1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu phát triển trò chơi vận động dân gian và thể thao dân tộc cho sinh viên khối sư phạm trường đại học tây bắc

247 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 247
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA,THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO DƯƠNG XUÂN LƯỢNG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG DÂN GIAN VÀ THỂ THAO DÂN TỘC CHO SINH VIÊN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA,THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

DƯƠNG XUÂN LƯỢNG

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG

DÂN GIAN VÀ THỂ THAO DÂN TỘC CHO SINH VIÊN KHỐI SƯ

PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

HÀ NỘI, NĂM 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA,THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

DƯƠNG XUÂN LƯỢNG

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG

DÂN GIAN VÀ THỂ THAO DÂN TỘC CHO SINH VIÊN KHỐI SƯ

PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Tên ngành: Giáo dục học

Mã ngành: 914 01 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 TS Lê Anh Thơ

2 PGS TS Vũ Đức Thu

HÀ NỘI, NĂM 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa tác giả nào công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Dương Xuân Lượng

Trang 4

Danh mục ký hiệu viết tắt

Danh mục các biểu bảng, biểu đồ trong luận án

1.2 Quan điểm của Đảng và nhà nước về công tác GDTC trong

thời kỳ đổi mới

1.5 Đặc điểm của giáo dục thể chất và thể thao trường học 20

1.5.2 Hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa 21

1.6.1 Ý nghĩa của trò chơi đối với đời sống 23

1.6.3 Mục đích và lợi ích giáo dục của trò chơi 26

1.7 Trò chơi dân gian và thể thao dân tộc là một phương tiện giáo

1.8.3 Đặc trưng tâm lý sinh viên các dân tộc thiểu số 33

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC

NGHIÊN CỨU

44

Trang 5

2.1.2 Khách thể nghiên cứu 44

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 45

3.1 Đánh giá thực trạng công tác GDTC cho sinh viên khối sư

phạm của trường Đại học Tây Bắc

53

3.1.1 Xác định các yếu tố đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể

chất và thể thao của Trường Đại học Tây Bắc

53

3.1.2 Thực trạng sự quan tâm của lãnh đạo Nhà trường đối với công

tác GDTC và thể thao của Trường Đại học Tây Bắc

57

3.1.3 Thực trạng Chương trình GDTC nội khoá và kế hoạch thể thao

ngoại khóa của Trường Đại học Tây Bắc

58

3.1.4 Thực trạng kết quả học lực môn học Giáo dục thể chất (Tín chỉ

1) và thực trạng kết quả hoạt động thể thao ngoại khóa của sinh

viên khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc

59

3.1.5 Thực trạng thể lực sinh viên khối sư phạm Trường Đại học Tây

Bắc so với Chuẩn thể lực QĐ 53/2008/BGDĐT

61

3.1.6 Kết quả khảo sát động cơ, nhu cầu rèn luyện thể chất của sinh

viên khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc

62

3.1.7 Kết quả khảo sát hứng thú và nhận thức rèn luyện thể chất của

sinh viên khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc

3.2 Lựa chọn các trò chơi vận động dân gian và các môn thể thao

dân tộc đặc trưng của vùng Tây Bắc làm phương tiện GDTC

cho sinh khối sư phạm của Trường Đại học Tây Bắc

76

3.2.1 Khảo sát sưu tập các trò chơi dân gian vùng Tây Bắc 76

3.2.2 Thực trạng sử dụng trò chơi dân gian vùng Tây Bắc 77

Trang 6

3.2.3 Lựa chọn trò chơi dân gian làm trò chơi vận động phát triển thể

3.2.5 Xây dựng nội dung bồi dưỡng kiến thức trò chơi vận động dân

gian và thể thao dân tộc cho sinh viên khối sư phạm Trường

Đại học Tây Bắc

81

3.2.6 Xây dựng nội dung thực nghiệm trò chơi vận động dân gian và

thể thao dân tộc cho sinh viên khối sư phạm Trường Đại học

Tây Bắc

82

3.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các trò chơi vận động dân

gian và thể thao dân tộc đối với sinh viên khối sư phạm (K57)

Trường Đại học Tây Bắc

94

3.3.3 Tổ chức thực nghiệm trò chơi vận động dân gian và thể thao

dân tộc cho sinh viên khối sư phạm (K57) Trường Đại học Tây

Bắc

100

3.3.4 Phương pháp tổ chức trò chơi vận động dân gian và thể thao

dân tộc trong nội dung bồi dưỡng kiến thức

102

3.3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm ứng dụng trò chơi vận động dân

gian và thể thao dân tộc cho sinh viên K57, Trường Đại học

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Viết tắt Viết đầy đủ

CNXH Chủ nghĩa xã hội CNH Công nghiệp hóa

ĐT Đào tạo

GD Giáo dục GDTC Giáo dục thể chất HDV Hướng dẫn viên HSSV Học sinh, sinh viên

RLTT Rèn luyện thân thể STN Sau thực nghiệm

TCDG Trò chơi dân gian TCVĐDG Trò chơi vận động dân gian TDTT Thể dục thể thao

TTDT Thể thao dân tộc TTN Trước thực nghiệm

Trang 8

3.1 Kết quả lựa chọn yếu tố đánh giá thực trạng công tác

giáo dục thể chất và thể thao trường học cho sinh viên

khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc (n=23)

Sau trang 55

3.2 Kết quả kiểm định độ tin cậy các yếu tố đánh giá thực

trạng công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học

cho sinh viên khối sư phạm của Trường Đại học Tây Bắc

(n=23)

Sau trang 55

3.3 Kết quả khảo sát sự quan tâm của lãnh đạo Nhà trường

và hệ thống chính trị đối với công tác GDTC và thể thao

của Trường Đại học Tây Bắc (n=23)

Sau trang 57

3.4 Phân phối chương trình môn học giáo dục thể chất của

3.5 Kế hoạch hoạt động thể thao của Trường Đại học Tây

Bắc

trang 59

3.6 Kết quả khảo sát kết quả học môn học Giáo dục thể chất

của sinh viên khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc (n

= 338)

Sau Trang 59

3.7 Thực trạng thể lực sinh viên khối sư phạm Trường Đại

học Tây Bắc so với Chuẩn thể lực QĐ53/2008/BGDĐT

(n=338 )

Sau Trang 60

3.8 Thực trạng phân loại thể lực sinh viên Khối sư phạm

Trường Đại học Tây Bắc theo Chuẩn thể lực

QĐ53/2008/BGDĐT (n=338 )

Sau Trang 60

3.9 Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động thể dục thể thao

ngoại khóa của sinh viên Khối sư phạm Trường Đại

học Tây Bắc (n=279 )

Sau trang 61

3.10 Động cơ rèn luyện thể chất của sinh viên Khối sư phạm

Trường Đại học Tây Bắc (n=279 )

Sau trang 62 3.11 Nhu cầu rèn luyện thể chất của sinh viên Khối sư phạm

Trường Đại học Tây Bắc (n=279)

Sau trang 62

Trang 9

3.12 Khảo sát hứng thú và nhận thức rèn luyện thể chất của

sinh viên khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc (n=

279)

Sau Trang 63

3.13 Thực trạng đội ngũ giảng viên TDTT của Trường Đại

3.14 Thống kê thực trạng cơ sở vật chất phục vụ Giáo dục thể

chất và thể thao Trường Đại học Tây Bắc trang 65 Sau 3.15 Kết quả khảo sát sưu tập các trò chơi dân gian vùng Tây

3.16 Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng các trò chơi dân

gian và TTDT vùng Tây Bắc (n =352)

Sau trang 77 3.17 Tiêu chí lựa chọn các trò chơi dân gian vùng Tây Bắc

làm trò chơi vận động phát triển thể chất

Sau trang 78 3.18 Kết quả lựa chọn các trò chơi dân gian vùng Tây Bắc

làm làm trò chơi vận động phát triển thể chất

Sau trang 78

3.19 Tiêu chí lựa chọn các trò vận động dân gian vùng Tây

Bắc biến thể thành các môn thể thao dân tộc

Sau trang 80 3.20 Kết quả lựa chọn các trò chơi vận động dân gian vùng

Tây Bắc biến thể thành các môn thể thao dân tộc

Sau trang 80 3.21 Cấu trúc nội dung bồi dưỡng kiến thức trò chơi vận động

dân gian và thể thao dân tộc cho sinh viên khối sư phạm

Trường Đại học Tây Bắc (15 tiết - 1 học trình cơ bản)

Sau trang 81

3.22 Kiểm định nội dung bồi dưỡng kiến thức TCVĐDG và

TTDT cho sinh viên khối sư phạm Trường Đại học Tây

Bắc

Sau trang 81

3.23 Nội dung thực nghiệm trò chơi vận động dân gian và thể

thao dân tộc cho sinh viên khối sư phạm (K57) Trường

Đại học Tây Bắc

Sau trang 82

3.24 Kiểm định nội dung thực nghiệm trò chơi vận động dân

gian và thể thao dân tộc cho sinh viên khối sư phạm

(K57) Trường Đại học Tây Bắc (N=23)

Sau trang 82

3.25 Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng trò chơi vận động

dân gian và thể thao dân tộc vùng Tây Bắc (N=352)

trang 95

3.26 Kết quả khảo sát nhận thức về trò chơi vận động dân gian

và thể thao dân tộc của sinh viên khối sư phạm Trường

Đại học Tây Bắc (N=279)

Sau trang 96

3.27 Kết qủa khảo sát động cơ tham gia trò chơi vận động dân

gian và thể thao dân tộc của sinh viên khối sư phạm

Trường Đại học Tây Bắc (N=279)

Sau trang 98

Trang 10

3.28 Kết quả khảo sát mục đích tham gia trò chơi vận động

dân gian và thể thao dân tộc của sinh viên khối sư phạm

Trường Đại học Tây Bắc (n=279)

