Tuy vậy, nó là hoạt động kinh doanh trên phạm vi quốc tế, không phải là hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các qua hệ mua bán phức tạp, có tổ chức với những quy định và luật
Trang 2Lời nói đầu
Việt nam đang trong thời kỳ tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vì vậy, nhu cầu về vật tư kỹ thuật, dây truyền công nghệ là rất lớn, cần thiết
và cấp bách hơn lúc nào hết Trong khi nền sản xuất trong nước còn chưa thể đáp ứng đước yêu cầu này thì nhập khẩu là con đường ngắn nhất và khôn ngoan nhất để hiện đại hoá các trang thiết bị kỹ thuật, đưa nền sản xuất trong nước mau chóng bắt kịp với các nền sản xuất tiên tiến khác trong khu vực và trên thế giới, nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt với giá thành hạ, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Tuy nhiên có một vấn đề đặt ra là, chúng ta đã đang và sẽ tiến hành hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu như thế nào để đảm bảo mang lại một hiệu quả kinh tế cao nhất
Có thể nói, tuy đã tham gia buôn bán trên thị trường quốc tế hơn 10 năm nay, nhưng trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu ở một số doanh nghiệp Việt Nam đôi lúc còn bất cập Đặc biệt là công tác nhập khẩu vật tư, vật liệu trang thiết bị phục
vụ cho sản xuất vẫn còn nhiều yếu kém Đây đó, ta vẫn thấy nhiều Công ty xuất nhập khẩu của Việt Nam bị các đối tác nước ngoài chèn ép về giá cả, bưng bít về thông tin dẫn đến tình trạng các công ty này nhập khẩu phải những trang thiết bị đã quá lỗi thời lạc hậu, giá cả quá cao, chất lượng kém, hoặc không đồng bộ Vì vậy mà nhập khẩu
đã không đem lại hiệu quả kinh tế, tình trạng thua lỗ, đình trệ sản xuất do thiếu nguyên vật liệu, không có phụ tùng thay thế hay do dây truyền bị hỏng hóc không phải là không phổ biến
Công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ là một đơn vị trực thuộc Tổng công ty than Việt Nam Đây là một Công ty được lập ra với mục đích chủ yếu là kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu vật tư hàng hoá, dây truyền công nghệ phục vụ cho ngành than và một số nghành công nghiệp khác Có thể nói, kể từ khi được thành lập cho đến nay, Công ty đã cơ bản hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà Bộ Công Nghiệp và Tổng công ty than Việt Nam giao phó Song do mới được thành lập, lại phải kinh doanh trên thị trường quốc tế vốn dĩ rất khắc nghiệt, nên trong quá trình hoạt động của mình, đôi lúc
Trang 3Công ty cũng không tránh khỏi những vấp váp sai lầm, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Trước tính bức xúc của vấn đề nêu trên, được sự gợi ý hướng dẫn của cô giáo Tiến sĩ Phan Tố Uyên, cũng như được sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ nhân viên Công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ chi nhánh Hà Nội, em đã quyết định lựa chọn đề tài:
“Một số biện pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu tại Công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ - Chi nhánh Hà Nội ” để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Luận văn tốt nghiệp sẽ bao gồm những nội dung chính sau đây:
Những vấn đề lý luận về hoạt động nhập khẩu
Thực trạng hoạt động nhập khẩu của Công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ
Hà Nội Những điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động nhập khẩu của Công ty cùng với những nguyên nhân của nó
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu để thựchiện mục
tiêu và phương hướng phát triển của Công ty
Với mục đích làm rõ những nội dung nêu trên, kết cấu của luận văn sẽ được chia làm 3 chương lớn như sau:
Chương I Những vấn đề lý luận về hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Chương II Phân tích thực trạng hoạt động nhập khẩu tại Công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ Hà Nội
Chương III Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu tại Công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ Hà Nội
Cuối cùng, do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn của bản thân còn nhiều hạn chế, chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy em rất mong các thầy (cô giáo), các cô (bác) anh (chị) đang làm việc tại công ty nơi em thực tập giúp đỡ, chỉ bảo để em có thể hoàn thành bài viết này một cách tốt nhất
Trang 4Những vấn đề lý luận
về hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường
I Vai trò của nhập khẩu đối với nền kinh tế quốc dân:
1 Một số lý thuyết về thương mại quốc tế:
Theo Các Mác thương mại quốc tế là sự mở rộng hoạt động kinh tế ra khỏi phạm
vi một nước Ngày nay, thương mại quốc tế phải được hiểu là quá trinh trao đổi hàng hoá và dịch vụ với nước ngoài thông qua quan hệ hàng hoá tiền tệ, nhằm mục đích kinh tế và lợi nhuận, trên cơ sở thoả mãn các nhu cầu thị trường Sự trao đổi này là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất riêng biệt ở các quốc gia khác nhau
Thương mại quốc tế ra đời một cách khách quan, đó là kết quả tất yếu của quá trình phân công lao động xã hội, sự chuyên môn hoá trong sản xuất cũng như sự khác biệt giữa các vùng lãnh thổ, các quốc gia trên thế giới về diều kiện tự nhiên, vị trí địa
lý tập quán văn hoá Ra đời và lớn mạnh một cách nhanh chóng, thương mại quốc tế ngày nay đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thế giới Sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong những thế kỷ trước và đặc biệt là một vài thập kỷ gần đây đã làm cho quá trình phân công lao động xã hội trên phạm vi toàn thế giới Đây là tiền đề vô cùng quan trọng cho những bước phát triển tiếp theo của thương mại quốc tế nói chung và cho hoạt động kinh doanh thương mại nói riêng
Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển của mình không phải lúc nào thương mại quốc tế cũng được chú trọng một cách đúng đắn Đã có những thời kỳ, tại một số quốc gia, thương mại quốc tế đã bị xem nhẹ, thậm chí bị lãng quên Những nước này cho rằng họ có thể dựa vào nguồn nhân lực, vật lực của mình để xây dựng nên một nền kinh tế độc lập với nền kinh tế thế giới, một nền kinh tế mang đậm tính tự cấp tự túc, không phụ thuộc Tuy nhiên, họ đã lầm Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở
Trang 5Đông Âu đã chứng minh một cách thuyết phục rằng không có một quốc gia nào, một đất nước nào có thể đứng ngoài vòng quay của nền kinh tế thế giới và thương mại quốc tế là một tất yếu khách quan Muốn kinh tế phát triển, nước đó phải tham gia vào thương mại quốc tế
Với ý nghĩa trên, thương mại quốc tế cũng không chỉ giới hạn giữa các nước có nền kinh tế phát triển tương đương nhau, mà thực chất thương mại quốc tế có thể được tiến hành với tất cả các nước trên thế giới, thậm chí kể cả những nước có trình độ phát triển kinh tế hoàn toàn khác biệt Để giải thích điều này, nhà kinh tế học người Anh David Ricardo ( 1771-1823 ) đã đem ra và chững minh lý thuyết về lợi thế tương đối
Lý thuyết này nhấn mạnh vào sự khác nhau về chi phí sản xuất và coi đó là chìa khoá của phương thức thương mại Nó khẳng định một điều: Nếu một nước nào đó tập trung ( chuyên môn hoá ) vào sản xuất các sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu các sản phẩm khác từ nước ngoài mà sản xuất trong nước kém lợi thế hơn thì chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn Sở dĩ như vậy là vì mỗi nước đều có sự khác nhau về vị trí địa lý điều kiện tự nhiên, đất đai, con người nên chi phí sản xuất cho cùng một loại sản phẩm giữa các nước cũng sẽ khác nhau Với sản phẩm này, nước này có thể có chi phí sản xuất là thấp nhất nhưng với những sản phẩm khác thì các nước khác lại có ưu thế hơn Vì vậy, nếu mỗi nước chuyên môn hoá vào sản xuất những sản phẩm có lợi thế hơn so với các nước khác và nhập khẩu những mặt hàng kém lợi thế hơn nếu sản xuất ở trong nước mình thì chắc chắn sẽ giảm được chi phí, tiết kiệm được nguồn lực và do đó cho phép các nước có thể tăng cường hiệu quả kinh
