
Nguồn: Internet Ở đây nhóm lựa chọn 3 điều khoản gồm Thanh Toán, Giao Hàng, Hàng Hóa để phân tích bởi: thứ nhất, Rủi ro thanh toán tập trung gần70% rủi ro trong quá trình tổ chức Hợp đồng Ngoại thương (người mua trả tiền rồi nhưng chưa nhận được hàng, hoặc người bán giao hàng đi rồi nhưng chưa nhận được tiền) Rủi ro trong khâu đặt booking từ hãng tàu và đóng hàng hóa vào container khi giao hàng, giao bộ chứng từ hay thời gian khi giao hàng hóa Rủi ro về hàng hóa đối với những mặt hàng yêu cầu những thông số kỹ thuật cao hay yêu cầu quá trình bảo quản hàng hóa trong quá trình vận chuyển.
ĐIỀU KHOẢN HÀNG HÓA
NHẬN DIỆN RỦI RO
2.1.1 Rủi ro về số lượng hàng hóa
Tên hàng được coi là một phần quan trọng của điều khoản hàng hóa trong các hợp đồng mua bán, nó nêu lên chính xác đối tượng giao dịch của hợp đồng để mua bán, trao đổi Do vậy nếu trong quá trình giao kết hợp đồng chỉ mô tả chung chung, đơn giản, thô sơ về tên hàng hóa mà không nêu rõ tên khoa học của hàng hóa hoặc tên quy định trong bảng mã HS thì có thể dẫn đến những cách hiểu khác nhau về hàng hóa và từ đó có thể khiến người mua từ chối nhận hàng hóa bằng cách khai thác lỗ hổng từ điều khoản tên hàng.
2.1.1.1 Rủi ro không ghi mã HS
Mặt hàng dừa tương đối có nhiều loại khác nhau, vì các sản phẩm từ cây dừa có thể được tận dụng tối đa vào các mục đích khác nhau ví dụ như cơm dừa, nước dừa là món đồ ăn, thức uống rất tốt hoặc thân thân cây dừa là một loại gỗ hiếm và còn được dùng làm các món đồ trang trí nội thất, hơn nữa rễ dừa được dùng làm thuốc để trị bệnh lỵ và tiêu chảy,
Hợp đồng sử dụng kết hợp hai phương pháp ghi tên khác nhau bao gồm ghi tên thương mại và ghi tên hàng kèm theo quy cách chính. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ ràng và đầy đủ bằng việc quy định mã HS cho tên hàng hoá, là mã số của hàng hóa xuất nhập khẩu được quy định theo Hệ thống phân loại hàng hóa do Tổ chức Hải quan thế giới phát hành có tên là "Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa" (HS – Harmonized Commodity Description and Coding System) Hệ thống mã HS được sử dụng ở mọi quốc gia trên thế giới để giúp giao dịch an toàn hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn Từ đó có thể giảm rủi ro phát sinh từ tên hàng như rủi ro về chất lượng, loại sản phẩm, phẩm chất, quy cách…
Ngoài ra, nếu không quy định rõ về việc mô tả thì người bán cũng có thể bị nhầm lẫn loại cá dẫn đến việc người mua từ chối nhận hàng vì viện lý do không giống với nhu cầu.
2.1.1.2 Rủi ro nhầm lẫn giữa tên hàng hóa
Tên hàng hóa trong hợp đồng là "COCONUT SAP AND EXTRACT (CLASS A)" có thể gây hiểu lầm khi dịch ra tiếng việt Mỗi loại đều có các đặc trưng kỹ thuật riêng đòi hỏi các bên phải có kiến thức chuyên môn và sự am hiểu về mặt hàng để có thể quy định tên hàng 1 cách chặt chẽ nhất, hạn chế đến mức tối thiểu các yếu tố có thể dẫn đến tranh chấp sau này. Đối tượng trong hợp đồng là mật hoa dừa nguyên liệu loại A Là sản phẩm tinh túy nhất của cây dừa, thu được từ việc xử lý bắp hoa dừa khi còn chưa nở Trong mật hoa dừa có chứa toàn bộ các chất dinh dưỡng để hình thành và nuôi nấng trái dừa lớn lên Trong thạch dừa nguyên liệu có chứa 12 loại vitamin và 14 loại axit amin khác nhau.
Rủi ro người bán dịch thành dừa sáp loại A do nhầm lẫn giữa từ "SAP" Dừa sáp là một phân loại dừa có quả đặc ruột, cơm dừa dày, mềm dẻo và béo hơn trái dừa thường, nước dừa đặc lại trong veo như sương sa Dừa sáp giúp thanh nhiệt, chế biến ra nhiều loại thức ăn ngon, hấp dẫn, có giá trị kinh tế khá cao Vừa giúp mọi người giải khát trong những ngày nóng nực, vừa giúp thanh lọc cơ thể, lợi tiểu, giải độc tố Dừa có tính mát cao, giúp cơ thể nhuận tràng, lợi tiểu Tốt cho hệ tiêu hóa và tuần hoàn.