Sau trang 98

3.29 Kết quả khảo sát các điều kiện tổ chức thực nghiệm trò

chơi vận động dân gian và thể thao dân tộc cho sinh viên

khối sư phạm (K57) - Trường Đại học Tây Bắc

Sau trang 99

3.30 So sánh sự phát triển thể lực theo từng chỉ số của sinh

viên nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng khối sư

phạm Trường Đại học Tây Bắc – Trước thực nghiệm

Sau trang 112

3.31 So sánh sự phát triển thể lực theo từng chỉ số của sinh

viên nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng khối sư

phạm Trường Đại học Tây Bắc –Sau thực nghiệm

Sau trang 112

3.32 Nhịp tăng trưởng theo các chỉ số thể lực của sinh viên

khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc - Nhóm thực

nghiệm

Sau trang 113

3.33 Nhịp tăng trưởng theo các chỉ số thể lực của sinh viên

nhóm đối chứng khối sư phạm – Trường Đại học Tây

Bắc

Sau trang 113

3.34 So sánh kết quả phân loại thể lực của sinh viên nhóm

thực nghiệm và nhóm đối chứng khối sư phạm Trường

Đại học Tây Bắc so với Chuẩn thể lực - Trước thực

nghiệm

Sau trang 114

3.35 Sự phát triển thể lực của sinh viên nhóm thực nghiệm và

nhóm đối chứng khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc

so với Chuẩn thể lực - sau thực nghiệm

Sau trang 114

3.36 Cảm nhận của sinh viên khối sư phạm Trường Đại học

Tây Bắc sau khi trải nghiệm trò chơi vận động dân gian

và thể thao dân tộc (n=169 )

Sau trang 116

3.37 Ý kiến của giảng viên về ứng dụng TCVĐDG và thể thao

dân tộc cho sinh viên khối sư phạm Trường Đại học Tây

Bắc (n=23)

Sau Trang 116

3.38 Nhận xét của cơ sở thực tập về kỹ năng tổ chức trò chơi

vận động dân gian và thể thao dân tộc đối với sinh viên

khối sư phạm (n= 30)

Sau trang 120

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

3.1 Thực trạng kết quả học môn học Giáo dục thể chất của

sinh viên khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc

Sau trang 59 3.2 Thực trạng phân loại thể lực toàn diện sinh viên khối sư

phạm Trường Đại học Tây Bắc theo Chuẩn thể lực QĐ

53/2008/BGDĐT

Sau trang 60

3.3 Nhịp tăng trưởng theo các chỉ số thể lực của sinh viên

khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc - Nhóm thực

nghiệm

Sau trang 113

3.4 Nhịp tăng trưởng theo các chỉ số thể lực của sinh viên

khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc - Nhóm thực

nghiệm

Sau trang 113

3.5 Sự phát triển thể lực toàn diện của sinh viên nhóm thực

nghiệm và nhóm đối chứng khối sư phạm Trường Đại học

Tây Bắc so với Chuẩn thể lực - Trước thực nghiệm

Sau trang 114

3.6 Sự phát triển thể lực của sinh viên nhóm thực nghiệm và

nhóm đối chứng khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc

so với Chuẩn thể lực - sau thực nghiệm

Sau trang 114

3.7 Cảm nhận của sinh viên khối sư phạm Trường Đại học

Tây Bắc sau khi trải nghiệm trò chơi vận động dân gian

và thể thao dân tộc

Sau trang 116

3.8 Ý kiến của giảng viên về ứng dụng trò chơi vận động dân

gian và thể thao dân tộc cho sinh viên khối sư phạm

Trường Đại học Tây Bắc

Sau trang 116

Trang 12

1

PHẦN MỞ ĐẦU

Trò chơi vận động và thể thao dân tộc, bắt nguồn từ trò chơi dân gian là một bộ phận của nền văn hóa Việt Nam nói chung và cũng là một bộ phận của nền TDTT nói riêng Trò chơi dân gian đã được phản ánh một phần về các mặt đời sống xã hội của người Việt Nam trong mọi thời đại Đồng thời, thông qua

sự hoạt động của trò chơi dân gian, đáp ứng nhu cầu đa dạng về vui chơi giải trí, nghỉ ngơi, giao lưu văn hóa, phát triển thể chất và chuẩn bị cho lao động sản xuất, chiến đấu của người Việt Nam [14]; [36]; [37]

Trên thực tế các môn thể thao hiện đại được nhiều người trên thế giới tham gia tập luyện, vốn đều xuất phát từ phần lớn các môn thể thao truyền thống

ra đời ở một số nước châu Âu thời cổ [78]; [84]; [85] Đến nay, càng ngày sự

có mặt của các trò chơi truyền thống của các nước thuộc khu vực khác được tăng lên trong các cuộc thi đấu quốc tế, đặc biệt là thể thao của các nước châu

Á Việc nghiên cứu các môn thể thao dân tộc ở Việt Nam giúp chúng ta hiểu biết hơn về những trò chơi truyền thống, từ đó cải tiến nâng lên thành những môn thể thao quốc gia đầy đủ tính khoa học và tính thực tiễn [36]; [52]; [83]

Trên thực tế các môn thể thao dân tộc như vật dân tộc, đẩy gậy, bắn nỏ, đua ghe ngo…đã được chính thức đưa vào chương trình của nhiều hội khỏe và đặc biệt là Hội khỏe phù đổng, Đại hội TDTT các cấp Đây thực sự là sân chơi không chỉ dành cho đồng bào trong đó có thanh thiếu niên các dân tộc thiếu số

mà cần được phát triển rộng khắp toàn quốc Đó chính là sự góp phần làm phong phú thêm hoạt động thể thao dân tộc, góp phần vào kho tang văn hóa chung của nhân loại; thiết thực thực hiện Nghị quyết của Đảng về xây dựng và phát triển một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Việc nghiên cứu các môn thể thao dân tộc ở Việt Nam giúp chúng ta hiểu biết hơn

về những trò chơi truyền thống, từ đó cải tiến nâng lên thành những môn thể thao quốc gia đầy đủ tính khoa học và tính thực tiễn Trên thực tế các môn thể thao dân tộc như vật dân tộc, đẩy gậy, bắn nỏ, đua ghe ngo…đã được chính

Trang 13

2

thức đưa vào chương trình của nhiều hội khỏe và đặc biệt là Hội khỏe phù đổng, Đại hội TDTT các cấp Đây thực sự là sân chơi không chỉ dành cho đồng bào trong đó có thanh thiếu niên các dân tộc thiếu số mà cần được phát triển rộng khắp toàn quốc Đó chính là sự góp phần làm phong phú thêm hoạt động thể thao dân tộc, góp phần vào kho tàng văn hóa chung của nhân loại; thiết thực thực hiện Nghị quyết của Đảng về xây dựng và phát triển một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc [2]; [3]; [63]; [64]

Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2011 về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020, khẳng định: phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan của xã hội, là trách nhiệm của các cấp

ủy đảng, chính quyền và nhân dân; góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; mở rộng quan hệ hữu nghị

và hợp tác quốc tế Nghị quyết này cho thấy quan điểm của Ðảng ta luôn xác định việc đầu tư cho TDTT là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước [4], [63]

Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa X, xác định mục tiêu của đổi mới giáo dục lần này là: Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân; Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực [3]

Theo xu hướng chung, Trường Đại học Tây Bắc đã tiến hành đổi mới hình thức tổ chức, quản lý, phương pháp dạy và học các môn học nói chung và môn học GDTC nói riêng, qua đó đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, hiệu quả vẫn còn nhiều hạn chế Vì để đáp ứng mục tiêu đào tạo hiện nay của nhà trường, đòi hỏi sinh viên, trước hết là sinh viên khối sư phạm phải

có hiểu biết và được rèn luyện thường xuyên bằng thể dục thể thao để nâng cao

Trang 14

3

sức khỏe, thể lực và kỹ năng sư phạm, trong đó ưu tiên phát triển các TCVĐDG

và các môn TTDT Từ cơ sở tiếp cận, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu phát triển trò chơi vận động dân gian và thể thao dân tộc cho sinh viên khối sư phạm trường Đại học Tây Bắc”

Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu phát triển TCVĐDG và TTDT cho sinh viên khối sư phạm trường Đại học Tây Bắc; nhằm phát triển thể chất, đồng thời hình thành kỹ năng

tổ chức, hướng dẫn TCVĐDG và TTDT cho học sinh phổ thông và ở địa phương,

góp phần bảo tồn và phát triển các TCVĐDG và TTDT vùng Tây Bắc

Mục tiêu nghiên cứu:

Để giải quyết được mục đích đề ra, đề tài sẽ giải quyết những mục tiêu như sau :

Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng công tác GDTC cho sinh viên khối sư

phạm của trường Đại học Tây Bắc: Thực trạng sự quan tâm của lãnh đạo Nhà trường đối với công tác GDTC và thể thao của Trường Đại học Tây Bắc; Thực trạng Chương trình GDTC nội khoá và kế hoạch thể thao ngoại khóa của Trường Đại học Tây Bắc; Thực trạng kết quả học lực môn học Giáo dục thể chất và thực trạng kết quả hoạt động thể thao ngoại khóa của sinh viên khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc; Thực trạng thể lực sinh viên khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc so với Chuẩn thể lực QĐ 53/2008/BGDĐT; Khảo sát động cơ, nhu cầu rèn luyện thể chất của sinh viên khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc; Thực trạng đội ngũ giảng viên TDTT Trường Đại học Tây Bắc; Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ Giáo dục thể chất và thể thao Trường Đại học Tây Bắc

Mục tiêu 2: Lựa chọn các trò chơi vận động dân gian và các môn thể thao

dân tộc đặc trưng của vùng Tây Bắc làm phương tiện GDTC cho sinh viên khối

sư phạm của trường Đại học Tây Bắc: Khảo sát sưu tập các trò chơi dân gian vùng Tây Bắc, Thực trạng sử dụng các trò chơi dân gian vùng Tây Bắc; Lựa chọn trò

Trang 15

4

chơi dân gian làm trò chơi vận động phát triển thể chất; Lựa chọn TCVĐDG biến thể thành môn thể thao dân tộc; Cấu trúc và kiểm định nội dung bồi dưỡng kiến thức TCVĐDG và TTDT cho sinh viên khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc; Cấu trúc và kiểm định nội dung thực nghiệm trò chơi TCVĐDG và TTDT cho sinh viên khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc

Mục tiêu 3: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các trò chơi vận động dân gian

và thể thao dân tộc đối với sinh viên khối sư phạm của trường Đại học Tây Bắc:

Cơ sở pháp lý; Cơ sở thực tiễn; Tổ chức thực nghiệm trò chơi vận động dân gian

và thể thao dân tộc cho sinh viên khối sư phạm (K57) Trường Đại học Tây Bắc; Phương pháp tổ chức TCVĐDG và TTDT trong nội dung bồi dưỡng kiến thức; Đánh giá kết quả thực nghiệm ứng dụng trò chơi vận động dân gian và thể thao dân tộc cho sinh viên K57, Trường Đại học Tây Bắc

Giả thuyết khoa học của đề tài:

TCVĐDG và TTDT là một trong các phương tiện GDTC, là hoạt động có

ý thức, nhằm đạt được những kết quả, những mục đích có điều kiện đã được đặt ra Nếu lựa chọn những TCVĐDG và môn TTDT phù hợp; làm phương tiện tập luyện, sẽ phát triển thể lực và kỹ năng tổ chức sau này ở trường phổ thông, đồng thời góp phần bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của các dân tộc vùng Tây Bắc

Trang 16

5

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm có liên quan

Thể chất:

Theo Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, thể chất chỉ chất lượng thân thể con

người Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của

cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục, rèn luyện) Thể chất bao gồm thể hình, năng lực thể chất

và năng lực thích ứng” Thể hình liên quan đến hình thái, cấu trúc của thân thể, bao gồm trình độ phát triển của cơ thể, những chỉ số tuyệt đối và tương đối của toàn thân hoặc từng bộ phận và tư thế thân thể Năng lực thể chất thể hiện khả năng chức năng của các hệ thống, cơ quan trong cơ thể qua hoạt động cơ bắp

là chính Nó bao gồm các tố chất vận động (Sức nhanh, sức mạnh, độ dẻo và khả năng phối hợp vận động ) Năng lực thích ứng thể hiện khả năng thích ứng của cơ thể với hoàn cảnh bên ngoài Không chỉ là sự thích ứng đơn giản

mà còn là đề kháng với bệnh tật [56]

Phát triển thể chất: Phát triển thể chất của con người là quá trình biến đổi các tính chất hình thái và chức năng tự nhiên của cơ thể con người trong suốt

cả cuộc sống cá nhân của nó Sự phát triển thể chất biểu hiện như sự thay đổi

về chiều cao, cân nặng thay đổi về hình thái kích thước cơ thể, thay đổi năng lực hoạt động các hệ cơ quan trong cơ thể (của hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ thần kinh, tâm lý và ý chí…) và được biểu hiện phát triển các các tố chất thể lực của con người bao gồm sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo

và khả năng phối hợp động tác (khéo léo) Tuy vậy sự phát triển thể chất của con người còn chịu sự chi phối của môi trường xã hội như: điều kiện sống vật chất, điều kiện vệ sinh, điều kiện lao động, học tập, nghỉ ngơi Phát triển thể chất là một quá trình hình thành và thay đổi hình thái và chức năng sinh vật học

cơ thể con người; quá trình đó xảy ra dưới sự ảnh hưởng của điều kiện sống,

Trang 17

6

mà đặc biệt là giáo dục

Sự phát triển thể chất phụ thuộc vào những quy luật khách quan của tự nhiên: quy luật thống nhất giữa cơ thể và môi trường sống, quy luật tác dụng qua lại giữa sự thay đổi chức năng và cấu trúc của cơ thể, quy luật thay đổi dần dần về số lượng và chất lượng trong cơ thể [26], [79], [81]

Giáo dục thể chất: GDTC là một quá trình sư phạm hướng vào việc hoàn thiện cơ thể con người về mặt hình thái và về mặt chức năng, hình thành các kỹ năng và kỹ xảo vận động cơ bản quan trọng trong đời sống, cùng với những hiểu biết liên quan đến các kỹ năng, kỹ xảo đó, phát triển các phẩm chất và các khả năng về thể lực của con người, hình thành lối sống lành mạnh, mở rộng giới hạn của những năm tháng hoạt động sáng tạo của con người, chuẩn bị cho con người thực hiện tốt nghĩa vụ lao động và bảo vệ tổ quốc GDTC là một chức năng vĩnh hằng của xã hội, ngay từ khi mới có xã hội loài người và sẽ tồn tại mãi mãi, với tư cách là một điều kiện tất yếu của sản xuất xã hội và đời sống con người [34], [56], [80]

Giáo dục thể chất là một quá trình giáo dục nhằm hoàn thiện về mặt thể chất và chức năng của cơ thể con người, nhằm hình thành và củng cố những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản quan trọng trong đời sống, cùng những hiểu biết

có liên quan đến kỹ năng, kỹ xảo đó Theo nhiều tác giả, GDTC là một quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dục-giáo dưỡng nhất định mà đặc điểm của quá trình này là có tất cả các dấu hiệu chung của quá trình sư phạm vai trò chỉ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động tương ứng với các nguyên tắc sư phạm [54], [58], [76]

GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học động tác, giáo dục các tố chất thể lực, lĩnh hội các tri thức chuyên môn về TDTT và hình thành nhu cầu tập luyện tự giác ở con người GDTC cũng như các hình thức giáo dục khác, bản chất là một quá trình sư phạm với đầy đủ những đặc trưng cơ bản của nó Sự khác biệt chủ yếu của GDTC với các hình thức giáo

Trang 18

GDTC được thực hiện chủ yếu bằng phương tiện hoạt động vận động, giáo dục toàn diện và kỷ luật chặt chẽ, nhằm giúp học sinh có được những kiến thức, thái độ, niềm tin và cách cư xử nhằm đạt được một phong cách sống khỏe mạnh, năng động lâu dài Để đạt được mục tiêu này, cần có sự hợp tác của nhà trường, gia đình và cộng đồng cùng chia sẻ trách nhiệm cải thiện sức khỏe cho học sinh

Trò chơi:

Theo Từ điển tiếng Việt, chữ “trò” được hiểu là một hình thức mua vui bày ra trước mặt mọi người Chữ “chơi” là một từ chung để chỉ các hoạt động lúc nhàn rỗi, ngoài giờ làm việc nhằm mục đích giải trí là chính Từ đó, trò chơi được hiểu là những hoạt động làm thỏa mãn những nhu cầu của con người, trước hết là vui chơi, giải trí [32], [35], [94]

Theo những quan điểm giáo dục, trò chơi vừa là phương tiện phát triển toàn diện nhân cách vừa là hình thái tổ chức cuộc sống Đối với trẻ em, trò chơi

là hoạt động giúp trẻ tái tạo các hành động của người lớn và các quan hệ giữa

họ, định hướng nhận thức đồ vật và nhận thức xã hội Trong trò chơi, nhu cầu

và các phẩm chất của trẻ về thể lực, trí tuệ, đạo đức và ý chí được hình thành, thỏa mãn, thể hiện và phát triển Trẻ em do được chơi nên phát triển Do vậy, chơi là hoạt động chủ đạo trong giáo dục trẻ em

Trò chơi thể hiện những khát vọng xã hội của con người, đó là sự bình đẳng, dân chủ và tự do Khi vào trò chơi là con người đã bước vào không gian mới, nơi đó các bên tham gia chơi hoàn toàn bình đẳng, không có sự phân biệt

về đẳng cấp xã hội, trình độ học vấn, giới tính, tuổi tác, tôn giáo tín ngưỡng

Trang 19

8

Tính dân chủ được phát huy, con người tự do phát huy những năng lực, thể chất, tinh thần Những phẩm chất như thông minh, khéo léo, sức mạnh, cao thượng được đề cao Chỉ có trong trò chơi con người mới thoát khỏi những ràng buộc, trách nhiệm của các quan hệ xã hội Trong không gian trò chơi con người được hoàn toàn tự do [42], [95]

Trò chơi dân gian:

Trò chơi dân gian là một hoạt động đặc thù chỉ trong xã hội loài người được nhân dân sáng tạo ra từ thực tiễn cuộc sống của họ, được lưu truyền tự nhiên qua nhiều thế hệ và luôn được cải biên, bổ sung cho phù hợp với từng nơi, từng lúc, nhằm thỏa mãn nhu cầu về vui chơi giải trí, giao lưu văn hóa và phát triển các mặt thể chất, tinh thần của con người Các trò chơi là sản phẩm văn hoá, thể hiện trí thông minh và sự sáng tạo của con người Lịch sử trò chơi gắn liền với lịch sử sáng tạo, thể hiện trình độ phát triển trí thông minh của con người theo thời gian [51], [88]

Từ những trò chơi dân gian đơn giản, có tính cơ học đến những trò chơi

có sự tham gia của khoa học - công nghệ là một quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử

Hàng trăm loại hình thể thao có khả năng đáp ứng nhu cầu giải trí của con người nhưng con người vẫn sẽ còn tiếp tục sáng tạo ra những môn thể thao mới TCDG phản ánh nét văn hoá cộng đồng của dân tộc, khu vực hoặc vùng miền

vì thế việc tổ chức các TCDG là một trong những cách thức giáo dục, hình thành nét nhân cách mang bản sắc văn hoá dân tộc cho thế hệ trẻ hiện nay [42], [43]

Phát triển trò chơi vận động dân gian và thể thao dân tộc:

Theo Tự điển tiếng Việt [69]: Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Sự phát triển là kết quả của quá

Trang 20

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển có 4 tính chất cơ bàn: Sự phát triển mang tính khách quan; Sự phát triển mang tính phổ biến; Sự phát triển có tính đa dạng, phong phú; Sự phát triển có tính kế thừa