tế theo quy mô, nghĩa là sản xuất được nhiều hàng hoá hơn với một mức chi phí thấp hơn như vậy thương mại quốc tế thực sự sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho tất cả các bên
Ngày nay thương mại quốc tế chiếm một vị trí rất quan trọng đối với nền kinh tế thế giới nói chung và đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng Thương mại quốc
tế thực hiện việc lưu thông hàng hoá giữa các nước khác nhau, nó bao gồm: Việc mua bán hàng hoá với nước ngoài, xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, việc gia công hàng
Trang 6hoá cho nước ngoài hoặc thuê nước ngoài gia công, hoạt động xuất nhập khẩu tại chỗ
Có thể nói, xuất nhập khẩu hàng hoá là nội dung quan trọng của kinh doanh thương mại quốc tế, nên kinh doanh xuất nhập khẩu cũng chính là thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của kinh doanh thương mại quốc tế Trong xu thế thương mại hoá toàn cầu ngày nay, thương mại quốc tế bao gồm những chức năng chính sau đây:
Tạo vốn cho quá trình đầu tư trong nước
Chuyển hoá giá trị sử dụng, làm thay đổi cơ cấu vật chất tổng sản phẩm xã hội
và thu nhập quốc dân
Góp phần nâng cao hiệu quả của vốn kinh tế quốc dân, bằng việc tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh trong nước phát triển
Thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội trên phạm vi thế giới và quá trình chuyên môn hoá sản xuất
Nhiệm vụ của thương mại quốc tế được xác định trên cơ sở các chức năng và phải phụ thuộc vào bối cảnh quốc tế cũng như mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Đối với Việt Nam, là một nước tiến theo con đường Xã Hội Chủ Nghĩa
và hiện đang trong giai đoạn đầu của quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nền kinh tế đã chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập chung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường với nhiều thành phần kinh tế tham gia Mặt khác với vai trò là một ngành kinh tế đảm nhận khâu lưu thông hàng hoá giữa trong nước với nước ngoài nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước, Đảng và Chính phủ đã đề ra nhiệm vụ cho thương mại quốc tế là:
Tổ chức quá trình lưu thông hàng hoá với nước ngoài, thông qua mua bán làm chiếc cầu nối hữu cơ giữa nền sản xuất trong nước, thị trường trong nước với thị trường thế giới, thoả mãn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng về hàng hoá theo số lượng chất lượng, chủng loại hàng hoá, thời gian và địa điểm với chi phí thấp nhất
Nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước
Đảm bảo thống nhất giữa kinh tế và chính trị trong hoạt động ngoại thương
Trang 7 Góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội quan trọng của đất nước một cách có hiệu quả
2 Nhập khẩu và vai trò của nhập khẩu:
Vai trò của nhập khẩu đối với nền kinh tế quốc dân:
Nói đến thương mại quốc tế, không thể không nói đến xuất nhập khẩu hàng hoá dịch vụ vì đây là nội dung quan trọng và cốt lõi Kinh doanh nhập khẩu là một bộ phận cấu thành của kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung Nếu như trong kinh doanh xuất nhập khẩu, hành vi mua bán là sự trao đổi hàng hoá tiền tệ diễn ra theo hai chiều thì trong nhập khẩu, sự vận động của hàng hoá tiền tệ chỉ diễn ra theo một chiều ( Hàng vào - tiền ra ) Tuy vậy, nó là hoạt động kinh doanh trên phạm vi quốc tế, không phải
là hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các qua hệ mua bán phức tạp, có tổ chức với những quy định và luật lệ rằng buộc kẻ mua người bán nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế bằng cách thoả mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng của dân cư trong nước, nhất là những loại hàng hoá mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng
Nhập khẩu còn tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống Nhập khẩu để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hiện đại cho sản xuất và các hàng hoá cho tiêu dùng mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đáp ứng được nhu cầu Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu những thứ mà trong nước sản xuất không có lợi bằng nhập khẩu Như vậy, nhập khẩu
có tác động đến sự phát triển cân đối và là một nhân tố khai thác tiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế quốc dân
Việt Nam tiến hành công cuộc Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh thế giới có nhiều thuận lợi Xu thế phân công lao động và hợp tác quốc tế phát triển mạnh mẽ, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh thì việc nhập khẩu máy móc thiết bị hiện đại là một nhu cầu cấp bách, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc phát triển
Trang 8kinh tế Đây là giải pháp khôn ngoan, là con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để rút ngắn khoảng cách giữa nước ta với các nước khác trong khu vực và trên thế giới Đối với Việt Nam, trong điều kiện hiện nay nhập khẩu có vai trò:
Thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đẩy mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo một sự phát triển cân đối và ổn định, khai thác đến mức tối đa tiềm năng và khả năng của nền kinh tế vào vòng quay kinh tế
Nhập khẩu đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng Việt Nam ra nước ngoài
Vai trò của nhập khẩu đối với doanh nghiệp :
Vai trò của nhập khẩu được khẳng định cùng với sự phát triển của nền kinh tế, cũng như đối với các doanh nghiệp đó là:
Nhập khẩu giúp doanh nghiệp có được công nghệ sản xuất hiện đại để tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm, cũng như tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Thông qua nhập khẩu, doanh nghiệp có cơ hội mở rộng quan hệ buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài, dẫn đến việc hình thành các liên doanh, liên kết giữa các chủ thể trong và ngoài nước, từ đó giúp doanh nghiệp có thêm kinh nghiệm trong công tác quản lý cũng như trong việc hoạch định các chiến lược kinh doanh Nhập khẩu giúp doanh nghiệp tăng doanh thu và lợi nhuận thông qua việc đáp ứng các nhu cầu xã hội từ đó tăng nguồn vốn kinh doanh cho doanh nghiệp cũng như tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho các cán bộ nhân viên của doanh nghiệp
Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần, việc xuất nhập khẩu mang lại nhiều điều lợi song cũng có nhiều điều bất lợi cho mỗi quốc gia Bởi vì nó phải đối đầu với cả một hệ thống kinh tế từ bên ngoài mà các chủ thể bên trong nước tham gia
Trang 9vào kinh doanh xuất nhập khẩu không dễ dàng gì khống chế được Để phát huy được vai trò của mình, hoạt động nhập khẩu phải đảm bảo một số yêu cầu nhất định và các doanh nghiệp cũng phải thực hiện đúng các nguyên tắc trong hoạt động nhập khẩu sao cho phù hợp với lợi ích của doanh nghiệp cũng như lợi ích của toàn xã hội
Thứ nhất Nhập khẩu phải đảm bảo tính tiết kiệm và hiệu quả trong sử dụng vốn
Là một nước đang phát triển, vốn đầu tư là một trong những nhân tố quan trọng mà Việt Nam đang còn thiếu, bởi vậy yêu cầu tiết kiệm là một vấn đề cơ bản của quốc gia cũng như của doanh nghiệp
Thứ hai Chỉ nhập khẩu những thiết bị tiên tiến, hiện đại tránh nhập khẩu những
công nghệ lạc hậu mà các nước khác đang tìm cách thải ra, hay các công nghệ không phù hợp với điều kiện về môi trường khí hậu, ngành nghề của nước ta
Thứ ba Nhập khẩu nhằm bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tăng
cường xuất khẩu Nhập khẩu cần tranh thủ lợi thế của đất nước trong từng thời kỳ để thoả mãn nhu cầu trong nước, vừa bảo hộ và mở rộng sản xuất trong nước đồng thời tạo ra nguồn hàng xuất khẩu, mở rộng thị trường ngoài nước và thúc đẩy xuất khẩu phát triển
II Nội dung của hoạt động nhập khẩu:
Xuất nhập khẩu là việc mua bán hàng hoá với nước ngoài nhằm phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống Song mua bán ở đây cũng có những nét riêng phức tạp hơn mua bán trong nước rất nhiều Bởi vậy, để nâng cao hiệu quả trong kinh doanh xuất nhập khẩu, yêu cầu mỗi doanh nghiệp phải thực hiện đúng và đầy đủ các khâu nghiệp vụ trong quá trình kinh doanh
