Nghiên cứu và dự báo tình hình kinh tế thế giới nói chung cũng như tình hình thị trường nông sản nói riêng trong thời gian sắp tới để thấy được những khó khăn thách thức với hoạt động
Trang 1cảnh kinh tế hiện nay
Trang 2
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những đặc trưng quan trọng của tình hình thế giới hiện nay là xu hướng quốc tế hoá và hội nhập kinh tế toàn cầu Nến kinh tế thế giới phát triển nhanh chóng kéo theo nó là sự chuyên môn hoá và phân công lao động quốc tế ngày một cao Không một quốc gia nào có thể phát triển mạnh mẽ nếu chỉ bằng con đường tự lực cánh sinh, đặc biệt là với các nước đang phát triển và trình độ kĩ thuật công nghệ còn non kém như Việt Nam Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng đã khẳng định: “kiên trì chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả, phát huy lợi thế so sánh của từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực trong từng thời kỳ, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước, thị trường khu vực và thị trường thế giới”
Việt Nam được coi là một nước có lợi thế so sánh trong xuất khẩu nông sản với
vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài nguyên phong phú, nguồn nhân công dồi dào (70% lao động Việt Nam làm nghề nông) Bên cạnh đó, trong nhiều năm qua xuất khẩu nông sản đã giải quyết được phần lớn công ăn việc làm cho người lao động
và mang lại một nguồn ngoại tệ lớn cho quốc gia Chính vì vậy xuất khẩu nông sản đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá ở nước ta
Hoà cùng xu thế phát triển của đất nước, Tổng công ty Thương mại Hà Nội (tiền thân là Công ty sản xuất, dịch vụ và xuất nhập khẩu Nam Hà Nội) cũng không ngừng chú trọng và coi đẩy mạnh xuất khẩu nông sản là lối đi đúng đắn trong chiến lược kinh doanh lâu dài của mình Song trong giai đoạn hội nhập sôi động như hiện nay thì việc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường và khẳng định thương hiệu của Tổng công ty ngày càng trở nên khó khăn hơn, thêm vào đó, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đã bắt đầu ảnh hưởng mạnh đến xuất khẩu nông sản (làm tăng chí phí đầu vào, sức mua người tiêu dùng giảm sút…) Do đó làm thế nào để khắc phục được
Trang 3
nhanh chóng những ảnh hưởng tiêu cực trên đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu nông sản của Tổng công ty trong thời gian tới đang trở thành một vấn đề cấp thiết cần phải được giả quyết
Từ thực tế đó em đã lựa chọn đề tài “Thực trạng - Giải pháp đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu hàng nông sản của Tổng công ty Thương mại Hà Nội trong bối cảnh kinh tế hiện nay” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình Qua bài viết này, em
mong muốn sẽ đóng góp được một số ý kiến quan trọng giúp cải thiện được tình hình Tổng công ty nói chung cũng như sự lớn mạnh của bộ phận xuất khẩu nông sản nói riêng trong tương lai
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích: tìm ra các giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nông sản của Tổng công ty Thương mại Hà Nội (Hapro)
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đi từ cơ sở lí luận chung về hoạt động xuất khẩu nông sản cho đến thực tế tình hình xuất khẩu nông sản tại Tổng công ty Thương mại Hà Nội để thấy được những ưu nhược điểm của hoạt động này
Nghiên cứu và dự báo tình hình kinh tế thế giới nói chung cũng như tình hình thị trường nông sản nói riêng trong thời gian sắp tới để thấy được những khó khăn thách thức với hoạt động xuất khẩu nông sản của Tổng công ty trong thời gian tới
Đưa ra những biện pháp và kiến nghị cụ thể nhằm khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu nông sản của Tổng công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động xuất khẩu nông sản của Tổng công ty Thương mại
Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: chuyên đề chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu nông sản của Tổng công ty Thương mại Hà Nội (bao gồm cả Công ty mẹ và các công ty con
Trang 4
trực thuộc) dưới những biến động thường xuyên của bối cảnh kinh tế thế giới trong giai đoạn 2004-2009
4 Kết cấu chuyên đề: ngoài phần mở đầu, kết luận thì chuyên đề bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan chung về hoạt động xuất khẩu hàng nông sản ở Việt Nam Chương 2: Tình hình xuất khẩu hàng nông sản của Tổng công ty Thương mại Hà Nội
Hapro trong những năm gần đây
Chương 3: Các giải pháp, kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng nông
sản của Hapro trong bối cảnh kinh tế hiện nay
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG
NÔNG SẢN TẠI VIỆT NAM
1.1 Khái quát chung về hoạt động xuất khẩu
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của xuất khẩu
Theo quan niệm của doanh nghiệp thì xuất khẩu là việc bán các hàng hoá, dịch
vụ ra thị trường nước ngoài nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng nước ngoài và thu
về một lượng tiền tệ tương ứng (có thể là ngoại tệ hoặc nội tệ)
Theo qui định khoản 1 điều 28 Luật Thương mại Việt Nam thì “xuất khẩu hàng hóa là việc đưa hàng hoá ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo qui định của pháp luật”
Trang 5
Như vậy, về bản chất có thể coi xuất khẩu là việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ
cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương thức thanh toán Ngày nay khi xu
thế hội nhập toàn cầu và mở cửa nền kinh tế đang ngày một phát triển thì xuất khẩu đã trở thành một hoạt động không thể thiếu đối với mỗi quốc gia Hoạt động xuất khẩu được tiến hành trong mọi lĩnh vực, ngành nghề, dưới nhiều hình thức khác nhau đã và đang đem lại những lợi ích to lớn cho nhà xuất khẩu và cho cả quốc gia
So với buôn bán hàng hoá trong nước thì hoạt động xuất khẩu hàng hoá có những điểm khác biệt cơ bản dễ nhận thấy như:
Hai chủ thể chính trong hoạt động xuất khẩu (bên mua và bên bán) là những cá nhân hay tổ chức có tư cách pháp nhân, có quốc tịch và trụ sở chính của doanh nghiệp đóng ở các nước khác nhau Đây là điểm khác biệt cơ bản và quan trọng nhất Chính vì sự khác biệt trong ngôn ngữ, lối sống, phong tục tập quán, cách thức làm việc…giữa hai bên nên nghiệp vụ xuất khẩu thường khó khăn, phức tạp và dễ nảy sinh mâu thuẫn hơn so với buôn bán hàng hoá trong nước
Hàng hoá trong hoạt động xuất khẩu có thể bị dịch chuyển qua biên giới một quốc gia và khối lượng hàng hoá thường là lớn hơn rất nhiều so với buôn bán trong nước
Phương tiện thanh toán dùng trong xuất khẩu có thể là ngoại tệ đối với một bên hoặc với cả hai bên do thoả thuận trong hợp đồng xuất khẩu
Nguồn luật điều chỉnh quan hệ mua bán, giải quyết các tranh chấp khi phát sinh
có thể là luật của nước bên mua, luật của nước bên bán hay luật quốc tế mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng
1.1.2 Vai trò của xuất khẩu hàng hoá
1.1.2.1 Đối với nền kinh tế quốc gia
* Xuất khẩu góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, kích thích sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Trang 6
Xuất khẩu được hầu hết các quốc gia trên thế giới coi như là một cách thức hữu hiệu nhất để đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế do những nguyên nhân cơ bản sau đây:
Xuất khẩu tạo cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ, cho phép mở rộng qui mô sản xuất, nhiều ngành nghề mới ra đời theo phản ứng dây chuyền giúp tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
Xuất khẩu tạo ra một nguồn vốn lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị, các công nghệ hiện đại phục vụ sản xuất, đưa nền kinh tế tiến lên theo con đường Công nghiệp hoá- hiện đại hoá
Hoạt động xuất khẩu làm cho mức độ cạnh tranh ngày càng tăng tiến, điều này buộc mỗi quốc gia phải có sự tổ chức lại sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm không ngừng
Xuất khẩu tạo ra một nguồn ngoại tệ giúp cân bằng cán cân thanh toán Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các nước đang phát triển khi mà tình trạng nhập siêu khá phổ biến