Khuynh hướng phát triển của sự vật hiện tượng là sự vận động đi lên cái mới, cái mới ra đời và thay thế cái cũ, nhưng ở trình độ cao hơn, hoàn thiện hơn Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận của sự phát triển, một quan điểm khoa học trong việc nhận thức và cải tạo thế giới Nội dung cơ bản của quan điểm phát triển như sau: Sự vận động, biến đổi ấy là cái vốn có của thế giới Khi xem xét các sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động, phát triển và phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hóa chúng hiện thực

Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng diễn ra đa dạng, phong phú và theo những khuynh hướng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, trong đó phát triển vẫn là xu hướng chính, có vai trò chi phối các xu hướng khác Quá trình nhận thức của con người phải phát hiện ra xu hướng chính để thúc đẩy sự vật phát triển Vậy phát triển trò chơi trong nội hàm đề tài được hiểu là quá trình tìm ra các trò chơi phù hợp để chơi, nhằm làm thay đổi cảm xúc của người chơi, tăng vận động về thể chất và tinh thần, dần dần biến đổi cơ thể theo hướng thỏa mãn nhu cầu vận động và giải trí của người chơi [82], [87]

Trang 21

10

1.2 Quan điểm của Đảng và nhà nước về công tác GDTC trong thời

kỳ đổi mới

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, đã chỉ

rõ “Quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học” Điều đó đã khẳng định

vị trí và vai trò của GDTC trong đào tạo thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước – lực lượng lao động mới quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước trong thế kỷ 21; Luật giáo dục đại học (2019), Luật thể dục, thể thao sửa đổi (2019), khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển TDTT trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực

có chất lượng cao Tuy nhiên, thông qua đó đã cho thấy GDTC trường học chưa phát triển tương xứng với trọng trách được giao phó, chưa đáp ứng được kỳ vọng của toàn xã hội và của học sinh, sinh viên [43], [44], [45]

So với các loại hình TDTT khác, GDTC và thể thao trường học có những

ưu thế tuyệt đối Tính đến nay cả nước có khoảng 25 triệu học sinh, sinh viên đang học tập tại các nhà trường từ tiểu học đến đại học Là lực lượng thanh thiếu niên đang thực hiện chế độ GDTC bắt buộc của nền giáo dục quốc dân

Đó chính là điều kiện cho phép mở rộng, phát huy vị trí, vai trò và tầm ảnh hưởng của công tác TDTT nói chung, GDTC trường học nói riêng Với gần 30.000 trường phổ thông các cấp được phân bố tới từng xã, phường trên lãnh thổ đất nước đã cho thấy sức lan tỏa và sự ảnh hưởng của GDTC trường học trong cộng đồng dân cư và trong mỗi gia đình Đó chính là điều kiện để GDTC trường học đón nhận sự quan tâm và tạo điều kiện của nhà nước và toàn xã hội [10], [12]

GDTC là môn học bắt buộc duy nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiến hành đào tạo từ nhà trường mẫu giáo đến đại học, điều đó không chỉ khẳng định vị thế của môn học trong công tác giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ, mà còn là điều kiện để GDTC trường học tác động có chủ đích, có kế hoạch

và khoa học đến từng giai đoạn phát triển của nhi đồng và thanh thiếu niên Việt

Trang 22

11

Nam

Đối với học sinh, sinh viên, GDTC không chỉ là môn học, mà còn là nội dung, hình thức và phương tiện hoạt động trong quá trình học tập và rèn luyện tại nhà trường; là nội dung và phương thức để nhà trường các cấp triển khai các hoạt động giáo dục học sinh, sinh viên [8], [31]

GDTC trường học thực hiện chức năng giao tiếp và liên kết trong giáo dục học sinh, sinh viên, tạo ra bầu không khí thân thiết và hiểu biết lẫn nhau giữa các học sinh, giữa các nhà trường; truyền tải những giá trị chân chính của TDTT đến từng học sinh, sinh viên, thông qua đó giáo dục ở các em những tư tưởng, tình cảm và nhân cách của con người mới xã hội chủ nghĩa; góp phần giáo dục

và phát triển thị hiếu, thẩm mỹ cho học sinh, sinh viên

Trong tiến trình thực hiện chủ trương xã hội hóa TDTT của Đảng và nhà nước, những lợi thế nêu trên của GDTC trường học đã khẳng định trường học

là địa bàn chiến lược và học sinh, sinh viên là lực lượng quyết định sự thành công của sự nghiệp xã hội hóa TDTT trên phạm vi toàn quốc

Tuy nhiên, GDTC trường học còn bộc lộ một số tồn tại cơ bản, hạn chế tính hiệu quả trong quá trình giáo dục học sinh, sinh viên nói chung và trong GDTC nói riêng [10]: Đối với các nhà trường đại học và cao đẳng, GDTC chưa thực sự gắn liền với nhu cầu phát triển năng lực nghề nghiệp của sinh viên, nội dung chương trình và hình thức tổ chức đào tạo chưa lôi cuốn và phát huy được tính tích cực, tự giác của họ trong quá trình học tập và rèn luyện

Về cơ bản, nội dung môn học GDTC trong trường học được thiết kế và xây dựng chưa xuất phát từ điều kiện sức khỏe, giới tính, năng lực sở trường

và trình độ thể lực của học sinh, sinh viên; người học không có nhiều lựa chọn đối với môn thể thao và hình thức tập luyện phù hợp với nhu cầu và điều kiện của bản thân; tiêu chí kiểm tra đánh giá được xác định mang tính đồng loạt (ngoài nhóm sức khỏe yếu), vì vậy đối với không ít học sinh, sinh viên, môn học GDTC trở thành “gánh nặng” trong quá trình học tập

Trang 23

12

Đảng, Nhà nước, luôn coi phát triển sự nghiệp TDTT là một bộ phận quan trọng thuộc chính sách xã hội Do đó, công tác TDTT có hiệu quả tích cực trong việc nâng cao sức khỏe của nhân dân, góp phần làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần, xây dựng lối sống lành mạnh, đẩy lùi tệ nạn xã hội Các quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện qua các văn kiện Nghị quyết đều thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển TDTT nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ Việt Nam; góp phần thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và đối ngoại của Đảng và Nhà nước [23], [59], [65] Các quan điểm của Đảng về phát triển TDTT là những định hướng cơ bản

để xác định vị trí và mối quan hệ của toàn bộ sự nghiệp thể dục, thể thao đối với các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội các mối quan hệ nội tại của TDTT

Vì vậy, đó chính là các cơ sở để lựa chọn, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp TDTT trong một thời kỳ tương đối dài [86], [89], [93]

1.3 Sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục thể chất và thể thao trường học

Trên cơ sở mục tiêu GDTC và thể thao trường học, Bộ GDĐT đã ban hành các văn bản pháp quy để chỉ đạo công tác GDTC và thể thao trường học trong các trường cao đẳng, đại học cụ thể như sau: Xác định tầm quan trọng của mục tiêu GDTC trong nhà trường, Bộ GDĐT rất quan tâm tạo điều kiện để các trường học tổ chức nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến những tiến bộ khoa học về GDTC và hoạt động thể thao Bộ GDĐT đã chỉ đạo việc giảng dạy thể dục chính khoá và tổ chức hoạt động TTNK cùng với việc ban hành các văn bản quy định về công tác GDTC trong nhà trường Điều đó được thể hiện rõ trong các văn bản chỉ đạo về công tác GDTC và thể thao học đường [5], [6], [9]; Theo

đó giờ học nội khóa là giờ học môn thể dục, sức khỏe theo chương trình quy định; còn hoạt động TDTT ngoại khóa được thực hiện theo kế hoạch của nhà

Trang 24

13

trường và các cấp quản lý giáo dục Nhằm mục đích đánh giá kết quả rèn luyện thể lực toàn diện của người học trong nhà trường; điều chỉnh nội dung, phương pháp GDTC phù hợp với các trường ở các cấp học và trình độ đào tạo; đẩy mạnh việc thường xuyên rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe để học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho HSSV trong quá trình hội nhập quốc tế Bộ GDĐT

đã ban hành quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT về việc đánh giá, xếp loại thể lực HSSV [7]

Bộ GDĐT tiếp tục ban hành các văn bản về việc tổ chức hoạt động TTNK cho HSSV với mục đích, yêu cầu, nguyên tắc tổ chức các hoạt động TTNK sau:

Tổ chức các hoạt động TTNK trong nhà trường nhằm động viên, khuyến khích HSSV tự giác tham gia tập luyện thể thao; hình thành thói quen rèn luyện thân thể thường xuyên cho HSSV Hoạt động TTNK phải được quan tâm, chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ, xây dựng kế hoạch phù hợp và đảm bảo về tài chính, CSVC, sân bãi, dụng cụ, đáp ứng nhu cầu của HSSV Việc tổ chức hoạt động TTNK cho HSSV trong nhà trường phải bảo đảm các nguyên tắc sau: Phù hợp với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều kiện cụ thể của từng địa phương, cơ sở giáo dục, tránh lãng phí, hình thức Người tham gia phải tự nguyện, tự giác, phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe Có chương trình, kế hoạch và có thể được lồng ghép với các hoạt động có ý nghĩa giáo dục của nhà trường Xã hội hóa đối với các hoạt động TTNK của HSSV Sự ra đời của quy định này đã đánh dấu sự quan tâm lớn hơn nữa của Bộ GDĐT đối với công tác GDTC và thể thao trường học tạo hành lang pháp lý thuận lợi để các trường CĐ, ĐH tổ chức hoạt động TTNK cho SV một cách nghiêm túc [6] Ngày 14 tháng 10 năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư

số 25/2015/BGDĐT về việc quy định về chương trình môn học Giáo dục thể chất thuộc các chương trình đào tạo trình độ đại học [8] Theo thông tư 25 thì

”Khối lượng kiến thức của chương trình môn học Giáo dục thể chất mà người học cần tích lũy tối thiểu là 3 (ba) tín chỉ Cơ sở giáo dục đại học quy định cụ

Trang 25

14

thể khối lượng kiến thức môn học này phù hợp với yêu cầu của từng ngành đào tạo” Thông tư trên cũng đã giao cho Hiệu trưởng các trường tự biên soạn và tổ chức thẩm định chương trình giáo dục thể chất để áp dụng cho sinh viên của mình