1 Nghiên cứu thị trường:
Nghiên cứu thị trường là hoạt động đầu tiên cần thiết đối với bất cứ một doanh nghiệp nào muốn tham gia vào thị trường Đối với doanh nghiệp thương mại nhập
Trang 10khẩu để bán hàng kiếm lời thì thị trường nghiên cứu phải bao gồm cả thị trường đầu ra
và thị trường đầu vào, trong kinh doanh nhập khẩu thì đó là thị trường trong nước và thị trường nước ngoài
1.1 Nghiên cứu thị trường trong nước, xác địng mặt hàng nhập khẩu:
Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập thông tin, số liệu về thị trường, so sánh phân tích những số liệu đó và rút ra kết luận, từ đó giúp doanh nghiệp xác định được nhu cầu cụ thể về :
Mặt hàng mà thị trường trong nước cần
Quy cách chủng loại hàng hoá
Số lượng hàng hoá
Thời hạn tiêu dùng
Giá cả thị trường
Chu kỳ sống của mặt hàng
1.2 Nghiên cứu thị trường quốc tế :
Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới có rất nhiều ý nghĩa trong việc phát triển
và nâng cao hiệu quả các quan hệ kinh tế, đặc biệt là trong công tác nhập khẩu hàng hoá của mỗi doanh nghiệp Mỗi loại hàng hoá nào đó sẽ có rất nhiều nước khác nhau cùng sản xuất, kinh doanh nhiều loại sản phẩm, mà kết quả kinh doanh lại phụ thuộc vào từng đối tác cụ thể Vì vậy, việc nghiên cứu thị trường quốc tế bao gồm các vấn đề sau :
Nghiên cứu môi trường kinh doanh
Điều kiện về chính trị và pháp luật
Điều kiện về kinh tế, sự phát triển của nền kinh tế, của nội thương và ngoại thương…
Điều kiện về vị trí địa lý, yếu tố này cho phép doanh nghiệp giảm các chi phí vận tải, bảo hiểm…
Trang 11 Điều kiện về con người, tâm lý và tập quán thương mại của mỗi quốc gia
Điều kiện về kỹ thuật công nghệ
Các điều kiện trên là những nhân tố không thể kiểm soát được đối với các doanh nghiệp nhưng nó có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp Bởi vậy, doanh nghiệp cần phải điều khiển và đáp ứng các nhân tố đó
1.3 Lựa chọn đối tác kinh doanh:
Trong thương mại quốc tế, bạn hàng hay khách hàng nói chung là những người
có quan hệ giao dịch với ta nhằm thực hiện các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá - dịch vụ, các hoạt động hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật liên quan đến mua bán hàng hoá Việc lựa chọn các đối tác để giao dịch cần dựa trên các cơ sở nghiên cứu sau:
Tình hình sản xuất kinh doanh của hãng, lĩnh vực kinh doanh và phạm vi kinh doanh để thấy được khả năng cung cấp lâu dài, thường xuyên, khả năng đặt hàng
và liên doanh liên kết
Sức mạnh và tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật của đối tác cho phép ta thấy được những ưu thế trong thoả thuận giá cả, các điều khoản về thanh toán
Thái độ và quan điểm kinh doanh, uy tín và quan hệ trong kinh doanh của đối tác
Ngoài ra việc lựa chọn đối tác còn phải dựa vào kinh nghiệm của người nghiên cứu và truyền thống mua bán của doanh nghiệp
1.4 Xác định và dự báo biến động của quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường thế giới:
Đây thực chất là việc nghiên cứu dung lượng thị trường hàng hoá Nghiên cứu dung lượng thị trường hàng hoá cần xác định nhu cầu và nguồn một cách thực tế, xác định toàn bộ lượng hàng hoá bán ra trên thị trường đối với các sản phẩm ( kể cả lượng sản phẩm dự trữ ), xu hướng biến động trong từng thời điểm, từng vùng và từng lĩnh vực sản xuất tiêu dùng Cùng với việc nắm bắt nhu cầu là việc nắm bắt khả năng cung
Trang 12cấp của thị trường ( bao gồm việc xem xét các đặc điểm, tính chất, khả năng sản xuất hàng thay thế, khả năng lựa chọn mua bán ) và tính chất thời vụ của sản xuất, tiêu dùng loại hàng hoá đó trên thị trường thế giới Từ đó có các biện pháp thích hợp cho từng giai đoạn, đảm bảo cho việc nhập khẩu có hiệu quả
Dung lượng thị trường không ổn định, nó chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau trong những giai đoạn nhất định, đó là: Các nhân tố làm cho dung lượng thị trường biến động có tính chất chu kỳ như sự vận động của nền kinh tế, tính thời vụ của sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hoá Các nhân tố ảnh hưởng lâu dài như tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các biện pháp, chính sách của Nhà nước, thị hiếu tập quán người tiêu dùng, khả năng sản xuất hàng thay thế Các nhân tố ảnh hưởng tạm thời đối với dung lượng thị trường như hiện tượng đầu cơ, các yếu tố tự nhiên: thiên tai, lũ lụt, hạn hán…, các yếu tố về chính trị xã hội như đình công, biểu tình…
Nghiên cứu giá cả hàng hoá nhập khẩu: Xu hướng biến động giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới rất phức tạp trong cùng một thời gian, giá cả hàng hoá có thể biến động theo những hướng trái ngược nhau với những mức độ nhiều ít khác nhau Thêm vào đó là việc nắm bắt tình hình xu hướng biến động của giá cả thị trường thế giới là hết sức khó khăn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Việt Nam
Giá cả tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vậy, các doanh nghiệp cần phải luôn luôn theo dõi sự biến động của giá cả, đồng thời phải có các biện pháp để tính toán, xác định một cách chính xác và khoa học mức giá để có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh Để có thể dự đoán được xu thế biến động của giá cả mỗi loại hàng hoá có trên thị trường, cần phải dựa vào kết quả nghiên cứu
và dự đoán tình hình thị trường hàng hoá đó cũng như các nhân tố tác động đến giá cả như: nhân tố chu kỳ, nhân tố lạm phát, nhân tố cung cầu, nhân tố thời vụ, nhân tố xã hội…
Ngoài việc xác định tính toán giá nhập khẩu hợp lý, doanh nghiệp cần phải quan tâm đến tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu ( Đây là số bản tệ có thể thu được khi chi ra một đơn vị ngoại tệ để nhập khẩu ) Nếu tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu lớn hơn tỷ giá hối đoái thì việc lựa chọn mặt hàng nhập khẩu đó là có hiệu quả và ngược lại
Trang 13Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới trong thương mại quốc tế nói chung và nhập khẩu nói riêng là hết sức cần thiết và quan trọng trong hoạt động kinh doanh Đây là bước chuẩn bị, bước tiền đề để xuất nhập khẩu hàng hoá được thực hiện một cách có hiệu quả do nó giúp doanh nghiệp lựa chọn được thị trường, mặt hàng kinh doanh, đối tác, giá cả, phương thức thanh toán, tín dụng và các luật áp dụng
Để nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp có thể thu thập các thông tin trong và ngoài nước, và có thể áp dụng một trong hai phương pháp sau để tiến hành nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu tại văn phòng:
Thực chất đây là việc thu thập thông tin từ các nguồn tư liệu, kể cả những nguồn
tư liệu xuất bản và không xuất bản Đây là phương pháp nghiên cứu phổ thông mà bất
cứ doanh nghiệp nào khi tham gia vào thị trường đều phải sử dụng do nó ít tốn kém về thời gian và chi phí, cho phép doanh nghiệp có thể nhìn được một cách khái quát về thị trường mặt hàng cần nghiên cứu Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là thông tin thường không cập nhật, mức độ tin cậy có hạn và là phương pháp mang tính lý thuyết
Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường:
Đây là phương pháp thu thập thông tin thông qua việc quan sát, tiếp xúc với mọi người tiêu dùng trên thương trường Phương pháp này khắc phục được các nhược điểm của phương pháp trên nhưng đây là phương pháp nghiên cứu phức tạp và rất tốn kém
mà không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thực hiện được Nó còn phụ thuộc vào khả năng tài chính cũng như trình độ của các cán bộ, nhân viên nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp
Trong quá trình nghiên cứu thị trường, cần phải kết hợp cả hai phương pháp trên
để hạn chế những thiếu sót và phát huy được những điểm mạnh của mỗi phương pháp,
từ đó mới nâng cao được hiệu quả của công tác nghiên cứu thị trường
2 Lựa chọn phương thức giao dịch:
Trong hoạt động nhập khẩu có một số phương thức giao dịch sau:
Trang 14Giao dịch thông thường: Là phương thức giao dịch mà người mua và người bán trực tiếp quan hệ với nhau bằng cách gặp mặt trực tiếp hoặc qua thư từ điện tín để bàn bạc và thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch
Giao dịch qua trung gian: Là phương thức giao dịch mà mọi quan hệ giữa người mua và người bán về việc quy định các điều kiện mua bán phải thông qua một người thứ ba, gọi là người trung gian
Buôn bán đối lưu: Là phương thức giao dịch xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng hoá trao đổi có giá trị tương đương
Đấu giá quốc tế: Là phương thức bán hàng đặc biệt được tổ chức công khai ở một nơi xác định, tại đó những người mua tự do cạnh tranh trả giá Và cuối cùng hàng hoá
sẽ được bán cho người nào trả giá cao nhất
Ngoài những phương thức giao dịch trên, trong thực tế vẫn còn một số hình thức giao dịch khác như : giao dịch tại sở giao dịch, giao dịch tại triển lãm hàng hoá, hay giao dịch tại các hội chợ…
3 Tiến hành giao dịch, đàm phán ký kết hợp đồng nhập khẩu:
Đàm phán trong kinh doanh xuất nhập khẩu là việc hai bên mua và bán tiến hành trao đổi thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch ( điều kiện mua bán, điều kiện hợp tác kinh doanh…) mà mỗi bên có thể chấp nhận được Đàm phán có vai trò quan trọng trong kinh doanh xuất nhập khẩu, nó là cơ sở để có thể có được các hợp đồng và
nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia
Trang 15 Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp: hai bên tiến hành gặp gỡ trực tiếp để thực hiện các hoạt đông trao đổi, bàn bạc, thống nhất và ký kết hợp đồng
Hình thức đàm phán qua thư tín, điện thoại chỉ được sử dụng trong trường hợp đối tác là bạn hàng lâu năm, quan hệ tốt và có sự tin tưởng lẫn nhau Đàm phán trực tiếp sử dụng trong trường hợp hợp đồng có giá trị lớn, nội dung phức tạp và có nhiều điều khoản bắt buộc phải giải thích một cách cặn kẽ Mỗi hình thức giao dịch đều có những ưu điểm và hạn chế khác nhau Tùy trong từng trường hợp mà doanh nghiệp kết hợp các hình thức trên sao cho quá trình đàm phán, giao dịch đạt hiệu quả cao nhất
3.2 Trình tự đàm phán:
Hỏi giá: được coi là lời thỉnh cầu bước vào giao dịch do người mua thực hiện, trong đó phải nêu rõ tên hàng, quy cách phẩm chất, số lượng thời hạn giao hàng, giá cả…
Phát giá: Đây là vấn đề chào hàng nếu do người bán tiến hành và là vấn đề phát giá nếu do người mua tiến hành
Đặt hàng: được coi là lời ký kết hợp đồng xuất phát từ phía người mua được dưa
ra dưới hình thức đặt hàng Trong thực tế người ta chỉ đặt hàng với các khách hàng có quan hệ thường xuyên và trong đặt hàng nêu cụ thể về hàng hoá và tất cả các nội dung cần thiết cho việc ký kết hợp đồng
Hoàn giá: là bước mặc cả để hai bên có thể xích lại gần nhau khi đơn đặt hàng chưa được thực sự làm cho các bên hài lòng Khi có hoàn giá đơn chào hàng trước đó không còn giá trị
Chấp nhận: thể hiện sự đồng ý tất cả các điều kiện của chào hàng ( hoặc đặt hàng ) mà phía bên kia đưa ra Khi đó có thể coi hợp đồng đã được thiết lập
Xác nhận: là sự khẳng định những điều khoản thoả thuận để phân biệt với những điều kiện mua bán ban đầu bằng văn bản
3.3 Tổ chức ký kết hợp đồng nhập khẩu:
Trang 16Sau khi đàm phán thành công thì dẫn đến việc ký kết hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu Hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên có quốc tịch khác nhau theo đó một bên được gọi là người bán ( người xuấtkhẩu ), phải có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu của bên kia ( người nhập khẩu ) một lượng tài sản nhất định gọi là hàng hoá Còn bên nhập khẩu phải có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán cho bên xuất khẩu
Thông thường một hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu bao gồm các điều khoản chính sau:
Tên hàng: là một điều khoản quan trọng của hợp đồng, nó nói lên chính xác đối tượng mua bán trao đổi
Phẩm chất và cách xác định phẩm chất: là điều khoản quy định mặt chất của hàng hoá mua bán
Kiểm tra giám định hàng hoá : quy định cơ quan giám định hàng hoá và bên thực hiện việc giám định hàng hoá
Quy định về giải quyết tranh chấp, phạt và bồi thường thiệt hại
Trang 17Ngoài ra còn một số điều khoản khác như : lắp ráp, bảo hành…
Đôn đốc bên bán giao hàng
Thuê tàu
Mua bảo hiểm hàng hoá
Trang 18Kiểm tra hàng hoá
Nhận hàng hoá
Làm thủ tục hải quan
4.1 Chuẩn bị thủ tục kinh doanh xuất nhập khẩu:
Theo nghị định 57/CP ra ngày 31/7/1998 của Chính phủ quy định các doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu không cần phải xin phép ( trừ các hàng hoá cấm xuất khẩu, nhập khẩu hoặc kinh doanh có điều kiện ) mà thực hiện đăng ký
mã số kinh doanh xuất nhập khẩu với Hải quan tỉnh, thành phố Trong đó đăng ký mã
số hải quan cho hàng hoá xuất nhập khẩu trong phạm vi đăng ký kinh doanh Nghị định cũng quy định chi tiết danh mục các mặt hàng cấm xuất khẩu, nhập khẩu hoặc kinh doanh có điều kiện Như vậy đối với những hàng hoá thông thường, khi tiến hành nhập khẩu, doanh nghiệp không phải xin giấy phép
Đối với những hàng hoá quản lý bằng hạn ngạch, để nhập khẩu doanh nghiệp cần phải có giấy phân bổ hạn ngạch và thường phải có được trước khi ký hợp đồng Để có được hạn ngạch nhập khẩu, doanh nghiệp phải xây dựng luận chứng kinh tế, kỹ thuật xin cấp hạn ngạch và được bộ chủ quản phê duyệt, trình Chính phủ thông qua Bộ Thương Mại
4.2 mở thư tín dụng L/C:
Trang 19Khi hoạt động nhập khẩu quy định tiền hàng thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ thì bên nhập khẩu phải mở L/C theo yêu cầu của bên xuất khẩu L/C là một văn bản pháp lý trong đó ngân hàng yêu cầu đối với khách hàng của mình cam kết trả tiền cho người xuất khẩu ký phát nếu họ xuất trình bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những yêu cầu đề ra trong L/C
4.3 Thuê tàu trở ( hoặc uỷ thác thuê tàu):
Căn cứ tiến hành thuê tàu dựa vào hợp đồng nhập khẩu đã ký Người mua sẽ chịu chi phí thuê tàu nếu nhập khẩu theo điều kiện nhóm F Tuỳ theo khối lượng và đặc điểm hàng hoá cần chuyên trở mà doanh nghiệp thuê tàu cho phù hợp và phải đảm bảo thuận lợi, nhanh chóng và an toàn
Có thể lựa chọn các phương thức vận tải như: vận tải đường sắt, đường bộ, đường không, đường thuỷ hay vận tải đa phương thức sao cho việc vận chuyển đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất
4.4 Mua bảo hiểm:
Hiện nay phần lớn hoạt động thương mại quốc tế thực hiện thông qua vận chuyển hàng hoá bằng đường biển Hình thức vận chuyển này có ưu điểm song cũng chứa nhiều rủi ro và tổn thất Do đó bảo hiểm hàng hoá trên đường biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại thương
Người mua sẽ phải mua bảo hiểm nếu nhập khẩu theo nhóm F Khi mua bảo hiểm người nhập khẩu sẽ phải ký hợp đồng với công ty bảo hiểm trong đó xác định điều kiện mà hợp đồng nhập khẩu quy định
4.5 Làm thủ tục hải quan:
Trang 20Hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia để nhập khẩu hay xuấtkhẩu đều phải làm thủ tục hải quan Việc làm thủ tục hải quan bao gồm các bước chủ yếu sau:
Khai báo hải quan ( làm thủ tục về mặt giấy tờ tại các cơ quan địa phương )
Kê khai hàng hoá tại kho hàng: doanh nghiệp sẽ phải đưa hàng hoá đến nơi để kiểm tra ( thường là các cảng đầu mối ), tại đó nhân viên hải quan sẽ tiến hành đối chiếu hàng hoá kê khai trên giấy tờ so với thực tế
Thực hiện quyết định xử lý với cơ quan hải quan: sau khi kiểm tra hàng hoá và giấy tờ cơ quan hải quan sẽ dưa ra các quyết định như cho hàng hoá qua biên giới, cho hàng hoá qua biên giới một cách có điều kiện
4.6 Nhận hàng:
Theo nghị định 200/CP ra ngày 31/12/1993 của Chính phủ, mọi việc giao nhận hàng hoá nhập khẩu đều phải uỷ thác cho cơ quan vận tải ( Ga, cảng, sân bay ) Nhà nhập khẩu phải xác nhận với cơ quan vận tải kế hoạch nhận hàng nhập khẩu, phải cung cấp đầy đủ tài liệu cần thiết cho việc nhận hàng, thanh toán cho cơ quan vận tải Khi hàng về, cảng sẽ báo cáo cho chủ hàng biết và chủ hàng sẽ làm các thủ tục nhận hàng
4.7 Kiểm tra hàng hoá:
Sau khi nhận hàng, bên nhập khẩu sẽ làm thủ tục kiểm tra hàng hoá Cũng theo nghị định 200/CP và Thông tư liên bộ Giao thông vận tải, ngoại thương số 52/TTLB ngày 25/1/1995, hàng nhập khẩu cần được kiểm tra kỹ càng, mỗi cơ quan tuỳ theo chức năng của mình tiến hành công việc kiểm tra đó Vật tư nhập khẩu sẽ được 3 cơ quan kiểm tra, đó là:
Cơ quan giao thông ( ga, cảng, sân bay ): các cơ quan này phải kiểm tra, niêm phong, kẹp chì trước khi dỡ hàng hoá ra khỏi phương tiện vận tải
Đơn vị kinh doanh nhập khẩu: Với tư cách là một bên đứng tên trên vận đơn phải lập thư dự kháng nếu nghi ngờ hoặc thực sự thấy vật tư có tổn thất, thiếu hụt không đồng bộ, không phù hợp với hợp đồng
Trang 21Cơ quan đặt hàng trong nước ( nếu cần thiết ) Ngoài các cơ quan kiểm dịch phải thực hiện các nhiệm vụ của mình khi hàng hoá nhập khẩu yêu cầu phải được kiểm dịch
4.8 Làm thủ tục thanh toán:
Thanh toán là nghiệp vụ quan trọng trong việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu Trong kinh doanh thương mại quốc tế hiện nay có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau mà các bên có thể lựa chọn để áp dụng trong việc thanh toán hợp đồng như: phương thức chuyển tiền, phương thức ghi sổ, phương thức nhờ thu
Nếu hợp đồng nhập khẩu quy định thanh toán tiền hàng bằng L/C thì khi bộ chứng từ gốc từ nước ngoài về đến ngân hàng mở L/C, nhà nhập khẩu phải kiểm tra cẩn thận bộ chứng từ, nếu thấy hợp lệ thì phải trả tiền cho ngân hàng và lấy bộ chứng
4.9 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại:
Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu thấy phát hiện hàng nhập khẩu bị tổn thất, đổ vỡ, mất mát, không đúng với yêu cầu trong hợp đồng về thời gian giao hàng, chất lượng nhà nhập khẩu cần lập ngay hồ sơ khiếu nại để khỏi bỏ lỡ thời hạn khiếu nại
Trang 22Tuỳ từng trường hợp mà đối tượng bị khiếu nại có thể là người bán, người vận tải hoặc công ty bảo hiểm Hồ sơ khiếu nại gồm có đơn khiếu nại và các bằng chứng về việc tổn thất Việc khiếu nại nếu không được giải quyết thoả đáng, hai bên có thể kiện nhau ở hội đồng trọng tài ( nếu có thoả thuận trong hợp đồng ) hoặc ở toà án
Ngoài các bước nói trên, việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng hoá là thiết bị toàn bộ cần có thêm các bước cung cấp thiết bị, xây lắp công trình và chạy thử đưa vào sản xuất
Thực hiện hợp đồng nhập khẩu là khâu cuối cùng của hoạt động ngoại thương do
nó phản ánh tổng hợp toàn bộ quá trình kinh doanh Nếu nhà nhập khẩu thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng nhập khẩu thì sẽ đề cao uy tín của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng quan hệ với khách hàng, thể hiện được tính doanh lợi, tính hiệu quả của nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu
5 Đánh giá hoạt động nhập khẩu:
Sau khi hợp đồng nhập khẩu được thực hiện, doanh nghiệp cần đánh giá hoạt động nhập khẩu thông qua các chỉ tiêu chính sau
5.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động nhập khẩu
Qi: lượng hàng hoá i được bán ra trong kỳ
Pi : Giá bán một đơn vị hàng hoá i
i: số loại hàng hoá
Trang 23Chi phí (CP) :
n Chi phí = Qi * Ci
i = 1
Trong đó:
Qi: lượng hàng hoá bán ra trong kỳ
Ci: chi phí cho một loại hàng hoá
n: số loại hàng hoá
5.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động nhập khẩu:
Lợi nhuận (LN) :
LN = Tổng doanh thu – Chi phí
Lợi nhuận là kết quả so sánh giữa tổng doanh thu so với tổng chi phí Đây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh doanh nghiệp làm ăn có lãi hay không
Tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu (T):
Tổng thu
T = -
Tổng chi
Trang 24Tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu là số bản tệ có thể thu được khi bỏ ra một đồng ngoại tệ để nhập khẩu Nếu tỷ suất này cao hơn tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam và đồng ngoại tệ thì việc nhập khẩu của doanh nghiệp là có hiệu quả, còn ngược lại thì hoạt động nhập khẩu bị thua lỗ
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh (Mv):
Lợi nhuận ròng
Mv = -
Doanh số bán Chỉ tiêu này cho biết khi doanh nghiệp bán 100 đồng doanh số thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí (Mc):
Số lượng hợp đồng nhập khẩu so với đơn hàng
Chủng loại mặt hàng thực hiện kế hoạch
Tiến độ nhập hàng so với hợp đồng nhập khẩu đã ký
Lợi nhuận đạt được so với kế hoạch và cùng kỳ năm trước
Trang 25III Các hình thức nhập khẩu chủ yếu & các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu:
1 Các hình thức nhập khẩu chủ yếu, thường được sử dụng trong các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu:
Trong hoạt động nhập khẩu có nhiều hình thức nhập khẩu khác nhau để doanh nghiệp có thể lựa chọn, mỗi hình thức nhập khẩu đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, bởi vậy doanh nghiệp cần phải tùy từng trường hợp mà áp dụng hình thức nhập khẩu nào để đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất Sau đây là một số hình thức nhập khẩu cơ bản và mang tính phổ biến nhất:
1.1 Nhập khẩu tự doanh:
Nhập khẩu tự doanh là hình thức nhập khẩu mà trong đó doanh nghiệp thực hiện toàn cbộ quá trình nhập khẩu từ nghiên cứu thị trường để mua hàng hoá đến việc bán hàng hoá và thu được doanh thu từ vốn của mình Doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường trong nước và nước ngoài, tính toán đầy đủ chi phí đảm bảo kinh doanh nhập khẩu có lãi đồng thời phải tuân thủ đầy đủ các chính sách, luật pháp của quốc gia cũng như các luật và thông lệ buôn bán quốc tế
Đặc điểm:
Trong hoạt động nhập khẩu tự doanh thì doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về vốn, về mua bán Do đó, doanh nghiệp phải xem xét kỹ lưỡng từ bước nghiên cứu thị trường cho đếnkhi hạch toán kinh doanh và có lãi
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính kim ngạch xuất nhập khẩu và tiền bán hàng nhập khẩu sẽ được tính vào doanh thu và phải chịu thuế doanh thu
Trang 26Thông thường doanh nghiệp chỉ lập một hợp đồng ngoại với bên nước ngoài còn sau khi đã nhập khẩu hàng về mà các doanh nghiệp khác có nhu cầu thì sẽ tiến hành lập một hợp đồng nội để bán hàng cho người mua
1.2 Nhập khẩu qua liên doanh liên kết:
Nhập khẩu dưới hình thưc liên doanh, liên kết là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp ( trong đó ít nhất một doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp ), nhằm phối hợp với nhau để cùng giao dịch và
đề ra chủ trương biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này theo hướng có lợi cho cả hai bên, cùng chia lãi và cùng chịu lỗ
Đặc điểm:
So với nhập khẩu tự doanh thì nhập khẩu dưới hình thức liên doanh liên kết, các doanh nghiệp phải chịu ít rủi ro hơn, bởi mỗi doanh nghiệp chỉ phải góp một phần vốn nhất định Quyền hạn và trách nhiệm của các bên tăng theo số vốn góp Việc phân chia chi phí , chịu thuế, lãi lỗ hai bên cùng phân chia theo thoả thuận dựa trên vốn góp và phần trách nhiệm mà mỗi bên gánh vác
Trong nhập khẩu liên doanh liên kết doanh nghiệp đứng ra nhập khẩu sẽ được tính kim ngạch xuất nhập khẩu nhưng khi đưa lô hàng về tiêu thụ thì chỉ được tính doanh số trên số hàng tính theo tỷ lệ vốn góp của doanh nghiệp đó và chịu thuế trên số hàng đó
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp phải lập đồng thời hai hợp đồng:
Một hợp đồng mua hàng với nước ngoài
Mội hợp đồng liên doanh với doanh nghiệp khác
Sự phân chia dựa trên các chủ thể các hoạt động xuất nhập khẩu Nếu chúng ta quan tâm đến hình thức thanh toán thì có thể thấy hai hình thức thanh toán chủ yếu được sử dụng là: thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán bằng hàng ngay còn gọi là mua bán đối lưu
Trang 271.3 Nhập khẩu tái xuất:
Là hoạt động nhập khẩu vào trong nước nhưng không phải để tiêu thụ mà là để xuất sang một nước thứ ba nào đó để thu lợi nhuận Như vậy, nhập khẩu tái xuất luôn
có sự tham gia của ba nước đó là: Nước xuất khẩu, nước nhập khẩu và nước tạm nhập tái xuất
Thanh toán hợp đồng nhập khẩu tái xuất thường dùng hình thức thư tín dụng giáp lưng
Hàng hoá không nhất thiết phải di chuyển về để tái xuất mà có thể chuyển thẳng cho nước thứ ba
Trang 28Đấu thầu được sử dụng trong các hợp đồng nhập khẩu các hàng hoá phục vụ cho thiết kế lắp đặt các công trình lớn và có quy cách phức tạp Do việc mở thầu là rất tốn kém nên phương thức này cũng chỉ được áp dụng khi chủ đầu tư có số vốn lớn
1.5 Nhập khẩu uỷ thác:
Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động kinh doanh hình thành giữa một doanh nghiệp có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu một số lượng hàng hoá và dịch vụ nhưng lại không có quyền tham gia vào các quan hệ xuất nhập khẩu trực tiếp hay xét thấy nhập khẩu trực tiếp không có lợi ( do quan hệ bạn hàng ngành nghề kinh doanh…) nên đã
uỷ thác cho các doanh nghiệp có chức năng xuất nhập khẩu trực tiếp tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình Bên nhận uỷ thác phải tiến hành dàm phán ký kết hợp đồng với nước ngoài, làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác và được nhận một khoản phí gọi là phí uỷ thác
Đặc điểm:
Trong hoạt động nhập khẩu uỷ thác doanh nghiệp xuất nhập khẩu uỷ thác không phải bỏ vốn ( tuy nhiên cũng có những trường hợp bên uỷ thác nhờ bên nhận uỷ thác trả tiền cho ngân hàng và tính lãi ) Bên nhận uỷ thác không phải xin hạn ngạch nhập khẩu, cũng không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ nhưng phải nghiên cứu thị trường đầu vào nếu bên uỷ thác không có quan hệ giao dịch với nước ngoài Bên nhận
uỷ thác sẽ thay mặt bên uỷ thác, tiến hành khiếu nại, đòi bồi thường với bên nước ngoài ( nếu có) và chịu trách nhiệm về mặt pháp lý của hợp đồng với bên nước ngoài Khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác thì các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chỉ được tính phí kim ngạch xuất nhập khẩu chứ không được tính doanh số, doanh số chỉ được tính là phần phí uỷ thác vì vậy không phải chịu thuế doanh thu, thuế lợi tức
Khi nhận uỷ thác, doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp ( Bên nhận uỷ thác) phải ký đồng thời hai hợp đồng Một là hợp đồng mua bán với nước ngoài, hai là hợp đồng nội với nội dung nhận uỷ thác với các khách hàng trong nước
Trang 292 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp:
2.1 Các nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp:
Các chế độ chính sách, luật pháp của quốc gia và quốc tế đối với hoạt động nhập khẩu : Đây là những yếu tố mà các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu bắt buộc phải nắm vững và tuân thủ Bởi nó thể hiện cho ý chí, mục tiêu của Đảng và Chính phủ, thể hiện sự thống nhất chung của quốc tế, nó bảo vệ lợi ích của mọi tầng lớp xã hội, lợi ích của các quốc gia trong các hoạt động kinh tế Hoạt động xuất nhập khẩu cùng một lúc chịu tác động của hai nguồn luật : Luật quốc gia và các quy định về luật pháp quốc tế
Hoạt động xuất nhập khẩu của một quốc gia sẽ bị ảnh hưởng khi quốc gia đó có
sự thay đổi của luật pháp, chính sách thuế, chính sách quản lý hoạt động xuất nhập khẩu
Tỷ giá hối đoái của đồng tiền và tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu: yếu tố này có tác động rất lớn đến quyết định lựa chọn mặt hàng nhập khẩu, đối tác giao dịch, phương án kinh doanh và phương thức thanh toán của doanh nghiệp nhập khẩu Bất
cứ sự thay đổi nào của một trong những yếu tố này, dù là không nhiều cũng gây ra ảnh hưởng không nhỏ đối với hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Chẳng hạn khi
tỷ giá hối đoái của đồng tiền có lợi cho xuất khẩu thì lại không tốt cho nhập khẩu và ngược lại, khi tỷ giá hối đoái có lợi cho nhập khẩu thì lại ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động xuất khẩu Tương tự như vậy, tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu thay đổi giữa các mặt hàng cũng dễ làm chuyển hướng về mặt hàng cũng như phương hướng kinh doanh của doanh nghiệp nhập khẩu
Biến động thị trường trong và ngoài nước Hoạt động nhập khẩu được coi là cầu nối giữa các thị trường, tạo ra sự gắn bó, phản ánh quan hệ sự biến động của các thị trường Ví dụ nếu hàng hoá trong nước bị tồn đọng, giá cả giảm và nhu cầu đối với hàng hoá đó ít đi thì dĩ nhiên hoạt động nhập khẩu mặt hàng đó sẽ phải dừng lại
Trang 30Về phía thị trường ngoài nước, nếu xảy ra những biến động về khả năng cung cấp, chất lượng, giá cả thì cũng gây ra những tác động tức thì tới hoạt động nhập khẩu trong nước
Trình độ phát triển của nền sản xuất trong nước và ngoài nước gây ra sự cạnh tranh mạnh mẽ đối với hàng hoá nhập khẩu Nếu sản xuất của một quốc gia kém phát triển, không thể sản xuất được những mặt hàng có hàm lượng kỹ thuật cao thì việc nhập khẩu những hàng hoá đó trở thành bắt buộc và ngược lại, nếu nền sản xuất phát triển có khả năng tự sản xuất những mặt hàng kỹ thuật cao thì nhu cầu về nhập khẩu cũng sẽ giảm đi, do đó có ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu Ngoài ra một số nước,
dù có trình độ sản xuất tương đối cao, vấn khuyến khích hoạt động nhập khẩu để nhằm mục đích tạo ra sự cạnh tranh, tránh sự độc quyền dẫn tới tính ỷ lại của các doanh nghiệp sản xuất trong nước
Về phía bên ngoài, nếu nền sản xuất của một quốc gia nào đó đạt được một trình
độ phát triển cao, tạo ra nhiều sản phẩm máy móc, công nghệ mới lạ, hiện đại thì nước
đó sẽ được tăng cường khả năng xuất khẩu, hơn nữa với những yếu tố hấp dẫn của sản phẩm, họ sẽ kích thích được nhu cầu nhập khẩu của các nước khác, do vậy nó có tác dụng thúc đẩy hoạt động nhập khẩu Tuy nhiên, khi nền sản xuất trong nước bị hàng hoá nhập khẩu đe doạ thì các quốc gia có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau như: kiểm tra, hạn chế để điều tiết hoạt động nhập khẩu
Nói về những chủ thể tham gia hoạt động nhập khẩu là các doanh nghiệp thương mại, ta có thể thấy chính các doanh nghiệp này quyết định sự luân chuyển, lưu thông hàng hoá trong nước và giữa các quốc gia với nhau Hiệu quả của hoạt động nhập khẩu được quyết định rất lớn bởi sự phát triển của các doanh nghiệp này Nếu các doanh nghiệp nhập khẩu hoạt động không có hiệu quả hay bị Nhà nước can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh thì không thể phát huy được thế mạnh của nhập khẩu, do đó khó
có thể tham gia vào các quan hệ hợp tác quốc tế, gây nên sự trì trệ cho nền kinh tế
Hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc: yếu tố này không bao giờ có thể tách rời khỏi việc thực hiện các hoạt động nhập khẩu Trước đây khi các phương tiện thông tin liên lạc chưa phát triển hiện đại như bây giờ thì các hoạt động giao dịch
Trang 31thương mại tiến hành rất chậm chạp, mất nhiều thời gian đi lại và chi phí cao Ngay cả hoạt động nghiên cứu thị trường cũng gặp nhiều khó khăn như không kịp thời nắm bắt thông tin về thị trường, nhu cầu khách hàng, thông tin về các đối thủ cạnh tranh Ngày nay với các phương tiện thông tin liên lạc tối tân như: Điện thoại, máy Fax, mạng Internet…sẽ giúp tất cả mọi người có thể liên lạc với nhau nhanh chóng mà không bị hạn chế bởi khoảng cách về không gian Với những phương tiện này, các hoạt động giao dịch thương mại quốc tế như chào hàng, hỏi giá, báo giá thậm chí cả đàm phán
ký kết hợp đồng…đều có thể thực hiện một cách nhanh chóng, thuận tiện mà không nhất thiết buộc hai bên phải gặp mặt trực tiếp
Một trong những nghiệp vụ chính của hoạt động nhập khẩu là vận chuyển hàng hoá từ nước xuất khẩu về nước nhập khẩu Do vậy, đương nhiên các phương tiện giao thông vận tải có một vai trò rất quan trọng Một hệ thống giao thông vận tải an toàn, nhanh chóng hiện đại sẽ giúp cho quá trình vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản đạt được tiến độ nhanh, kịp thời với yêu cầu kinh doanh mà lại có thể tiết kiệm được chi phí cho doanh nghiệp Hiện nay kể cả khi xuất khẩu hay nhập khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu dùng các phương tiện vận tải nước ngoài do các hãng vận tải trong nước chưa có uy tín và cũng chưa được hiện đại hoá Điều này đặt ra một nhu cầu cấp bách cho các hãng vận tải trong nước phải mau chóng thay đổi, nâng cấp các phương tiện vận tải theo kịp trình độ quốc tế để tăng uy tín khi tham gia các hoạt động thương mại quốc tế
Hệ thống ngân hàng-tài chính quố gia: Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của
hệ thống tài chính - ngân hàng ngày càng trở nên hết sức qưuan trọng vì hệ thống này
có trách nhiệm quản lý , cung cấp vốn, thực thi thanh toán một cách thuận tiện, nhanh chóng chính xác cho các doanh nghiệp Với vai trò này nó có thể ảnh hưởng tới hoạt động kinh doan h của tất cả các doanh nghiệp trong một quốc gia, dù là doanh nghiệp
cỡ nhỏi hay doanh nghiệp cỡ lớn, dù là doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp thuộc bất cứ một thành phần kinh tế nào khác Nếu hệ thống tài chính ngân hàng không phát triển vững mạnh thì cũng có nghĩa là các hoạt động nhập khẩu sẽ không thực hiện được Các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ được đảm bảo về mặt lợi ích nếu họ
Trang 32có quan hệ tốt và có uy tín trong nghiệp vụ thanh toán liên ngân hàng Hơn thế nữa, các ngân hàng còn có thể đứng ra bảo lãnh cho các doanh nghiệp nhập khẩu hoặc cho
họ vay vốn để tạo điều kiện cho doanh nghiệp kịp thời cho các hoạt động kinh doanh khi có cơ hội
Trong nền kinh tế thị trường hệ thống ngân hàng - tài chính đã có nhiều thay đổi tích cực góp phần đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên, trong những năm qua không ít các biểu hiện tiêu cực dã xuất hiện đặc biệt là hiện tượng tham nhũng, bảo lãnh cho vốn vay vô tổ chức dẫn đến hậu qủa nghiêm trọng Để bảo đảm và nâng cao uy tín của hệ thống ngân hàng - tài chính, trong những năm tới, Nhà nước cần phải đưa ra những quy chế quản lý có hiệu quả hơn chấm dứt những hiện tượng tiêu cực này
2.2 Các nhân tố chủ quan:
Cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp nhập khẩu cũng như chiến lược khai thác nó phụ thuộc rất nhiều vào tiềm năng của các doanh nghiệp Tiềm năng của mỗi doanh nghiệp có thể mở rộng hay thu hẹp cơ hội kinh doanh và là một nhân tố quyết định đến hiệu quả của quá trình kinh doanh nhập khẩu
Tiềm năng về vốn Thông thường với các doanh nghiệp nhập khẩu hiện nay, vốn
tự có chiếm tỷ trọng rất nhỏ, chủ yếu là vốn đi vay Thực ra, một nhà kinh doanh giỏi
là phải biết sử dụng tốt nguồn vốn vay, nhưng các nhà kinh doanh Việt Nam chưa làm được điều này Qua một số vụ làm ăn đổ bể gây thất thoát lớn, việc vay vốn không còn
dễ như trước nữa nhưng nếu không có vốn thì doanh nghiệp không thể hoạt động kinh doanh được Đây là nhân tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu
Nó có thể làm lỡ cơ hội kinh doanh nếu không vay được vốn hoặc giảm hiệu qủa kinh doanh nếu các doanh nghiệp phải đi vay vốn từ các nguồn khác có lãi suất cao hơn mức lãi suất trần của ngân hàng
Tiềm năng về nhân lực Đây là nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành bại của hoạt động sản xuất kinh doanh Kể cả khi có đủ mọi thuận lợi ở các lĩnh vực khác
Trang 33mà con người thực hiện thiếu năng lực chuyên môn, kém về phẩm chất đạo đức…sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh Vì thế việc sắp xếp, bố trí nhân sự hợp lý, đúng người đúng việc là việc làm hết sức cần thiết, thường xuyên liên tục mà người lãnh đạo phải quan tâm Việc đào tạo và đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho các cánbộ là việc làm cần thiết đối với các doanh nghiệp
Trên đây là một số yếu tố chính có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động nhập khẩu của mỗi quốc gia Nếu tiếp tục phân tích sâu hơn, ta có thể thấy được nhiều yếu
tố ảnh hưởng khác, nhưng phần lớn chúng đều nằm trong các nhóm yếu tố này Qua đây có thể thấy rằng, nhập khẩu là một hoạt động thương mại quốc tế hết sức phức tạp
và có những mối quan hệ chặt chẽ, sâu rộng với tất cả các ngành khác trong tổng thể nền kinh tế quốc dân
Chương II
Thực trạng hoạt động nhập khẩu tại công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ Hà Nội
Trang 34I Khái quát về công ty Vật tư, vận tải và xếp dỡ chi nhánh Hà Nội:
1 Quá trình hình thành và phát triển:
Trước sự phát triển của nền kinh tế và của Tổng công ty than Việt Nam, công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ đã được thành lập để kịp thời đáp ứng nhu cấu vật tư, thiết bị cho ngành than và một số ngành công khác
Ngày 17/9/1996, được sự uỷ quyền của thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp đã ký quyết định số 2612 - QĐ - TCCB thành lập ra công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ Trụ sở chính đặt tại phường Cẩm Đông, thị xã Cẩm Phả, Quảng Ninh
Tên viết tắt là VTX, tên giao dịch quốc tế là Materials Transport And
Stevedores Company ( MTS Co…) Sau khi được thành lập, công ty sẽ hoạt động
theo điều lệ do Tổng công ty Than Việt Nam ban hành trong quyết định số 1576 ra ngày 19/7/1996
Tiếp đó căn cứ vào quyết định số 2531-TVN-TCCB ( ngày 23/9/1996 ) của Tổng giám đốc Tổng công ty than Việt Nam, Giám đốc Công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ đã
ký quyết định số 1783-TVN-VTX-TCLD ( ngày 18/10/1996 ) thành lập chi nhánh Công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ tại Hà Nội Trụ sở của Chi nhánh đặt tại số 11 Vương Thừa Vũ phường Khương Mai, quận Thanh Xuân- Hà Nội
Chi nhánh công ty Vật tư, vậ tải & xếp dỡ tại Hà Nội ( Công ty vật tư, vận tải & xếp dỡ Hà Nội ) là một đơn vị thành viên và phụ thuộc vào công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ, có tư cách pháp nhân không đầy đủ, được mở tài khoản chuyên chi tại ngân hàng, có con dấu riêng và được đăng ký kinh doanh theo pháp luật Trong hoạt đông kinh doanh, Công ty phải tự chịu trách nhiệm vật chất về các cam kết của mình cũng như phải tuân thủ một cách đầy đủ các chính sách, luật pháp của nhà nước CHXHCN Việt Nam cũng như các quy định có liên quan đến luật quốc tế
Công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ Hà Nội, kể từ khi được thành lập cho đến nay,
đã đang hoạt động kinh doanh một cách khá hiệu quả và là một trong những mũi nhọn
Trang 35phát triển trong chiến lược phát triển của Công ty Vật tư, vận tải nói riêng và Tổng công ty than Việt Nam nói chung Trong cơ chế thị trường sau 7 năm hoạt động ( 1996-2002 ), Công ty đã từng bước khắc phục được những khó khăn ban đầu về điều kiện vật chất, trang thiết bị, văn phòng cũng như về đội ngũ nhân viên còn trẻ chưa nhiều kinh nghiệm… đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong ciệc cung ứng hàng hóa, vật tư kỹ thuật đáp ứng thị trường trong nước đặc biệt là thị trường ngành than Có được những điều trên, ngoài những nguyên nhân khách quan như sự thông thoáng hơn trong các chính sách của nhà nước, điều kiện thị trường có nhiều thuận lợi cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu…Còn phải kể đến những nguyên nhân chủ quan không kém phần quan trọng khác Đó là sự lãnh đạo sáng suốt, tinh thần giám nghĩ giám làm của Ban giám đốc công ty cũng như sự cố gắng thái độ học hỏi và làm việc nghiêm túc của đội ngũ cán bộ trẻ, những người đã thực sự làm chủ được công việc và ngày càng khẳng định
vị trí của mình trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung và trong công ty nói riêng
2 Chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy:
2.1 Chức năng:
Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, vật liệu, trang thiết bị khoa học kỹ thuật hàng công nghiệp…theo đúng ngành nghề đã đăng ký kinh doanh, phục vụ cho các mỏ khai thác than và các đơn vị khác trực thuộc Tổng công ty than Việt Nam
Kinh doanh nhập khẩu hàng công nghiệp, hàng dân dụng phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước
Kinh doanh vận chuyển hàng hoá từ bên ngoài về trong nước, từ cảng trong nước
về nơi sản xuất, tư vấn về các vấn đề có liên quan đến lĩnh vực xuất nhập khẩu, lắp đặt trang thiết bị…
Trang 36Kinh doanh và mở rộng phạm vi kinh doanh xuất nhập khẩu, nhận uỷ thác xuất khẩu hoặc nhập khẩu, trao đổi vật tư kỹ thuật với các cơ quan đơn vị trong và ngoài nước, trong và ngoài ngành than
2.2 Nhiệm vụ:
Với các chức năng nêu trên, Công ty vật tư, vận tải & xếp dỡ Hà Nội có nhiệm vụ tiếp thị với các khách hàng trong và ngoài nước, trong và ngoài ngành than đề khai thác mọi khả năng kinh doanh, liên doanh sản xuất trong nước và nước ngoài cũng như các dịch vụ khác nhằm thực hiện một cách có hiệu quả các nhiệm vụ mà Tổng công ty giao phó, đúng với các quy định và luật pháp của nhà nước Thiết lập các mối quan hệ, các hợp đồng ngoại thương, hợp đồng kinh tế, hợp đồng dịch vụ để trình Giám đốc Công ty ký duyệt Trực tiếp ký kết các hợp đồng, thực hiện các giao dịch của Công ty trong các lĩnh vực:
Nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài về để kinh doanh trong nước và trong ngành có lãi
Nhập khẩu hoặc nhận uỷ thác nhập khẩu hàng hoá, thiết bị vật tư từ nước ngoài để phục vụ cho các ngành công nghiệp trong nước
Xuất nhập khẩu uỷ thác hoặc uỷ thác xuất nhập khẩu các mặt hàng nhà nước không quản lý hạn ngạch
Nhận vận chuyển và bán hàng hoá trên cơ sở kinh doanh hợp pháp, lấy thu bù chi và có lãi sau khi đã hoàn thành mọi nghĩa vụ với nhà nước
Thực hiện các dịch vụ: liên doanh, liên kết thương mại, sản xuất, trao đổi hàng hoá, tư vấn thương mại, đầu tư và vay vốn…
Giao dịch tiếp thị với khách hàng mua bán xăng dầu, nhận vận tải thuỷ bộ hoặc làm thủ tục xuất nhập khẩu, cho thuê nhà kho, bãi chứa hàng…
Quản lý tài sản của Công ty tại Hà Nội
Trang 372.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty vật tư, vận tải & xếp dỡ Hà Nội:
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý:
Sau một thời gian hoạt động, Công ty vật tư, vận tải & xếp dỡ Hà Nội đã củng cố
và phát triển cơ cấu bộ máy tổ chức, bố trí sắp xếp đội ngũ lao động nhân viên của mình một cách khá hợp lý
Hiện nay toàn Công ty có khoảng 25 cán bộ, nhân viên Trong đó có trên 95 % số nhân viên có trình độ đại học và trên đại học Hầu hết trong số họ đều có khả năng khai thác và sử dụng thành thạo máy vi tính, mạng internet và có một vốn ngoại ngữ rất tốt Đặc biệt là rất am tường, hiểu biết về các kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương cũng như các trang thiết bị dây chuyền công nghệ phục vụ cho khai thác và sản xuất công nghiệp Đây là một thế mạnh nổi bật của Công ty
Tuy nhiên do số nhân viên còn ít, tính chất công việc của các chức danh không tập trung, mặt khác để tránh tình trạng rướm rà không gắn kết trong hoạt động giữa các phòng ban Nên trong giai đoạn đầu, Công ty đã chọn mô hình trực tuyến để xắp sếp,
tổ chức bộ máy của mình Mô hình này phần nào đã thích ứng được tình hình biến đổi của thị trường, đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi về tính hiệu quả trong các hoạt động kinh doanh của Công ty trong giai đoạn hiện nay Song về lâu về dài, nhất là trong điều kiện môi trường kinh doanh bên ngoài luôn biến đổi, để nắm bắt được những thay đổi đó, Công ty cần không ngừng hoàn thiện bộ máy quản lý, nâng cao tính chất chuyên môn trong các hoạt động tác nghiệp của mình Để làm tốt được điều này, trong thời gian tới Công ty cần phải đào tạo và bổ sung thêm các nhân viên chuyên viên có năng lực, có lòng say mê nhiệt tình với công việc, nhạnh bén trong quản lý và xử ký các thông tin trên thị trường một cách nhanh tróng, kịp thời nhằm đưa ra những quyết định chính xác mang lại hiệu quả kinh tế cho Công ty
Trang 38Bảng 2 Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty vật tư, vận tải & xếp dỡ Hà Nội:
Nv
4
Phòn
g tổng hợp
Phòn
g tài chín
h
Phòn
g kinh doan
h
Trang 392.4 Cơ cấu bộ máy tổ chức & chức năng các bộ phận:
Ban Giám đốc:
Bao gồm giám đốc và hai phó giám đốc do Giám đốc Công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm Ban Giám đốc phải chịu trách nhiệm toàn diện về các cán bộ nhân viên cũng như mọi hoạt động kinh doanh của chi nhánh trước thủ trưởng cơ quan cấp trên ( Giám đốc công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ ) Nghĩa là ban giám đốc công ty có trách nhiệm quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn và các nguồn lực khác được nhà nước giao, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của đơn vị mình, bảo toàn và phát triển vốn, chịu trách nhiệm dân sự đối với các hoạt động kinh doanh của đơn vị mình trước pháp luật và trong phạm vi nguồn vốn của doanh nghiệp, trong đó có nguồn vốn nhà nước giao
Phòng kế toán:
Phòng gồm có 4 người trong đó có 1 kế toán trưởng, 2 kế toán viên và 1 thủ quỹ Phòng có chức năng phản ánh mọi hoạt động kinh tế phát sinh, tổng hợp, phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua Giám đốc Công ty, tổ chức nghiệp
vụ quản lý thu chi tiền tệ, đảm bảo thúc đẩy hoạt động kinh doanh hiệu quả, tiết kiệm phù hợp với cơ chế hiện hành
Phòng kế toán- tài vụ có nhiệm vụ ghi chép, tổng hợp báo cáo lên Giám đốc về các hoạt động tài chính của Công ty, lập kế hoạch tài chính ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, hạch toán lỗ lãi, điều tiết hợp lý tài sản lưu động, quản lý vốn lưu động, vốn cố định, tập hợp doanh thu chi phí, xác định lợi nhuận, điều tiết vốn của công ty phân bố cho từng hạng mục để đảm bảo cho hạot động sản xuất kinh doanh được cân đối nhịp nhàng, liên tục và đạt hiệu quả cao nhất Phòng còn có nhiệm vụ hợp đồng chặt chẽ, đoàn kết có nguyên tắc với các đồng nghiệp, các bộ phận khác của công ty Mở rộng quan hệ hợp tác quan hệ đối ngoại với khách hàng, các đơn vị quản lý cấp trên, đặc biệt với các ngân hàng, các công ty bảo hiểm
Trang 40Phòng kế toán tài vụ cũng có nhiệm vụ tính toán việc thu chi toàn bộ công ty cũng như tính trả tiền lương cho toàn bộ các cán bộ nhân viên của Công ty, đồng thời thực hiện một nhiệm vụ chính là hạch toán kiểm toán, theo dõi thu chi vào tài khoản, xác định các khoản phải nộp vào ngân sách, lập báo cáo hoạt đốngản xuất kinh doanh
và bảng quyết toán tài sản sau mỗi chu kỳ kinh doanh theo đúng chế độ chính sách Nhà nước quy định, sẵn sàng giải trình và báo cáo với các cơ quan chức năng như tài chính, cơ quan thuế bất cứ lúc nào
Phòng tổng hợp:
Là một bộ phận chịu trách nhiệm soạn thảo các điều kiện trong hợp đồng, ký kết các văn bản thoả thuận hợp đồng cũng như việc lưu giữ các hợp đồng nội thương ngoại thương của Công ty qua các năm Phòng cũng có trách nhiệm cùng với phòng kinh doanh thực hiện đàm phán ký kết các hợp đồng kinh doanh của Công ty, tổ chức thực hiện theo dõi và trực tiếp giao nhận hàng từ các sân bay bến cảng hoặc các tổng kho Thực hiện giao dịch với các sở Hải quan, các Bộ nghành có liên quan đến việc xuất nhập khẩu hàng hóa Ngoài ra phòng cũng có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ vối các phòng ban, bộ phận khác trong Công ty, đặc biệt là phòng kinh doanh để giải quyết các vấn đề nẩy sinh trong quá trình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế cho kinhh doanh
Cùng với sự phát triển của Công ty, số thành viên của phòng gồm 4 người đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong việc ký kết, soạn thảo hợp đồng với các điều khoản
rõ ràng, công tác giao nhận hàng hoá ở cơ quan Hải quan nhanh chóng, kịp thời với yêu cầu của khách hàng
Phòng kinh doanh:
Đây là bộ phận quan trọng, là xương sống của Công ty bao gồm 10 nhân viên Tất cả các nhân viên trong phòng đều có trình độ đại học và trên đại học, đa số họ đều
có kiến thức sâu rộng về các nghiệp vụ buôn bán ngoại thương cũng như các kiến thức
có liên quan đến vật tư, trrang thiết bị công nghiệp Nếu nhìn qua thì có thể nói, bộ