* Xuất khẩu có vai trò tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng
sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh của đất nước
Xuất khẩu lấy thị trường thế giới làm thị trường của mình nên nhu cầu của thế giới chính là mục tiêu hướng tới của xuất khẩu Những mặt hàng nào có khả năng phục
vụ tốt nhu cầu của con người trên thế giới thì sẽ trụ vững và phát triển, còn không nó
sẽ bị đào thải và xoá sổ nhanh chóng Chính vì vậy xuất khẩu có tác dụng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá, hoà mình vào
xu thế chung của toàn thế giới hiện nay
Như ta đã biết có hai xu hướng xuất khẩu là: xuất khẩu đa dạng và xuất khẩu mũi nhọn
Xuất khẩu đa dạng tức là mặt hàng nào có khả năng xuất khẩu được thì đều xuất khẩu, chính vì không có sự tập trung đầu tư thích đáng nên qui mô và chất lượng hàng xuất khẩu thường không cao, hiệu quả xuất khẩu kém
Trang 7
Xuất khẩu mũi nhọn là tâp trung vào xuất khẩu những mặt hàng mà nước mình
có lợi thế so sánh (có điều kiện thuận sản xuất thuận lợi hơn so với các nước khác) Xuất khẩu mũi nhọn có tác dụng như một đầu tàu, tuy nhỏ bé nhưng có sức kéo cả đoàn tàu vượt lên trước nhanh chóng
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay, khi chuyên môn hoá và phân công lao động quốc tế ngày một phát triển thì xuất khẩu mũi nhọn đang dần trở thành hướng xuất khẩu chủ yếu của hầu hết các nước Khi các mặt hàng mũi nhọn xuất khẩu đạt hiệu quả cao tất yếu sẽ dẫn theo sự phát triển của các ngành hàng liên quan
Ví dụ như khi xuất khẩu hàng dệt may phát triển, nó sẽ kéo theo sự phát triển của ngành trồng bông, đay nhằm cung cấp kịp thời nguyên vật liệu cho ngành dệt may Hoặc khi các mặt hàng thực phẩm chế biến được xuất khẩu ngày một nhiều thì sẽ kéo theo sự đi lên của ngành chăn nuôi, trồng trọt…
Rõ ràng xuất khẩu đã và đang làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành trong mỗi nước, tỷ trọng ngành mũi nhọn và các ngành liên quan đang ngày một chiếm ưu thế trong toàn bộ nền kinh tế
* Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống người lao động
Một mặt hàng xuất khẩu phát triển sẽ kéo theo sự xuất hiện của nhiều ngành nghề mới liên quan, tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động trong nước Thêm vào đó các đơn đặt hàng từ nước ngoài thường có khối lượng hàng hoá lớn, thời gian lại gấp rút nên rất cần tập trung nhân công để có thể hoàn thành hợp đồng đúng hạn Chính vì vậy xuất khẩu luôn được coi là một công cụ giải quyết nạn thất nghiệp đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Xuất khẩu còn tạo ra một nguồn vốn để nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu mà trong nước chưa có khả năng sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng cảu người tiêu dùng, qua đó nâng cao chất lượng cuộc sống cả về vật chất và tinh thần
Trang 8
* Hoạt động xuất khẩu là cơ sở để nâng cao uy tín của một quốc gia trên trường thế giới đồng thời cũng là động lực thúc đẩy mối quan hệ kinh tế đối ngoại với các nước khác
Nhờ có hoạt động xuất khẩu mà hàng hoá của một nước được bày bán và biết đến tại nhiều khu vực trên thế giới, đặc biệt là với các mặt hàng có tính truyền thống thì việc xuất khẩu đồng nghĩa với việc quảng bá hình ảnh, khẳng định uy tín cũng như thương hiệu của đất nước đó với toàn thế giới Thông qua xuất khẩu mà một quốc gia
có thể thiết lập và mở rộng mối quan hệ với các nước khác trên cơ sở đôi bên cùng có lợi
Xuất khẩu chỉ là một bộ phận của kinh tế đối ngoại nhưng sự phát triển của nó
đã thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ tín dụng - vay nợ quốc tế, đầu tư nước ngoài,
mở rộng vận tải quốc tế, bảo hiểm quốc tế, du lịch quốc tế… Ngược lại sự phát triển của các quan hệ quốc tế này cũng tạo không ít thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu.Vì vậy có thể nói xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có mối quan hệ hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau
1.1.2.2 Đối với doanh nghiệp
Vươn ra thị trường nước ngoài là một xu hướng chung của hầu hết các doanh nghiệp lớn nhỏ hiện nay Việc xuất khẩu hàng hoá dịch vụ đã mang lại cho các doanh nghiệp nhiều lợi ích như
* Hoạt động xuất khẩu giúp cho các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển, đặc biệt
là khi thị trường trong nước trở nên bão hoà Xuất khẩu giúp mở rộng thị trường, kéo dài tuổi thọ chu kỳ sống của sản phẩm, đẩy mạnh số lượng tiêu thụ trên thị trường quốc tế, làm tăng tốc độ quay vòng vốn và thu về một lượng giá trị lớn hơn cho doanh nghiệp
* Thông qua hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp tham gia vào một cuộc cạnh tranh sôi động hơn cả về chất lượng và giá cả, những yêu cầu khắt khe hơn của thị trường quốc tế sẽ kích thích các doanh nghiệp phải đổi mới phương thức kinh doanh, nâng
Trang 9* Doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài trên cơ sở đôi bên cùng có lợi
* Sản xuất hàng xuất khẩu mang lại lợi nhuận cao nên nó giúp doanh nghiệp tạo được thu nhập ổn định cho cán bộ công nhân viên, đồng thời thu hút được nhiều lao động có chuyên môn và tay nghề hơn
* Thị trường quốc tế rộng lớn chứa đựng nhiều rủi ro cũng như cơ hội, những doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường này nếu thành công sẽ có thể tăng cao được thế lực,
uy tín của mình cả trong và ngoài nước, qua đó tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh trong lâu dài
1.1.3 Các hình thức xuất khẩu
1.1.3.1 Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu mà các doanh nghiệp ngoại thương
tự bỏ vốn ra mua sản phẩm từ các đơn vị sản xuất trong nước, sau đó trực tiếp tiến hành các giao dịch buôn bán và kí kết hợp đồng xuất khẩu với đối tác nước ngoài nếu được nhà nước và Bộ Thương mại cho phép Với hình thức này các doanh nghiệp trực tiếp quan hệ với các khách hàng nước ngoài mà không qua bất kỳ một trung gian nào
Ưu điểm của phương thức này là
Các doanh nghiệp sẽ đạt được hiệu quả kinh doanh cũng như lợi nhuận cao hơn
do tự mình mua được hàng hoá tốt phù hợp với yêu cầu khách hàng với giá mua vào thấp và không phải cho trả chi phí cho bên trung gian nào
Các điều kiện trong hợp đồng xuất khẩu ( giá cả hàng hoá, phương tiện vận chuyển, thời gian và địa điểm giao hàng, phương thức thanh toán) do hai bên tự thoả thuận và quyết định nên sẽ đảm bào được lợi ích của hai bên
Trang 10
Các doanh nghiệp xuất khẩu có cơ hội thâm nhập thị trường, trực tiếp tìm hiểu nhu cầu sở thích cũng như ý kiến phản hồi từ khách hàng nên khả năng đáp ứng yêu cầu hay khắc phục thiếu sót sẽ tốt hơn
1.1.3.2 Xuất khẩu uỷ thác
Đây là một hình thức dịch vụ thương mại, trong đó đơn vị có hàng xuất khẩu (bên uỷ thác) sẽ giao cho đơn vị xuất khẩu (bên được uỷ thác) tiến hành xuất khẩu một
lô hàng nhất định với danh nghĩa của bên được uỷ thác nhưng với chi phí của bên uỷ thác Đơn vị xuất khẩu chỉ thực hiện các thủ tục xuất khẩu hàng hóa, kể cả vận chuyển
và được nhận một khoản tiền do bên uỷ thác trả (gọi là phí uỷ thác)
Ưu điểm: doanh nghiệp ngoại thương không phải tự bỏ vốn ra mua hàng, không
phải chi cho các khoản nghiên cứu thị trường, giao dịch kí kết hợp đồng xuất khẩu,không phải chịu trách nhiệm cuối cùng về việc bán hàng nên tránh được những
rủi ro trong kinh doanh mà vẫn thu được lợi nhuận chắc chắn từ phí uỷ thác
Nhược điểm: Vì không tham gia trực tiếp vào quá trình nghiên cứu, tìm kiếm
thị trường xuất khẩu nên thị trường và khách hàng của doanh nghiệp bị hạn chế tương đối
1.1.3.3 Xuất khẩu gia công: có 2 hình thức gia công chính trong hoạt động xuất khẩu
Trang 11
* Xuất khẩu gia công uỷ thác
Theo hình thức này thì các doanh nghiệp ngoại thương sẽ đứng ra nhập nguyên vật liệu, bán thành phẩm cho các doanh nghiệp trong nước gia công, sau đó thu hồi lại
và đem xuất cho bên nước đặt gia công.Các bước tiến hành như sau:
Kí hợp đồng với bên nhận gia công
Kí hợp đồng với bên đặt gia công và nhập nguyên vật liệu họ cung cấp về nước
Giao nguyên liệu cho bên nhận gia công
Nhập lại thành phẩm từ bên gia công và xuất trả lại cho bên đặt gia công
Thanh toán chi phí cho đơn vị gia công và hưởng phí uỷ thác gia công
Hình thức này có ưu điểm
Bên được uỷ thác không cần bỏ vốn kinh doanh mà vẫn thu được lợi nhuận từ phí uỷ thác gia công, việc thanh toán cho bên gia công được bảo đảm vì đầu ra khá chắc chắn
Bên trung gian được uỷ thác thường am hiểu thị trường, pháp luật, tập quán của bên nước ngoài nên họ có khả năng giảm thiểu rủi ro và ép giá trong xuất khẩu hàng gia công
Nhược điểm là cần qua nhiều khâu xuất nhập, thủ tục phức tạp vì có nhiều bên
tham gia vào nghiệp vụ xuất khẩu Hình thức này chỉ thích hợp với các doanh nghiệp ngoại thương có nhiều kinh nghiệm về nghiệp vụ xuất nhập khẩu
* Gia công quốc tế
Theo hình thức này thì bên xuất khẩu là bên nhận gia công còn bên nhập khẩu chính là bên đặt gia công Bên nhận gia công sẽ nhập nguyên liệu hay bán thành phẩm của bên đặt gia công để chế biến ra thành phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công và được nhận phí thù lao gọi là phí gia công
Ưu điểm của hình thức này là
Đối với bên nhận gia công: tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, tạo điều kiện đổi mới và cải tiến kĩ thuật công nghệ nhằm nâng cao năng lực sản xuất
Trang 12Hình thức này chủ yếu áp dụng trong các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động
và nguyên vật liệu như: dệt may, đóng giầy da…
1.1.3.4 Xuất khẩu theo hình thức buôn bán đối lưu
Là hình thức xuất khẩu đi đôi với nhập khẩu, việc mua bán gắn liền với nhau, người mua đồng thời là người bán, lượng hàng hóa trao đổi với nhau phải có giá trị tương đương Các bên buôn bán đối lưu phải luôn quan tâm đến sự cân bằng trong trao đổi hàng hoá (cân bằng về mặt hàng, giả cả, tổng giá trị hàng hoá giao nhau, điều kiện giao hàng)
Mục đích xuất khẩu không phải là thu về lợi nhuận mà nhằm thu về một lượng hàng tương đương với lô hàng đã xuất Ưu điểm của hình thức này chính là sự cân bằng trong trao đổi hàng hoá, không liên quan tới tiền nên các doanh nghiệp không cần quá am hiểu về nghiệp vụ thanh toán, ngoài ra còn tránh được các rủi ro do sự biến động tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối
Tuy nhiên không phải lúc nào doanh nghiệp cũng đáp ứng được yêu cầu về hàng hóa tương đương mà khách hàng muốn trao đổi nên doanh nghiệp ngoại thương không chủ động, đây cũng là hạn chế của hình thức này
1.1.3.5 Xuất khẩu tại chỗ
Đây là hình thức xuất khẩu mà hàng hoá không nhất thiết phải dịch chuyển qua biên giới quốc gia mà vẫn đến được tay khách hàng nước ngoài Một điểm đặc biệt của hình thức xuất khẩu này là khách hàng tự tìm đến doanh nghiệp bán hàng chứ doanh nghiệp không phải tự đi tìm kiếm khách hàng
Hình thức xuất khẩu này được tiến hành thông qua việc bán hàng tại các hội chợ, triển lãm, địa điểm du lịch cho các khách nước ngoài
Trang 13Hình thức này không chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu vì lợi nhuận thu được nhỏ lại không ổn định Phần lớn doanh nghiệp tập trung đẩy mạnh xuất khẩu ra nước ngoài để mở rộng thị trường về mặt không gian và chủ động trong tìm kiếm thị trường, bạn hàng mới Song đối với các doanh nghiệp có chi nhánh ở nước ngoài thì thực hiện kinh doanh ngay tại thị trường đó lại là phổ biến và hiệu quả Đó là nhờ vào lợi thế về vị trí, ở ngay thị trường tiêu thụ sẽ giảm thiểu được chi phí vận chuyển và thủ tục hỗ trợ rườm rà
1.1.3.6 Tạm nhập tái xuất
Đây là hoạt động xuất khẩu những hàng hóa đã được nhập khẩu trước đó nhưng không qua một giai đoạn gia công chế biến nào Mục đích của hoạt động này nhằm thu lợi nhuận thông qua chênh lệch giá cả giữa nhập khẩu (mua) và xuất khẩu (bán)
Hình thức này có ưu điểm là ít rủi ro hơn các hình thức khác, dễ thực hiện và dễ thành công, doanh nghiệp không phải tổ chức sản xuất mà vẫn có thể thu được lợi nhuận cao
Hình thức này góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu, bởi không phải lúc nào hàng hoá cũng được xuất khẩu trực tiếp mà phải qua trung gian (trong trường hợp bị cấm vận, bao vây kinh tế) Khi đó thông qua hình thức này các nước vẫn có thể tham gia buôn bán với nhau
Nhược điểm của hình thức này là các doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào nước xuất khẩu cả về giá cả, thời gian giao hàng Ngoài ra nó đòi hỏi người làm công
Trang 14
tác tái xuất phải giỏi về nghiệp vụ xuất- nhập, nhậy bén với tình hình thị trường và giá
cả thế giới, sự chính xác chặt chẽ trong các hợp đồng mua bán
Trong bối cảnh tự do hoá thương mại toàn cầu như hiện nay, hình thức này chỉ được thực hiện ở những thị trường thiếu hàng hoá hoặc không thể sản xuất được hàng hoá đó, và diễn ra chủ yếu với mặt hàng nguyên vật liệu
1.2 Một số vấn đề về hoạt động xuất khẩu hàng nông sản
1.2.1 Các đặc điểm đặc trưng của mặt hàng nông sản
Khác với các mặt hàng xuất khẩu khác như hàng điện tử, máy móc ; hàng dệt may thì hàng nông sản có những điểm khác biệt mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải nắm được nếu muốn hoạt động xuất khẩu đạt hiệu quả cao
Hàng nông sản chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi các điều kiện tự nhiên như thời
tiết, khí hậu, nguồn nước, địa hình Vì vậy sự thay đổi của tự nhiên dù là theo chiều hướng tốt hay xấu cũng làm đều làm biến động nguồn hàng nông sản cung cấp cho xuất khẩu, trong khi đó con người mới chỉ có thể dự báo và hạn chế chứ không thể khắc phục được hoàn toàn những biến cố tự nhiên này Thời tiết quá nắng nóng hay bão lũ, lụt lội cũng đều làm cây trồng chết hàng loạt hay tại các khu vực địa hình cao, đất đai thiếu màu mỡ cây trồng sẽ cho năng suất thu hoạch thấp hơn ở đồng bằng
Các mặt hàng nông sản mang tính thời vụ vì việc gieo trồng, chăm bón đến thu
hoạch mỗi loại nông sản thường chỉ được tiến hành vào một số thời điểm thích hợp trong năm, như vậy mới đảm bảo được những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự sinh sôi và phát triển của cây trồng Ngày nay tuy con người đã cố gắng khắc phục bằng cách phối ra các hạt giống cây có thể gieo trồng được quanh năm hay áp dụng những biện pháp kích thích tăng trưởng (phân bón hoá học, thuốc tăng trưởng, thuốc trừ sâu ) nhưng nhìn chung chất lượng nông sản cũng không thể cao bằng thu hoạch đúng thời vụ
Các mặt hàng nông sản thường có giá cả không ổn định, đặc điểm này chủ yếu
do yếu tố thời vụ gây ra Thông thường vào chính vụ thì chất lượng nông sản ổn định,
số lượng lớn, chủng loại phong phú nên nhờ đó mà giá cả rẻ Còn vào các thời điểm
Trang 15
khác do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, lại phải chi phí nhiều cho các biện pháp kích thích cây trồng tăng trưởng nên hàng nông sản có giá cao hơn bình thường trong khi chất lượng và mẫu mã lại không đồng đều
Các mặt hàng nông sản rất phong phú về chủng loại và chất lượng, mỗi mặt
hàng nông sản như gạo, chè, cà phê, cao su, tiêu , điều , lạc đều có công dụng, tính chất, đặc điểm, điều kiện thích nghi khác nhau Ngoài ra, mỗi mặt hàng nông sản nếu được trồng tại các nơi khác nhau, vào các thời điểm khác nhau, cách thức gieo trồng
và thu hoạch khác nhau sẽ cho chất lượng các sản phẩm khác nhau tương đối : Chính
vì vậy trong công tác thu gom hàng cho xuất khẩu thì doanh nghiệp cần cẩn trọng trong công tác phân loại để đảm bảo không có sự pha tạp giữa hàng chất lượng cao phục vụ xuất khẩu và hàng loại phẩm chất kém, có vậy thì mới giữ vững được thương hiệu và uy tín với các bạn hàng nước ngoài
Hàng nông sản mang tính phân tán : do mỗi loại cây trồng thích hợp với các
điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu, địa hình khác nhau nên được trồng ở các vùng miền khác nhau để đảm bảo thu được năng suất cao nhất (lúa chỉ trồng được ở các vùng đồng bằng màu mỡ, chè thường được trồng ở những tỉnh miền núi phía Bắc còn
cà phê lại thích hợp với đất đỏ bazan tại các tỉnh Tây Nguyên ) Thêm nữa là dù loại cây trồng nào cũng đòi hỏi phải có diện tích đất đai đủ rộng nên hàng nông sản chủ yếu phân bố tại các vùng núi, cao nguyên, vùng nông thôn đất rộng người thưa, trong khi đó lại được tiêu thụ phần nhiều tại thành phố Chính vì vậy mà công đoạn thu gom, vận chuyển hàng nông sản từ nơi thu hoạch đến nơi làm hàng xuất khẩu có ý nghĩa rất quan trọng đối với các DN ngoại thương
Hàng nông sản dễ bị hư hỏng : phần lớn hàng nông sản nếu không qua chế biến
thì sẽ có thời gian sử dụng tương đối ngắn, nếu bảo quản không tốt dễ dẫn đến thiu mốc, hư hỏng Vì vậy trong quá trình thu mua hàng cho xuất khẩu cần chú ý kiểm tra
kĩ chất lượng hàng hoá, phân loại và lựa chọn cách thức bảo quản, vận chuyển cho phù hợp các thao tác đều phải nhanh chóng, kịp thời để tránh xảy ra những hao tổn không đáng có
Trang 16
Hàng nông sản là mặt hàng thiết yếu trong đời sống, có thể nói là nó có tác
dụng nuôi sống con người Không một ai có thể tồn tại mà không cần ăn uống, chính
vì vậy nhu cầu về nông sản là cấp bách hơn bất kỳ một loại hàng hóa nào Ngoài ra chất lượng hàng nông sản còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người tiêu dùng nên những yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm là rất khắt khe Nó đòi hỏi các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản phải coi trọng đặc biệt khâu chế biến và bảo quản, coi chất lượng hàng là yếu tố hàng đầu để xâm nhập và cạnh tranh trên những thị trường khó tính
Một đặc điểm nữa của thị trường nông sản là độ nhạy cảm thấp của nhu cầu nông sản đối với giá của nó Nếu doanh nghiệp xuất khẩu chủ động giảm giá của một
mặt hàng nông sản để kích thích thì nhu cầu của người tiêu dùng đối với mặt hàng nông sản cũng không tăng lên nhiều như mức độ giảm giá Chính vì vậy việc giảm giá bán để kích thích nhu cầu tiêu dùng không hoàn toàn có hiệu quả cao như đối với một
số mặt hàng khác
1.2.2 Nội dung cơ bản của hoạt động xuất khẩu hàng nông sản tại doanh nghiệp
Hoạt đông xuất khẩu khó khăn, phức tạp hơn rất nhiều so với việc bán hàng ở trong nước vì nó liên quan tới rất nhiều vấn đề về : Ngôn ngữ, bản sắc văn hoá dân tộc,
sự vận động của thị trường, đồng tiền thanh toán, vận chuyển hàng hoá, pháp luật, chính trị, tập quán, thông lệ quốc tế …
Hoạt động xuất khẩu được tổ chức với nhiều nghiệp vụ từ điều tra nghiên cứu thị trường nước ngoài, lựa chọn hàng hoá xuất khẩu, lập ra phương án kinh doanh cho đến đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng ….Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ phải được nghiên cứu thực hiện theo đúng thủ tục và phải tranh thủ nắm bắt những lợi thế đảm bảo cho hoạt động xuất khẩu đạt kết quả cao nhất
Thông thường, để thực hiện hoạt động xuất khẩu cần làm những công việc sau :
1.2.2.1.Nghiên cứu tiếp cận thị trường và lựa chọn đối tác kinh doanh
* Nghiên cứu thị trường:
Trang 17
Nghiên cứu thị trường là việc làm cần thiết đầu tiên với bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tham gia vào thị trường thế giới Thị trường là yếu tố sống còn và là yếu tố vận động không ngừng, vì vậy bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu để chỉ ra phương thức hoạt động sao cho phù hợp khi xâm nhập vào từng thị trường khác nhau
Nhìn chung hoạt động nghiên cứu thị trường có thể được chia thành các nội dung như sau :
Nghiên cứu môi trường : Nghiên cứu môi trường kinh tế, văn hoá xã hội, môi trường chính trị luật pháp và môi trường công nghệ
Nghiên cứu giá cả hàng hoá : do xu hướng giá cả trên thị trường là rất phức tạp và luôn biến động vì phải chịu sự chi phối cuả những nhân tố lạm phát, chu kì, cạnh tranh về giá cả
Nghiên cứu về sự cạnh tranh như : số lượng các là đối thủ cạnh tranh của công ty trên thị trường, thế mạnh của họ, những giải pháp để cạnh tranh thành công
Nghiên cứu về dung lượng thị trường, nhu cầu thị trường, thị hiếu tiêu dùng, tập quán
* Lựa chọn đối tác kinh doanh
Để có thể thâm nhập vào thị trường nước ngoài thành công thì buộc các doanh nghiệp phải lựa chọn được đối tác phù hợp để có thể hỗ trợ và giúp đỡ nhau cùng phát triển thông qua các quan hệ làm ăn lâu dài và có uy tín, tin tưởng lẫn nhau Các bạn hàng này có thể là những bạn hàng trước đây của công ty (các bạn hàng quen) hoặc là các bạn hàng mới, thông qua sự tìm kiếm và xây dựng quan hệ làm ăn dựa trên những uy tín của doanh nghiệp trên thị trường Việc lựa chọn đúng đối tác để giao dịch tránh cho doanh nghiệp những phiền toái, rủi ro, mất mát thường gặp trong quá trình kinh doanh trên thị trường quốc tế, đồng thời có điều kiện để thực hiện thành công các kế hoạch kinh doanh của mình
Việc lựa chọn đối tượng giao dịch thường dựa trên cơ sở nghiên cứu các đặc điểm sau:
Một là, tình hình sản xuất kinh doanh của đối tác
Trang 18
Hai là, khả năng về vốn cơ sở vật chất kỹ thuật của bên đối tác
Ba là, thái độ và quan điểm kinh doanh của đối tác (Có thiện trí trong quan hệ làm ăn, không có biểu hiện hành vi lừa đảo…)
Để có thể tìm hiểu chính xác được bạn hàng làm đối tác, ngoài việc dựa trên những mối quan hệ bạn hàng có sẵn, đã hiểu biết và có uy tín kinh doanh với nhau thì cần phải thông qua các công ty tư vấn, các sở giao dịch, phòng Thương mại và Công nghiệp các nước có quan hệ
Trong trường hợp thị trường hoàn toàn mới lạ thì tốt nhất là doanh nghiệp nên thông qua các đại lý hoặc các công ty uỷ thác xuất khẩu để giảm bớt chi phí cho việc thâm nhập vào thị trường
1.2.2.2 Công tác thu mua tạo nguồn hàng cho hoạt động xuất khẩu (đối với mặt hàng
nông sản, doanh nghiệp không thể tự mình sản xuẩt mà chỉ có thể tiến hành thu gom, mua lại từ các hợp tác xã nông thôn hay hộ nông dân tại địa phương để tiến hành xuất khẩu)
Nguồn hàng xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá của một doanh nghiệp, một địa phương hay một vùng có khả năng sản xuất được Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu là một hệ thống nghiệp vụ trong kinh doanh mua bán trao đổi hàng hoá nhằm tạo ra nguồn hàng cho xuất khẩu, là toàn bộ hoạt động từ đầu tư, sản xuất kinh doanh, đến các nghiệp vụ nghiên cứu thị trường, ký kết hợp đồng, vận chuyển bảo quản, sơ chế, phân loại nhằm tạo ra hàng hoá có đầy đủ tiêu chuẩn cần thiết cho xuất khẩu
Công tác thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu bao gồm hệ thống các công việc sau:
* Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu
Đây là việc nghiên cứu khả năng cung cấp hàng xuất khẩu trên thị trường, được xác định bởi nguồn hàng thực tế và nguồn hàng tiềm năng Nguồn hàng thực tế là nguồn hàng
đã có và đang sẵn sàng đưa vào lưu thông Nguồn hàng tiềm năng là nguồn hàng chưa xuất hiện trên thị trường, nó đòi hỏi Doanh nghiệp ngoại thương phải có đầu tư, có đơn hàng, có hợp đồng kinh tế thì người cung cấp mới tiến hành sản xuất
* Tổ chức hệ thống thu mua
Trang 19
Hệ thống thu mua bao gồm hệ thống các đại lý, kho tàng ở các địa phương, các khu vực có loại hàng thu mua Vì chi phí khá lớn nên Doanh nghiệp phải có sự lựa chọn cân nhắc trước khi chọn đại lý và xây dựng kho , nhất là những kho đòi hỏi phải trang bị nhiều phương tiện đắt tiền
Hệ thống thu mua đòi hỏi phải gắn với các phương tiện vận chuyển hàng hoá, với điều kiện giao thông ở địa phương Sự phối hợp nhịp nhàng giữa thu mua và vận chuyển là cơ sở đảm bảo tiến độ thu mua và chất lượng của hàng hoá
Tổ chức đầu tư và hướng dẫn kỹ thuật thu mua, phân loại bảo quản hàng hoá cho các chân hàng là việc làm hết sức cần thiết trong công tác tạo nguồn hàng của các Doanh nghiệp ngoại thương
Ngoài ra, lựa chọn và sử dụng nhiều cách thu mua, kết hợp nhiều hình thức thu mua, là cơ sở để tạo nguồn hàng ổn định và hạn chế những rủi ro trong thu mua hàng hoá xuất khẩu
* Ký kết hợp đồng thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu
Dựa trên sự thoả thuận và tự nguyện, các doanh nghiệp ngoại thương và nhà sản xuất nội địa ký kết hợp đồng thu mua Đây chính là một hợp đồng kinh tế, là cơ sở pháp lý cho mỗi quan hệ giữa Doanh nghiệp và người cung cấp hàng
* Xúc tiến việc tiếp nhận và bảo quản nguồn hàng xuất khẩu
Sau khi ký kết hợp đồng với các chủ hàng và các đơn vị sản xuất, Doanh nghiệp ngoại thương tiến hành tiếp nhận hàng đưa về kho chuẩn bị cho xuất khẩu Cụ thể:
Chuẩn bị đầy đủ các thủ tục giấy tờ giao nhận hàng theo hợp đồng
Chuẩn bị sẵn sàng hệ thống kho tàng tại các điểm nút của kênh phân phối
Tổ chức vận chuyển hàng hoá theo các địa điểm đã qui định
Tiếp nhận bảo quản hàng xuất khẩu theo đúng cách thức
1.2.2.3 Xây dựng phương án kinh doanh
Trang 20
Sau khi đã thu thập được những thông tin cần thiết về những nhân tố ảnh hưởng đến giao dịch xuất khẩu, doanh nghiệp phải lập ra phương án kinh doanh, trong đó có các điểm sau:
Đánh giá tình hình thị trường (thuận lợi, khó khăn)
Lựa chọn mặt hàng kinh doanh
Lựa chọn thị trường , khách hàng, phương thức giao dịch
Lựa chọn thời điểm, thời gian giao dịch…
Xác định mục tiêu xuất khẩu: giá bán, lượng bán…
Các biện pháp để đạt được mục tiêu như: tiếp thị, quảng cáo…
1.2.2.4 Đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu
* Đàm phán
Đàm phán là một khâu quan trọng của hoạt động xuất khẩu, quyết định đến khả năng, điều kiện thực hiện thành công hợp đồng xuất khẩu Đồng thời nó cũng thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong lĩnh vực tìm kiếm bạn hàng và quan hệ bạn hàng tốt Chính vì vậy mà doanh nghiệp cần phải có những cán bộ có năng lực trong đàm phán để có thể đàm phán thành công
Năng lực đàm phán là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến tiến trình và kết quả đàm phán Nhìn chung nhà đàm phán ít nhất phải có được ba loại năng lực cơ bản đó là năng lực chuyên môn, năng lực về am hiểu pháp lý và năng lực mạo hiểm
Các hình thức đàm phán
Đàm phán bằng thư, điện tín, điện thoại, fax…
Đàm phán bằng trực tiếp gặp gỡ : Hình thức này thường được áp dụng khi có hợp đồng lớn, cần trao đổi cặn kẽ, chi phí nhiều nhưng hiệu quả công việc cao hơn
* Ký kết hợp đồng
Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn đến việc ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương Nội dung hợp đồng phải thể hiện đầy đủ quyền hạn và nghĩa vụ cụ
Trang 211.2.2.5 Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Sau khi ký kết hợp đồng, hai bên sẽ thực hiện những gì mình đã cam kết trong hợp đồng, cụ thể là doanh nghiệp ngoại thương sẽ phải thực hiện những công việc sau:
Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu
a) Kiểm tra thư tín dụng (L/C)
Sau khi hợp đồng đã được ký kết thì nhà xuất khẩu cần kiểm tra chi tiết xem L/C do nhà nhập khẩu mở tại Ngân hàng có phù hợp với các điều kiện trong hợp đồng không Nếu có sự không phù hợp hay sai sót thì phải thông báo lại cho người mua để
họ sửa lại trong thời gian có hiệu lực của L/C Nội dung sửa đổi phải có xác nhận của Ngân hàng mở L/C mới có hiệu lực và sau đó các bên sẽ thực hiện theo các điều kiện ghi trong L/C
Ký hợp đồng
Xin giấy phép XK
Chuẩn bị hàng hoá XK
Kiểm tra
hàng hoá XK
Thuê phương tiện vận chuyển
Mua bảo hiểm hàng hoá
Làm thủ tục hải quan
Giao hàng
Giải quyết khiếu nại
Trang 22
b) Xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá
Giấy phép xuất khẩu là một công cụ của Nhà nước dùng để quản lý hoạt động xuất khẩu của các Doanh nghiệp Thủ tướng Chính phủ ban hành nghị định 57/NĐ-
CP, theo đó thì tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền xuất nhập khẩu các mặt hàng phù hợp với nội dung đăng kí kinh doanh mà không cần xin giấy phép kinh doanh XNK tại Bộ Thương mại Riêng đối với các mặt hàng bị hạn chế xuất khẩu thì phải xin giấy phép tại các cấp có thẩm quyền
Việc xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá bao gồm :
Đơn xin phép
Phiếu hạn ngạch (nếu hàng hoá thuộc đối tượng có hạn ngạch)
Bản sao hợp đồng đã kí với bên nước ngoài
c) Chuẩn bị hàng xuất khẩu
Sau khi tiến hành thu gom đủ lượng hàng hoá theo đúng như thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, nhà xuất khẩu cần đóng gói bao bì cẩn thận để đảm bảo chất lượng hàng hóa khi vận chuyển Có nhiều loại bao bì khác nhau như hòm, hộp, kiện, túi nilon giúp người mua có thể nhận biết và phân loại hàng hoá dễ dàng hơn
d) Làm thủ tục hải quan
Gồm các bước sau :
+ Khai báo hải quan: Chủ hàng phải khai báo đầy đủ và chi tiết về hàng hoá xuất khẩu (tên hàng, ký mã hiệu hàng hoá, đơn giá, số lượng, tên phương tiện vận tải, tên cụ thể của người mua và người bán) Tờ khai hải quan phải được xuất trình kèm với bộ chứng từ hàng hoá cho chính người xuất khẩu lập
+ Kiểm tra hải quan: Cơ quan hải quan sẽ kiểm tra tính hợp lệ của hàng hoá, thu thuế, sau đó là niêm phong kẹp chì theo đúng các thủ tục hải quan, đây là cách tránh tình trạng buôn lậu cũng như thống kê được lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của mỗi nước
+ Thực hiện các quyết định của hải quan: Sau khi kiểm tra các chứng từ và kiểm định hàng hoá thì cơ quan hải quan sẽ có các quyết định như là cho hàng được
Trang 23
phép qua biên giới (thông quan), cho hàng đi qua một cách có điểu kiện (như là phải sửa chữa, đóng gói lại, chủ hàng phải nộp thuế ) hoặc hàng không được xuất khẩu Nghĩa vụ của chủ hàng là phải chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định đó, nếu
vi phạm thì sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
e) Mua bảo hiểm và thuê phương tiện vận chuyển
* Thuê tàu
Trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá, việc thuê tàu chở hàng căn cứ vào 3 yếu tố sau:
Những điều khoản của hợp đồng xuất khẩu hàng hoá
Đặc điểm của hàng hoá xuất khẩu
Điều kiện vận tải
Các doanh nghiệp không có nhiều kinh nghiệm, thông tin thị trường về tình hình thuê tàu thì nên uỷ thác cho một công ty vận tải nào đó để tránh những rủi ro không đáng có
* Mua bảo hiểm
Việc mua bảo hiểm hàng hoá đường biển là rất cần thiết vì thời gian chuyên chở bằng đường biển dài, quãng đường lại xa nên rủi ro, tổn thất xảy ra là khó tránh khỏi Việc mua bảo hiểm được thực hiện thông qua hợp đồng bảo hiểm Có hai loại hợp đồng bảo hiểm đó là hợp đồng bảo hiểm bao và hợp đồng chuyến
Việc lựa chọn điều kiện bảo hiểm (thông thường là các điều kiện A, B, C) dựa trên bốn căn cứ sau:
Điều khoản hợp đồng
Tính chất hàng hoá
Tính chất bao bì và phương thức xếp hàng
Loại tàu chuyên chở
g) Kiểm tra hàng hoá
Trang 24
Trước khi vận chuyển hàng lên tàu, nhà xuất khẩu có thể tự mình hoặc phối hợp cùng với các Cơ quan kiểm dịch Nhà nước tiến hành kiểm tra số lượng, chất lượng, trọng lượng, phẩm chất, an toàn thực phẩm của hàng hoá
Cơ quan kiểm dịch Nhà nước có quyền thu hồi giấy phép tự kiểm nếu doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu tự kiểm nghiệm mà không làm đúng chức năng của mình Việc kiểm tra này có thể được tiến hành ở cửa khẩu hoặc tại cơ sở, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng loại hàng hoá
h) Giao hàng lên tàu
Hàng hàng hoá xuất khẩu của ta được giao, về cơ bản bằng đường biển và đường sắt
Trong trường hợp nhà xuất khẩu chịu trách nhiệm chuyên chở thì công việc giao hàng lên tàu được tiến hành theo trình tự sau :
- Đăng kí với người vận tải và nhận hồ sơ xếp hàng
- Trao đổi với cơ quan điều độ cảng để nắm vững ngày giờ làm hàng
- Bố trí chuyên chở hàng vào cảng và bốc xếp hàng lên tàu
- Lấy biên lai thuyền phó và đổi biên lai thuyền phó lấy vận đơn đường biển Vận đơn đường biển phải là vận đơn hoàn hảo, đã bốc hàng là phải chuyển nhượng được
i) Thanh toán hợp đồng
Thanh toán là khâu trọng tâm, là kết quả cuối cùng của tất cả các giao dịch trong kinh doanh nên thủ tục này thường rất phức tạp Muốn được thanh toán tiền hàng nhà xuất khẩu phải chuẩn bị đủ và đúng bộ chứng từ theo như qui định hay cam kết: hoá đơn thương mại, phiếu đóng gói, vận đơn thương mại, giấy biên nhận gửi hàng, giấy chứng nhận xuất xứ, số lượng và chất lượng do cơ quan có thẩm quyền cấp
Một số phương thức thanh toán như là :
Thanh toán bằng hình thức chuyển tiền thông qua ngân hàng
Thanh toán bằng phương thức nhờ thu
Trang 25
Thanh toán bằng thư tín dụng (L/C) : đây là hình thức mà ngân hàng cam kết
và bảo đảm chắc chắn về việc trả tiền cho người bán ngay sau khi bên mua nhận được hàng hoá hoặc các chứng từ hợp lệ để nhận hàng Đây là hình thức được sử dụng phổ biến, hạn chế rủi ro cho cả hai bên
k) Giải quyết tranh chấp khiếu nại
Trong trường hợp có tranh chấp xảy ra, hai bên nên tìm cách hoà giải dựa trên những điều khoản tranh chấp đã được qui định trong hợp đồng để duy trì quan hệ tốt với nhau Trong trường hợp không thể hoà giải được thì các bên phải giải quyết tranh chấp của mình thông qua trọng tài quốc tế
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu nông sản
1.2.3.1 Nhân tố khách quan
* Môi trường chính trị, luật pháp
Yếu tố chính trị - luật pháp tạo nền tảng, hành lang pháp lý cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Nó ảnh hưởng đến khả năng mở rộng phạm vi thị trường, dung lượng thị trường cũng như các cơ hội kinh doanh hấp dẫn trên thị trường quốc tế
Sự bất ổn về chính trị trong nước sẽ làm cản trở sự tăng trưởng kinh tế, kìm hãm
sự phát triển của khoa học kỹ thuật, gây khó khăn cho việc cải tiến công nghệ, tăng chất lượng sản phẩm xuất khẩu
Các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của chính phủ có thể làm tăng sự liên kết giữa các thị trường và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu như:
Chiến lược hướng về xuất khẩu: với chiến lược này, Nhà nước sẽ có các chính sách phát triển cụ thể cho từng giai đoạn nhằm khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia xuất, khẩu đặc biệt là với các mặt hàng được khuyến khích xuất khẩu như nông sản Việc khuyến khích hoạt động xuất khẩu được thể hiện ở các chính sách, các biện pháp liên quan đến tạo nguồn hàng cho xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu, hỗ trợ tài chính và hỗ trợ tiếp thị sản phẩm ra thị trường nước ngoài cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu…
Trang 26
Chiến lược gia nhập các liên kết kinh tế khu vực, kí kết các hiệp đinh song phương – đa phương qua đó dần dần dỡ bỏ các hàng rào thuế quan, phi thuế quan, hạn ngạch xuất khẩu… sang các thị trường ngoài
Luật pháp cũng là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới xuất khẩu, bất kì một doanh nghiệp nào muốn kinh doanh xuất khẩu thì đều phải tuân thủ pháp luật, không những luật pháp của nước mình mà còn phải tuân thủ luật pháp nước nhập khẩu và luật pháp quốc tế Mỗi quốc gia có hệ thống luật pháp riêng để điều chỉnh các hoạt động kinh doanh quốc tế ràng buộc các hoạt động của doanh nghiệp Các yếu tố luật pháp ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu trên những mặt sau:
Quy định về giao dịch hợp đồng, về bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ
Quy định về lao động, tiền lương, thời gian lao động, nghỉ ngơi, đình công, bãi công
Quy định về cạnh tranh, độc quyền,về các loại thuế
Quy định về vấn đề bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn chất lượng, giao hàng, thực hiện hợp đồng
Quy định về quảng cáo, hướng dẫn sử dụng
Nghiên cứu kỹ chế độ chính trị và pháp luật sẽ giúp các doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh cũng như đảm bảo được quyền lợi khi có tranh chấp xảy ra
* Môi trường văn hoá, xã hội
Các yếu tố văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến hành vi, nhu cầu, sở thích mua sắm của người tiêu dùng do đó nó tác động đến hiệu quả xuất khẩu Đặc biệt là đối với mặt hàng nông sản chủ yếu phục vụ cho nhu cầu ăn uống hàng ngày của con người thì lại càng bị tác động nhiều hơn bởi các yếu tố thuộc môi trường văn hoá, xã hội như:
Tỷ lệ tăng dân số
Thói quen ăn uống, lối sống, truyền thống văn hoá của quốc gia
Xu hướng phát triển, trào lưu xã hội
Trang 27
Doanh nghiệp chỉ có thể thành công trên thị trường quốc tế khi có sự hiểu biết nhất định về phong tục, tập quán, lối sống… của người tiêu dùng mà điều này lại rất khác biệt ở từng quốc gia Hiểu biết về môi trường văn hoá xã hội sẽ giúp cho doanh nghiệp thích ứng nhanh với thị trường để từ đó có chiến lược đúng đắn trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu của mình
* Môi trường kinh tế, công nghệ
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: nền kinh tế các quốc gia trên thế giới phát triển ổn định và
tăng trưởng đều hàng năm sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu nông sản của ta (do sức mua tăng và khả năng thanh toán tiền hàng được đảm bảo hơn
- Chính sách về thuế quan và công cụ phi thuế quan
Chính phủ áp dụng các biện pháp thuế quan và phi thuế quan (hạn ngạch) nhằm quản lý hoạt động xuất nhập khẩu theo chiều hướng có lợi cho quốc gia mình và tác động lên các mối quan hệ kinh tế đối ngoại
Việc đánh thuế với các mặt hàng xuất khẩu trong nước sẽ làm tăng tương đối mức giá hàng hoá trong nước so với hàng hoá quốc tế, do đó đem lại nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu Ngoài ra hàng hoá khi xuất khẩu ra nước ngoài còn có thể
bị Chính phủ nước nhập khẩu đánh thuế làm cho giá mua của người tiêu dùng tăng lên, gây cản trở hoạt động xuất khẩu
Chính phủ một nước có thể áp đặt hạn ngạch nhằm hạn chế số lượng hàng hoá nhập khẩu vào nước mình , việc này cũng làm ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp sang thị trường đó
- Chính sách tỷ giá hối đoái
Trong thanh toán quốc tế, người ta thường sử dụng những đồng tiền của các nước khác nhau, tỷ suất ngoại tệ so với đồng tiền trong nước có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu vì nó ảnh hưởng đến việc thu đổi ngoại tệ sang nội tệ của doanh nghiệp, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp Nếu tỷ
Trang 28Nếu như một quốc gia có hệ thống Ngân hàng tài chính phát triển, hiện đại thì
đó cũng là một điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước trong hoạt động xuất khẩu và ngược lại
- Trình độ kỹ thuật và công nghệ
Khi giao lưu thương mại đang dần mang tính toàn cầu hoá thì việc ứng dụng khoa học công nghệ mới trở thành nhân tố có ý nghĩa quyết định, tác động trực tiếp tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm Hoạt động xuất khẩu nông sản thì ít chịu ảnh hưởng của những tiến bộ kỹ thuật hơn so với các mặt hàng công nghiệp khác nhưng để nâng cao giá trị gia tăng cũng như sức cạnh tranh của sản phẩm thì ta cũng cần chú trọng cải thiện hơn nữa kỹ thuật chế biến và bảo quản hàng nông sản
- Kết cấu hạ tầng: bao gồm hệ thống các đường giao thông, điện, cấp thoát nước, bưu
chính viễn thông
Sự phát triển của hệ thống hạ tầng cơ sở tại các quốc gia sẽ đảm bảo cho việc thu gom, vận chuyển, cung ứng và tiêu thụ sản phẩm được đồng bộ Hệ thống thông tin liên lạc bưu chính viễn thông cũng giúp doanh nghiệp dễ dàng nắm bắt các thông tin, những biến động tại thị trường nước ngoài để có những ứng xử kịp thời
* Môi trường tự nhiên
Hàng nông sản phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, khí hậu, địa lý…Năm nào có mưa thuận gió hoà thì cây cối phát triển, năng suất cao, công tác thu mua tạo nguồn
Trang 29
hàng xuất khẩu không gặp phải trở ngại Nhưng năm nào thời tiết khắc nghiệt, bão, lũ lụt, hạn hán xảy ra thường xuyên, nông sản mất mùa, lúc đó thì hàng nông sản khan hiếm, chất lượng lại không cao, do không có hàng bán nên cung < cầu, giá bán lại rất cao, thu gom hàng xuất khẩu khó khăn, lợi nhuận thu được từ xuất khẩu cũng thấp
* Yếu tố cạnh tranh
Cạnh tranh, một mặt thúc đẩy cho các doanh nghiệp đầu tư máy móc thiết bị, nâng cấp chất lượng và hạ giá thành sản phẩm Nhưng một mặt nó dễ dàng đẩy lùi các doanh nghiệp không có khả năng phản ứng hoặc chậm phản ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh Các yếu tố cạnh tranh được thể hiện qua mô hình sau:
Hình 1.2: Mô hình Sức mạnh của Michael Porter
Qua mô hình trên, các doanh nghiệp có thể thấy thách thức lớn nhất là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành Xuất phát từ đây doanh nghiệp có thể đề ra sách lược hợp lý nhằm hạn chế đe doạ và tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ khác
Đối thủ mới tiềm tàng
Nhà cung cấp
Cạnh tranh giữa các
Các mặt hàng và các dich vụ thay thế
khả năng mặc cả của nhà cung cấp
Sự đe doạ của các hàng hoá thay thế
Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh
Khả năng mặc cả của người mua
Trang 30
- Sự cạnh tranh trong nội bộ ngành Khi hoạt động trên thị trường quốc tế, các doanh nghiệp thường hiếm khi có cơ hội dành được vị trí độc tôn trên thị trường mà thường bị chính những doanh nghiệp sản xuất và cung cấp các loại sản phẩm tương tự cạnh tranh gay gắt Các doanh nghiệp này có thể là doanh nghiệp của quốc gia nước sở tại, quốc gia chủ nhà hoặc một nước thứ ba cùng tham gia xuất khẩu mặt hàng đó.Trong một số trường hợp các doanh nghiệp sở tại này lại được chính phủ bảo hộ do
đó doanh nghiệp khó có thể cạnh tranh được với họ
- Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng Các đối thủ này chưa có kinh nghiệm trong việc thâm nhập vào thị trường quốc tế song nó có tiềm năng lớn về vốn, công nghệ, lao động và tận dụng được lợi thế của người đi sau, do đó dễ khắc phục được những điểm yếu của các doanh nghiệp hiện tại để có khả năng chiếm lĩnh thị
trường
- Sức ép của người cung cấp: Các doanh nghiệp không thể tự sản xuất ra nông sản mà chỉ có thể thu mua lại từ các hợp tác xã hay hộ nông thôn, chính vì vậy hoạt động xuất khẩu nông sản chịu áp lực rất lớn của những người cung cấp này Họ có khả năng mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng nông sản cung cấp cho doanh nghiệp, liên kết với nhau để chi phối thị trường nhằm hạn chế khả năng của doanh nghiệp, làm gián đoạn hoạt động xuất khẩu…
- Sức ép người tiêu dùng Trong cơ chế thị trường, khách hàng thường được coi
là “thượng đế” Một khi nhu cầu của khách hàng thay đổi thì hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng cũng phải thay đổi theo cho phù hợp
- Sự xuất hiện của các mặt hàng thay thế: mặt hàng nông sản phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày của con người nên nhìn chung cũng ít có khả năng bị thay thế, nhưng cũng cần chú ý khi đời sống được nâng cao, con người sẽ có xu hướng sử dụng thêm các thực phẩm đắt tiền như thịt cá, bơ sữa, bánh kẹo, nước ngọt… làm giảm nhu cầu tiêu thụ nông sản
Trang 31
1.2.3.2 Các nhân tố chủ quan
* Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng đầu tư
có hiệu quả nguồn vốn Một số chỉ tiêu cơ bản thường được dùng để phản ánh tiềm lực tài chính của một doanh nghiệp là: tỉ lệ vốn chủ sở hữu - vốn huy động, tỷ lệ tái đầu tư
về lợi nhuận, tỷ lệ về khả năng sinh lợi, khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn…Các công ty có tiềm lực tài chính mạnh thường được tin cậy hơn, họ có khả năng thu gom được khối lượng hàng hoá lớn, có điều kiện đầu tư đổi mới trang thiết bị cũng như công nghệ hiện đại do đó sẽ thiết lập được nhiều mối quan hệ làm ăn hơn và dễ dàng
kí kết được các hợp đồng xuất khẩu lớn hơn, lợi nhuận cao hơn
* Tiềm năng con người
Trong kinh doanh con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm bảo thành công Con người với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của mình sẽ sử dụng có hiệu quả hơn các công cụ khác như: vốn, tài sản, công nghệ Vì vậy việc đánh giá và phát triển tiềm năng con người trong mỗi doanh nghiệp là vô cùng quan trọng
* Trình độ tổ chức quản lý
Mỗi doanh nghiệp là một hệ thống được cấu thành bởi nhiều mối liên kết chặt chẽ và cùng hướng tới một mục tiêu Muốn đạt được thành công về lâu dài thì mỗi doanh nghiệp cần phải đạt tới một trình độ tổ chức quản lý tương ứng với sức mạnh tài chính của mình Trình độ tổ chức quản lý ở đây là nói đến sự hoàn hảo của cấu trúc tổ chức, tính hiệu quả của hệ thống quản lý, khả năng giám sát và phát huy được tối đa sức mạnh mỗi cá nhân trong doanh nghiệp
* Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật phản ánh nguồn tài sản cố định trong mỗi doanh nghiệp: thiết bị, nhà xưởng, kho bảo quản lưu trữ… Nếu doanh nghiệp có cơ sở vật chất đầy
Trang 32* Hoạt động thu mua, tập trung hàng cho xuất khẩu
Hoạt động thu mua nông sản là một qui trình bao gồm: tìm kiếm nhà cung cấp,
tổ chức kho tàng bến bãi, vận chuyển và bảo quản hàng chuẩn bị cho xuất khẩu Trong giao dịch xuất khẩu, ngoài việc đảm bảo chất lượng còn phải đảm bảo tiến độ thu mua
để kịp giao hàng đúng thời hạn Sự chậm trễ trong giao hàng sẽ khiến nhà xuất khẩu không chỉ mất uy tín mà còn có thể phải đền bù thiệt hại rất lớn cho bên đối tác, vì vậy cần phải xem xét kĩ khả năng thu mua, tập trung hàng trước khi kí kết một hợp đồng xuất khẩu nông sản
1.3 Hoạt động xuất khẩu hàng nông sản ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình chung của hoạt động xuất khẩu hàng nông sản tại Việt Nam trong thời gian qua
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sôi động như hiện nay thì hoạt động xuất khẩu chính là thước đo đánh giá sự phát triển và mở cửa nền kinh tế của mỗi quốc gia Trong năm vừa qua, hoạt động xuất khẩu nông sản của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể như tổng kim ngạch xuất khẩu gia tăng, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu ngày càng phong phú về chủng loại, thị trường ngày càng được mở rộng Hàng
Trang 33Nguồn: Tổng cục Hải quan
Bảng số liệu trên cho thấy hàng nông sản, thực phẩm của Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu tương đối lớn và xu hướng tăng dần qua các năm, chủng loại các mặt hàng xuất khẩu khá đa dạng Song mặc dù đạt thứ hạng cao trong hoạt động xuất khẩu của thế giới nhưng Việt Nam vẫn xuất khẩu nguyên liệu thô là chủ yếu với hàm lượng giá trị gia tăng rất thấp Do đó, sự tác động vào quan hệ cung - cầu thế giới chưa nhiều, chưa tương xứng với thứ hạng của chính mình
Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương, hiện nay nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam đang giữ những vị trí chủ chốt trên thế giới như:
Gạo xuất khẩu của Việt Nam đứng thứ 2 thế giới sau Thái Lan
Cà phê xuất khẩu đứng thứ 2 sau Braxin (xuất đến 95% sản lượng làm ra)
Hạt điều từ lâu đã đứng thứ 2 thế giới sau ấn Độ và kể từ năm 2008, nhân hạt điều xuất khẩu đã vượt cả ấn Độ, vươn lên đứng thứ nhất thế giới (xuất gần như 100% sản lượng làm ra)
Trang 34Bốn thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam hiện tại là EU, Mỹ, Nhật
và Trung Quốc Tính riêng trong 5 tháng đầu năm 2008, tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản sang EU đạt 1,53 tỉ USD, chiếm tới 70% tổng kim ngạch xuất khẩu sang các nước này Kim ngạch nông sản xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 843,5 triệu USD; sang Nhật đạt 521,77 triệu USD và sang Trung Quốc đạt 482,17 USD, tăng 1,8 lần so với cùng kỳ 2007
1.3.2 Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chính trong năm 2008 1.3.2.1 Cà phê: đang là mặt hàng dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu trong nhóm hàng
nông, lâm sản và là một trong tám mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỉ USD
Theo kế hoạch, ngành cà phê Việt Nam phấn đấu tăng trưởng bình quân 4,9%/năm, mỗi năm xuất khẩu được 900.000 đến 1,1 triệu tấn cà phê với mức giá khoảng 2.000 USD/tấn Tuy nhiên, hiện nay việc mở rộng diện tích để tăng lượng hàng xuất khẩu là khó
Theo nhận định của Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, mặc dù có tăng trưởng xuất khẩu nhưng sự phát triển của ngành cà phê chưa thật sự vững chắc, hiệu quả kinh doanh vẫn thấp và tiềm ẩn nhiều nguy cơ Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt khoảng 2,2 tỉ USD với khối lượng xuất khẩu 1 triệu tấn Con số này đã giảm 18,6% về lượng, nhưng lại được tăng 7,2% về trị giá
Hiện nay, chất lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam thấp, không ổn định, chưa xuất theo tiêu chuẩn xuất khẩu dẫn đến bị ép cấp, ép giá, làm giảm giá trị xuất khẩu Bên cạnh đó khâu tổ chức thu mua trong nước chưa tốt dẫn đến đầu vụ người dân thường phải bán vội cà phê với giá thấp
Trang 35
Hệ thống đại lý thu mua cà phê hình thành một cách tự phát, chủ yếu là các đại
lý tư nhân, hệ quả là khi giá cả thị trường biến động mạnh dẫn đến đổ vỡ theo dây chuyền từ đại lý tới các nhà xuất khẩu
1.3.2.2 Chè
Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, tính chung 5 tháng đầu năm 2008, lượng chè xuất khẩu của cả nước đạt 219,1 nghìn tấn với trị giá 42,8 triệu USD, tăng 55,96% về lượng và 26,08% về trị giá so với cùng kỳ năm 2007
Tiếp đến là kim ngạch xuất sang thị trường Nga với 4,3 nghìn tấn, trị giá 5,2 triệu USD, tăng 0,79% về lượng và 24,60% về trị giá so với 5 tháng đầu năm
2007
Đáng chú ý, kim ngạch xuất sang thị trường Tiểu vương quốc Arập Thống Nhất tăng rất mạnh, với hơn 2 nghìn tấn, đạt 2,9 triệu USD, tăng 463,88% về lượng
và 501,75% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái
Bên cạnh đó, xuất sang thị trường Philippines trong 5 tháng đầu năm 2008 cũng tăng 77,72% về lượng và 91,66% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái, với 359 tấn, kim ngạch 1,1 triệu USD
* Về doanh nghiệp: Trong tháng 5/2008, có tất cả 112 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu chè, trong đó có 8 doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu cao trên 300 nghìn USD, có 24 doanh nghiệp đạt kim ngạch khá
1.3.2.3 Tiêu
Trang 362008, lượng hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam sẽ đạt khoảng 80.000 tấn, với tổng kim
ngạch 290 triệu USD, mức cao nhất từ trước tới nay
Trong 8 năm qua, Việt Nam liên tục dẫn đầu thế giới về lượng hồ tiêu xuất khẩu, đạt bình quân 70.600 tấn/năm, chiếm 31,2% thị phần xuất khẩu hồ tiêu trên thế giới
* Về thị trường
Thị trường xuất khẩu chính của hạt tiêu Việt Nam là Hoa Kỳ, CHLB Đức, Pakistan, Nhật Trong đó, xuất sang Hoa Kỳ với số lượng lớn nhất 759 tấn, đạt 2.331.544 USD (chiếm 13,68% về lượng và chiếm 15,95% về kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu cả nước tháng 12/2008)
Hồ tiêu Việt Nam hiện có mặt ở thị trường 80 quốc gia và vùng lãnh thổ và là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu mang về cho đất nước lượng ngoại tệ nhiều nhất
* Về chất lượng
Trước đây hồ tiêu Việt Nam đến với thị trường thế giới bằng tên gọi khác do đã được các nhà nhập khẩu đầu tư chế biến lại Bên cạnh đó, vì chủ yếu được bán qua trung gian nên giá trị xuất khẩu đạt thấp Đến nay, nhờ tích cực đầu tư đổi mới công nghệ, chất lượng hồ tiêu xuất khẩu đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của khách hàng
Có đến 50% lượng hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam được bán trực tiếp cho các nhà máy chế biến gia vị tại nhiều nước
Hiện Việt Nam đã có hơn 10 nhà máy chế biến hồ tiêu đạt Tiêu chuẩn thị
trường Mỹ (ASTA) và Tiêu chuẩn thị trường châu Âu (ESA) Chất lượng tăng đã đẩy giá hồ tiêu Việt Nam lên ngang, thậm chí có thời điểm cao hơn giá hồ tiêu của nhiều nước
1.3.2.4 Điều
Trang 37
Theo Hiệp hội Điều Việt Nam (VINACAS), năm 2008 sản lượng xuất khẩu điều của Việt Nam đạt 167.000 tấn với kim ngạch đạt 920 triệu USD, vươn lên số 1 thế giới về xuất khẩu điều nhân
Trong đó, riêng tỉnh Bình Phước (được xem là thủ phủ của cây điều) đã xuất được gần 13.000 tấn điều nhân với kim ngạch đạt trên 70 triệu USD Trong hai tháng đầu năm 2009, cả nước xuất khẩu được 23.000 tấn nhân điều với kim ngạch đạt 104 triệu USD, tăng 12% về lượng và 6% về giá trị so với cùng kì năm 2008
1.3.2.5 Rau quả
* Về kim ngạch
Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả trong 11 tháng năm 2008 lên 363,7 triệu USD, tăng 32,83% so với 11 tháng năm 2007 Như vậy, mặc dù bị ảnh hưởng ít nhiều từ sự suy giảm của nền kinh tế thế giới tác động đến việc xuất khẩu của Việt Nam, song kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của nước ta vẫn đang tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá ổn định so với cùng kỳ những năm trước
* Về thị trường
Việc xuất khẩu rau hoa quả sang một số thị trường đặc biệt là xuất sang thị trường Trung Quốc có cơ hội tăng mạnh, do nhu cầu dự trữ nguồn hàng phục vụ cho dịp tết Kỷ Sửu
Trong 11 tháng đầu năm nay, với mức tăng 81,35% so với cùng kỳ năm ngoái, Trung Quốc vẫn giữ vị trí dẫn đầu và là thị trường nhập khẩu rau quả lớn nhất của nước ta, với 43,8 triệu USD Bên cạnh đó, so với 11 tháng đầu năm 2007, kim ngạch xuất khẩu rau quả của nước ta trong 11 tháng năm nay đặc biệt tăng rất mạnh sang một
số thị trường như Indonesia, tăng tới 496,72% (kim ngạch hơn 12 triệu USD), Nga tăng 68,3% (kim ngạch 33,7 triệu USD), Nhật Bản tăng 17,51% (kim ngạch xấp xỉ 28 triệu USD), Hà Lan tăng 26,69% (kim ngạch 11,8 triệu USD), Singapore tăng 22,58% (kim ngạch 11,1 triệu USD), Hồng Kông tăng 32,43% (kim ngạch 9,7 triệu USD)
* Về doanh nghiệp
Trang 38
Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, trong tháng 11/2008, cả nước có tất cả 281 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu rau hoa quả Trong đó, có 34 doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 100 nghìn USD, 29 doanh nghiệp đạt kim ngạch
từ 200 nghìn USD trở lên, 4 doanh nghiệp đạt kim ngạch trên 500 nghìn USD
1.3.2.6 Gạo
Trong năm 2008, Việt Nam đã ký hợp đồng xuất khẩu 5,1 triệu tấn gạo, đã giao 4,65 triệu tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu 2,9 tỷ USD, gấp hơn hai lần so với năm 2007 (1,4 tỷ USD)
Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2008 cũng đạt mức cao, bình quân
là 550 USD/tấn, gần gấp đôi so với năm trước
Trang 39
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA TỔNG CÔNG TY THƯƠNG MẠI HÀ NỘI TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 2.1 Giới thiệu chung về Tổng công ty Thương mại Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tổng công ty Thương mại Hà Nội Văn phòng TCT: 38-40 Lý Thái Tổ, Q Hoàn Kiếm, Hà Nội Tel: (+84 4) 8.267.984; Fax: (+84 4) 8.267.983/9.288.407 Tổng Công ty Thương mại Hà Nội (Hapro) là doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo Quyết định số 125/2004/QD-UBND ngày 11 tháng 08 năm 2004 của UBND Thành phố Hà Nội Tổng Công ty hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con với 33 đơn vị thành viên
Công ty mẹ - Tổng công ty Thương mại Hà Nội - là doanh nghiệp nhà nước, được hình thành trên cơ sở tổ chức lại Công ty Sản xuất, dịch vụ và xuất nhập khẩu Nam Hà Nội (thuộc Sở Thương mại Hà Nội)
Buổi lễ ra mắt TCT Thương mại Hà Nội được tổ chức sáng 27/11/2004 tại Cung Văn hóa Hữu nghị Việt Xô Hà Nội với sự tham dự của đông đảo các lãnh đạo Trung ương và Thành phố
* Những thành tựu đã đạt được
Sau gần 4 năm hoạt động và phát triển, Tổng Công ty Thương mại Hà Nội trở thành đơn vị dẫn đầu của Thành phố Hà Nội trong hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại, dịch vụ Tổng Công ty Thương mại Hà Nội đã được trao tặng nhiều danh hiệu, giải thưởng như:
- Giải thưởng “Đơn vị xuất khẩu uy tín” do Bộ Thương mại trao tặng nhiều năm liền
- Giải thưởng “Doanh nghiệp tiêu biểu Hà Nội vàng”; “Thương hiệu mạnh Việt Nam”
Trang 402.1.2 Định hướng chiến lược
Ngay từ khi thành lập đến nay, Tổng công ty Thương mại Hà Nội đã tự đề ra cho mình những định hướng chiến lược rõ ràng nhằm nâng cao thị phần và củng cố vững chắc thương hiệu Hapro trong lòng người tiêu dùng Và để có thể hoàn thành tốt những mục tiêu, những định hướng đó, Ban giám đốc cũng như toàn bộ công nhân viên Tổng công ty đã luôn cố gắng phấn đấu, làm vệc hết mình dưới sự chỉ đạo đúng
đắn của Hội đồng quản trị
2.1.2.1 Sứ mệnh
Hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, sản xuất và đầu tư, Hapro phấn đấu
vì lợi ích và sự hài lòng của khách hàng Việt Nam và quốc tế