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành các văn bản quy chế tổ chức và hoạt động của trường lớp năng khiếu TDTT trong giáo dục phổ thông và caai lạc bộ TDTT cơ sở; quy định rõ nhiệm

vụ và quyền hạn của Ban giám hiệu các trường cần phải sử dụng có hiệu quả kinh phí, tài sản, cơ sở vật chất, thiết bị; phát huy tốt năng lực và trí tuệ của giáo viên, học sinh trong giảng dạy, học tập và các hoạt động, đặc biệt đối với việc tập luyện, phát triển tài năng thể dục thể thao của học sinh và chỉ đạo các

sở giáo dục và đào tạo báo cáo và trình UBND các tỉnh thành phố thành lập trường phổ thông năng khiếu TDTT; Hiện 100% các tỉnh thành trong nước đều

có các trường năng khiếu thể thao [13]

Ngày 26 tháng 12 năm 2018, Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới với nhiều thay

đổi so với hiện tại Chương trình giáo dục phổ thông 2018 được xây dựng theo

định hướng phát triển phẩm chất, năng lực, tạo môi trường học tập, rèn luyện giúp người học tích lũy được kiến thức phổ thông, biết vận dụng kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời… [9]

Chương trình giáo dục phổ thông bao gồm chương trình tổng thể (khung chương trình), các chương trình môn học và hoạt động giáo dục Việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông được thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục và pháp luật liên quan Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành tổng kết, đánh giá chương trình và sách giáo khoa hiện hành nhằm xác định những ưu điểm cần kế thừa và những hạn chế, bất cập cần khắc phục; nghiên cứu bối cảnh kinh

tế, chính trị, xã hội và văn hoá trong nước và quốc tế; triển khai nghiên cứu, thử nghiệm một số đổi mới về nội dung, phương pháp giáo dục và đánh giá kết

Trang 26

và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của học sinh

1.4 Vị trí, nhiệm vụ, nội dung giáo dục thể chất trường đại học

1.4.1 Vị trí của giáo dục thể chất ở trường đại học

Giáo dục thể chất trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh viên các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện [60], [61], [62]

Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của học sinh, sinh viên, được tổ chức theo phương thức ngoại khóa, câu lạc bộ thể dục, thể thao, nhóm, cá nhân phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe, nhằm hoàn thiện các kỹ năng vận động, hỗ trợ thực hiện mục tiêu giáo dục thể chất thông qua các hình thức luyện tập, thi đấu thể thao, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, tài năng thể thao [65]

Chương trình môn học Giáo dục thể chất nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng

Trang 27

16

cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, hoàn thiện nhân cách, nâng cao khả năng học tập, kỹ năng hoạt động xã hội với tinh thần, thái độ tích cực, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Giáo dục thể chất trong các trường đại học đã góp phần tích cực của mình vào thắng lợi chung của sự nghiệp giáo dục,

đã góp phần củng cố, nâng cao sức khỏe và xây dựng nếp sống mới của sinh viên trong nhà trường, đồng thời giúp sinh viên hiểu biết phương pháp khoa học để tiếp tục rèn luyện thân thể, xây dựng phong trào thể dục thể thao cơ sở Hiện nay, công tác GDTC trong các trường đại học còn gặp nhiều khó khăn Hầu hết các trường đã thực hiện đúng theo chương trình của Bộ GDĐTquy định Tuy nhiên chất lượng giảng dạy còn thấp, phương pháp và hình thức giảng dạy còn nghèo nàn, chưa lôi cuốn được sinh viên ham thích và tự giác tập luyện Đội ngũ giáo viên thể dục còn thiếu về số lượng, chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ GDTC trong các trường, việc chuẩn hóa đội ngũ giáo viên chưa được quan tâm đúng mức Cơ sở vật chất và phong trào TDTT còn thiếu thốn, chỉ tập trung một số trường lớn [10], [12]

1.4.2 Nhiệm vụ của giáo dục thể chất trường đại học

Giáo dục thể chất trong các trường đại học là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp thể dục thể thao và sự nghiệp giáo dục và đào tạo Nó được tiến hành phù hợp về đặc điểm giải phẫu, tâm-sinh lý, giới tính và lứa tuổi sinh viên cùng với một số yêu cầu khác Căn cứ vào nhiệm vụ chung của hệ thống giáo dục thể chất, nhiệm vụ giáo dục thể chất ở các trường đại học được cụ thể hóa

như sau [8], [59], [66]:

Nhiệm vụ bảo vệ và nâng cao sức khỏe:

Thúc đẩy sự phát triển hài hòa của cơ thể, giữ gìn và hình thành thân thể cân đối; nâng cao các khả năng chức phận của cơ thể; tăng cường quá trình trao đổi chất, củng cố và rèn luyện hệ thần kinh vững chắc; Phát triển một cách hợp lý các tố chất thể lực và năng lực hoạt động cơ bản; Nâng cao khả năng làm việc về trí óc và thể lực

Trang 28

17

Trên cơ sở phát triển thể chất, tổ chức các hoạt động vui chơi lành mạnh, nghỉ ngơi tích cực, rèn luyện và nâng cao khả năng chịu đựng và sức đề kháng của cơ thể đối với các ảnh hưởng bất lợi của môi trường bên ngoài, phòng chống lại bệnh tật

Nhiệm vụ giáo dưỡng:

Trang bị cho sinh viên những tri thức về thể dục thể thao, kỹ năng kỹ xảo vận động cần thiết cho các hoạt động khác nhau của cuộc sống; Cung cấp các tri thức và rèn luyện thói quen giữ vệ sinh môi trường, vệ sinh tập luyện, nếp sống văn minh, lành mạnh;

Phát triển hứng thú và nhu cầu rèn luyện thân thể cường tráng, hình thành thói quen tự tập luyện; Trang bị một số tri thức về mặt tổ chức và phương pháp tiến hành một buổi tập luyện thể dục thể thao

Nhiệm vụ giáo dục:

Với tư cách là một mặt của giáo dục toàn diện, giáo dục thể chất góp phần tích cực vào việc hình thành các thói quen đạo đức, phát triển trí tuệ, thẩm mỹ, chuẩn bị thể lực cho thanh niên, sinh viên đi vào cuộc sống lao động, sản xuất, công tác Đồng thời phải gắn liền nó với các yêu cầu cụ thể và các hoạt động chung của nhà trường

Nhiệm vụ tiếp tục phát hiện và bồi dưỡng nhân tài thể thao:

Giáo dục thể chất có nhiệm vụ phát hiện những tài năng, năng khiếu trong các trường đại học và trong điều kiện khả năng của mình bồi dưỡng nhân tài thể thao cho đất nước hoặc thông báo cho các tổ chức, cơ quan có trách nhiệm

để kịp thời bồi dưỡng nhân tài thể thao

1.4.3 Nội dung chương trình giáo dục thể chất trường đại học

GDTC trong trường học là hoạt động giáo dục bắt buộc nhằm giáo dục, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, phát triển thể chất góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho HSSV TDTT trường học bao gồm GDTC và hoạt động TDTTNK cho người học Chương trình

Trang 29

có trong chương trình thi đấu của Hội khoẻ Phù Đổng, Đại hội TDTT, HSSV chuyên nghiệp trong và ngoài nước; Luyện tập trong các câu lạc bộ thể dục, thể thao hoặc các trung tâm thể dục, thể thao trong và ngoài nhà trường; Luyện tập

và thi đấu trong các đội tuyển thể dục, thể thao của trường, địa phương, ngành

và quốc gia

Chương trình môn học Giáo dục thể chất nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, hoàn thiện nhân cách, nâng cao khả năng học tập, kỹ năng hoạt động xã hội với tinh thần, thái độ tích cực, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện

Khối lượng kiến thức của chương trình môn học Giáo dục thể chất mà người học cần tích lũy tối thiểu là 3 (ba) tín chỉ Cơ sở giáo dục đại học quy định cụ thể khối lượng kiến thức môn học này phù hợp với yêu cầu của từng ngành đào tạo Giám đốc đại học, học viện, hiệu trưởng trường đại học quyết định thành lập tổ soạn thảo chương trình môn học Giáo dục thể chất Thành phần Tổ soạn thảo là những người am hiểu về giáo dục thể chất và có năng lực xây dựng và phát triển chương trình, gồm: một số giảng viên giáo dục thể chất; đại diện khoa hoặc bộ môn GDTC; đại diện phòng đào tạo và một số nhà khoa học, chuyên gia giáo dục về thể dục, thể thao ở trong và ngoài cơ sở đào tạo Căn cứ vào các quy định về GDTC hiện hành, xây dựng mục tiêu chung

và mục tiêu cụ thể từng học phần; xác định cấu trúc, xây dựng các học phần

Trang 30

19

thuộc chương trình môn học Giáo dục thể chất, bao gồm các học phần bắt buộc

và các học phần tự chọn; phương thức đánh giá; Thiết kế đề cương chi tiết các học phần; xác định yêu cầu về lý thuyết và thực hành của từng học phần; xác định điều kiện đảm bảo chất lượng, an toàn cho người học, người dạy khi thực hiện các học phần [8]

1.5 Đặc điểm của giáo dục thể chất và thể thao trường học

GDTC là quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người

Đó là quá trình tiếp thu có hệ thống những cách thức điều khiển động tác, vốn

kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống và những tri thức chuyên môn Còn giáo dục các tố chất thể lực là sự tác động hợp lý tới sự phát triển tố chất đảm bảo năng lực vận động

Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng này của GDTC gắn liền với trí dục, đạo đức, mỹ dục và giáo dục lao động Thông qua GDTC, hình thái và chức năng các hệ cơ quan trong cơ thể được tác động, thay đổi và từng bước hoàn thiện, các tố chất thể lực, kỹ năng, kỹ xảo vận động được hình thành, năng lực vận động được đảm bảo [34], [56], [80]