2.1.2 Rủi ro về chất lượng và tiêu chuẩn hàng hóa
2.2.1.1 Rủi ro về hao hụt số lượng
Do container bị “rút ruột” trong quá trình vận chuyển Lô hàng được bán theo điều kiện CFR nên rủi ro về mất mát hư hỏng hàng hóa được chuyển giao khi hàng được đặt an toàn lên tàu Tuy nhiên đối với hàng container thì người bán chỉ kiểm soát được hàng hóa cho đến bãi CY (bãi container), khâu vận chuyển hàng từ CY ra Terminal (điểm tập kết hàng hóa) để xếp lên tàu đi nước ngoài hoàn toàn do người vận tải đảm nhiệm hoặc do bộ phận cảng tiến hành, người bán sẽ không kiểm soát được dẫn đến tăng rủi ro cho người bán.
2.2.1.2 Rủi ro về hiểu sai quy ước phân cách chữ số hàng nghìn và thập phân
Theo luật Việt Nam, tại điểm b khoản 2 Điều 3 Thông tư 68/2019/TT-BTC quy định về chữ số như sau:
- Cách 1: Sau chữ số hàng nghìn, triệu, tỷ, nghìn tỷ, triệu tỷ, tỷ tỷ phải đặt dấu chấm (.), nếu có ghi chữ số sau chữ số hàng đơn vị phải đặt dấu phẩy (,) sau chữ số hàng đơn vị.
- Cách 2: Sử dụng dấu phân cách số tự nhiên là dấu phẩy (,) sau chữ số hàng nghìn, triệu, tỷ, nghìn tỷ, triệu tỷ, tỷ tỷ và sử dụng dấu chấm (.) sau chữ số hàng đơn vị trên chứng từ kế toán.
Tuy nhiên, thực tế sử dụng vẫn còn rất lộn xộn khi mà các bên vẫn có thể nhanh chóng chuyển đổi.
2.2.1.3 Rủi ro về khả năng gom đủ hàng hóa
Căn cứ hợp đồng, sáp dừa có quy định độ PH đúng bằng 3.2 độ, kích thước và hàng loại A nên có thể là gom không đủ hàng hoặc hàng không đáp ứng đúng yêu cầu chất lượng hàng hóa nêu ra trong hợp đồng Hợp đồng được ký kết vào năm 2020, giai đoạn này dịch Covid vẫn còn đang mạnh mẽ ở nhiều quốc gia, chuỗi cung ứng bị đứt gãy khiến cho việc khai thác, vận chuyển hàng hóa gặp nhiều khó khăn, bên xuất khẩu cũng có thể gặp rủi ro trong việc chuẩn bị hàng đem giao.
2.2.1.4 Rủi ro về ấn định dung sai
Sản phẩm sáp dừa và những sản phẩm khác từ sáp dừa cũng có nguy cơ bị hao hụt trong quá trình vận chuyển (yếu tố môi trường, bảo quản) nên việc không quy định dung sai trong hợp đồng có thể gây ra bất lợi cho hai bên trong toàn bộ quá trình thực hiện hợp đồng do không đáp ứng điều khoản về số lượng hàng hóa.
Bên cạnh đó, hợp đồng không quy định người chọn dung sai ( “at seller’s option” hay “at buyer's option”) trong hợp đồng thương mại quốc tế có thể dẫn đến rủi ro về tranh chấp giữa người bán và người mua trong trường hợp giá cả hàng hóa trên thị trường có nhiều biến động Cụ thể, khi giá cả trên thị trường tăng cao hơn so với giá trên hợp đồng, người mua có xu hướng chọn dung sai cộng và người bán chọn dung sai trừ để có lợi cho mình Trong trường hợp này có thể xảy ra tranh chấp giữa hai bên
Theo đó, trong hợp đồng này không có quy định cả dung sai và bên ấn định dung sai, rất có thể xảy ra tranh chấp trong quá trình buôn bán, trao đổi hàng hóa.
Giấy chứng nhận số lượng và chất lượng hàng hóa là chứng từ nhằm kết luận toàn bộ lô hàng sau khi sản xuất có phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu và cam kết trong hợp đồng hay không Một trong những điều kiện để được cấp giấy chứng nhận này, đặc biệt là với yêu cầu ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu hiện nay là chứng minh được nguồn gốc của tất cả lượng hàng hóa trong lô đó, hay cung cấp C/O hợp lệ.
Hợp đồng trên đây chỉ quy định về ℅ là một yêu cầu bắt buộc trong bộ chứng từ cần cung cấp, chưa đề cập tới form của ℅ do đó có thể dẫn đến việc, giấy chứng nhận là phù hợp ở Việt Nam nhưng vì không dùng đúng loại ℅ quy định mà không được Hải quan Đài Loan chấp nhận là đã được cấp giấy chứng nhận Bên cạnh đó, hợp đồng cũng không quy định rõ cơ quan nào cấp ℅ và giấy chứng nhận số lượng, chất lượng hàng hóa Điều này có thể dẫn tới những bất đồng trong quan điểm mua và bán của hai bên, khi mà việc thực hiện cung ứng hàng hóa theo hợp đồng không được bên thứ 3 xác nhận để làm cơ sở giải quyết tranh chấp về sau
2.1.3 Rủi ro về tên hàng hóa
2.3.1.1 Rủi ro về tiêu chuẩn chất lượng
PHÂN TÍCH RỦI RO
2.2.1 Rủi ro về số lượng hàng hóa
Mô hình 5 Whys kết hợp Mô hình xương cá cho rủi ro về số lượng.
Why 1 Why 2 Why 3 Why 4 Why 5
Method Hao hụt số lượng Container bị “rút ruột” Bán theo điều kiện
-Cước phí phù hợp hơn
-Khả năng thực hiện hợp đồng của người bán
Thiếu sót trong đào tạo nghiệp vụ chuyên môn
Chưa được đào tạo chuyên môn
Cơ quan hải quan không chấp nhận giấy chứng nhận
Chứng từ không hợp lệ
Do quy định của nước nhập khẩu
Người bán khai báo thiếu thông tin
Sai sót khi soạn hợp đồng
Bên cấp không uy tín
Man Không đáp ứng đủ số lượng hàng hóa
Nghiệp vụ gom hàng chưa tốt
Không tìm được người cung ứng hàng kịp lúc
Thời gian chuẩn bị hàng quá ngắn
Không chú ý thời gian tìm hàng
Chưa có nhiều đối tác
Nhà cung ứng chuẩn bị không đủ hàng
Dịch covid làm gián đoạn
Nhà cung ứng vô Ít giao dịch
21 trách nhiệm Lần đầu giao dịch
Hàng hóa bị giảm chất lượng
Tàu gặp sự cố (cháy, chìm)
Sơ suất của thuyền viên
Công tác xếp dỡ sơ sài
Thiếu nguồn nguyên vật liệu đầu vào
Dịch covid làm gián đoạn nguồn cung nguyên vật liệu
Thiếu hụt lao động để sản xuất
Dịch covid phải giãn cách xã hội
Hiểu sai quy ước phân cách chữ số hàng nghìn và thập phân
Thiếu chặt chẽ khi quy định trong hợp đồng
Thiếu sót trong lúc kiểm tra hợp đồng
Không nắm rõ sự khác biệt
-Chưa được đào tạo chuyên môn
-Thiếu sót trong đào tạo nghiệp vụ chuyên môn
-Không nhớ chuyên môn Chưa rõ dung sai và người chọn dung sai
Thiếu sót trong lúc kiểm tra hợp đồng
2.2.2 Rủi ro về chất lượng và tiêu chuẩn hàng hóa
Dựa theo phương pháp 5 whys, nhóm có được bảng dưới đây:
Why 1 Why 2 Why 3 Why 4 Why 5
Không đảm bảo môi trường bảo quản luôn ở mức quy chuẩn
Nhân viên thiếu kỹ thuật, trình độ chuyên môn
Nhân viên không được đào tạo bài bản
Doanh nghiệp không chú trọng đến việc đào tạo đội ngũ nhân viên
Tốn thời gian, chi phí, nhân công đào tạo
Thiếu sót trong quá trình tuyển dụng
Nội bộ quản lý còn nhiều bất cập
Trang thiết bị không đảm bảo
Thiếu vốn đầu tư Không huy động được nguồn vốn đầu tư mới
Uy tín của doanh nghiệp không tốt
Nguồn vốn đầu tư đã được sử dụng với mục đích khác
Doanh nghiệp chỉ chú trọng vào các khâu Marketing, thực hiện chiến dịch tìm kiếm khách hàng mới, cạnh tranh với đối thủ … chưa giành mối quan tâm đủ lớn đến nâng cao chất lượng, trang thiết bị cần thiết
Thiết bị bảo quản lỗi thời, không đáp ứng điều kiện môi trường cần thiết
Hết thời gian sử dụng nhưng không được bảo trì, thay mới
Tâm lý chủ quan từ phía người bán
Do sự chủ quan, bất cẩn của người nhận nhiệm vụ đảm bảo chất lượng
Người lao động bất mãn với chính sách đãi ngộ của người bán
Người bán không đưa ra quy định cụ thể đối với quyền lợi và trách nhiệm của mỗi vị trí công việc
Thiếu kinh nghiệm trong việc quản lý con người
Nhân viên không nhận biết được tính nghiêm trọng của vấn đề
Không được đào tạo bài bản
Người bán sử dụng vượt mức chất hóa học
Người bán chưa tìm hiểu kỹ càng về hàm lượng chất bảo quản theo quy định
Thiếu kiến thức chuyên môn
Cho rằng hàm lượng chất bảo quản đối với các loại hàng hóa khác nhau là như nhau
Không có sự hiểu biết, tìm hiểu về mặt hàng kinh doanh
Xuất phát từ tâm lý chủ quan, lơ là cả về phía nhân viên và người quản lý, điều hành
Gian lận trong quá trình sản xuất nhằm thu được nhiều lợi nhuận
Sự khan hiếm nguồn hàng
Mất mùa Điều kiện môi trường tự nhiên Đạo đức nghề nghiệp
Người bán phụ thuộc hoàn toàn vào một nhà cung ứng
Người quản lý thiếu kiến thức chuyên môn rủi ro
Nhận được yêu cầu từ cấp trên không được tìm kiếm nhà cung cấp khác
Bảo thủ không chấp nhận sự thay đổi
Sơ suất trong việc sử Bản chất người đó Khâu tuyển dụng còn
25 dụng chất bảo quản không có sự cẩn thận tỉ mỉ nhiều sai sót
Mệt mỏi do không có sự phân chia công việc phù hợp giữa các nhân viên
Sự quản lý, phân công công việc chưa được chặt chẽ
Sự không quy định chặt chẽ trong điều khoản chất lượng sản phẩm mẫu, hàng hóa dẫn đến hiểu nhầm và khác biệt giữa hợp đồng và thực tế
- Các bên không quy định kết quả giám định tại nước nào sẽ có giá trị chung thẩm
- Các bên không quy định cụ thể phương pháp giám định hàng hóa
Thiếu chuyên môn, hiểu biết về nghiệp vụ logistics và soạn thảo hợp đồng
-Chưa nắm được các quy định về nhập khẩu hàng hóa, chất lượng an toàn thực phẩm và nhiều quy tắc đặc thù của thị trường
- Tài chính doanh nghiệp không mạnh nên khó thuê được nhân viên có chuyên môn vững
- Không đầu tư vào nguồn lực con người, không có các chương trình training phát triển nhân sự
Doanh nghiệp không chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực
Không chú trọng các rủi ro liên quan đến quy định chất lượng sản phẩm mẫu trong hợp đồng
-Xem nhẹ mức ảnh hưởng của rủi ro này
- Chú trọng vào các yếu tố khác
Thay đổi nhà cung cấp nguyên vật liệu sau khi đã gửi sản phẩm mẫu có thể dẫn đến khác biệt trong sản phẩm mẫu và hàng hóa thực gửi
- Do bị nhà cung cấp ép giá khiến doanh nghiệp bị thua lỗ
- Nhà cung cấp nguyên vật liệu cho doanh nghiệp bị phá sản
Người bán phụ thuộc vào duy nhất một hoặc một vài (số lượng nhỏ) nhà cung cấp
Sự thiếu chuyên môn của bộ phận quản trị rủi ro của doanh nghiệp
Hàng hóa không được nhập khẩu do không đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật của nước người nhập khẩu
Trong hợp đồng không quy định rõ ràng về tiêu chuẩn kỹ thuật của nước người mua tại thời điểm giao kết hợp đồng
Người mua và người bán chưa cập nhật những tiêu chuẩn của nước người mua tại thời điểm giao kết hợp đồng
Các bên chưa chủ động cập nhật mà chỉ áp dụng các quy định từ các giao dịch cũ
Do chủ quan, không kiểm tra kỹ các quy định hiện hành
Thời điểm thay đổi diễn ra rất gần hoặc sau thời điểm giao kết hợp đồng nên chưa kịp chỉnh sửa
Những quy định được áp dụng trong quá trình hàng hóa được vận tải cho người mua
Người bán không chứng minh được khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của nước người mua
Không có đủ các loại giấy tờ chứng minh mặt hàng đủ điều kiện về tiêu chuẩn kỹ thuật để nhập khẩu
Phía người bán làm thất lạc giấy tờ chứng minh
Nhân viên sơ suất, thiếu kinh nghiệm, không giữ gìn giấy tờ cần thận và làm mất trong quá trình giao hàng
Phía người bán không đáp ứng được một số hoặc toàn bộ các tiêu chuẩn
Cơ sở sản xuất chưa trang bị kỹ thuật, công nghệ đủ tốt
Lao động sản xuất chưa đủ trình độ, tay nghề yếu
Nguồn cung nguyên vật liệu không đạt chất lượng theo yêu cầu; không có đầu vào rõ ràng
Bao bì, đóng gói không đúng quy cách
Không có điều khoản về đóng gói trong hợp đồng
Chủ quan trong việc lập hợp đồng giữa hai bên
Người mua và người bán thiếu kinh nghiệm thiết lập hợp đồng
Người mua và người bán là những doanh nghiệp xuất nhập khẩu mới trên thị trường
Chương trình đào tạo về kỹ năng nghiệp vụ của hai bên chưa thực sự tốt
Người mua và người bán chỉ dựa trên những hợp đồng trước đó của hai bên
Quy định rất sơ sài, không rõ ràng về tiêu chuẩn bao bì và đóng gói trong hợp đồng
Người mua và người bán có sự ngầm hiểu khi ký hợp đồng
Hai bên không nắm được có sự khác biệt trong các tiêu chuẩn bao bì khác nhau
Chưa vững nghiệp vụ đàm phán hợp đồng
Chủ quan trong việc đàm phán giữa hai bên
Chất lượng đóng gói, bao bì kém
Nguyên vật liệu sử dụng để đóng góp không đạt tiêu chuẩn, kém chất lượng
Sai sót trong công tác giám định, kiểm tra đầu vào
Không có sự tìm hiểu kỹ về nguồn cung bao bì
Quy trình kiểm tra còn nhiều lỗ hổng
Máy móc thiết bị gặp trục trặc do lâu ngày không bảo trì
Từ đó, nhóm xây dựng mô hình xương cá để phân tích rõ ràng hơn những rủi ro xảy ra:
2.2.3 Rủi ro về tên hàng hóa
Mô hình 5 WHYs phân tích rủi ro liên quan đến điều khoản tên hàng
Why 1 Why 2 Why 3 Why 4 Why 5
Man Ghi sai tên hàng hóa Sai sót trong quá trình soạn thảo
Không tập trung vào công việc
Làm việc trong thời gian dài, đầu óc thiếu tập trung Áp lực công việc Công việc quá nhiều, phải hoàn thành trong thời gian ngắn.
Không nắm rõ loại hàng hóa đang buôn bán
Không có sự nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi hình thành hợp đồng
Không thực hiện nghiêm túc các bước
Tên hàng gây nhầm lẫn, không cụ thể
Cho rằng đối tác hiểu được cách ghi Đối tác làm ăn mua bán lâu năm
Giao thương nhiều lần hình thành thói quen của người mua và người bán
Trình độ thấp Chưa có kinh nghiệm hoặc chưa được đào tạo bãi bản
Khâu tuyển dụng mắc lỗi, công ty không tổ chức tập huấn
Bất đồng ngôn ngữ trong cách dịch tên hàng
Không rõ ràng trong quá trình thỏa thuận
Không có sự xác nhận giữa hai bên về loại hàng hóa đang mua bán
Không thực hiện đủ quy trình, coi nhẹ tầm quan trọng của khâu này.
Không biết cách hiểu khác của từ ngữ ở nước đối tác
Không tìm hiểu cẩn thận
Management Không có khâu quản lý trong quá trình hình thành hợp đồng
Cho rằng quá trình này không cần thiết
Thiếu kinh nghiệm thực tiễn Doanh nghiệp mới thành lập, chưa được đào tạo cũng như hoạt động nhiều
Quy trình viết tên không được giám sát kỹ
Bản thân người quản lý mắc lỗi
Thiếu kinh nghiệm Không được đào tạo chuyên môn
Lơ là trong quá trình làm việc Coi nhẹ rủi ro do điều khoản mang lại
Environment Ghi sai tên hàng hóa Không tập trung, nghiêm túc trong quá trình soạn thảo
Môi trường làm việc thiếu tập trung
Nhân viên, đồng nghiệp ồn ào Ô nhiễm tiếng ồn từ bên ngoài
Thói quen của nhân viên Văn hóa làm việc của nhân viên chủ quan, coi nhẹ rủi ro nhỏ
Từ đó nhóm đưa ra biểu đồ xương cá được tổng hợp từ mô hình 5 Whys, như sau:
ĐO LƯỜNG RỦI RO
2.3.1 Rủi ro về số lượng hàng hóa
Rủi ro nhầm lẫn tên hàng hóa
Rủi ro không ghi mã HS
Thông qua bảng trên, nhóm có kết quả cụ thể về giá trị rủi ro định lượng sau khi đo lường và mức độ ưu tiên như sau:
Tên rủi ro Giá trị tính toán =
Rủi ro nhầm lẫn tên hàng 2 x 5 = 10 2
Rủi ro không ghi mã HS 3 x 4 = 12 1
2.3.2 Rủi ro về chất lượng và tiêu chuẩn hàng hóa
Nhóm đã thực hiện đo lường mức độ dựa trên mức độ nguy hiểm và tần suất xuất hiện của những rủi ro đó, kết quả được thể hiện qua bảng sau:
Cao (4) Trung bình (3) Thấp (2) Rất thấp
Rủi ro về khả năng gom đủ hàng hóa
Rủi ro về cấp giấy chứng nhận chất lượng và số lượng hàng hóa.
Nghiêm trọng (4) Rủi ro về hao hụt số lượng
Trung bình (3) Rủi ro về ấn định dung sai Rủi ro về hiểu sai quy ước phân cách chữ số hàng nghìn và thập phân Ít nghiêm trọng (2)
Từ bảng trên, ta rút ra bảng giá trị rủi ro định lượng và mức độ ưu tiên như sau:
Tên rủi ro Giá trị định lượng =
1 Rủi ro về hao hụt số lượng 4 x 3 = 12 3
2 Rủi ro về hiểu sai quy ước phân cách chữ số hàng nghìn và thập phân 3 x 2 = 6 5
3 Rủi ro về khả năng gom đủ hàng hóa 5 x 4 = 20 1
4 Rủi ro về cấp giấy chứng nhận chất lượng và số lượng hàng hóa 5 x 3 = 15 2
5 Rủi ro về ấn định dung sai 3 x 3 = 9 4
2.3.3 Rủi ro về tên hàng hóa Để đo lường mức độ rủi ro, nhóm đã thực hiện đo lường dựa trên mức độ nguy hiểm và tần suất xuất hiện của rủi ro đó Kết quả cụ thể như sau:
Rất cao (5) Cao (4) Trung bình (3) Thấp (2) Rất thấp (1)
Rất cao (5) Rủi ro về tiêu chuẩn hàng hóa
Cao (4) Rủi ro về mẫu đi kèm Rủi ro về hàng rào kỹ thuật
Rủi ro về đóng gói
Trung bình (3) Rủi ro về cách thức kiểm tra, giám định hàng hóa
Thông qua bảng trên, nhóm có kết quả cụ thể về giá trị rủi ro định lượng sau khi đo lường và mức độ ưu tiên như sau:
Tên rủi ro Giá trị tính toán = Mức độ x Tần suất Thứ tự ưu tiên
Rủi ro liên quan đến tiêu chuẩn chất lượng 5 x 4 = 20 1
Rủi ro liên quan đến mẫu đi kèm 4 x 4 = 16 2
Rủi ro về hàng rào kỹ thuật 4 x 3 = 12 3
Rủi ro liên quan đến bao bì & đóng gói 4 x 3 = 12 3
Rủi ro về cách thức kiểm tra giám định hàng hóa 3 x 3 = 9 4
ĐÁNH GIÁ RỦI RO
2.4.1 Rủi ro về số lượng hàng hóa
2.1.4.1 Rủi ro khi không ghi mã HS:
Về tần suất: 3/5 (trung bình)
Xảy ra phụ thuộc vào người bán và người mua Việc không quy định rõ mã HS có thể giúp cho họ lợi dụng các kẽ hở từ việc đó để giao hàng như người bán muốn và không nhận hàng nếu như không đúng với yêu cầu của người mua.
Thường xảy ra trong trường hợp người mua không thực sự muốn mua bởi vì hàng hóa đó có khả năng giảm giá trong tương lai hoặc trường hợp người bán không có hàng như người mua mong đợi Nên việc quy định không rõ ràng sẽ giúp cho họ lợi dụng những kẽ hở để từ chối thanh toán hoặc ép buộc chấp nhận thanh toán.
Mức độ nghiêm trọng: 4/5 (nghiêm trọng)
Tên hàng trong hợp đồng chỉ được mô tả tên thương mại mà không ghi rõ ràng tên khoa học hay mã HS của hàng hóa dẫn đến một nguy cơ lớn cho việc nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu có cách hiểu khác nhau về tên hàng, do vậy người mua có thể lợi dụng kẽ hở trong tên hàng hóa để từ chối nhận hàng Hoặc là người bán bị nhầm lẫn loại hàng cần cung cấp và người mua từ chối bằng cách viện lý do hàng không giống với đã thỏa thuận
Hậu quả có thể xảy ra là người mua từ chối nhận hàng hoặc kiện người bán không hoàn thành nghĩa vụ theo như hợp đồng Điều này gây ra thiệt hại lớn cho nhà xuất khẩu và phát sinh các chi phí lưu kho, lưu bãi hoặc chi phí vận chuyển trở lại về Việt Nam Ngoài ra, trong trường hợp kiện tụng, còn phải tốn thêm chi phí mở phiên tòa, thời gian kiện tụng lâu, ảnh hưởng đến việc quay vòng vốn của doanh nghiệp, Hoặc là bởi vì chi phí vận chuyển về lại Việt Nam quá cao buộc người bán phải bán rẻ lại cho một đối tác khác tại nước người mua, khiến người bán mất đi một khoản lợi nhuận thậm chí là bị lỗ.
2.1.4.2 Rủi ro nhầm lẫn tên hàng
Rủi ro nhầm lẫn tên của hai loại hàng “dừa sáp” và “mật hoa dừa” ở mức thấp Vì dừa sáp có giá thành tương đối cao hơn so với các loại dừa khác, do vậy khi kiểm tra giá trị hợp đồng thì người bán có thể dễ dàng nhận ra rằng mặt hàng đang buôn bán không phải là dừa sáp Cùng với đó là việc người bán và người mua đã có mẫu đối với đối tượng giao dịch, do vậy việc nhầm lẫn giữa hai loại dừa là tương đối thấp.
Về mức độ nghiêm trọng: 5/5 (rất nghiêm trọng)
Rủi ro này được đánh giá nghiêm trọng khi thiệt hại có thể vượt trên giá trị hợp đồng Nguyên nhân là vì khi có nhầm lẫn về loại hàng hóa buôn bán, hai bên không có sự đồng nhất trong giao kết hợp đồng, tức là hợp đồng không có giá trị Ngay khi cập cảng, người mua kiểm tra hàng và phát hiện có sự sai lệch về hàng hóa theo yêu cầu, các thiệt hại về việc bị từ chối thanh toán cũng như chi phí vận chuyển, chi phí phát sinh sẽ do người bán chịu toàn bộ Đặc biệt khi diễn ra tranh chấp, phải ra tòa thì phần thua thiệt sẽ về phía người bán nhiều hơn.
Trong trường hợp người bán nhầm lẫn đối tượng mua bán là mật hoa dừa thành dừa sáp, một loại quả có giá trị kinh tế cao và quý hiếm bởi đặc tính kén đất và khó trồng của nó Để có thể gom một lượng lớn dừa sáp, người bán phải đầu tư rất nhiều về tiền bạc lẫn thời gian do vậy việc không nhận hàng của người mua sẽ dẫn đến một khoản lỗ tương đối lớn.
2.4.2 Rủi ro về chất lượng và tiêu chuẩn hàng hóa
2.2.4.1 Rủi ro về khả năng gom đủ hàng hóa:
Về tần suất: Hợp đồng yêu cầu hàng mật hoa dừa loại A và độ PH là đúng 3.2 độ, gây ra rủi ro không gom đủ hàng đáp ứng chất lượng yêu cầu của khách hàng Nguyên nhân có thể là phương pháp và công nghệ khai thác, chế biến sản phẩm chưa được đồng bộ nên chất lượng sản phẩm có thể không đồng đều Bên cạnh đó, tại thời điểm hợp đồng được ký kết và thực hiện, dịch bệnh covid 19 mới bùng ra và diễn biến phức tạp ở nhiều nước, đặc biệt là khu vực Châu Á, thêm vào đó các nước chưa có những chính sách kinh tế phù hợp để phản ứng kịp thời với dịch bệnh, vì vậy mà chuỗi cung ứng hàng hóa bị đứt gãy nhiều chỗ, dẫn đến một rủi ro không thể gom đủ hàng hóa để thực hiện hợp đồng Nhìn chung, mặc dù công ty có nguồn cung mật hoa dồi dào từ các vựa dừa Bến Tre nhưng với tình hình covid trong và ngoài nước lúc bấy giờ, tần suất rủi ro không gom đủ hàng là khá cao.
⇒ Đánh giá tần suất (4) đồng cho người mua, chịu các khoản phạt, chi phí cho kiện tụng và đặc biệt là mất đi uy tín, đối tác của công ty trong tương lai
⇒ Đánh giá mức độ nghiêm trọng (5)
2.2.4.2 Rủi ro về cấp giấy chứng nhận chất lượng và số lượng hàng hóa
Về tần suất: Rủi ro về cấp giấy chứng nhận chất lượng và số lượng hàng hóa xảy ra thường xuyên với các hợp đồng ngoại thương do nhiều nguyên nhân: hợp đồng không quy định cơ quan cụ thể cấp giấy chứng nhận số lượng và chất lượng hàng hóa, không thống nhất mẫu ℅ được sử dụng đối với hàng hóa với đối tác nhập khẩu từ đó ảnh hưởng đến việc chứng minh nguồn gốc của lô hàng, Tuy nhiên, vì rủi ro này có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng nên cũng được các doanh nghiệp chú trọng đầu tư nguồn lực để giảm thiểu rủi ro
⇒ Đánh giá tần suất rủi ro (3)
Về mức độ nghiêm trọng: Rủi ro này gây ra thiệt hại lớn với các bên trong hợp đồng do có thể xảy ra kiện tụng và phát sinh nhiều khoản chi phí lớn Bên mua hàng cũng có thể từ chối nhận hàng do hàng hóa không có giấy chứng nhận về chất lượng và số lượng, coi như không đạt tiêu chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn của chính người mua đó từ đó, nguy cơ phải đền bù hợp đồng, giảm uy tín của thương hiệu là rất lớn
2.2.4.3 Rủi ro về hao hụt số lượng
Về tần suất: Tần suất rủi ro hao hụt về số lượng hàng hóa xảy ra thường là không cao vì hiện nay, quy trình và công nghệ đóng gói, xếp dỡ hàng hóa ngày càng được tối ưu hóa và được khắc phục những hạn chế nên việc hàng hóa bị hao hụt trong quá trình làm hàng cũng được giảm thiểu Tuy nhiên, vì theo hợp đồng lô hàng được vận chuyển theo CFR nên trong lúc bên hãng tàu làm hàng, có thể không mẫn cán làm hao hụt số lượng hàng hóa
Về mức độ nghiêm trọng: Trong trường hợp hao hụt hàng hóa xảy ra vượt quá mức hao hụt được chấp nhận, có thể xảy ra tranh chấp giữa hai bên, tốn thời gian và tiền bạn để chứng minh lỗi là do nhà xuất khẩu hay do bên hãng tàu vận chuyển Nhìn chung, nếu hao hụt hoặc giá trị hàng hóa không quá lớn thì việc này có thể được giải quyết được mà không có tranh chấp và kiện tụng tuy nhiên vẫn phát sinh nhiều khoản chi phí, bồi thường cao bất lợi cho nhà xuất khẩu.
⇒ Đánh giá mức độ nghiêm trọng (4)
2.2.4.4 Rủi ro về ấn định dung sai
Về tần suất: rủi ro về việc không ấn định dung sai hoặc không quy định người ấn định dung sai trong trong hợp đồng buôn bán ngoại thương là khá thường xuyên Tuy nhiên, nếu như đội ngũ nhân viên có am hiểu về mặt hàng xuất khẩu của công ty thì sẽ giảm thiểu được tần suất
39 mà rủi ro này xảy ra, và những doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay đã quan tâm về điều khoản dung sai hơn để tránh những hậu quả có thể xảy ra về sau
⇒ Đánh giá tần suất rủi ro (3)
ỨNG PHÓ RỦI RO
2.5.1 Rủi ro về số lượng hàng hóa
Tên hàng cần được ghi một cách rõ ràng, chi tiết, dễ hiểu để tránh gây nhầm lẫn, hiểu sai trong quá trình giao kết hợp đồng cũng như quá trình chuẩn bị hàng Do vậy nhóm đề xuất một số biện pháp nhằm né tránh rủi ro đối với điều khoản tên hàng:
- Ghi rõ ràng mã HS của mặt hàng đang buôn bán.
- Cần bổ sung các đặc điểm vào tên hàng như công dụng chính, đặc điểm chính, xuất xứ, vụ mùa.
- Tên hàng kèm theo tên hãng sản xuất.
- Tên hàng kèm theo quy cách chính của hàng hoá.
- Hoặc kết hợp tất cả các cách trên.
Ngoài ra khi tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng, hai bên cần thống nhất rõ về cách hiểu tên hàng để tránh gây nhầm lẫn và kiểm tra một cách cẩn thận tên hàng trước khi ký hợp đồng để tránh sai sót.
Rà soát hợp đồng kỹ càng trước khi ký nhằm giảm tần suất rủi ro có thể xảy ra hết mức có thể.
Tìm hiểu một thị trường dự phòng hoặc đối tác có tiềm năng tại Đài Loan phòng khi trong trường hợp người mua không nhận hàng thì người bán có thể bán lại cho đối tác này tại Đài Loan để giảm chi phí vận chuyển trở lại Việt Nam.
Trích lập quỹ dự phòng để giảm bớt thiệt hại chi phí trong trường hợp tổn thất do bên mua không nhận hàng và từ chối thanh toán, hoặc có thể chuyển giao rủi ro bằng cách mua bảo hiểm cho lô hàng đó.
2.5.2 Rủi ro về chất lượng và tiêu chuẩn hàng hóa
- Thay điều khoản CFR bằng điều khoản CPT để tránh rủi ro mất mát hàng hóa.
- Quy định rõ và thống nhất hệ phân cách chữ số hàng nghìn và hàng thập phân trong hợp đồng.
- Thiết lập nhiều mối quan hệ lâu dài với các nhà cung ứng để đảm bảo nguồn hàng ổn định.
- Quy định cụ thể về dung sai của hàng hóa (phần trăm hay chữ số) và người có quyền chọn dung sai (at Seller’s option hay at Buyer’s option) Các từ như “approximately” hay “about” không nên được sử dụng nếu như chưa có thói quen mua bán giữa 2 doanh nghiệp trên.
- Quy định và phân biệt rõ ràng giữa các thuật ngữ dung sai (Tolerance) và hao hụt tự nhiên (Fair wear and tear accepted).
- Quy định cụ thể địa điểm kiểm định chất lượng đi kèm số lượng tại cảng đi và tái kiểm định tại cảng đến.
- Quy định thêm cơ quan cấp giấy chứng nhận chất lượng và số lượng cho hàng hóa, ở Việt Nam thì có thể là SGS hoặc Vinacontrol.
- Quy định rõ chỉ chịu trách nhiệm mất mát hàng hóa đến bãi CY.
- Quy định kết hợp cả 2 hệ thống phân cách đều sẽ cùng được hiểu như thế nào bằng chữ một cách rõ ràng.
- Nâng cao mối quan hệ kinh doanh từ các công ty khai thác dừa hoặc kinh doanh thương mại sáp dừa cũng như đội ngũ chuyên môn năng lực để đối phó các trường hợp như chuỗi cung ứng không được đảm bảo.
- Quy định rõ về điều khoản phạt hợp đồng khi giao hàng sai khác vượt quá dung sai cho phép.
- Thỏa thuận với người mua nhằm xác định dung sai của hàng hóa một cách hợp lý (theo tỷ lệ %, theo thị trường hoặc dựa trên tập quán bán hàng trong các giao dịch trước).
- Xác định khối lượng/số lượng hàng hóa trước khi giao hàng hoặc thuê, sử dụng một bên thứ ba làm trung gian kiểm định khối lượng/số lượng hàng hóa.
- Quy định hóa đơn tiền hàng sẽ được phát hành căn cứ trên số lượng/khối lượng hàng mà người mua thực nhận tại cảng đến trong trường hợp có sự sai khác giữa số lượng hàng thực nhận và số lượng hàng quy định trong hợp đồng.
- Khai báo hải quan một cách trung thực và đồng thời chuẩn bị đầy đủ giấy tờ hợp lệ cho việc khai báo.
- Thỏa thuận đầy đủ và ký kết những bản hợp đồng rõ ràng về việc các rủi ro như số lượng xảy ra sai sót thì sẽ phân bổ trách nhiệm như thế nào, hàng hoá bị hư hỏng hay chưa đúng yêu cầu kỹ thuật thì các bên nên giảm giá hay tìm người mua thứ ba.
- Yêu cầu bên phía người mua kiểm tra kỹ các bộ luật của Pháp nhằm tìm ra các giấy tờ không được chấp nhận khi nhập khẩu sáp dừa để bên phía người bán không mắc những lỗi này.
- Thương lượng hoặc trao đổi với người mua về việc bổ sung số lượng hàng hóa giao thiếu hay giảm giá cả của hàng hóa dư ra so với dung sai, hoặc trong trường hợp không quy định dung sai, để tránh vi phạm hợp đồng dẫn đến tổn thất lớn hơn Trong trường hợp người mua không nhận hàng thì người bán cần tìm kiếm đối tác dự phòng và kho bãi để có thể lưu trữ hàng hóa.
- Tự khắc phục: Sử dụng quỹ dự phòng để khắc phục chi phí trong trường hợp tổn thất do không quy định hay quy định dung sai không phù hợp hoặc các rủi ro xảy ra gây tổn thất đến số lượng/khối lượng hàng hóa.
- Chuyển giao rủi ro: Mua bảo hiểm hàng hóa
- Trung hòa rủi ro: Có thể thực hiện các giao dịch tương lai ở sở giao dịch nhằm trung hòa các rủi ro xảy ra nếu người mua không nhận hàng thì có thể nhanh chóng bán cho bên thứ ba.
2.5.3 Rủi ro về tên hàng hóa
2.3.5.1 Rủi ro bảo quản, dễ bị hư hỏng nếu không đảm bảo đúng điều kiện bảo quản a Né tránh rủi ro
- Kiểm tra các điều khoản quy định về điều kiện bảo quản đề ra trong hợp đồng (độ PH của môi trường luôn đảm bảo ở mức 3.2) trong trường hợp người bán nhận thấy rủi ro môi trường bảo quá cao vượt quá khả năng thực hiện Khi đó, người bán có thể đề xuất với người mua về việc điều chỉnh lại nội dung hợp đồng cho phù hợp hơn.