1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Biện pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu mặt hàng cao su ở Công ty Thực phẩm miền Bắc (fonexim) - Bộ Thương Mại docx

93 318 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu mặt hàng cao su ở Công ty Thực phẩm miền Bắc (fonexim) - Bộ Thương Mại
Tác giả Nguyen Quang Huy
Người hướng dẫn Nguyễn Quang Huy
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Kinh Doanh Xuất Khẩu
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 782,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên những điều kiện thuận lợi về đất đai,khí hậu và một nền kinh tế nông nghiệp lâu đời với trên 70% dân số tham gia sản xuất nông nghiệp Việt Nam đã xác định cao su là một trong nh

Trang 1

LUẬN VĂN:

Biện pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu mặt hàng cao su ở Công ty Thực phẩm

miền Bắc (fonexim) - Bộ Thương Mại

Trang 2

Lời mở đầu

Ngày nay, hoạt động xuất khẩu giữ vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động thương mại của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.Thông qua hoạt đông xuất khẩu,các quốc gia khai thác được lợi thế của mình trong phân công lao động quốc

tế, tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho đất nước, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tạo công ăn việc làm cho dân cư

Đối với Việt Nam,hoạt động xuất khẩu thực sự có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH - HĐH đất nước và từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2005, Đảng và Nhà nước ta đã nêu rõ : Chúng ta phải tiếp tục xây dựng một nền kinh tế mở cửa theo hường đẩy mạnh xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những mặt hàng trong nước sản xuất có hiệu quả

Dựa trên những điều kiện thuận lợi về đất đai,khí hậu và một nền kinh tế nông nghiệp lâu đời với trên 70% dân số tham gia sản xuất nông nghiệp Việt Nam đã xác định cao su là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo nguồn thu ban đầu cần thiết cho phát triển kinh tế đất nước.Trên thực tế,hàng cao su Việt nam xuất khẩu không ngừng tăng lên cả về số lượng và chất lượng trong những năm qua.Nguyên nhan là do Đảng và Nhà nước ta đã kịp thời đề ra những biện pháp,chính sách cụ thể nhằm khuyến khích,tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty kinh doanh xuất khẩu cao su có thể nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh của mình cũng như uy tín của Việt Nam trên thị trường cao su thế giới

Công ty Thực phẩm miền Bắc (fonexim) - Bộ Thương Mại là một trong những công ty thực hiện khá tốt hoạt động xuất khẩu cao su.Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được,Công ty vẫn còn không ít khó khăn cần phải khắc phục để đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này.Xuất phát từ thực tiễn trên tôi quyết định chọn đề tài

:"Biện pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu mặt hàng cao su ở Công ty Thực

phẩm miền Bắc (fonexim) - Bộ Thương Mại " làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp

Đề tài gồm 3 chương lớn với các nội dung sau :

Trang 3

Chương I : Những vấn đề cơ bản về kinh doanh xuất khẩu mặt hàng cao su

Chương II :Thực trạng kinh doanh xuất khẩu cao su của Công ty Thực

phẩm miền Bắc (fonexim) - Bộ Thương Mại

Chương III : Phương hướng và biện pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu

cao su ở Công ty Thực phẩm miền Bắc (fonexim) - Bộ Thương Mại

Dựa trên lý luận và phân tích thực tế đã được học,tôi đưa ra một số biện pháp

nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nói chung,xuất khẩu cao su nói riêng nhằm

mở rộng thị trường của Công ty trên toàn thế giới

Được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn Nguyễn Quang Huy và tập

thể cán bộ của Công ty Thực phẩm miền Bắc - Bộ Thương Mại tôi đã hoàn thành

được đề tài này.Do nhận thức còn hạn hẹp cũng như chưa trải qua thực tế nên trong

đề tài còn nhiều thiếu sót.Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô,các cán

bộ Công ty để đề tài được hoàn thiên tốt hơn

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo Nguyễn Quang Huy và

tập thể cán bộ Công ty Thực phẩm miền Bắc - Bộ Thương Mại đã tạo điều kiện

giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này

Trang 4

Chương I Những vấn đề cơ bản về kinh doanh xuất khẩu mặt hàng cao su

I Khái quát về kinh doanh xuất khẩu hàng hoá

1 Khái niệm về kinh doanh xuất khẩu

Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi Quốc tế Nó không phải

là hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có

tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế,ổn định và từng bước nâng cao mức sống nhân dân Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh dễ đem lại hiệu quả đột biến nhưng có thể gây thiệt hại lớn vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài

mà chủ thể trong nước tham gia xuất khẩu không dễ dàng khống chế được

Mục đích của hoạt động kinh doanh là khai thác được lợi thế của các quốc gia trong phân công lao động quốc tế, tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước Hoạt động xuất khẩu diễn ra trong mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện với nhiều loại mặt hàng khác nhau Phạm vi hoạt động xuất khẩu rất rộng cả về không gian và thời gian Xuất khẩu hàng hoá là một trong những lĩnh vực kinh doanh Quốc tế Bởi vậy, xuất khẩu mang đặc trưng rõ rệt của kinh doanh Quốc tế nói chung, ngoài ra còn mang một số đặc trưng về xuất khẩu

- Các chủ thể kinh tế tham gia hoạt động xuất khẩu thường có quốc tịch khác nhau, ngôn ngữ khác nhau, mang những bản sắc văn hoá khác nhau

- Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ sẽ đem lại cho quốc gia một lượng ngoại tệ phục vụ cho nhập khẩu phát triển trong nước, đồng thời mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp

- Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên thị trường rộng lớn khó kiểm soát

- Mua bán qua trung gian chiếm tỷ trọng lớn

Trang 5

- Đồng tiền thanh toán sẽ là đồng ngoại tệ đối với ít nhất một trong các đối tác Đồng tiền thanh toán thường là ngoại tệ mạnh

- Hàng hoá xuất khẩu vận chuyển qua biên giới

- Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ sẽ chịu sự điều chỉnh của các nguồn luật khác nhau và phải tuân theo các tập quán Thương mại Quốc tế cũng như địa phương

2- Vai trò của xuất khẩu hàng hoá

Kinh doanh xuất khẩu tạo điều kiện cho nhiều quốc gia có thể phát huy tối đa những lợi thế của mình về vốn, công nghệ, tài nguyên, nguồn lao động Đồng thời kinh doanh xuất khẩu cũng tạo điều kiện cho nhiều quốc gia đang phát triển và những quốc gia kém phát triển có điều kiện tiếp thu được những công nghệ, kinh nghiệm quản lý kinh doanh tiên tiến của các quốc gia đi trước

Xuất khẩu hàng hoá nằm trong khâu phân phối lưu thông của quá trình tái sản xuất

mở rộng, nhằm mục đích liên kết giữa sản xuất và tiêu dùng giữa nước này với nước khác Vai trò của xuất khẩu được thể hiện qua các điểm sau:

a Xuất khẩu là phương tiện chính góp phần tạo nguồn vốn cho nhập khẩu phục vụ CNH- HĐH đất nước

Nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản của Việt Nam trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2002 là đưa Việt Nam trở thành một nước công nghịêp phát triển Vì vậy nhiệm vụ cơ bản của những năm tới đây là đẩy mạnh quá trình CNH- HĐH đất nước

Để tiến hành CNH- HĐH thì cần phải có đủ 4 yếu tố, đó là nhân lực, tài nguyên, vốn và kỹ thuật Nhưng không phải hiện nay bất cứ quốc gia nào cũng có đủ các yếu tố đó, đặc biệt là các nước đang phát triển và kém phát triển trong đó có Việt Nam

Công nghiệp hoá đất nước đi theo những bước đi hợp lý là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo nàn và chậm phát triển của nước ta Để CNH trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến cùng với phương pháp quản lý tiên tiến của các nước phát triển Nguồn vốn để nhập khảu có thể được hình thành từ các nguồn như:

- Đầu tư nước ngoài

Trang 6

- Vay nợ, viện trợ

- Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ

- Xuất khẩu hàng hoá

Các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ tuy quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau Chẳng hạn như, nguyên tắc nhận vốn từ nước ngoài phải là trả bằng sản phẩm hoạc chia sẻ tài nguyên thiên nhiên cho bên kia Đặc biệt trong thời gian gần đây, sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á (năm 1997) và vụ khủng bố toà nhà trung tâm Thương mại thế giới ở New York (11-9-2001)làm cho các hoạt động đầu tư của các nước phát triển vào các nước đang và kém phát triển giảm sút rất mạnh Trong đó đầu tư nước ngoài ở Việt Nam giảm sút rất nhanh cả về số lượng dự án đầu tư và số vốn đầu tư Do vậy, nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu phục vụ CNH đất nước chính là xuất khẩu Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu

ở nước ta, thời kỳ 1986- 1990 nguồn thu của nước ta về nhập xuất khẩu chiếm 3/4 tổng nguồn thu ngoại tệ, năm 1994 thu xuất khẩu đã đảm bảo được 80%nhập khẩu

so với 24,6% năm 1986 Với xu hướng này các năm sau kim ngạch xuất khẩu đều tăng lên so với các năm trước đó

Trong tương lai, nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên Nhưng mọi cơ hội đầu tư và vay

nợ nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi các chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu ,nguồn vốn duy nhất để trả nợ trở thành hiện thực

b Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế , thúc đẩy sản xuất phát triển

Hiện nay, do thành quả của cuộc cách mạng Khoa học & Công nghệ hiện đại, cơ cấu sản xuất , và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh mẽ Các nước phát triển ngày càng tập trung vào sản xuất những mặt hàng có hàm lượng kỹ thuật cao và ít ô nhiễm môi trường Các nước công nghiệp mới (NICs) đang phấn đấu đuổi kịp các nước phát triển và đã có nhiều nghành vuợt qua các nước phát triển Các nước Đông Nam á ( trong đó có Việt Nam ) có cơ cấu kinh tế ngày càng thay

Trang 7

đổi một cách mạnh mẽ theo chiều hướng gắn kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút vốn và công nghệ từ nước ngoài

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình CNH phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với Việt Nam

Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế

Một là, xuất khẩu chỉ là tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu

cầu nội địa Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển như nước

ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng và nếu chỉ thụ động chờ sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng thấp và sự thay đổi kinh tế sẽ chậm chạp

Hai là, trên cơ sở lợi thế so sánh của đất nước mình, coi thị trường và đặc biệt

thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất Quan điểm này xuất phát từ thị trường thế giới kết hợp với tiềm năng, thực lực của đất nước để tổ chức sản xuất, hình thành các ngành kinh tế hướng về xuất khẩu Những ngành kinh tế đó phải có kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để hàng hoá khi tham gia vào thị trường thế giới có đủ sức cạnh tranh và mang lại lợi ích cho quốc gia Điều đó tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy sản xuất phát triển Đó là:

- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành liên quan có cơ hội phát triển thuận lợi Ví dụ, khi phát triển dệt xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho việc phát triển ngành sản xuất nguyên liệu như bông hay thuốc nhuộm Sự phát triển của công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu, kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị

- Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, cung cấp đầu vào cho sản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước

- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm đổi mới thường xuyên năng lực sản xuất trong nước Nói cách khác xuất khẩu là cơ sở tạo thêm vốn

và kỹ thuật, công nghệ tiên tiến từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế nước ta

Trang 8

- Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi phải

tổ chức lại sản xuất cho phù hợp với nhu cầu thị trường

- Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành Như vậy theo cách hiểu thứ hai này, xuất khẩu được coi là giải pháp làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách mạnh mẽ theo chiều hướng có lợi hơn, hiệu quả kinh

Do dân số đông lại là một nước chậm phát triển nên dư thừa lao động đặc biệt trong khu vực nông thôn hiện nay đang là vấn đề căng thẳng và khó giải quyết Mặc

dù những năm gần đây, lực lượng này có xu hướng giảm so với các nước trong khu vực nhưng tỷ lệ thất nghiệp vẫn khá cao.Nạn thất nghiệp diễn ra khá trầm trọng ở khu vực nông thôn: Trên 11 triệu lao động ở nông thôn cần có việc làm trong những năm tới, 30% dân số ở nông thôn là các hộ nghèo đói.Trong khi đó tốc độ tăng dân

số vẫn cao( 1,8% năm) , đặc biệt là khu vực nông thôn

Vấn đề đặt ra là phải làm sao nâng cao được đời sống của người dân và giảm tỷ lệ thất nghiệp Hoạt động thượng mại nói chung và xuất khẩu nói riêng phát triển kéo theo hàng triệu người tham gia vào vào lĩnh vực này và dần dần nâng cao mức sống của người dân Bởi vì xuất khẩu phát triển đã kéo theo hàng loạt các ngành nghề

Trang 9

khác phát triển ( như đã nói ở trên), khôi phục lại những ngành nghề truyền thống, khắc phục số nông nhàn trong lĩnh vực nông nghiệp ngày càng triệt để hơn Xuất khẩu phát triển thúc đẩy quá trình liên doanh liên kết, hàng loạt các ngành nghề mới

ra đời đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng hiện đại

Bên cạnh đó, xuất khẩu còn tạo nguồn vốn để nhập kihẩu những vật phẩm tiêu dùng thiết yếu mà trong nước không tự sản xuất được ( hoặc sản xuất nhưng với giá thành cao) phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu của nguươì dân

d- xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta

Quan hệ kinh tế đối ngoại là tổng thể các mối quan hệ về thương mại kinh tế và KH-KT giữa các quốc gia với nhau Các hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế là xuất nhập khẩu hàng hoá hữu hình và vô hình, đầu tư quốc tế, du lịch dịch vụ, xuất khẩu sức lao động, hợp tác KH-KT, hợp tác sản xuất, hợp tác tài chính

Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại làm cho nền kinh tế nước ta gắn chặt với phân công lao động Quốc tế Thông thường các hoạt động xuất khẩu ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác nên nó thúc đẩy các quan hệ này phát triển Chẳng hạn xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, vận tải Quốc tế Đến lượt nó chính các quan hệ kinh tế đối ngoại lại tạo tiền

đề cho mở rộng xuất khẩu

Nói tóm lại, xuất khẩu là hoạt động rất cơ bản của kinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển Đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để thực hiện CNH- HĐH đất nước Hiện nay nhà nước ta đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hướng vào xuất khẩu, khuyến khích khu vực tư nhân mở rộng xuất khẩu để giải quyết việc làm và tăng thu ngoại tệ cho đất nước

Đối với mỗi doanh nghiệp, vai trò của xuất khẩu được thể hiện ở các khía cạnh sau:

- Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cạnh tranh trên thị trường thế giới Điều đó buộc các doanh nghiệp phải năng động,

Trang 10

sáng tạo để tìm ra cho mình một hướng đi đúng, phù hợp để tồn tại và đứng vững trên thị trường Quốc tế

- Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị kinh doanh cho phù hợp với thời đại Đồng thời xuất khẩu còn tạo nguồn thu ngoại tệ cho doanh nghiệp để tái đầu tư vào quá trình sản xuất cả về chiều rộng lẫn chiều sâu

- Thông qua hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp có cơ hội mở rộng quan hệ buôn bán với nhiều đối tác nước ngoài Từ đó có điều kiện học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ phía đối tác nước ngoài, góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho các thành viên trong doanh nghiệp

- Chính kinh doanh xuất khẩu góp phần giải quyết các sản phẩm đầu ra cho các đơn vị sản xuất kinh doanh,tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn

ra bình thường

- Kinh doanh xuất khẩu phát huy được những khả năng vượt trội của doanh nghiệp khắc phục được những hạn chế của doanh nghiệp.Từ đó đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp

Có thể nói một cách khái quát rằng kinh doanh xuất khẩu góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại và nâng cao vị thế, uy tín của quốc gia, doanh nghiệp trên thị trường Quốc tế Về mặt kinh tế mà xét, kinh doanh xuất khẩu đem lại nhiều cái lợi hơn là thiệt hại Điều đó tuỳ thuộc vào khả năng ứng xử và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, của từng quốc gia trên thị trường thế giới

3 Nhiệm vụ của xuất khẩu hàng hoá

Từ sau năm 1986, Chính phủ Việt Nam bắt đầu mở cửa nền kinh tế, xoá bỏ chế độ quản lý kế hoạch hoá tập trung , nền kinh tế của Việt Nam nói chung và xuất khẩu nói riêng đã đạt được những thành tựu nhất định Trước đây trong cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều thực hiện theo kế hoạch từ trên giao xuống Các doanh nghiệp không được tự chủ trong kinh doanh cũng như không phải lo đầu ra cho sản phẩm, tất cả đã có Nhà nước lo Hơn nữa các doanh nghiệp chỉ cần thực hiện sao cho hoàn thành số lượng được giao, không cần biết chất lượng ra sao cả Chính vì vậy hàng hoá sản xuất ra với chất lượng kém, trong khi đó hàng hoá lại được sản xuất theo kế hoạch nên không đáp ứng đúng nhu

Trang 11

cầu của thị trường Vì vậy, hàng hoá của Việt Nam rất khó xuất khẩu được Hoạt động xuất nhập khẩu là do Nhà nước quản lý, các doanh nghiệp không được tự mình tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu hoặc nếu có thì thủ tục cũng rất phức tạp Vì lẽ đó mà Ngoại thương Việt Nam đã kém phát triển lại càng kém hơn

Trong những năm qua, kể từ khi mở cửa nền kinh tế , xuất khẩu Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng cả về kim nghạch và cơ cấu cũng như thị trường

so với thời kỳ trước song còn nhiều vấn đề phải khắc phục Phân tích hoạt động kinh doanh hàng hoá xuất khẩu thời gian gần đây có thể rút ra một số kết luận sau:

- Tuy tốc độ xuất khẩu tăng nhanh nhưng quy mô còn rất nhỏ bé, chưa đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu của nền kinh tế

Trong những năm qua Chính phủ Việt Nam đã liên tục cải cách chế độ xuất nhập khẩu Tất cả các doanh nghiệp không kể các doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân nếu như có giấy phép kinh doanh mặt hàng mình cần xuất nhập khẩu , và mặt hàng đó nếu như không thuộc mặt hàng cấm xuất nhập khẩu đều được tự mình trực tiếp tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu Chính điều này đã làm cho tốc độ xuất khẩu tăng rất nhanh Tuy vậy, quy mô xuất khẩu của các doanh nghiệp còn rất nhỏ bé

Cơ cấu xuất khẩu thay đổi rất chậm chạp, phần lớn xuất khẩu hàng hoá nguyên liệu ở dạng sơ chế Chất lượng hàng hoá xuất khẩu của ta thấp nên khả năng cạnh tranh rất yếu Nguyên nhân là do, một phần các doanh nghiệp đã quen với cơ chế cũ nên chất lượng hàng hoá thấp Hơn nữa, hầu hết máy móc của các doanh nghiệp đều

đã cũ kỹ lạc hậu cộng với trình độ quản lý yếu kém làm cho hàng hoá đã kém chất lượng lại càng kém hơn.Hơn nữa, nước ta là một nước kém phát triển , vì vậy rất thiếu những công nghệ hiện đại Do đó danh mục hàng xuất khẩu chủ yếu là tài nguyên thiên nhiên hoặc ở dạng sơ chế Do vậy rất khó có thể thay đổi dược cơ cấu hàng xuất khẩu trong một thời gian ngắn

- Hàng xuất khẩu còn manh mún, chưa có mặt hàng xuất khẩu chủ lực Việt Nam là một nước nhỏ và là một trong những nước khi tham gia vào thị trường thế giới trong vị trí là một nước chấp nhận giá, không điều tiết được thị trường thế giới

về nhu cầu sản phẩm mà mình sản xuất Do đó, rất khó có thể để làm cho Việt Nam

Trang 12

có được những mặt hàng mang lại nhiều lợi nhuận hay còn gọi là những mặt hàng chủ lực

- Kim ngạch xuất khẩu thấp, nhưng lại có quá nhiều doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu thế giới dẫn đến tăng hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá xuất khẩu, tạo điều kiện cho thương nhân nước ngoài chèn ép giá

Do các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là tài nguyên thiên nhiên và các mặt hàng ở dạng sơ chế cộng vơí Việt Nam là nước chấp nhận giá trên thị trường thế giới nên kim nghạch xuất khẩu của Việt Nam rất thấp và bếp bênh Phụ thuộc rất nhiều vào bên ngoài Nếu như giá cả trên thị trưòng thế giới tăng thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng Nhưng nếu như giá cả thị trường thế giới giảm mạnh thì kể cả có tăng khối lượng xuất khẩu rất nhiều so với năm trước nhưng khi

có kim ngạch xuất khẩu vẫn còn kém hơn năm trước Đây là vấn đề cấp bách mà Nhà nước cần phải quan tâm giải quyết Hơn nữa, mặc dù Nhà nước mở rộng quyền hạn cho các doanh nghiệp được quyền tự mình tham gia vào các hoạt động xuất nhập khẩu trực tiếp nhưng Nhà nước lại không quản lý được các hoạt động xuất nhập khẩu của họ Vì vậy, thường xảy ra các trường hợp tranh mua, tranh bán giữa các doanh nghiệp Điều đó càng làm cho kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam thấp