1.5.1 Giáo dục thể chất nội khóa

Giờ học TDTT trong các trường học các cấp hoặc các buổi huấn luyện thể thao trong các trường năng khiếu thể thao chính là hiện thân của giờ học GDTC nội khóa (hay còn gọi là GDTC chính khóa) Đây là hình thức cơ bản nhất của GDTC được tiến hành theo kế hoạch trong nhà trường các cấp Bản thân giờ học GDTC nội khóa có ý nghĩa quan trọng nhiều mặt đối với việc quản lý và giáo dục con người trong xã hội Thông qua việc học tập các bài tập thể dục, các kỹ thuật động tác là điều kiện cần thiết để phát triển cơ thể một cách hài hòa, bảo vệ và củng cố sức khỏe, hình thành năng lực pháp quy), đối tượng

Trang 31

số lượng ổn định Các hoạt động vận động với nội dung chủ yếu gồm các bài tập được quy định trong chương trình Giờ học GDTC nội khóa có thể được chia thành

ba phần: chuẩn bị, cơ bản và kết thúc Bản chất của việc xây dựng cấu trúc giờ học hợp lý là xác định trật tự giải quyết nhiệm vụ sư phạm phù hợp với các trạng thái khả năng hoạt động thể lực của người học và từng bước phát triển lên mức cao hơn, nhằm mục đích tổ chức giao lưu trong các cộng đồng dân cư, giữa các trường chủ yếu ở các môn điền kinh, thể dục và các môn bóng [34], [56]

1.5.2 Hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa

Hoạt động TDTT ngoại khóa có vị trí quan trọng trong giáo dục và trong TDTT trường học nói chung và trong hệ thống giáo dục đào tạo đại học nói riêng Các hoạt động ngoại khóa cùng với các hoạt động dạy học cấu thành một cấu trúc giáo dục trường học hoàn chỉnh, góp phần hoàn thành mục tiêu, nhiệm

vụ giáo dục Vì thế, hoạt động TDTT ngoại khóa là một bộ phận cấu thành quan trọng của TDTT trường đại học, là con đường trọng yếu để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của TDTT trường học Do đó, không có TDTT ngoại khóa, thì TDTT trường học cũng không hoàn chỉnh

Là hoạt động TDTT tự nguyện có tổ chức được tiến hành ngoài giờ chính khóa, phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe của học sinh, sinh viên Hoạt động TDTT ngoại khóa rất đa dạng bao gồm hoạt động TDTT được quy định trong giờ giải lao, huấn luyện đội tuyển của trường phổ thông, tập luyện trong các CLB TDTT, các hoạt động thi đấu thể thao Hoạt động TDTT

Trang 32

vụ của sinh viên [17], [47], [48]

Các buổi tập ngoại khóa có cấu trúc đơn giản và nội dung hẹp hơn giờ học chính khóa, đòi hỏi ý thức tự tập luyện, tinh thần độc lập sáng tạo cao Nhiệm vụ cụ thể và nội dung buổi tập ngoại khóa phụ thuộc vào sở thích

và hứng thú cá nhân, của một bộ phận học sinh, sinh viên có nhu cầu ham thích tập luyện TDTT, thông qua vận động tập luyện giúp nâng cao chất lượng giờ học nội khóa góp phần phát triển thể chất và thành tích thể thao cho học sinh, sinh viên

Giờ học ngoại khóa nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học nội khóa, được tiến hành vào giờ tự học của sinh viên dưới sự hướng dẫn của giáo viên TDTT, hướng dẫn viên hoặc tự tập luyện tự do

Ngoài ra, còn các hoạt động thể thao quần chúng ngoài giờ học còn có: Luyện tập trong các câu lạc bộ, các đội đại biểu từng môn thể thao, các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày, thể dục thể thao buổi sáng, giờ tự tập luyện của học sinh, sinh viên, phong trào tự rèn luyện thân thể Cũng như buổi tập nội khóa, cấu trúc buổi tập ngoại khóa phải đảm bảo cơ thể dần dần bước vào hoạt động điều kiện tốt nhất để thực hiện phần cơ bản và phần kết thúc của buổi tập Do nội dung buổi tập ngoại khóa có sự khác biệt, nên cách

tổ chức tập luyện có đặc trưng riêng Hoạt động ngoại khóa với chức năng động viên hấp dẫn nhiều người hơn tham gia tập luyện các môn thể thao yêu thích, rèn luyện thân thể tham gia cổ vũ phong trào tự tập luyện rèn luyện thân thể [74], [84]

Mục đích của tập luyện TDTT ngoại khóa tổ chức trong thời gian nhàn rỗi của học sinh, sinh viên có nội dung giáo dục những hiểu biết và những kiến

Trang 33

22

thức sử dụng tự giác các phương tiện giáo dục thể chất khác nhau trong đời sống và hoạt động hàng ngày Những buổi tập ngoại khóa có nội dung khác nhau giúp cho học sinh, sinh viên nắm được nội dung trong chương trình học tập về TDTT, chuẩn bị cho họ thi đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, ngoài ra giúp hoàn thiện các nội dung thể thao vận động tự chọn

Tập luyện TDTT ngoại khóa là hình thức tập luyện tự nguyện, nhằm tăng cường vận động để củng cố sức khỏe, duy trì và nâng cao khả năng hoạt động thể lực, rèn luyện cơ thể và chữa bệnh, đồng thời giáo dục các tố chất vận động

và ý chí, tiếp thu các kỹ năng kỹ xảo vận động

Giữa hình thức tập luyện nội khóa và ngoại khóa có mối liên hệ lẫn nhau Tập luyện ngoại khóa giữ vai trò, vị trí quan trọng là bổ xung và củng cố hiệu quả công tác giáo dục thể thất trong nhà trường và góp phần tạo nếp sống vận động và rèn luyện thân thể, lành mạnh, sôi nổi, phong phú vui tươi, lạc quan Việc kết hợp tốt giữa tập luyện thể dục thể thao nội khóa với ngoại khóa, giúp cho con người vận động có sức khỏe phát triển, có thân hình đẹp và tạo điều kiện nâng cao thành tích học tập của học sinh, sinh viên [67], [71], [85]

1.6 Ý nghĩa của trò chơi

Trò chơi là một hoạt động tự nhiên và cần thiết nhằm thỏa mãn những nhu cầu giải trí đa dạng của con người

Trò chơi là một phương pháp giáo dục thực hành hiệu nghiệm nhất đối với việc hình thành nhân cách, trí lực của trẻ em

Trò chơi là một hình thức dưỡng sinh của người lớn tuổi, giúp họ hăng hái, thư giãn, vui vẻ, trẻ trung [27], [55]

1.6.1 Ý nghĩa của trò chơi đối với đời sống

Trò chơi ở trẻ em không phải là một hoạt động theo bản năng, cũng không phải vì thừa năng lượng nên mới chơi mà vì do mâu thuẫn giữa nguyện vọng của trẻ em muốn được trực tiếp tham gia vào cuộc sống của người lớn với khả năng của chúng chưa được chuẩn bị đầy đủ nên đã nảy sinh trò chơi Vậy trò

Trang 34

23

chơi là một hình thức đặc thù độc đáo của trẻ em để thực hiện tác động tương

hỗ giữa chủ thể với môi trường chung quanh (trẻ em nhận thức thế giới thông qua trò chơi)

Trong trò chơi trẻ mô phỏng lại cuộc sống của người lớn mà chủ yếu là chúng tái tạo các hành động, các quan hệ qua lại của họ một cách độc đáo bằng hành động và hình tượng, đồng thời khi tái tạo các quan hệ của người lớn, trẻ bộc lộ được thái độ, cảm xúc của mình

Khi chơi, trẻ sống một cuộc sống thực đầu tiên chính trong hoạt động chơi chứ không phải hoạt động nào khác, trẻ thực sự là một chủ thể tích cực hoạt động, giao tiếp và chủ động vận dụng các ấn tượng, các kinh nghiệm đã có để củng cố, khái quát thành kiến thức và để hình thành nhân cách Chính vì vậy trò chơi là thực tiễn tự lực của trẻ em, là một hoạt động phản ánh tự lực và sáng

tạo của trẻ cần được người lớn tổ chức hướng dẫn [73], [88], [79]

Nhiều người trong chúng ta còn chưa đánh giá đúng mức sự ích lợi của trò chơi trong việc giáo dục thanh thiếu niên Đôi khi họ còn cho rằng đó là một thứ công việc vô bổ, mất thời giờ quan niệm đó hoàn toàn sai lầm Với người lớn, trò chơi là giải trí, thư giãn, giúp cho đầu óc bớt căng thẳng sau những giờ làm việc mệt nhọc Với trẻ em, ngoài sự giải trí, trò chơi còn là một nhu cầu cần thiết cho sự phát triển Trí, Đức, Thể và Nhân cách con người Đối với các phong trào thanh thiếu niên, trò chơi là một lợi khí chính yếu trong những phương pháp giáo dục, giúp trẻ em rèn luyện và phát triển toàn mỹ các giác quan chính, làm cho trẻ khéo léo hơn, trí tưởng tượng phong phú hơn Trò chơi còn giúp trẻ biết quan sát và phản ứng nhanh, biết tôn trọng kỷ luật, biết tự chủ,

từ đó nảy nở tình đồng đội, đoàn kết thương yêu nhau Trò chơi được xem như một hình thức tổ chức cuộc sống cho trẻ, nó được xem như một phương tiện giáo dục trẻ có hiệu lực nhất, vì qua đó nó ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ, nó còn là phương cách nhận thức thế giới của trẻ em [85] Trong phương pháp giáo dục hiện đại, trò chơi là một môn huấn luyện quan trọng

Trang 35

24

Nước Bỉ đứng hàng đầu về tiến bộ sư phạm, thấy rõ sự quan trọng và ích lợi của trò chơi trong công tác giáo dục, nên đã đưa bộ môn trò chơi vào trong chương trình giáo dục quốc gia Trò chơi là một phương tiện để tái tạo lại tâm

lý ổn định cho một số em khó tính, dở người, vô trật tự vì trong lúc chơi, trẻ

em không thu mình lại, chúng sẽ vui vẻ hẳn lên, thích hoạt động hơn Khi bị khép vào luật chơi, các em sẽ dần dần có trật tự, kỷ luật và sinh động hơn [73], [88]

1.6.2 Ý nghĩa giáo dục của trò chơi

Giáo dục đạo đức: Trong khi chơi, trẻ nắm được các tiêu chuẩn đạo đức, các quy tắc hành vi một cách thực tiễn Nhờ những mối quan hệ đa dạng trong trò chơi mà đứa trẻ tham gia đã hình thành được các phẩm chất đạo đức quý giá như: Lòng nhân ái, vị tha biết giúp đỡ lẫn nhau, tính kỷ luật, tổ chức, ý thức tập thể sáng tạo

Giáo dục trí tuệ: Trò chơi là một hình thức của hoạt động nhận thức Nó giúp trẻ phát triển các giác quan, phát triển ngôn ngữ, tư duy hành động trực quan, tư duy trực quan hình tượng, phát triển óc tưởng tượng của trẻ em Qua trò chơi, nhu cầu nhận thức của trẻ em sẽ được phát triển Trẻ muốn biết nhiều hơn để tái tạo cuộc sống của người lớn, nói đúng hơn để làm trò chơi giống thật

Giáo dục thể lực: Tạo cho trẻ trạng thái vui vẻ, lanh lợi, hoạt bát, tác động tốt đến sự tuần hoàn, trao đổi chất, giúp cơ thể phát triển nhanh, khỏe

Giáo dục lao động: Mục đích căn bản của trò chơi đó là: Phải dần dần biến trò chơi thành thói quen lao động.Trong khi chơi, trẻ làm quen dần với các loại hình lao động của người lớn, giúp trẻ vừa mở rộng hiểu biết vừa rèn luyện được một số kỹ năng lao động tự phục vụ, biết quý trọng lao động

Giáo dục thẩm mỹ: Thông qua trò chơi, trẻ phản ánh được mối quan hệ xã hội của người lớn và cũng qua đó, trẻ cảm thụ được cái đẹp [14], [35], [57] Tóm lại, trò chơi là một phương tiện giáo dục và giải trí, giúp cho cá nhân

Trang 36

25

được rèn luyện, giúp cho tập thể có được bầu không khí vui vẻ, thân ái, thông cảm Trong một buổi sinh hoạt của thanh thiếu niên mà thiếu những trò chơi thì thật là buồn tẻ, gây nhàm chán cho các em khi tổ chức sinh hoạt

1.6.3 Mục đích và lợi ích giáo dục của trò chơi

Mục đích của trò chơi: Trò chơi là sự chuẩn bị thói quen lao động và nó dần dần phải được thay thế bằng lao động Với mục đích trên, người lớn phải làm sao cho trò chơi không trở thành nguyện vọng duy nhất của trẻ, không làm

nó lãng quên hoàn toàn các mục đích xã hội và cần phải làm sao để trò chơi có tác dụng giáo dục những thói quen tâm lý và thể lực cần thiết cho công việc

Ở lứa tuổi còn nhỏ, mục đích của các trò chơi mang tính chất bắt chước thuần túy và có thể gọi đó là những mục đích mang tính chất ước lệ Càng lớn, mục đích trò chơi càng được tính toán cẩn thận và có động cơ rõ ràng Để có thể đạt được mục đích trò chơi chúng ta cần có những hình thức sinh động vui tươi, lôi cuốn dần đứa trẻ vào lĩnh vực lao động Đây là một quá trình diễn ra chậm chạp song liên tục Sự chuyển từ trò chơi sang việc tổ chức cuộc sống và lao động diễn ra như sau: Các mục đích có yếu tố lý trí nhiều hơn; Các phương pháp tiến hành thực tế hơn; Các kỹ năng tổ chức hình thành khi chơi có thể được chuyển thành kỹ năng tổ chức lao động cuộc sống [56], [67]

Lợi ích của trò chơi [73], [88], [96]:

Luyện tính tình: Các em trở nên vui vẻ, sôi động Rèn luyện tính đồng đội, biết đoàn kết gắn bó với nhau để giành chiến thắng, phát triển năng khiếu tốt,

sự can đảm, gan dạ, lòng vị tha

Luyện ý chí và ý thức: Hăng say đua tranh để giành chiến thắng Tự chủ, không rụt rè, sợ hãi, không bị lôi cuốn bởi nhiệt tình bồng bột Chấp hành kỷ luật của trò chơi Kiên nhẫn trong khi chơi Biết sáng tạo, linh động

Luyện giác quan: Với những trò chơi phản ứng nhanh, ghi nhớ, nhanh mắt, thính tai, lẹ tay, quan sát, tập trung tư tưởng (trò chơi Kim, thò thụt, cái tát bất ngờ, bịt mắt bắt dê )

Trang 37

26

Tăng cường sức khỏe: Trò chơi thường được tổ chức ngoài thiên nhiên thoáng đãng, không khí trong lành Có nhiều trò chơi cần đến sự vận động cơ bắp như: chạy nhảy, kéo đẩy, mang vác

Trò chơi cũng có thể chữa trị cho những em bị trầm uất, bị căng thẳng hay suy nhược thần kinh

Trò chơi giáo dục các em biết ý thức công dân Những em biết tự giác tôn trọng luật chơi, cũng sẽ tự giác giữ đúng pháp luật, luật lệ

1.7 Trò chơi dân gian và thể thao dân tộc là một phương tiện giáo dục thể chất

Trò chơi vận động dân gian và thể thao dân tộc là một trong các phương tiện GDTC, là hoạt động có ý thức, nhằm đạt được những kết quả, những mục đích có điều kiện đã được đặt ra Trong khi thực hiện các nhiệm vụ của trò chơi, mỗi người trong từng “vai trò” của mình phải sử dụng các hoạt động như: nói, hát, trả lời, đi, chạy, nhảy, ném, vỗ, đập, leo, mang, vác, bò, trườn, vượt qua chướng ngại vật, tự bảo vệ mình hoặc bảo vệ đồng đội…[1], [52], [53]

Trong giáo dục thể chất, trò chơi vận động vừa là một phương tiện vừa là phương pháp tập luyện hữu hiệu nhằm phối hợp hoạt động một cách hữu cơ với việc rèn luyện thân thể Trò chơi vận động là một hình thức giáo dục thể chất được vận dụng rộng rãi trong nhà trường các cấp

Trò chơi vận động được hình thành trong lịch sử, gắn liền với truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, trở thành một phần của nét đẹp văn hóa Việt Nam [36], [37] Nhiều trò chơi vận động, nhất là các trò chơi vận động dân gian có lời đồng giao đã trở thành ký ức không thể phai mờ của các thế hệ con người Việt Nam, nhiều trò chơi vận động truyền thống đã trở thành môn thể thao thi đấu cấp quốc gia và quốc tế Những trò chơi đó rất cần được hướng dẫn cho thế hệ trẻ để cùng gìn giữ và phát huy [77]

Trò chơi không phải là một hình thức giải trí đơn thuần, mà có ý nghĩa giáo dục và giáo dưỡng cao, góp phần tích cực vào việc giáo dục học sinh về

Trang 38

27

các phẩm chất đạo đức, trí dục và sức khỏe Trong thời gian chơi học sinh luôn thể hiện tính tích cực, sáng tạo và tự giác, mọi hành động của những người tham gia trò chơi thường chịu sự chỉ đạo và ràng buộc bởi các quy tắc đạo đức,

xã hội nhất định Qua đó, rèn luyện cho học sinh biết giữ kỉ luật, phục tùng lợi ích của tập thể, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau Mặt khác, trong khi chơi thường bộc lộ đầy đủ nhất, toàn diện nhất cá tính của con người Qua đó, có thể chỉ cho các em rõ ưu điểm, khuyết điểm, mở rộng đấu tranh phê bình và tự phê bình Trò chơi vận động còn có tác dụng phát triển tố chất vận động và rèn luyện tăng cường sức khỏe cho học sinh Ở lứa tuổi nhỏ, các hoạt động chạy, nhảy, ném, chống đỡ được huấn luyện dưới hình thức trò chơi

Khi giảng dạy TDTT, trò chơi được dùng rộng rãi trong nội khoá và ngoại khoá Trò chơi có ý nghĩa, tác dụng giáo dục đáng kể Trò chơi vận động góp phần rất lớn vào việc thúc đẩy phong trào xây dựng trường học thân thiện Đây

là một chủ trương đúng đắn, duy trì những giá trị truyền thống của dân tộc; Giáo dục học sinh nhiều đức tính tốt thông qua các trò chơi

Trò chơi vận động là một hoạt động thu hút được nhiều đối tượng tham gia bởi tính hấp dẫn của nó Đặc biệt với đặc điểm tâm lí của trẻ em là hiếu động, thích cái mới, cái hấp dẫn, ham chơi, khi tổ chức các hoạt động cho thiếu nhi, người tổ chức cần lựa chọn trò chơi phù hợp với tâm đặc điểm tâm lí lứa tuổi, văn hóa vùng miền, giới tính để các em đều có thể tham gia trò chơi mạnh dạn tự tin hơn Bố trí thời gian tổ chức trò chơi hợp lí, vừa sức vừa mức, biết dừng lại việc tổ chức trò chơi đúng lúc, thay đổi hình thức của trò chơi một cách linh hoạt, sáng tạo để tránh sự nhàm chán với các em, tránh việc quá chú trọng sự phân định thắng thua, hoặc đánh giá việc tham gia chơi của các đội vì

sẽ tạo nên sự ganh đua, gây mất đoàn kết và đặc biệt là phải đảm bảo an toàn tuyệt đối trong khi tổ chức trò chơi [27], [70], [71]

Trò chơi vận động bao gồm tất cả các trò chơi lành mạnh, bổ ích trong nhà trường và những trò chơi dân gian (nhảy bao bố, kéo co, bịt mắt bắt dê, mèo