- Nâng cao năng lực sản xuất hàng xuất khẩu để tăng nhanh khối lượng và kim ngạch xuất khẩu

- Tạo ra những mặt hàng ( nhóm hàng) xuất khẩu chủ lực đáp ứng những đòi hỏi của thị trường thế giới và của khách hàng về cả chất lượng và số lượng có khả năng hấp dẫn và cạnh tranh cao

Trang 13

4 Các hình thức xuất khẩu

Trên thực tế có rất nhiều loại hình kinh doanh xuất nhập khẩu nhưng những hình

thức chủ yếu thường được các doanh nghiệp ngoại thương lựa chọn bao gồm:

4.1.Xuất khẩu và nhập khẩu trực tiếp

đây là hình thức mà hàng hoá được mua hay bán trực tiếpcủa nước ngoài không qua trung gian.Phần lớn hàng ở thị trường thế giới được thực hiện qua phương thức xuất nhập khẩu trực tiếp (trên 2/8 kim ngạch buôn bán)

Hình thức này co ưu điểm làlợi nhuận của đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu thường cao hơn các hình thức khác do giảm bớt được các khâu trung gian.Với vai trò là người bán trực tiếp,đơn vi có thể nâng cao uy tín của mình thông qua quy cách phẩm chất của hàng hoá.Mặt khác,các đơn vị này cũng có điều kiện tiềp cận thị trường,nắm bắt được các thông tin một cách nhạy bénhơn,để đưa ra những ứng

xử linh hoạt,thích ứng với thị trường.Tuy vạy laọi hình này đòi hỏi phải ứng trước một số vốnkhá lớn để sản xuất hoặc thu mua hàng và có thể gặp nhiều rủi ro như hàng không xuất được,thanh toán chậm,lạm phát hay sự thay đổi của tỷ giá hối đoái

4.2 Xuất nhập khẩu gián tiếp

Đây là loại hình xuất nhập khẩu qua trung gian thương mại.Ưu điểm của hình thức này là người trung gian giúp cho người xuất khẩu tiết kiệm được thời gian,chi phí,giảm bớt nhiều việc liên quan đến tiêu thụ hàng.Ngoài ra người trung gian còn

có thể giúp cho người xuất khẩu tín dụng trong ngắn hạn và trung hạn bởi vì trung gian có quan hệ với công ty vận tải,ngân hàng Tuy nhiên,sử dụng hình thức này cũng có nhược điểm là lợi nhuận bị chia xẻ do tổn phí,doanh nghiệp xuất khẩu mất mối quan hệ trực tiếp với thị trường,thông tin nhiều khi không chính xác

4.3 Chuyển khẩu,tạm nhập tái xuất

Đây là hình thức mua của nước này bán cho nước khác,không làm thủ tục xuất nhập khẩu và thường hàng đi thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu.Người kinh doanh chuyển khẩu trả tiền cho người xuất khẩu và thu tiền của người nhập khẩu hàng hoá đó.Thường khoản thu lớn hơn tiền trả cho người xuất khẩu,do đó người kinh doanh thu được số chênh lệch(lãi).Các mặt hàng này(tạm nhập tái xuất,tạm xuất tái nhập,chuyển khẩu)được miễn thuế xuất nhập khẩu

Trang 14

Xét về đường đi của hàng hóa tái xuất và chuyển khẩu giống nhau.Chỗ khác nhau

là kinh doanh chuyển khẩu chủ yếu là kinh doanh dịch vụ vận tảiCòn tái xuất là loại hìnhhợp đồng kinh doanh hàng hoá:nhập khẩu để xuất khẩu hàng đó,không qua chế biến,thu lã tức thời.Người kinh doanh bỏ vốn ra mua hàng,bán lại hàng đó đẻ thu lời nhiều hơn.Việc giao dịch thực hiện ở ba nước:nước xuất khẩu,nước tái xuất,nước nhập khẩu.Giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên,ở ba nước

Mặc dù xuất nhạp khẩu trực tiếp có những ưu điểm không thể phủ nhận được nhưng hiện naydo chính sách thương mại của từng nước nên hình thức chuyển khẩu vàtạm nhập tái xuất vẫn tồn tại khá phổ biến

4.4 Mua bán đối lưu

Đây là hoạt động giao dịch trong đó hoạt động xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với hoạt động nhập khẩu,có sự cân xứng giữa mua và bán,người bán đồng thời là người mua,lượng hàng trao đổi có giá trị tương đương.Hình thức này được sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển.Vì thiếu ngoại tệ tự do chuyển đổi,các nước này dùng hàng để cân đối nhu cầu trong nước

Trong hình thức này yêu cầu:

* Cân bằng về tổng giá trị xuất nhập khẩu

* Cân bằng về chủng loại hàng quý hiếm

* Cân đối về giá cả

Hai loại nghiệp vụ phổ biến nhất trong mua bán đối lưu là đổi hàng và trao đổi bù trừ

- Đổi hàng hoặc hàng đổi hàng: là trao đổi một hoặc nhiều hàng này lấy một hoặc nhiều hàng khác,tổng trị giá tương đương,khi thiếu hụt không qua thanh toán bằng ngoại tệ mà trả bằng hàng khác

- Trao đổi bù trừ : là một mặt hàng này (hoặc nhiều mặt hàng)trao đổi với mặt hàng khác(hoặc nhiều mặt hàng khác),không thanh toán bằng tiền mà trả bằng hàng theo yêu cầu của các bên.Chỗ chênh lệch có thể thoả thuận trả bằng tiề hoặc bổ sung bằng hàng theo yêu cầu của bên kia

Trước đây,nước ta rất hay sử dụng hình thức trao đổi này do không có thị trường tiêu thụ sản phẩm,sản phẩm lại không đa dạng,chất lượng kém.Sự trao đổi diễn ra phổ biến với các nước Đông Âu mà hình thức này cũng ít được sử dụng

Trang 15

4.5 Gia công quốc tế

Đây là hình thức kịnh doanh trong đó một bên,gọi là bên nhận gia công nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác(gọi la bên đặt gia công)để chế biến ra thành phẩm,giao lại cho bên đặt gia công và nhận phí gia công

Gia công Quốc tế cũng là hình thức xuất khẩu khá phổ biến,được nhiều nước,đặc biệt là các nước đang phát triển có nguồn nhân lực dồi dào áp dụng.Thông qua hình thức này,họ vừa tạo điều kiện cho người lao động có công ăn việc làm,lại vừa tiếp nhận được công nghệ mới.Mặt khác các nước này lại không phải bỏ ra nhiều vốn và cũng không lo về thị trường tiêu thụ

Các nước đặt gia công cũng có lợi vì họ có thể tận dụng được nguồn nguyên liệu phụ và nhân công dồi dào với giá rẻ của các nước nhận gia công.Song hình thức này cũng có hạn chế là các nước nhận gia công bị phụ thuộc vào nước đặt gia công về

số lượng,chủng loại hàng hoá gia công đồng thời cũng bị o ép về phí gia công

ở nước ta gia công xuất khẩu phổ biến là hàng may mặc,lắp ráp điện tử.Đó là một hình thức mậu dịch lao động,xuất khẩu lao động qua hàng hoá

4.6 Xuất khẩu uỷ thác

Trong hình thức này,đơn vị ngoại thương đóng vai trò quan trọng,làm trung gian xuất khẩu,làm thay cho đơn vị sản xuất(bên có hàng)những thủ tục cần thiết đẻ xuất hàng và hưởng phần trăm theo giá trị hàng xuất đã được thoả thuận.Hình thức này bao gồm các bước:

* Ký hợp đồng xuất khẩu uỷ thác với đơn vị trong nước

* Ký hợp đồng xuất khẩu,giao hàng và thanh toán tiền hàng với bên nước ngoài

* Nhận uỷ thác xuất khẩu từ đơn vị trong nước

Đây là hình thức phổ biến ở Việt Nam hiện nay.Các doanh nghiệp đứng ra nhân sự

uỷ thác thường là các doanh nghiệp nhà nước

II Nội dung kinh doanh xuất khẩu mặt hàng cao su

1 Nghiên cứu thị trường xuất khẩu

Lý thuyết Marketing hiện đại đặt cơ sở cho việc nghiên cứu thị trường : "xuất khẩu cái mà thị trường cần chứ không xuất khẩu cái mà mình có" Công tác nghiên cứu thị trường là vấn đề đầu tiên được đắt ra với bất cứ doanh nghiệp nào muốn tham

Trang 16

gia vào hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng và nó là khâu then chốt quyết định đến thành bại của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp về sau Thông tin về thị trường sẽ là kim chỉ nam dẫn dắt doanh nghiệp đi đến những quyết định tếp theo

1.1- Lựa chọn thị trường xuất khẩu

Lựa chọn thị trường xuất khẩu phức tạp hơn nhiều so với việc lưa chọn thị trường trong nước bởi vì các nước khác nhau có những nhu cầu, yêu cầu rất khác nhau về mỗi loại hàng hoá Do vậy việc lựa chọn thị trường xuất khẩu đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian và công sứa mới đưa ra được quyết định đúng đắn Khi nghiên cứa thị trường doanh nghiệp luôn chú ý đến các vấn đề:

- Thông tin về quy mô, cơ cấu, sự vận động của thị trường và các nhân tố làm thay đổi dung lượng của thị trường

Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên một thị trường nhất định, trong một thời kỳ nhất định Nghiên cứu về dung lượng thị trường cần xác định nhu cầu thực hiện của khách hàng kể cả lượng dự trữ, xu hướng biến động của nhu cầu trong thời từng điểm Bên cạnh đó doanh nghiệp cũng cần nắm được cung và xu hướng cung trên thị trường đó Doanh nghiệp cần dự báo được các nhân

tố làm thay đổi dung lượng trên thị trường như:

+ Các nhân tố làm thay đổi dung lượng thị trường có tính chất chu kỳ: Sự vận động tình hình kinh tế của nước nhập khẩu Đây là yếu tố rất quan trọng cần nghiên cứu để lựa chọn thời gian và đối tác giao dịch

+ Các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến dung lượng thị trường: các biện pháp chính sách của Chính phủ, những tiến bộ khoa hoc- kỹ thuật, thị hiếu, tập quán tiêu dùng của thị trường

+ Các nhân tố có tính chất ảnh hưởng tạm thời tới dung lượng thị trường như: đầu cơ gây đột biến về cung- cầu, chính sách chính trị xã hội ảnh hưởng tới cung cầu mặt hàng mà công ty kinh doanh

- Nắm vững thông tin về biến động giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới cũng như giá nguồn hàng cung cấp trong nước

Việc nghiên cứu giá cả trên hàng hoá trên thị trường thế giới là một vấn đề rất quan trọng, đối với bất kỳ một đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu nào Giá cả hàng

Trang 17

hoá trên thị trường phản ánh quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường thế giới Việc nghiên cứu giá cả được coi là vấn đề mang tính chiến lược bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức tiêu thụ và lợi nhận của công ty Nắm vững giá cả hàng hoá sẽ cho phép công ty có khả năng đưa ra những chính sách giá cả hợp lý, giành được thắng lợi trong xuất khẩu

- Công việc nghiên cứu thị trường phải diễn ra thường xuyên liên tục vì thị trường luôn biến động

1.2- Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu

Mục đích của việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu là để xác định những mặt hàng kinh doanh phù hợp với năng lực và khả năng của công ty, đồng thời đáp ứng nhu cầu của thị trường, từ đó mang lại hiệu quả kinh doanh cao

Để lựa chọn mặt hàng xuất khẩu, trước tiên cần dựa vào nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng về chủng loại, số lượng, chất lượng, giá cả hàng hoá trên thị trường xuất khẩu Mặt khác cần xem xét khả năng đáp ứng của thị trường trong nước về mặt hàng đó Công ty nghiên cứu thị trường để lựa chọn mặt hàng xuất khẩu cũng cần chú ý đến đối thủ cạnh tranh, khả năng cung ứng, sức mạnh tài chính, kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ và các biện pháp cạnh tranh mà họ sử dụng

Công ty cũng đề cao việc đánh giá đúng thực lực của mình về khả năng cung ứng, giá cả và việc dự báo chính xác những thuận lợi, khó khăn khi tung hàng hoá ra thị trường nước ngoài.Một trong những nhân tố công ty thường đánh giá, phân tích kỹ lưỡng khi lựa chọ mặt hàng là tỷ giá ngoại tệ hàng xuất khẩu (Tỷ giá ngoại tệ hàng xuất khẩu là số bản tệ phải bỏ ra để thu được một đồng ngoại tệ) Tỷ giá ngoại tệ hàng xuất khẩu nhỏ hơn tỷ giá hối đoái là tín hiệu quan trọng đưa đến quyết định lựa chọn xuất khẩu mặt hàng đó

1.3- Lựa chọ đối tác kinh doanh:

Trong lĩnh vực xuất khẩu, đối tác kinh doanh là những người hoặc những tổ chức

có quan hệgiao dich với ta nhằm thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hoá hoặc các loại dịch vụ Việc lựa chọn đúng đối tác là điều rất quan trọng để thực hiện thắng lợi hợp đồng xuất khẩu Căn cứ để lựa chọn thường là các nhân tố sau:

Trang 18

Một là, tình hình sản xuất, kinh doanh của nhà sản xuất để thấy được khả

năng cung cấp có lâu dài, thường xuyên hay không, từ đó đưa ra quyết định liên kết, liên doanh hay đặt hàng sản xuất

Hai là, khả năng tài chính, khả năng thanh toán của khách hàng trong ngắn

hạn, dài hạn đảm bảo hợp đồng được thanh toán đúng thời hạn Nghiên cứu sức mạnh về vốn, về công nghệ của đối tác cho thấy được những ưu thế trong thoả thuận về giá cả, điều kiện thanh toán

Ba là, thái độ và quan điểm kinh doanh của đối tác trên thị trường trong nước

cũng như trên thị trường Quốc tế

2 Xây dựng chiến lược và kế hoạch xuất khẩu

2.1- Chiến lược xuất khẩu

Chiến lược xuất khẩu là việc công ty xác định hệ thống các mục tiêu xuất khẩu trong một giai đoạn nhất định và xây dựng các giải pháp để thực hiện các mục tiêu

đã đề ra Chiến lược xuất khẩu có thể là: chiến lược chuyên môn hoá, hay đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu , chiến lược về doanh thu, về kim ngạch hay tối đa hoá lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu

Công tác xây dựng chiến lược có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự thành bại của hoạt động kinh doanh.Khi hoạch định chiến lược cần phải nhìn xa trông rộng, nắm bắt được những xu thế biến động của thị trường, của triển vọng tương lai Tiếp đến là xây dựng kế hoạch xuất khẩu để hiện thực hoá chiến lược đó

2.2- Kế hoạch xuất khẩu

Công ty cần phải đặt ra những mục tiêu kế hoạch trong từng thời kỳ nhất định ( thời kỳ ngắn hơn so với mục tiêu chiến lưọc) và thống nhất với mục tiêu chiến lược Mục tiêu cần phải rõ ràng, cụ thể đối với toàn công ty và đối với từng bộ phận Chẳng hạn khi mục tiêu chiến lược của công ty trong giai đoạn này là lợi nhuận thì mục tiêu kế hoạch chung của công ty là phải đạt được bao nhiêu lợi nhuận trong năm

Có thể vạch ra các mục tiêu định tính hay định lượng Các mục tiêu định lượng được gọi là chỉ tiêu kế hoạch xuất khẩu, bao gồm: Chỉ tiêu doanh số, chỉ tiêu chi phí , chỉ tiêu lợi nhuận , dự trữ Công ty cần xây dựng kế hoạch các công việc cụ thể cần làm để hoàn thành các chỉ tiêu này

Trang 19

Việc xây dựng chiến lược xuất khẩu và các kế hoạch để thực hiện chiến lược xuất khẩu là công việc rất cần thiết Nó giúp công ty nắm bắt những cơ hội và giảm thiểu rủi ro Việc dự báo chính xác nhu cầu thị trường từ đó xây dựng lên các kế hoạch thu mua, dự trữ sẽ đảm bảo cho xuất khẩu thắng lợi

3 Tổ chức giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu

Đàm phán là hành vi và quá trình, mà trong đó hai hay nhiều bên tiến hành thương lượng, thảo luận về các mối quan tâm chung và những quan điểm còn bất đồng, để

đi đến thoả thuận thống nhất

Đàm phán không đơn thuần là quá trình theo đuổi nhu cầu lợi ích riêng lẻ của một bên, mà là quá trình đôi bên thông qua việc không ngừng điều chỉnh nhu cầu của mình mà tiếp cận với nhau, cuối cùng đạt đến ý kiến thống nhất Vì vậy đàm phán là quá trìh các bên đưa ra yêu cầu, chấp nhận nhượng bộ để nếu thành công thì sẽ ký hợp đồng, đạt được lợi ích cho cả đôi bên chứ không phải quá trình mỗi bên khăng khăng bảo vệ lợi ích của riêng mình

Đàm phán không phải là sự lựa chọn đơn nhất giữa "hợp tác" hay " xung đôt" Đàm phán thành công-ký hợp đồng, tức vừa giữ được mối quan hệ, vừa đảm bảo lợi ích của các bên, nên đàm phán là quá trình thông nhất giữa hai mặt mâu thuẫn " hợp tác" và " xung đột" Trong đàm phán phải tránh khuynh hướng: đàm phán theo kiểu

" mềm",chỉ chú trọng gìn giữ mối quan hệ hai bên, mà không quan tâm bảo vệ lập trường của mình, kết cục bị đối phương chèn ép, phải đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, cuối cùng tuy ký được hợp đồng nhưng phải gánh chịu mọi thiệt thòi Ngược lại cũng phải tránh khuynh hướng đàm phán theo kiểu " cứng", khăng khăng bảo vệ lập trường làm cho đàm phán tan vỡ, không ký được hợp đồng hoặc

ký được nhưng đối phương bị ép quá không thực hiện nổi

Đàm phán không phải là thoả mãn lợi ích của một bên một cách không hạn chế,

mà có giới hạn nhất định " Đàm phán không phải là cuộc cờ, không nên yêu cầu quyết đấu một trận thắng thua, đàm phán cũng không phải là một trận đánh, phải tiêu diệt hoặc đặt đối phương vào đất chết, mà đàm phán là một sự nghiệp hợp tác đôi bên cùng có lợi" ( Gerald I Nierenberg)

Vì vậy, người đàm phán cần bảo vệ lợi ích của phía mình, trong phạm vi đã được xác định có thể tìm được lợi ích càng nhiều càng tốt, mặt khác, bất cứ người đàm

Trang 20

phán nào cũng phải thoả mãn nhu cầu thấp nhất của đối phương Nếu không làm được điều đó, thì cuộc đàm phán sẽ bị tan vỡ

Đánh giá một cuộc đàm phán thành công hay thất bại không phải lấy việc thực hiện mục tiêu dự định của một bên nào đó làm tiêu chuẩn duy nhất, mà phải sử dụng một loạt các tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp

- Tiêu chuẩn thực hiện mục tiêu: Đây là tiêu chuẩn đầu tiên dể đánh giá một cuộc đàm phán thành công hay thất bại Muốn đánh giá kết quả của một cuộc đàm phán, trước hết cần xem xét: Kết quả cuối cùng có đạt được mục tiêu xác định ban đầu không? Mức độ thực hiện cao hay thấp?

- Tiêu chuẩn tối ưu hoá giá thành- chi phí thấp nhất: Tiến hành một cuộc đàm phán phải có những chi phí nhất định, thông thường, trong đàm phán hợp đồng xuất khẩu có 3 loại chi phí như sau:

+ Chi phí cơ bản: Sự nhượng bộ để ký được hợp đồng= khoảng cách giữa lợi ích dự kiến thu được với lợi ích thực tế thu được trong đàm phán

+Chi phí trực tiếp của đàm phán: Chi phí nhân lực, vật lực, tài lực và thời gian cho đàm phán

+ Chi phí cơ hội: Mất cơ hội đầu tư kiếm lợi ( ký được hợp đồng) khác

- Tiêu chuẩn quan hệ giữa các bên

Vì vậy, đàm phán không những là một khoa học mà đồng thời còn là một nghệ thuật

3.1- Các nguyên tắc cơ bản và những sai lầm thường mắc trong đàm phán

a Các nguyên tắc cơ bản cần nắm vững:

Đàm phán có thể ví như một chuyến du lịch đến những miền đất mới, rất nhiều điều bất ngờ có thể xảy ra.Các cuộc đàm phán có thể diễn ra rất khác nhau, đơn giản hay phức tạp, căng thẳng hay nhẹ nhàng, dài hay ngắn điều đó còn phụ thuộc vào năng lực của người đàm phán, đối tượng đàm phán, "thế" của các bên, bối cảnh đàm phán Vì vậy, không thể áp dụng máy móc, rập khuôn những nguyên tắc kinh nghiệm của người khác vào cuộc đàm phán của mình Nói như vậy, không có nghĩa

là đàm phán không có nguyên tắc Vẫn có những nguyên tắc cơ bản mà ta cần nắm vững, nếu không sẽ phải trả giá cho sự thiếu hiểu biết của mình Những nguyên tắc

đó là:

Trang 21

- Đàm phán là một việc tự nguyện, theo nghĩa bất cứ bên nào cũng có thể thoái lui hay từ chối tham dự đàm phán vào bất cứ lúc nào

- Đàm phán chỉ có thể bắt đầu khi ít nhất có một bên muốn thay đổi thoả thuận hiện tại và tin rằng có thể đạt được một thoả thuận mới thoả mãn cả đôi bên

- Chỉ xảy ra đàm phán khi các bên hiểu rằng: sự việc chỉ được quyết định khi

có thoả thuận chung, còn nếu sự việc có thể quyết định đơn phương bởi một bên thì không cần xảy ra đàm phán

- Thời gian là một trong những yếu tố quyết định trong đàm phán Thời gian

có ảnh hưởng to lớn đến tình hình đàm phán và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả cuối cùng của đàm phán

- Một kết cục thành công của đàm phán không phải là giành thắng lợi bằng mọi giá mà là đạt được điều mà cả hai bên đều mong muốn

- Phẩm chất, năng lực, kỹ năng, thái độ và tình cảm của những người ngồi trên bàn đàm phán có ảnh hưởng quyết định đến tiến trình đàm phán

b Những sai lầm thường mắc phải trong đàm phán

Các nhà đàm phán , ngay cả những người lão luyện nhất, cũng khó tránh khỏi mọi sai lầm.Và một khi đã mắc sai lầm thì ít có khả năng đạt được kết quả một cách mỹ mãn Chính vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu kinh nghiệm của những người đi trước

để giảm thiểu những sai lầm đó Từ những kinh nghiệm cá nhân của mình, nhà đàm phán John Illich cho rằng; Những sai lầm thường gặp trong đàm phán đó là:

- Ngồi vào bàn đàm phán với cái đầu đầy định kiến

- Không xác định được người có quyền quyết định cuối cùng của phía đối tác

- Không xác định được chính xác thế mạnh của mình là gì và không thể sử dụng thế mạnh đó một cách có hiệu quả

- Ngồi vào bàn đàm phán chỉ với một phương án duy nhất mà không có phương án thay thế, nên thường rơi vào thế bị động

- Không biết cách nâng cao vị thế của mình

- Không kiểm soát được những yếu tố quan trọng như: Thời gian, những vấn

đề cần giải quyết mà để cho đối tác kéo đi theo ý muốn của họ

- Để tuột khỏi tay quyền ra yêu cầu trước

Trang 22

- Không tận dụng được ưu thế về thời gian và địa điểm trong đàm phán

- Vội bỏ cuộc khi cuộc đàm phán có vẻ như đi vào chỗ bế tắc

- Không chọn được thời điểm hợp lý để kết thúc cuộc đàm phán

3.2- Quá trình đàm phán hợp đồng xuất khẩu

Quá trình đàm phán diễn ra rất đa dạng, phong phú, tuỳ từng trường hợp cụ thể, các nhà đàm phán có thể tiến hành theo nhiều thủ tục, nhiều bước khác nhau Tuy nhiên quá trình đàm phán hợp đồng có thể xem như một chuỗi gồm 6 giai đoạn như sau:

- Chuẩn bị đàm phán (Preparing for negotiation)

- Xây dựng chiến lược( Developing your strategy)

- Khởi động ( Getting started)

- Hiểu biết lẫn nhau ( Building understanding)

- Thương lượng( Bargaining)

- Kết thúc ( Closing)

Căn cứ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, quá trình đàm phán hợp đồng xuất khẩu có thể chia ra làm 5 giai đoạn:

- Giai đoạn chuẩn bị

- Giai đoạn tiếp xúc

- Giai đoạn đàm phán

- Giai đoạn kết thúc- ký kết hợp đồng

- Rút kinh nghiệm

3.2.1 Giai đoạn chuẩn bị

Muốn đàm phán thành công trước hết cần chuẩn bị các yếu tố sau:

+ Ngôn ngữ: Trong giao dịch ngoại thương, sự bất đồng ngôn ngữ là trở ngại lớn nhất Để khắc phục khó khăn này cần nắm vững và sử dụng thành thạo các ngoại ngữ Yêu cầu này không có giới hạn, biết càng nhiều ngoại ngữ càng tốt

+ Thông tin: Trong thời đại ngày nay- Thời đại của thông tin và bùng nổ thông tin, thì dù hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào, người nắm bắt thông tin nhanh chóng nhất và chính xác nhất sẽ luôn là người chiến thắng

Các thông tin cơ bản cần nắm bắt:

* Thông tin về hàng hoá

Trang 23

Trước hết phải nghiên cứu, tìm hiểu kỹ những mặt hàng dự định kinh doanh về tên gọi, về khía cạnh thương phẩm học để hiểu rõ giá trị, công dụng, các tính chất

cơ lý hoá của nó, cùng những yêu cầu của thị trường đối với mặt hàng đó như: quy cách, phẩm chất, bao bì

Bên canh đó, để chủ động trong giao địch mua bán , còn phải nắm vững tình hình sản xuất các mặt hàng đó như: thời vụ, khả năng về nguyên vật liiêụ, công nghệ sản xuất

Nghiên cứu giá cả của các công ty cạnh tranh

* Thông tin về thị trường

Các thông tin đại cương về đất nước, con người, tình hình chính trị, xã hội

Những thông tin kinh tế cơ bản: đồng tiền trong nước, tỷ giá hối đoái và tính ổn định của chúng, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại tệ

Cơ sở hạ tầng: Đường sá, cầu cống, bến phà, bến cảng, sân bay

Thông tin về bản thân công ty mình

Thông tin về canh tranh trong và ngoài nước: quy mô, chiến lược kinh doanh, tiềm lực thế mạnh, điểm yếu

Dự đoán xu hướng biến động giá cả trên cơ sở phân tích tình hình cung cầu, lạm phát, khủng hoảng

+ Chuẩn bị năng lực

* Chuẩn bị năng lực cho từng chuyên gia đàm phán

Chuẩn bị về kiến thức: Chuyên gia đàm phán cần có kiến thức và khả năng toàn diện, chuyên gia đàm phán giỏi đồng thời phải là:

Nhà thương mại ( trong nước và quốc tế)

Trang 24

Luật gia

Nhà ngoại giao

Nhà tâm lý

Giỏi ngoại ngữ

Có kiến thức về kỹ thuật, văn hoá

Chuẩn bị về phẩm chất tâm lý: Chuyên gia đàm phán cần có tư duy nhạy bén, biết suy nghĩ và hành động đúng, có nghị lực, nhẫn nại, không vội , hấp tấp, biết kiềm chế cảm xúc, không tự ti, không tự kiêu

Có kỹ năng đàm phán tốt: Có khả năng sử dụng ngôn ngữ tốt, diễn đạt được ý kiến của mình, trình bày vấn đề rõ ràng, khúc triết, dùng từ chuẩn xác Có kỹ năng giao tiếp tốt, bao gồm những kỹ năng sau:

Kỹ năng lắng nghe

Kỹ năng đặt câu hỏi

Kỹ năng diễn thuyết

Kỹ năng giao dịch bằng thư

Kỹ năng xã giao thông thường

+ Tổ chức đàm phán

Vấn đề nhân sự trong đàm phán có vị trí đặc biệt quan trọng, đòi hỏi phải có

sự chuẩn bị chu đáo Thành phần của đoàn đàm phán hợp đồng ngoại thương cần hội đủ chuyên gia ở 3 lĩnh vực: pháp luật, kỹ thuật, thương mại, trong đó chuyên gia thương mại giữ vị trí quan trọng nhất Sự phối hợp ăn ý, nhịp nhàng của 3 loại chuyên gia nói trên là cơ sở rất quan trọng cho quá trình đàm phán, đi đến ký kết một hợp đồng chặt chẽ, khả thi và có hiệu quả cao

+ Chuẩn bị thời gian và địa điểm

* Chuẩn bị thời gian:

Phần lớn phụ thuộc vào sự thoả thuận trước giữa hai bên, trên cơ sở tính toán sự khác biệt múi giờ giữa hai nước cũng như sự thuận tiện cho các bên trong thương mại, thời gian hết sức quý báu, nên trước khi đàm phán , hai bên cần lập và thống nhất với nhau lịch làm việc cụ thể

Trang 25

* Chuẩn bị địa điểm: Quan điểm chung là địa điểm đàm phán phải đảm bảo tâm lý thoải mái và tiện nghi phù hợp cho cả hai bên

3.2.2 Giai đoạn tiếp xúc

Cuộc đàm phán sẽ diễn ra thuận lợi khi tạo được những không khí thân mật, hữu nghị, muốn vậy:

- Phải làm cho đối tác tin cậy ở mình

- Phải tìm mọi cách để thể hiện thành ý của mình

- Cần chú ý làm cho đối tác tin cậy ở mình , bằng những hành động chứ không chỉ lời nói

Lời mở đầu rất quan trọng bởi nó:

- Chuyển tải thông tin, thể hiện ý đồ, mong muốn của người phát biểu đối với vấn đề đàm phán

- Tạo không khí tiếp xúc tốt

- Thăm dò vị thế của đối tác

3.2.3 Giai đoạn đàm phán

Đây là gia đoạn quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình đàm phán, trong giai đoạn này các bên tiến hành bàn bạc, thoả thuận những vấn đề đôi bên cùng quan tâm như: hàng hoá , chất lượng, số lượng, giá cả nhằm đi đến ý kiến thống nhất: ký được hợp đồng mua- bán hàng hoá ,giai đoạn này bao gồm:

- Đưa ra yêu cầu và lắng nghe đối tác trình bày yêu cầu của họ

Trang 26

- Khi soạn thảo hợp đồng cần trình bày rõ ràng, chính xác, tránh những từ mập mờ có thể suy luận ra nhiều cách

Hợp đồng thường do một bên soạn thảo, trước khi ký kết, bên kia cần kiểm

ta kỹ lưỡng, đối chiếu với những thoả thuận đã đạt được trong đàm phán

- Người đứng ra ký hợp đồng phải là người có thẩm quyền

- Ngôn ngữ xây dựng hợp đồng phải là ngông ngữ các bên cùng thông thạo

3.2.5 Giai đoạn rút kinh nghiệm

Đây là giai đoạn kiểm tra lại kết quả của những giai đoạn trước, nhằm rút kinh nghiệm cho những lần đàm phán sau Sau những cuộc đàm phán quan trọng cần tổ chức họp để đánh giá ưu, nhược điểm, tìm nguyên nhân và biện pháp khắc phục Nhưng nếu chỉ dừng tại đó là chưa đủ, mà còn phải theo dõi suốt quá trình tổ chức thực hiện hợp đồng, ghi nhận lại những vướng mắc, đặc biệt những vướng mắc do hợp đồng gây ra, để lần sau kịp thời sửa chữa

4 Tổ chức thực hiện hiện hợp đồng xuất khẩu

Sau khi hợp đồng được ký kết, công việc hết sức quan trọng là tổ chức thực hiện hợp đồng đó

Để thực hiện một hợp đồng xuất khẩu, bên bán phải tiến hành các công việc sau: Làm những bước đầu của khâu thanh toán(tuỳ theo phương thức đã chọn), xin giấy phép xuất khẩu , chuẩn bị hàng hoá để xuất khẩu, thuê tàu, kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng hoá, làm thủ tục hải quan, giao hàng, mua bảo hiểm, làm thủ tục thanh toán và khiếu nại( nếu có), thanh lý hợp đồng

4.1 Làm thủ tục xuất khẩu theo quy định của Nhà nước

Giấy phép là tiền đề quan trọng về mặt pháp lý để tiến hành các khâu khác trong mỗi chuyến hàng xuất khẩu Thủ tục xin phép xuất khẩu ở mỗi nước có đặc điểm khác nhau

ở Việt Nam thủ tục xin phép được thay đổi theo từng thời kỳ, theo hướng ngày càng đơn giản và thuận lợi Hiện nay quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam đã được mở rộng, phù hợp với xu thế chung Nhưng khi kinh doanh những mặt hàng cụ thể thì doanh nghiệp còn phải tuân theo chính sách quản lý mặt hàng của Nhà nước, chính sách này thay đổi theo hàng năm Tuy nhiên mặt hàng cao su không nằm trong danh mục hàng cấm xuất khẩu hay hàng xuất

Trang 27

khẩu theo hạn ngạch Vì vậy, công ty không cần xin phép xuất khẩu mà có thể tự mình xuất khẩu trực tiếp cho đối tác theo như giấy đăng ký kinh doanh của công ty

4.2 Thực hiện những công việc ở gai đoạn đầu của khâu thanh toán

Thanh toán là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu Nhà xuất khẩu chỉ yên tâm giao hàng khi biết chắc sẽ được thanh toán Vì vậy, cần thực hiện tốt những công việc bước đầu của khâu này Với mỗi phương thức thanh toán cụ thể, những công việc này sẽ khác nhau

a Thanh toán bằng L/C, công ty cần:

- Nhắc nhở người mua mở L/C đúng yêu cầu

- Kiểm tra L/C

Sau khi kiểm tra L/C xong nếu thấy phù hợp thì tiến hành giao hàng, còn không phù hợp thì thông báo ngay cho người mua và ngân hàng mở L/C, để tu chỉnh cho đến khi phù hợp thì mới tiến hành giao hàng

b Thanh toán bằng CAD

Công ty cần nhắc người mua mở tài khoản ký thác theo đúng yêu cầu, khi tài khoản đã được mở cần liên hệ với ngân hàng để kiểm tra điều kiên thanh toán, cần đặc biệt chú ý : Tên các chứng từ cần xuất trình, người cấp, số bán kiểm tra xong, nếu thấy phù hợp thì mới tiến hành giao hàng

c Thanh toán bằng T.T trả trước

Nhắc nhở người mua chuyển tiền đủ và đúng hạn, chờ ngân hàng báo " Có" rồi mới tiến hành giao hàng

4.3 Chuẩn bị hàng hoá để xuất khẩu

Nguồn hàng xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá và dịch vụ của một công ty , của một địa phương hoặc của toàn bộ đất nước có khả năng xuất khẩu được

Tạo nguồn hàng xuất khẩu bao gồm mọi hoạt động từ đầu tư sản xuất trực tiếp đến các nghiệp vụ thu mua, ký kết các hợp đồng vận chuyển, bảo quản, sơ chế, phân loại nhằm tạo ra hàng cao su có đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu

a Nghiên cứu nguồn hàng cao su để xuất khẩu

Nghiên cứu nguồn hàng cao su là nghiên cứu khả năng cung cấp mặt hàng cao su cho xuất khẩu trên thị trường như thế nào Khả năng cung cấp nguồn hàng được xác định bởi nguồn hàng thực tế và nguồn hàng tiềm năng Nguồn hàng thực tế là nguồn

Trang 28

đã có sẵn sàng đưa vào lưu thông, nguồn hàng này chỉ cần thu mua, phân loại là có thể xuất khẩu được Còn nguồn hàngtiềm năng là nguồn hàng chưa xuất hiện, nó có thể có hoặc không có trên thị trường Để khai thác nguồn hàng tiềm năng đòi hỏi công ty cần có sự đầu tư, có đơn đặt hàng, có hợp đồng cam kết cho việc thu mua Trong công tác xuất khẩu thì khai thác nguồn hàng tiềm năng là rất quan trọng vì nó đáp ứng được yêu câù về số lượng chất lượng của người xuất khẩu

b Tổ chức hệ thống thu mua hàng cho xuất khẩu

Hệ thống thu mua hàng bao gồm các đại lý, hệ thống kho hàng ở các địa phương, các khu vực có mặt hàng cao su cần thu mua Chi phí thu mua thường khá lớn đòi hỏi công ty luôn phải cân nhắc khi xây dựng và lựa chọn các đại lý Mạng lưới thu mua cần phải gắn liền với điều kiện cơ sở hạ tầng, giao thông của các địa phương

Sự phối hợp nhịp nhàng giữa thu mua và vận chuyển là cơ sở để đảm bảo tiến độ thu mua và chất lượng hàng hoá, tuỳ theo từng đặc điểm của hàng hoá mà có phương án vận chuyển hợp lý

Mạng lưới thu mua và đại lý của công ty hiện nay phát triển rất rộng, có mặt hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước Trong đó mạng lưới thu mua cao su để xuất khẩu chủ yếu tập trung ở cao nguyên và một số tỉnh miền Đông Nam Bộ, vì đây là khu vực trồng cao su lớn nhất ở nước ta và chất lượng cao su ở đây được coi là tốt nhất trong cả nước

c Ký kết hợp đồng thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu

Phần lớn khối lượng hàng hoá được mua bán giữa công ty hiện nay và nơi cung cấp đều thông qua các hợp đồng thu mua, đổi hàng, gia công dựa trên những thoả thuận và tự nguyện của các bên

d Tiếp nhận, bảo quản hàng xuất khẩu

Trong thời gian gom hàng xuất khẩu phải trải qua một hoặc một số kho để bảo quản, phân loại, chờ thời gian xuất khẩu hoặc làm thủ tục xuất khẩu Công ty cần chuẩn bị tốt hệ thống kho bãi để tiếp nhận hàng hoá

Bảo quản hàng hoá cũng là một vấn đề hết sức khó khăn Công ty cần phải luôn luôn nâng cấp trang thiết bị, các phương tiện kỹ thuật để kho có đủ điều kiện bảo quản trong mọi điều kiện

4.4 Kiểm tra hàng xuất khẩu

Trang 29

Trước khi xuất khẩu, công ty có nghĩa vụ phải kiểm tra hàng về phẩm chất, số lượng, trọng lượng nếu như hàng không đạt yêu cầu thì phải thay đổi, còn nếu hàng đạt yêu cầu theo đúng hợp đồng thì chuẩn bị làm thủ tục thông quan xuất khẩu

4.5 Làm thủ tục hải quan

Pháp lệnh Hải quan quy định thủ tục hải quan bao gồm:

- Khai báo và nộp tờ hải quan

- Đưa đối tượng kiểm tra đến nơi quy định để kiểm tra

- Làm nghĩa vụ nộp thuế xuất khẩu

4.6 Thuê phương tiện vẩn tải

Nếu như trong hợp đồng quy định người xuất khẩu phải thuê phương tiện vân tải, thì công ty phải thực hiện nghĩa vụ đó Việc thuê tàu, lưu cước là nghiệp vụ phức tạp đòi hỏi phải có kinh nghiệm, có thông tin về tình hình vật giá và giá cước, hiểu biết tinh thông về các điều khoản của hợp đồng thuê tàu Tuỳ trường hợp cụ thể mà

có các phương thức thuê tàu sau:

- Phương thức thuê tàu chợ

- Phương thức thuê tàu chuyến

- Phương thức thuê định hạn

4.7 Giao cho người vận tải

Công ty ký hợp đồng với người vận chuyển, sau đó giao hàng cho người vânh chuyển cuối cùng là lấy vận đơn từ người vận chuyển để thanh lý hợp đồng xuất khẩu

4.8 Mua bảo hiểm cho hàng hoá xuất khẩu

Nếu xuất khẩu theo các điều kiện CIF, CIP hoặc nhóm hàng D thì công ty phải mua bảo hiểm cho hàng hoá Để mua bảo hiểm công ty phải làm những công việc sau:

- Chọn điều kiện để mua bảo hiểm

- Làm giáy yêu cầu bảo hiểm và phải báo cho người bảo hiểm những tình huống quan trọng khác để giúp người bảo hiểm phán đoán rủi ro

Trang 30

- Đóng phí bảo hiểm và lấy chứng từ bảo hiểm Khi thanh toán bằng L/C thì chứng từ bảo hiểm phải hoàn tàon phù hợp với mọi yêu cầu của L/C, nếu làm khác

đi thì ngân hàng sẽ không chấp nhận thanh toán

4.9 Lập bộ chứng từ thanh toán

Sau khi giao hàng, công ty phải nhanh chóng lập bộ chứng từ thanh toán trình ngân hàng để đòi tiền hàng Yêu cầu của bộ chứng từ này là chính xác và phù hợp với những yêu cầu của L/C cả về nội dung và hình thức ( còn nếu thanh toán bằng các phương thức khác thì theo yêu cầu của hợp đồng hoặc của ngân hàng) Bộ chứng từ thanh toán gồm:

- Hối phiếu thương mại

- Vân đơn sạch

- Giấy chứng nhận bảo hiểm ( nếu có)

- Hoá đơn thương mại

- Giấy chứng nhận phẩm chất

- Giáy chứng nhận: trọng/khối lượng

- Giáy chứng nhận xuất xứ hàng hoá

4.10 Thanh lý hợp đồng

5 Đánh giá hiệu quả xuất khẩu

Hiệu quả xuất khẩu được đánh giá thông qua hệ thống các chỉ tiêu

5.1 chỉ tiêu lợi nhuận

Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả có tính tổng hợp, phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh Nó là tiền đề để duy trì và tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp , để cải thiện và nâng cao đời sống của người lao động Doanh nghiệp

có lợi nhuận thì đất nước mới giàu có, phát triển Ngược lại làm ăn kém sẽ dẫn đến thua lỗ và phá sản

Doanh thu của doanh nghiệp được tính bằng công thức :

TR=P  Q

Trong đó: TR: Tổng doanh thu

P : Giá cả Q: Số lượng hàng

Trang 31

Lợi nhuận là lượng dôi ra của doanh thu so với chi phí, được tính bằng công thức:

5.2 Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của xuất khẩu

Hiệu quả của việc xuất khẩu được xác định bằng so sánh số ngoại tệ thu đuợc do xuất khẩu ( giá trị quốc tế của hàng hoá) với những chi phí bỏ ra cho việc sản xuất = hàng hoá xuất khẩu đó

Tx

Hx =

Cx Trong đó:

Hx: Hiệu quả tương đối của việc xuất khẩu

Tx: Doanh thu ( bằng ngoại tệ từ việc xuất khẩu đơn vị hàng hoá, dịch vụ( giá quốc tế))

Cx: Tổng chi phí của việc sản xuất sản phẩm xuất khẩu , bao gồm

cả vận tải đến cảng xuất ( Giá trong nước)

Chỉ tiêu này cho ta biết số thu bằng ngoại tệ đối với đơn vị chi phí trong nước Hiệu quả kinh doanh xuất khẩu là các chỉ tiêu tương đối nhằm so sánh kết quả kinh doanh với các khoản chi phí phải bỏ ra Để tính các chỉ tiêu tương đối đó, cần phải tính một số chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh kết quả của quá trình kinh doanh thương mại quốc tế

Tổng giá thành xuất khẩu là tổng chi phí sản xuất hàng xuất khẩu,các chi phí mua

và bán xuất khẩu

Trang 32

Thu ngoại tệ xuất khẩu là tổng thu nhập ngoại tệ của hàng hoá xuất khẩu tính theo giá FOB

Thu nhập nội tệ của hàng xuất khẩu là số ngoại tệ thu được do xuất khẩu tính đổi

ra nội tệ theo tỷ giá hiện hành

Từ các con số này, tính được hiệu quả kinh doanh xuất khẩu theo các công thức sau:

Tỷ lệ thu nhập tệ xuất khẩu - liệu ngoại tệ

Giá thành xuất khẩu nội tệ

Thu nhập ngoại tệ xuất khẩu (USD)

Dx: Doanh lợi xuất khẩu

Tx: Thu nhập bán hàng xuất khẩu tính bằng ngoại tệ được chuyển đổi ra tiền Việt Nam theo tỷ giá công bố của ngân hàng Ngoại thương ( sau khi trừ mọi chi phí = ngoại tệ)

Trang 33

Cx: Tổng chi phí cho việc xuất khẩu

5.4 Tỷ xuất ngoại tệ xuất khẩu

Là số lượng bản tệ bỏ ra để thu được một đơn vị ngoại tệ

Thu nhập ngoại tệ (USD)

+Tỷ suất ngoại tệ = -

 Z nội tệ xuất khẩu (VND)

Nếu tỷ xuất ngoại tệ hàng xuất khẩu < Tỷ giá do ngân hàng nhà nước công bố thì nên xuất khẩu và ngược lại

III Thị trường cao su thế giới và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu cao su

1 Thị trường xuất khẩu cao su thế giới

Quê hương của cao su là Brazil Theo tiếng thổ dân da đỏ thì "cao su" có nghĩa là nước mắt của cây Đó chính là mủ cao su Năm 1839 bằng một sự tình cờ nhà phát minh Mỹ C.Goodyear tìm ra cách lưu hoá cao su Phát minh vô cùng quan trọng này

đã mở ra một ngành công nghiệp mới: Công nghiệp chế biến cao su thành các sản phẩm

Đến những năm cuối của thế kỷ XX diện tích cao su thế giới đã là khoảng 9 triệu

Ha, trong đó các nước Đông Nam á chiếm 90% Sản lượng cao su thiên nhiên thế giới 6,5-6,6 triệu tấn trong đó khu vực Châu á 6-6,1 triệu tấn chiếm gần 93% sản lượng cao su thế giới Riêng Thái Lan, Indonesia và Việt Nam sản xuất 4,9 -5 triệu tấn, chiếm khoảng 76% sản lượng cao su thiên nhiên thế giới

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực Châu á sảy ra từ giữa năm 1997 đến nay, trên thị trường thế giới vẫn diễn ra tình trạng nguồn cung cấp dư thừa nhu cầu tiêu thụ thấp nên giá cả không được cải thiện Đến cuối năm 1999, giá cao su RSS3 bình quân trên thị trường thế giới ở mức 53-57 US cent/kg, giảm hơn 40% so với mức giá bình quân hồi tháng 6/1997, trước khi sảy ra khủng hoảng

Thái Lan vẫn là nước xuất khẩu cao su thiên nhiên dẫn đầu thế giới Do giá hạ liên tục kéo dài nên ảnh hưởng không nhỏ đến ngành công nghiệp cao su nước này Năm

1999 giá trung bình loại cao su RSS3 của Thái Lan là 50-55 US Cent/ kg, đến tháng 3/2000 đã nhích lên chút ít tới 63- 64 US Cent/kg

Trang 34

Trong điều kiện giá hạ và nhu cầu tiêu thụ trên thế giới ở mức thấp, cả năm 1999, Thái Lan chỉ xuất khẩu được 1,327 triệu tấn cao su chủ yếu sang các thị trường truyền thống và có sức tiêu thụ lớn là Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ

Sản lượng cao su của Indonesia ( nước sản xuất cao su thiên nhiên đứng thứ 2 trên thế giới) năm 1999 giảm đáng kể do nhiều người từ bỏ trồng cao su, mặt khác do Rupiah tăng giá Tháng 10/1999, giá cao su SIR20 của Indonesia chỉ chào bán ở mức 50,7-51,8 SU Cent/kg FOB, giá cao su cùng loại giao tháng 4/2000 được giao dịch ở mức 73,85 US Cent/kgFOB Với xu thế giá đang phục hồi, dự đoán năm 2002 sản lượng cao su của Indonesia sẽ tăng khoảng 10% so với năm 1999

Là một trong những nước ảnh hưởng nặng nề nhất bởi cuộc khủng hoảng khu vực, mức tiêu thụ cao su tại Indonesia năm 1999 đã bước đầu phục hội Đây cũng là một nguyên nhân khiến giá cao su Indonesia nói riêng và giá trên thị trường thế giới nói chung đang trên xu thế phục hồi nhẹ

Tại Malaysia, sở giao dịch hàng hoá tiền tệ đang nghiên cứu để đưa ra thực hiện hợp đồng cao su kỳ hạn mới và điều chỉnh các hợp đồng cao su kỳ hạn hiện có Mặt khác, vớikhối lượng bán ra đang ở mức cao trên thị trường thế giới, ngành cao su Malaysia

sẽ có cơ chế dự trữ hiệu quả để làm tăng độ tin cậy đối với thị trường kỳ hạn, giúp hạn chế rủi ro

Năm 1999, Việt Nam đã xuất khẩu được 280.773 tấn cao su tăng 16,9% so với năm

1998, nhưng do giá Quốc tế thấp nên kim ngạch xuất khẩu lại giảm tới 5,7% Các nước nhập khẩu cao su lớn nhất của Việt Nam là Singapore, Trung Quốc, Đài Loan Những tháng cuối năm 1999, xuất khẩu cao su của Việt Nam sang Trung Quốc ở mức thấp chỉ chiếm khoảng 35% tổng khối lượng cao su xuất khẩu của cả nước nói chung Những tháng đầu năm 2000 chỉ còn khoảng dưới 30% Thay vào sự giảm sút đó, Việt Nam đang tìm thêm thị trường tiêu thụ mới ở Đông và Tây Âu Thực hiện chủ trương đó, năm 2000 Việt Nam đã xuất khẩu 40 tấn cao su bán sang

áo và 200 tấn sang Iraq, khối lượng xuất khẩu sang Nga cũng tăng lên Cho đến nay, thị trường tiêu thụ cao su của Việt Nam đã lên tới 30 nước và khu vực

Dưới đây là sản lượng cao su thiên nhiên của một số nước sản xuất chủ yếu

Biểu 1 : Sản lượng cao su của những nước xuất khẩu cao su hàng đầu thé giới

Trang 35

Nguồn thời báo kinh tế

Trong tình hình chung của cao su thế giới, giá cao su SVR 20 của Việt Nam cũng bị giảm sút mạnh và liên tục từ mức 1600-1700 USD/ tấn năm 1996 xuống 1200USD/ tấn năm 1997, 600- 700 USD /tấn năm 1998 và 520 USD/ tấn năm 1999

Nhiều nước khác trong khu vực cũng gặp khó khăn trong xuất khẩu cao su Trung Quốc( nước tiêu thụ cao su lớn thứ 2 sau Mỹ hàng năm vẫn nhập khẩu 300-400 ngàn tấn) đã ngừng nhập khẩu cao su trong năm 1998, sau đó đến 5/1999 đã hạ giá nhập khẩu cao su xuống còn 5180NDT/ tấn trong khi giá cao su ở thị trường nội địa Trung Quốc vẫn là 1000 NDT/tấn

2 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu cao su

Sự biến động của tất cả các sự vật hiện tượng đều có những nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp trong mối quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau.Dưới đây là một số nguyên nhân chính ảnh hưởng đến hoạt đông xuất khẩu :

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng ở tầm vĩ mô

a Chính sách thương mại của nước xuất khẩu

Trong nền kinh tế thị trường nhà nước có vai trò chủ yếu là:hiệu quả ổn định và công bằng cho sự phát triển kinh tế xã hội.Như vậy nhà nước đã có những tác động

Trang 36

làm ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thông qua chính sách thương mại

Đây là những yếu tố mà doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu buộc phải nắm rõ

và tuân thủ một cách vô điều kiện bởi nó thể hiện ý chí của nhà nước xuất khẩu nhằm bảo vệ lợi ích chung của quốc gia.Cụ thể trong hoạt động xuất khẩu doanh nghiệp cần phải nắm rõ chính sách khuyến khích,hỗ trợ của nhà nước để thúc đẩy xuất khẩu như chế độ cấp giấy phép,chế độ hạn ngạch,chính sách thuế nói chung và thuế xuất thuế xuất khẩu nói riêng để đề ra chiến lược xuất khẩu thích hợp và hiệu quả nhất

b Quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường thế giới

Trong nền kinh tế thị trường quan hệ cung cầu điều khiển và kiểm soát thị trường,nó quyết định đến quá trình xuất khẩu hàng hoá.Vì vậy quyết định của doanh nghiệp phải thật linh hoạt cho phù hợp với mối quan hệ cung cầu trong từng thời điểm,từng vùng khác nhau trên thị trường cạnh tranh

c Tỷ giá hối đoái của đồng tiền và tỷ xuất ngoại tệ hàng xuất khẩu

Đây là nhân tố quyết định bạn hàng,mặt hàng,phương án kinh doanh,quan hệ kinh doanh của không chỉ một doanh nghiệp xuất nhập khẩu mà với tất cả các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói chung.Sự biến đổi của nhân tố này sẽ gây những biến đổi lớn trong tỷ trọng giữa xuất khẩu và nhập khẩu.Chẳng hạn khi tỷ giá hối đoái của đồng tiền thuận lợi cho xuất khẩu thì bất lợi cho nhập khẩu và ngược lại.Tương tự tỷ xuất ngoại tệ thay đổi giữa các mặt hàngcũng sẽ làm doanh nghiệp chuyển hướng mặt hàng cũng như phương án kinh doanh

d Sự biến động thị trường trong và ngoài nước

Hoạt động xuất khẩu như một chiếc cầu nối thông thương giữa hai thị trường,tạo ra

sự gắn bó cũng như phản ánh tác động qua lại giữa chúng.Nếu có sự biến động ví dụ

sự tồn đọng giá cả thay đổi,yêu cầu về một mặt hàng ở thị trường ngoài nước thay đổi

sẽ làm thay đổi ngay lập tức lượng hàng hoá qua chiếc cầu xuất khẩu và ngược lại thị trường ngoài nước quyết định tới sự thoả mãn các nhu cầu thị trường trong nước,sự biến động của nó về khả năng cung cấp về sản phẩm mới,về sự đa dạng của hàng hoá,dịch vụ cũng như phản ánh qua chiếc cầu xuất khẩu để tác động ra thị trường ngoài nước

Trang 37

e Sự phát triển của nền sản xuất cũng như các doanh nghiệp kinh doanh

thương mại trong và ngoài nước

Sự phát triển của nền sản xuất của doanh nghiệp sản xuất trong nước tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ với sản phẩm của các đối thủ nước ngoài do vậy sẽ thúc đẩy xuất khẩu

Ngược lại sự phát triển của nền sản xuất nước ngoài làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu do vậy làm giảm hoạt động xuất khẩu.Tuy nhiên không phải lúc nào sản xuất trong nước phát triển thì hoạt động xuất khẩu được mở rộng và khi sản xuất nước ngoài phát triển thì hoạt động xuất khẩu bị thu hẹp,nó còn phụ thuộc vào chính sách nhà nước lúc đó cần bảo vệ và khuyến khích sản xuất trong nước hay cần giảm ảnh hưởng của độc quyền tạo ra sự cạnh tranh

f ảnh hưởng của hệ thống cơ sở hạ tầng

Việc thực hiện hoạt động xuất khẩu không thể tách rời với công việc vận chuyển và thông tin liên lạc.Thực tế đã cho thấy rằng sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng đã đơn giản hoá công việc của hoạt động xuất khẩu rất nhiều,giảm đi hàng loạt các chi phí,nâng cao tính kịp thời nhanh gọn,an toàn

g ảnh hưởng của hệ thống tài chính ngân hàng

Hoạt động xuất khẩu sẽ không được thực hiện nếu như không có sự phát triển của

hệ thống ngân hàng.Dựa trên các quan hệ,uy tín nghiệp vụ thanh toán liên ngân hàng rất thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu sẽ được đảm bảo về mặt lợi ích.Và cũng nhiều trường hợp do có lòng tin với ngân hàng mà kinh doanh xuất nhập khẩu có thể được ngân hàng đứng ra bảo lãnh hay cho vay với lượng vốn lớn,kịp thời ,tạo điều kiện cho doanh nghiệp nắm bắt được những cơ hội xuất khẩu có lợi

h Các nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

Sự biến động của môi trường chính trị - văn hoá - xã hội và công nghệ đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp như trạng thái chính trị của quốc gia các đối tác,phong tục tập quán,sự phát triển công nghệ trên thế giới

Cụ thể là:

Trang 38

- ảnh hưởng của việc xoá bỏ lệnh cấm vận của Mỹ - Việt Nam cùng với hiệp định thương mại Việt - Mỹ được ký kết đã thúc đẩt hoạt động xuất khẩu của Việt Nam không chỉ với Mỹ mà cả các nước đồng minh với Mỹ

- ảnh hưởng của phong tục tập quán trong tiêu dùng của mỗi quốc gia sẽ quyết đinh đến loại hàng,số lượng hàng cũng như hình thức kinh doanh xuất nhập khẩu

- ảnh hưởng của sự phát triển công nghệ trên thế giới làm đa dạng hoá,tạo ra nhiều sản phẩm mới cũng như hiện đại hoá hệ thống thông tin liên lạc,giao thông,tài chính ngân hàng Do đó cũng đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng ở tầm doanh nghiệp

a Cơ cấu và khối lượng mặt hàng xuất khẩu

Đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.Nếu doanh nghiệp có một cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu thích hợp theo hướng đa dạng hoá và đáp ứng nhu cầu thực của thị trường thì hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp ngày càng được củng cố và phát triển.Còn nếu cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của doanh nghiệp không thích hợp với sự biến đổi của nhu cầu thị trường thì hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp sẽ ngày càng bị thu hẹp lại.Do vậy đòi hỏi các công ty kinh doanh xuất nhập khẩu cần phải thay đổi cơ cấu mặt hàng theo hướng

đa dạng hoá mặt hàng phải trên cơ sở đa dạng hoá thị trường

Bên canh nhân tố cơ cấu mặt hàng thì khối lượng các mặt hàng xuất khẩu cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu bởi lẽ nếu khối lượng xuất khẩu nhỏ thì sẽ không đủ bù đắp chi phí xuất khẩu còn nếu ngược lại khối lượng xuất khẩu quá lớn thì công ty kại không đủ vốn,không đủ khả năng cung cấp và như vậy cũng sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả xuất khẩu

b Chất lượng hàng hoá và uy tín của doanh nghiệp

Chất lượng hàng hoá và uy tín của doanh nghiệp là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ,do đó doanh nghiệp cần phải tính toán để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao,có sức cạnh tranh.Trong kinh chỉ nhứng sản phẩm có chất lượng cao phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng thì mới có thể xuất khẩu với số lượng lớn,xác lập giá cao hơn mà không gây ra phản ứng của người tiêu dùng.Tuy nhiên đây là một vấn đề gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam bởi lẽ trình độ phát triển khoa học

Trang 39

- kỹ thuật công nghệ của ta còn thấp,công nghệ lạc hậu.Do vậy mà chất lượng sản phẩm chưa cao,chưa đáp ứng được yêu cầu chất lượng của thế giới.Cho nên xuất khẩu còn hạn chế chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của Việt Nam.Do vậy đòi hỏi trong thời gian tới các doanh nghiệp Việt Nam cần chú ý tới việc nâng cao chất lượng hàng hoá để đẩy mạnh xuất khẩu

c Phương thức xuất khẩu

Như chúng ta đã biết trước đâycác công ty xuất nhập khẩu là những công ty được độc quyền trong kinh doanh xuất nhập khẩu một hoặc một số mặt hàng nào đó.Cho nên mọi công ty khác muốn xuất khẩu hàng hoá đó đều phải uỷ thác cho các công ty

đó xuất khẩu hộ mình.Vì vậy xuất khẩu theo hình thức uỷ thác phát triển.Nhưng hiện nay trong nền kinh tế thị trường mọi doanh nghiệp đều được phép xuất khẩu trực tiếp do vậy xuất khẩu theo hình thức uỷ thác ngày một giảm nhường chỗ cho XNK trực tiếp.Vì xuất khẩu theo phương thức này có ưu điểm hơn phương thức XK uỷ thác là lợi nhuận cao hơn,hai bên được tự do thoả thuận về giá cả,phương tiện vận chuyển,thời gian giao hàng,phương thức thanh toán

d Khả năng nắm bắt thông tin về thị trưòng

Trong xã hội hiện đại ngày nay thông tin đã trở thành một nguồn lực quan trọng bên cạnh các ngồn lực quyết định đến sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp.Chúng ta muốn hiểu biết về khách hàng phải thông qua thông tin.Nhu cầu về thông tin ngày càng trở nên cấp bách do thị trường thay đổi về quy mô và phạm vi,sự thay đổi về chất của nhu cầu,sự lựa chon của khách hàng thay đổi,sự cạnh tranh ngày càng gay gắt với những hình thức cạnh tranh ngày càng đa dạng.Chính vì vậy,thu thập và xử lý thông tin đóng vai trò ngày càng quan trọng.Có thể nói doanh nghiệp nào có khả năng nắm bắt thông tin về thị trường thì hoạt động XK của doanh nghiệp

đó chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả cao

Trang 40

e Hoạt động Marketing của công ty

f Giá bán sản phẩm xuất khẩu

Giá bán sản phẩm và chi phí lưu thông có mối quan hệ qua lại phức tạp.Về cơ bản giá bán sản phẩm của doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở chi phí lưu thông.Mặt khác chi phí lưu thông một đơn vị sản phẩm lại chịu ảnh hưởng tác động của giá bán,thông qua khối lượng hàng hoá tiêu thụ.Mà do cơ sở hạ tầng,hệ thống giao thông Việt Nam kém phát triển nên chi phí lưu thông cao làm tăng giá,ảnh hưởng đến hoạt động XK.Công cụ tốt nhất của việc giảm giá thành sản phẩm là doanh nghiệp nên cố gắng tối thiểu hoá các chi phí lưu thông và cố gắng kiểm soát chúng

g Trình độ nghiệp vụ của cán bộ

h Khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán của người tiêu dùng và sức mua của đồng tiền có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc định giá và các chính sách xuất khẩu của doanh nghiệp.Khi lạm phát,sức mua của đồng tiền giảm,giá cả hàng hoá sẽ leo thang,nhu cầu về sản phẩm

sẽ biến động lớn

i.Yếu tố tâm lý và thị hiếu của khách hàng

Tâm lý mua hàng và thị hiếu của người tiêu dùng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp.Để khai thác triệt để thế mạnh của mình,doanh nghiệp không những quan tâm đén việc bảo đảm hàng hoá do mình xuất khẩu phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng ở từng khu vực thị trường mà còn atọ ra bầu không khí thuận lợi nhất cho qua trình mua hàng

Trên đây là một số nhân tố chính ảnh hưởng có tính chất quyết định đến hoạt động xuất khẩu của bất kỳ một công ty nào.Ngoài ra tiếp tục di sâu phân tích co thể thấy các nhân tố khác.Tuy nhiên chúng đều nằm trong hoặc tác động qua các nhân tố vừa nêu.Vì vậy nói đến hoạt động xuất khẩu là hết sức phức tạp và có mối quan hệ tương

hỗ tới nhiều hoạt động.Do vậy cần phải xem xét nội dung,hình thức của nó

Ngày đăng: 07/03/2014, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w