Trang 39

28

đuổi chuột, ), nhưng đồng thời cũng gồm cả các bài hát ngắn, các vũ điệu đơn giản, các tiết mục ảo thuật bỏ túi, các câu đố vui, các câu băng reo… vẫn thường được dùng trong các buổi sinh hoạt tập thể như là những tiết mục sinh hoạt nho nhỏ Cũng do vậy, người Quản trò tổ chức và điều khiển cuộc chơi đúng nghĩa, phải là một người tương đối có kinh nghiệm về sinh hoạt tập thể, được trang bị các kỹ năng cần thiết về nhiều mặt và tinh thần năng động

Trò chơi vận động góp phần làm cho bầu khí tập thể thêm sống động vui

vẻ, nhanh chóng giúp mọi người có mặt thoát khỏi sự thụ động khép kín, xóa

bỏ mọi cách biệt và xa lạ ngại ngùng, giải tỏa sự căng thẳng tâm lý và sức ỳ cơ thể Như thế, trò chơi ít nhất phải đem lại niềm vui, cởi mở sảng khoái trong những giờ phút sinh hoạt bên nhau Ở mặt yêu cầu này, trò chơi rất cần sự phối hợp của các bài hát ngắn, vui, dễ tập; hoặc các điệu múa tập thể đơn giản và có

ý nghĩa thích hợp với các em học sinh Trò chơi vận động giúp nhận thức về tinh thần kỷ luật, tính trung thực trong ganh đua, các mối tương quan ứng xử tốt đẹp trong xã hội, lòng yêu mến tôn trọng thiên nhiên và của công, góp phần giáo dục tính cách công dân [14]

Có thể nói trò chơi xuất hiện từ rất lâu, nó gắn liền với các hoạt động lao động, văn hoá và tín ngưỡng của con người thời tiền sử Xuất phát từ những hành động, hành vi mô phỏng các hoạt động lao động như: đi, chạy nhẩy, leo trèo, nắm bắt, ném phóng Những thao tác bắt chước đó được hình tượng hoá mang tính chất tượng trưng tập luyện cho thuần thục và đôi khi mang tính thần

bí Với sự phát triển của xã hội, các nghi thức tôn giáo mất dần ý nghĩa, chỉ còn giữ lại mục đích vui chơi, giải trí, rèn luyện giáo dục của cộng đồng Nhờ khả năng tư duy, ngôn ngữ phát triển người ta nhận thấy tầm quan trọng của sự chuẩn bị trước về các công cụ lao động, sức khỏe và sự tập luyện những thao tác cơ bản, để hiệu quả lao động đạt được cao hơn [35], [40]

1.8 Đặc điểm sinh lý, tâm lí độ tuổi sinh viên

1.8.1 Đặc điểm sinh lý

Trang 40

29

Lứa tuổi sinh viên, xương và khớp bắt đầu ổn định, sau lứa tuổi 20-25 xương có thể cốt hoá hoàn toàn và không thể phát triển thêm nữa Ở lứa tuổi sinh viên, chiều cao đứng cơ thể có thể tăng thêm được vài cm, do sự phát triển của các sụn đệm giữa các khớp xương Các tổ chức sụn đệm này dần dần xẹp lại ở vào sau tuổi 40 và cũng làm cho chiều cao đứng của cơ thể giảm đi vài centimét Như vậy, có thể nói lứa tuổi 20 -25 là thời điểm chiều cao đứng của

cơ thể cao nhất của cuộc đời con người Các bài tập thể chất có thể làm tăng khả năng phát triển chiều cao đứng của cơ thể, song phải được bắt đầu tập luyện

ở lứa tuổi sớm hơn lứa tuổi sinh viên [26], [56]

Sự phát triển của cơ có quy luật nhất định, cơ bắt đầu phát triển khoảng

từ lứa tuổi 8-9, đến lứa tuổi 15-18 cơ thân mình phát triển nhanh nhất, sau khi kết thúc thời kỳ tăng trưởng cơ thể, chiều cao đứng của cơ thể phát triển chậm lại thì độ dày cơ bắt đầu phát triển nhanh Thời kỳ này sợi cơ dày lên rõ rệt Nam khoảng tuổi 18-19, nữ sớm hơn một vài năm so với nam, thời kỳ này, trọng lượng cơ thể tăng lên, các chỉ số về thiết diện ngang của cơ thể cũng tăng lên rõ rệt

Trong quãng đời con người, tần số mạch đập không giống nhau, ở lứa tuổi nhỏ, tần số mạch đập tương đối nhanh, đến tuổi 20 (nghĩa là ở lứa tuổi thanh niên trong đó có sinh viên) tần số mạch đập bắt đầu ổn định Huyết áp phụ thuộc vào trương lực thành mạch, ở lứa tuổi nhỏ huyết áp chưa ổn định, tuy nhiên sự thay đổi không rõ ràng, sau tuổi 16 huyết áp bắt đầu ổn định Đặc điểm sinh lý lứa tuổi ảnh hưởng rõ rệt đến chức năng hô hấp, như chu kỳ hô hấp, độ sâu hô hấp, tần số hô hấp… Sự hoàn thiện của dung tích sống xảy ra muộn, kéo dài đến lứa tuổi 24 -25 Lứa tuổi sinh viên là lứa tuổi tương đối thuận lợi để phát triển chức năng hô hấp [26]

1.8.2 Đặc điểm tâm lý

Mỗi một lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu

sự chi phối của hoạt động chủ đạo Ở đây, chúng tôi quan tâm đến sinh viên,

Ngày đăng: 13/09/2022, 05:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Kim Anh (2013), Nghiên cứu phát triển thể dục thể thao quần chúng xã, bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, Viện khoa học TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển thể dục thể thao quần chúng xã, bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc
Tác giả: Nguyễn Ngọc Kim Anh
Năm: 2013
4. Bộ Chính trị (2011), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2011
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), Thông báo số 158/TB-BGDĐT, ngày 04/3/2019, Thông báo kết luận của Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ tại Hội nghị “Nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và thể thao trường học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và thể thao trường học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2019
14. Dương Nghiệp Chí, Lương Kim Chung (2001), Xã hội học Thể dục thể thao, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Thể dục thể thao
Tác giả: Dương Nghiệp Chí, Lương Kim Chung
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2001
15. Vũ Mạnh Cường (2018), Cải tiến chương trình Giáo dục Thể chất theo hướng tăng cường kỹ năng tổ chức hoạt động Thể dục thể thao trường học và xã, bản cho hệ Cao đẳng sư phạm của trường Đại học Tây Bắc, Luận án Tiến sĩ giáo dục học, Viện khoa học TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải tiến chương trình Giáo dục Thể chất theo hướng tăng cường kỹ năng tổ chức hoạt động Thể dục thể thao trường học và xã, bản cho hệ Cao đẳng sư phạm của trường Đại học Tây Bắc
Tác giả: Vũ Mạnh Cường
Năm: 2018
16. Hoàng Công Dân (2005), Nghiên cứu phát triển thể chất học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực miền núi phía Bắc, Luận án Tiến sĩ giáo dục học, Viện khoa học TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển thể chất học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực miền núi phía Bắc
Tác giả: Hoàng Công Dân
Năm: 2005
17. Phùng Xuân Dũng (2017), Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá cho sinh viên Trường đại học Sư phạm TDTT Hà Nội, Luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục, Trường đại học TDTT Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá cho sinh viên Trường đại học Sư phạm TDTT Hà Nội
Tác giả: Phùng Xuân Dũng
Năm: 2017
18. Vũ Cao Đàm (2002), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2002
22. Lê Trường Sơn Chấn Hải (2012), Đổi mới chương trình GDTC cho sinh viên các trường đại học sư phạm vùng Tây Bắc theo hướng bồi dưỡng nghiệp vụ tổ chức hoạt động TDTT trường học, Luận án Tiến sĩ giáo dục học, Viện Khoa học TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chương trình GDTC cho sinh viên các trường đại học sư phạm vùng Tây Bắc theo hướng bồi dưỡng nghiệp vụ tổ chức hoạt động TDTT trường học
Tác giả: Lê Trường Sơn Chấn Hải
Năm: 2012
23. Phạm Minh Hạc (2001), Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
24. Nguyễn Văn Hòa (2017), Cải tiến chương trình giảng dạy các môn thể thao tự chọn cho sinh viên không chuyên Trường Đại học Cần Thơ, Luận án Tiến sĩ Khoa học giáo dục, Trường Đại học TDTT TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải tiến chương trình giảng dạy các môn thể thao tự chọn cho sinh viên không chuyên Trường Đại học Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa
Năm: 2017
25. Nguyễn Thị Thu Hiền (2018), Nghiên cứu phát triển thể thao trường học trong các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Luận án Tiến sĩ giáo dục học, Viện Khoa học TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển thể thao trường học trong các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền
Năm: 2018
26. Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên (2003), Sinh lý thể dục thể thao, Nxb, TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý thể dục thể thao
Tác giả: Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên
Năm: 2003
27. Lê Văn Hồng (2007), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. tr 189 – 208 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. tr 189 – 208
Năm: 2007
86. Phạm Thanh Cẩm (2012), Thể thao trường học: Thực trạng và giải pháp. http://www.tapchithethao.vn Link
87. Châu Giang (2012), Giáo dục thể chất - yếu tố không thể thiếu trong đào tạo phát triển toàn diện của sinh viên trong nhà trường.http://www.vnq.edu.vn Link
88. Nguyễn Thị Vân Hương (2016), Tổ chức trò chơi dân gian nhằm giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học. http://www.vnq.edu.vn Link
89. Lê Đức Luận (2009), Những yếu tố tác động đến chất lượng giáo dục đại học. http://www.qnamuni.edu.vn Link
93. Lê Quý Phượng (2012), Quản lý Nhà nước về Thể dục thể thao, Nguồn https://www.google.com.vnWebsites tiếng Anh Link
94. Amy M. Tenhouse, College extracurricular activities - impact on students, types of extracurricular activities.(Nguồn: http://education.stateuniversity.com/pages/1855/Conege-Extracurricular Activities.html#ixzz0zfmj4jIy) Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm