1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến đổi thực hành lễ chùa ở Hà Nội trong bối cảnh đại dịch Covid-19 (qua nghiên cứu trường hợp tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy)

224 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 7,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN 1. Thực hành lễ chùa đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của quần chúng nhân dân. Đặc biệt, trước “khủng hoảng cuộc sống” - đại dịch Covid-19, lễ chùa tiếp thêm sức mạnh tinh thần giúp con người vơi bớt lo lắng, tin tưởng vào việc kiểm soát được hoàn cảnh. 2. Thực hành lễ chùa tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy hiện nay có sự biến đổi trên nhiều phương diện: Thời gian, không gian, tần suất và hình thức tham gia lễ chùa, đồ lễ và thực hiện công đức… Sự vận động này là tất yếu, khách quan để thích ứng, phù hợp với bối cảnh đại dịch. 3. Những “khủng hoảng” từ đại dịch, sự phát triển của công nghệ thông tin và những văn bản hướng dẫn chỉ đạo của Chính phủ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tạo nên sự thay đổi diện mạo bức tranh thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch. 4. Xu hướng song hành lễ chùa online và offline cùng với xu hướng kinh tế hóa, đơn giản hóa trong sử dụng đồ lễ là hai xu hướng phổ biến thời đại dịch. 5. Thiết lập những nguyên tắc, quy định về quản lí tổ chức sinh hoạt lễ chùa online trên không gian mạng trong quá trình chuyển đổi số tôn giáo là cần thiết và cấp bách nhằm đảm bảo môi trường sinh hoạt Phật giáo “văn minh” trong kỉ nguyên số.

Trang 1

Nguyễn Thị Nhung

BIẾN ĐỔI THỰC HÀNH LỄ CHÙA Ở HÀ NỘI

TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19 (QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI CHÙA PHÚC KHÁNH, CHÙA HÀ VÀ CHÙA THẦY)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Hà Nội - 2022

Trang 2

Nguyễn Thị Nhung

BIẾN ĐỔI THỰC HÀNH LỄ CHÙA Ở HÀ NỘI

TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19 (QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI CHÙA PHÚC KHÁNH, CHÙA HÀ VÀ CHÙA THẦY)

Ngành: Văn hóa học

Mã số: 9229040

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS TSKH Vũ Minh Giang

Hà Nội - 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án Biến đổi thực hành lễ chùa ở Hà Nội trong

bối cảnh đại dịch Covid-19 (qua nghiên cứu trường hợp tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy) là công trình nghiên cứu của bản thân Các kết quả

nghiên cứu và tư liệu trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Nhung

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 14

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 14

1.1.1 Các công trình liên quan đến biến đổi tôn giáo, tín ngưỡng 14

1.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến thực hành lễ chùa và biến đổi thực hành lễ chùa 20

1.2 Cơ sở lí luận 29

1.2.1 Các khái niệm công cụ 29

1.2.2 Lí thuyết nghiên cứu 35

1.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 42

1.3.1 Khái quát về chùa Hà (Hà Nội) 42

1.3.2 Khái quát về chùa Thầy (Hà Nội) 44

1.3.3 Khái quát về chùa Phúc Khánh (Hà Nội) 46

Tiểu kết 47

Chương 2: TRUYỀN THỐNG LỄ CHÙA TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM 49

2.1 Thực hành sinh hoạt lễ chùa truyền thống 49

2.1.1 Không gian và thời gian thực hành lễ chùa truyền thống 49

2.1.2 Lễ vật lên chùa theo phong tục truyền thống và thực hiện công đức 57

2.1.3 Nghi lễ dâng hương truyền thống khi đi lễ chùa 61

2.2 Mục đích và chức năng của thực hành lễ chùa 62

2.2.1 Mục đích của người đi lễ chùa 62

2.2.2 Chức năng của thực hành lễ chùa trong đời sống tinh thần người Việt 65

Tiểu kết 83 Chương 3: THỰC HÀNH LỄ CHÙA TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH

Trang 5

COVID-19 (KHẢO SÁT TẠI CHÙA PHÚC KHÁNH, CHÙA HÀ VÀ CHÙA THẦY) 83

3.1 Khái quát về bối cảnh dịch bệnh Covid-19 tại Việt Nam 83

3.1.1 Diễn biến 4 đợt dịch ở Việt Nam 83

3.1.2 Ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đối với sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng 85

3.2 Biến đổi về không gian và thời gian thực hành lễ chùa 90

3.2.1 Biến đổi về không gian 90

3.2.2 Biến đổi về thực hành lễ chùa 95

3.3 Biến đổi về tần suất và hình thức đi lễ chùa 98

3.3.1 Biến đổi về tần suất đi lễ chùa 98

3.3.2 Biến đổi về hình thức đi lễ chùa 100

3.4 Biến đổi lễ vật và thực hiện công đức 102

3.5 Biến đổi về trình tự thực hành nghi lễ dâng hương 108

Tiểu kết 115

Chương 4: THỰC HÀNH LỄ CHÙA TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19 VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ BÀN LUẬN 115

4.1 Những nhân tố tác động đến thực hành lễ chùa hiện nay 115

4.2 Những xu hướng trong thực hành lễ chùa hiện nay 125

4.2.1 Xu hướng song hành online và offline trong thực hành lễ chùa và sinh hoạt Phật giáo .126

4.2.2 Xu hướng thực dụng hóa và đơn giản hóa 133

4.3 Bàn luận về văn hóa ứng xử trong thực hành lễ chùa hiện nay 136

Tiểu kết 146

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ .150

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

PHỤ LỤC 167

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Covid : Corona virus disease

DL : Dương lịch

ĐHQG : Đại học quốc gia

F0 : Thế hệ đầu dương tính với COVID-19

GS TS : Giáo sư, tiến sĩ

Trang 7

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH

Bảng 2.1 Những ngày lễ chính của Phật giáo 55

Bảng 2.2 Tần suất đi lễ vào ngày Rằm, mồng Một của người đi lễ chùa 56

Bảng 2.3 Các hình thức công đức của người đi lễ chùa 59

Bảng 2.4 Tần suất bỏ tiền công đức trước năm 2019 60

Bảng 2.5 Lí do đi lễ chùa của người dân 62

Bảng 2.6 Cảm nhận của người dân khi thực hành lễ chùa 70

Bảng 2.7 Thống kê về việc đã từng tham gia nghi lễ tại chùa của người dân 71

Bảng 2.8 Hình thức đi lễ chùa của người dân trước và sau đại dịch Covid-19 74

Bảng 3.1 Số lượng và lao động cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng qua các kì Tổng điều tra 85

Bảng 3.2 Kết quả thống kê về việc tham gia lễ chùa online, cầu an online 89 Bảng 3.3 Thống kê về lễ chùa online 90

Bảng 3.4 Kết quả thống kê các hội nhóm về chùa Hà trên facebook 93

Bảng 3.5 Kết quả thống kê các hội nhóm về chùa Phúc Khánh trên facebook 94

Bảng 3.6 Kết quả thống kê các hội nhóm về chùa Thầy trên facebook 94

Bảng 3.7 Thời điểm đi lễ chùa của người dân tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy 96

Bảng 3.8 Tần suất tham gia lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 98

Bảng 3.9 Hình thức đi lễ chùa của người dân trước và sau đại dịch Covid-19 100

Bảng 3.10 Đồ lễ của người đi lễ chùa tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy 102

Trang 8

Bảng 3.11 Hình thức công đức của người đi lễ tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà

và chùa Thầy 107

Bảng 3.12 Thống kê về trình tự thực hành nghi lễ 108

Bảng 3.13 Trình tự thực hành nghi lễ tại chùa Phúc Khánh, chùa Thầy và chùa Hà 109

Bảng 3.14 Khái quát biến đổi thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 112

Bảng 4.1 Thống kê các kênh tham gia sinh hoạt Phật giáo online 128

Bảng 4.2 Đánh giá về hình thức trực tuyến 130

Bảng 4.3 Thống kê lựa chọn hình thức sinh hoạt Phật giáo 131

Bảng 4.4 Thống kê ý kiến về việc sử dụng tiền thật là lễ vật 135

Bảng 4.5 Mức độ hiểu biết của người đi lễ chùa về các ban thờ tại chùa 142

Hình 1 Khung phân tích thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch… 42

Hình 3 Số ca nhiễm trong 4 đợt dịch ở Việt Nam tính đến 20/3/2022 84

Hình 4.1 Lao động có việc làm các quý, giai đoạn 2019-2021 118

Hình 4.2 Số người và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động, các quý năm 2020 và năm 2021 118

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Lễ chùa là một sinh hoạt Phật giáo điển hình đồng thời là văn hóa truyền thống của người dân Việt Nam Từ lâu, cứ mỗi dịp tết đến xuân về hay ngày mùng Một, ngày Rằm nhà nhà, người người lại cùng nhau lên chùa dâng hương Khi bản thân hay gia đình có những sự kiện đặc biệt như: Hiếu, hỷ, làm

ăn xa, chuyển đổi công việc, con cái đỗ đạt… người dân cũng có thói quen thành tâm khấn vái nơi cửa chùa Lễ chùa nhằm thỏa mãn những nhu cầu về đời sống tâm linh; đó có thể là nguyện cầu những điều may mắn, bình an, sức khỏe… đến với bản thân và gia đình hoặc cũng có thể đơn giản chỉ là đến với cửa Phật, cửa Thánh để tìm một chốn bình yên, thanh tịnh cho tâm hồn sau những bộn bề, lo toan, căng thẳng của cuộc sống mưu sinh nhọc nhằn Trải qua hàng nghìn năm, cùng với sự tồn tại và phát triển của Phật giáo, hoạt động này

đã trở thành nét văn hóa không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người

dân Việt Nam

1.2 Từ năm 2019 trở lại đây, đại dịch Covid-19 đã tác động đến tất cả

các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; trong đó đời sống tôn giáo tín ngưỡng cũng không ngoại lệ Ngày 22/01/2020 (tức ngày 28/12/2019 Âm lịch) Việt Nam ghi nhận trường hợp mắc Covid-19 đầu tiên Tính từ đó đến nay, Việt Nam đã trải qua 4 đợt bùng phát dịch bệnh với cấp độ

và số ca dương tính ngày càng gia tăng và phạm vi ngày càng mở rộng Nếu như những nghiên cứu về hoạt động lễ chùa trước đó đều khẳng định: Hoạt động lễ chùa, hành hương tại các cơ sở tôn giáo đang nở rộ, gia tăng qua các năm về số lượng với sự đa dạng về nghề nghiệp, giới tính, độ tuổi [37], [87], [45]… thì ngược lại, trong 3 năm gần đây với sự xuất hiện của đại dịch Covid-

19 với những quy định về giãn cách xã hội, không tập trung đông người… cùng những thay đổi về kinh tế đã tạo ra sự biến đổi trong thực hành sinh hoạt tôn

Trang 10

giáo tín ngưỡng Hoạt động tôn giáo tín ngưỡng trong đó có thực hành lễ chùa chịu tác động của kinh tế thị trường, cách mạng công nghệ 4.0 và đặc biệt là tác động mạnh mẽ từ đại dịch Covid-19 Biến đổi vốn là một quy luật tất yếu trong sự vận động của mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội của con người, trong

đó có văn hóa Và dưới sự tác động từ đại dịch Covid-19, liệu thực hành lễ chùa

- văn hóa truyền thống ở nước ta có bị hạn chế vai trò, suy giảm hoạt động bởi những quy định thời đại dịch hay có những cách thức vận động mới? Bên cạnh

đó, có thể thấy bàn về những biến đổi về tôn giáo, tín ngưỡng từ trước đến nay

đã có nhiều công trình trong và ngoài nước tiếp cận và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, những nghiên cứu về biến đổi lễ chùa ở Việt Nam, đặc biệt là những biến đổi từ tác động của đại dịch Covid-19 thì mới chỉ dừng lại ở số ít các bài báo, tin tức… Do đó, nghiên cứu biến đổi thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 là cần thiết để bổ sung khoảng trống trong nghiên cứu về biến đổi thực hành lễ chùa nói riêng và biến đổi thực hành tôn giáo tín ngưỡng ở nước ta nói chung

1.3 Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của Việt Nam; là thành phố có hệ thống chùa được xếp hạng nhiều nhất cả nước Nơi đây có mật

độ dân số đông cùng hệ thống cơ sở tôn giáo tín ngưỡng dày đặc, nhiều nhất cả nước với tổng số 5607 cơ sở tôn giáo tín ngưỡng, chiếm 12% tổng số cơ sở trong cả nước [82, tr 129] Trước nay, hoạt động tôn giáo tại Hà Nội luôn diễn

ra nhộn nhịp với những chiều kích đa dạng, phong phú về niềm tin tôn giáo, thực hành tôn giáo và cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng Thủ đô Hà Nội cũng là

“đầu tàu” thực thi và áp dụng chủ trương, đường lối chính sách, nghị định, nghị quyết của Đảng, Nhà nước; Ban tôn giáo Chính phủ Do đó, đây sẽ là địa bàn thuận lợi để khảo sát thực trạng và nhận diện những xu hướng biến đổi trong thực hành sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng

Đối với thực hành sinh hoạt lễ chùa, lựa chọn nghiên cứu khảo sát tại Hà

Trang 11

Nội với 426 ngôi chùa [90, tr 322] là không khả thi Vì thế, nghiên cứu sinh

(NCS) quyết định lựa chọn nghiên cứu trường hợp tại ba chùa: chùa Phúc

Khánh (Phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, TP Hà Nội), chùa Hà (phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội) và chùa Thầy (xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội) với những lí do sau:

Một là, chùa Phúc Khánh, Chùa Hà và chùa Thầy (Hà Nội) đều là những ngôi chùa nổi tiếng ở Hà Nội Từ trước đến nay, ba ngôi chùa đều thu hút đông

đảo người dân gần xa đến tham quan lễ Phật Mỗi ngôi chùa đều có đặc điểm

riêng tạo nên sức hấp dẫn đối với Phật tử và nhân dân cả nước tạo nên hoạt

động lễ chùa sôi nổi

Hai là, ba ngôi chùa này có sự khác biệt về vị trí để đảm bảo cung cấp

cái nhìn bao quát về hoạt động lễ chùa ở nội và ngoại thành Hà Nội Chùa Phúc Khánh thuộc phường Thịnh Quang, Quận Đống Đa, TP Hà Nội; Chùa Hà thuộc phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội còn chùa Thầy thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây cũ, nay trở thành khu vực ngoại thành Hà Nội do sự phát triển của quá trình đô thị hóa

(3) Những địa điểm khảo sát này có một phần nền tảng dữ liệu về thực trạng lễ chùa trước khi đại dịch Covid-19 diễn ra [37], [65] góp phần giúp chúng tôi nhận diện, so sánh thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 so với thời gian trước đại dịch

Như vậy, có thể thấy nghiên cứu về sự biến đổi sinh hoạt lễ chùa tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy (Hà Nội) trong bối cảnh đại dịch Covid-19

là khả thi và cần thiết; nhất là trong tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn diễn ra phức tạp không chỉ ở Việt Nam mà còn trên phạm vi thế giới Giới y học dự đoán còn xuất hiện thêm nhiều biến thể mới ngoài biến thể Delta và Omicron [108] Thực hiện khảo sát về thực hành lễ chùa hiện nay là thiết thực nhằm phản ánh thực trạng lễ chùa trước “khủng hoảng xã hội” - đại dịch Covid-19 cùng

Trang 12

những xu hướng biến đổi, từ đó góp phần gìn giữ và phát huy giá trị tốt đẹp, hạn chế những tiêu cực của phong tục lễ chùa trong hoàn cảnh mới

Với tất cả những lí do trên, NCS quyết định chọn đề tài Biến đổi thực

hành lễ chùa ở Hà Nội trong bối cảnh đại dịch Covid-19 (qua nghiên cứu trường hợp tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy) làm đề tài nghiên

cứu của luận án Tiến sĩ ngành Văn hóa học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nhận diện thực trạng biến đổi của thực hành lễ chùa (một thực hành sinh hoạt Phật giáo tiêu biểu) qua khảo sát đối tượng đi lễ chùa tại chùa Phúc Khánh (quận Đống Đa, Hà Nội), chùa Hà (quận Cầu Giấy, Hà Nội) và chùa Thầy (huyện Quốc Oai, Hà Nội) trong bối cảnh đại dịch Covid-19 Đồng thời chỉ ra

xu hướng vận động và biến đổi của thực hành lễ chùa hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Một là, nghiên cứu tổng quan tài liệu, xác lập cơ sở lí luận và lí thuyết

nghiên cứu làm tiền đề để triển khai nội dung của luận án

Hai là, phản ánh thực trạng biến đổi lễ chùa của người dân tại chùa Phúc

Khánh, chùa Hà và chùa Thầy trong bối cảnh đại dịch Covid-19 ở các khía cạnh: Không gian và thời gian đi lễ, tần suất đi lễ, hình thức tham gia, đồ lễ, cách thức thực hiện công đức và trình tự hành lễ Đồng thời, nghiên cứu khẳng định vai trò của hoạt động lễ chùa trong đời sống tinh thần của người dân

Ba là, chỉ ra nguyên nhân của sự biến đổi trong thực hành lễ chùa tại

chùa Phúc Khánh (Đống Đa, Hà Nội), chùa Hà (Cầu Giấy, Hà Nội) và chùa Thầy (Quốc Oai, Hà Nội) trong bối cảnh đại dịch Covid-19

Bốn là, bàn luận và đưa ra nhận định, đánh giá về xu hướng biến đổi của

thực hành lễ chùa của người dân tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy (Hà Nội) nói riêng cũng như phản ánh phần nào xu hướng biến đổi thực hành

Trang 13

lễ chùa của người dân hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Khách thể khảo sát: Những người đi lễ chùa tại chùa Phúc Khánh (Đống

Đa, Hà Nội), chùa Hà (Cầu Giấy, Hà Nội) và chùa Thầy (Quốc Oai, Hà Nội)

Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Biến đổi thực hành lễ chùa - thực hành sinh hoạt Phật giáo của người dân tại chùa Phúc Khánh (Đống Đa, Hà Nội), chùa Hà (Cầu Giấy, Hà Nội) và chùa Thầy (Quốc Oai, Hà Nội) trong bối cảnh đại dịch Covid-19

Cụ thể, khi triển khai và tiếp cận đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sẽ nghiên cứu biến đổi thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 của người dân hiện nay dựa trên các khía cạnh: Không gian và thời gian thực hành

lễ chùa, tần suất và hình thức tham gia lễ chùa, hệ thống đồ lễ và hoạt động công đức/cúng dường và trình tự hành lễ tại chùa

3.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Không gian: Không gian nghiên cứu chính của luận án là ba ngôi chùa:

Chùa Phúc Khánh (phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, TP Hà Nội), chùa Hà (phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội) và chùa Thầy (xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội)

+ Thời gian: Luận án nghiên cứu sinh hoạt lễ chùa của người dân trong

suốt quá trình lịch sử dựa trên các cứ liệu cho phép và trọng tâm là khảo sát biến đổi thực hành lễ chùa của người dân tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy (Hà Nội) trong bối cảnh đại dịch Covid-19

4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu đã nêu, câu hỏi chính của luận án là: Thực hành

lễ chùa tại Hà Nội trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn ra như thế nào?

Cụ thể hơn, nghiên cứu cần làm sáng tỏ 03 câu hỏi phụ sau:

Trang 14

- So với hoạt động lễ chùa trước đại dịch, thực hành lễ chùa hiện nay (2020-2022) của người dân tại chùa Phúc Khánh (Đống Đa, Hà Nội), chùa Hà (Cầu Giấy, Hà Nội) và chùa Thầy (Quốc Oai, Hà Nội) có diện mạo như thế nào?

- Những nguyên nhân nào dẫn đến sự biến đổi của thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19?

- Thực hành lễ chùa có xu hướng biến đổi như thế nào?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

Xuất phát từ câu hỏi nghiên cứu, luận án đặt ra giả thuyết:

Một là, hoạt động lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 có diện mạo

mới, thay đổi từ hình thức này sang hình thức khác mà không biến mất Thực hành lễ chùa vẫn luôn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân, góp phần nâng đỡ đời sống tinh thần của người dân trong nhịp sống hiện đại ngày nay

Hai là, biến đổi tôn giáo tín ngưỡng là một tất yếu dưới sự chi phối của

hoàn cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Trong bối cảnh hiện nay mà cụ thể là dưới sự tác động của chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh đại dịch cùng với sự phát triển của “chuyển đổi số” đang diễn ra mạnh mẽ, sinh hoạt Phật giáo - thực hành lễ chùa của người dân tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy (Hà Nội) có những biến đổi sâu sắc trên các khía cạnh: Không gian, thời gian đi lễ, tần suất đi lễ, lễ vật và cúng dường, trình tự thực hành thắp/dâng hương…

Ba là, dưới tác động của bối cảnh, có những thành tố bị ảnh hưởng/hạn

chế và cũng có những thành tố mới được tạo đà phát triển làm nên diện mạo,

xu hướng khác so với sinh hoạt lễ chùa trước đại dịch Covid-19

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cách tiếp cận liên ngành: Để có cái nhìn đa chiều, nhiều góc độ

khác nhau về thực hành lễ chùa hiện nay, luận án sử dụng cách tiếp cận liên ngành, trong đó trọng tâm là hướng tiếp cận văn hóa học tôn giáo Tiếp cận liên

Trang 15

ngành dựa trên cứ liệu của nhiều ngành khoa học: Tôn giáo học, tâm lý học, văn hóa học, xã hội học… để có những minh chứng nhằm nhận định, đánh giá sâu sắc vấn đề nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Để đánh giá chính xác và

có chiều sâu về hoạt động lễ chùa, luận án tập trung nghiên cứu trường hợp tại chùa Phúc Khánh (phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, TP Hà Nội), chùa Hà (phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội) và chùa Thầy (xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội) Ba điểm chùa này đều là những địa chỉ nổi tiếng của thủ đô Hà Nội lại đảm bảo sự khác biệt về vị trí địa lí, yếu tố đặc sắc cùng

số lượng người tham gia lễ chùa đông đảo, đa dạng để tiến hành khảo sát

Bên cạnh đó, luận án đặc biệt chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính: Điền dã, quan sát, phỏng vấn, tổng hợp tư liệu trong nghiên cứu

5.2.2 Phương pháp phân tích tổng hợp tư liệu

Mục đích: Nghiên cứu tổng quan tài liệu, các công trình liên quan đến

thực hành lễ chùa và biến đổi thực hành lễ chùa để từ đó tìm ra những khoảng trống và xác định vấn đề nghiên cứu Bên cạnh đó, nguồn tài liệu thứ cấp giúp NCS có thể kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước và soi chiếu với các dữ liệu tại địa điểm khảo sát của luận án, từ đó thấy được sự biến đổi của thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch hiện nay

Trang 16

Covid-với kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội…; các Chỉ thị, quy định, báo cáo về tình hình dịch bệnh đối với hoạt động tổ chức và thực hành sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng tại các cơ sở trên địa bàn thủ đô Hà Nội nói riêng, Việt Nam nói chung

Nội dung và số liệu thứ cấp liên quan đến vấn đề của luận án được NCS tìm kiếm, chọn lọc, phân loại, phân tích thông tin qua các kết quả của tài liệu nghiên cứu trong bước đầu nghiên cứu và được tiến hành bổ sung, cập nhật trong suốt quá trình thực hiện Khối tài liệu này được tập hợp qua sách, báo, luận án, tạp chí chuyên ngành đề cập đến hoạt động lễ chùa Bên cạnh đó, luận

án sử dụng nguồn số liệu thứ cấp được công bố từ các trang web chính thức như: Cổng thông tin của Bộ Y tế về đại dịch Covid-19 (https://covid19.gov.vn/); Bộ Y tế (https://moh.gov.vn/); Giáo hội Phật giáo Việt Nam (https://phatgiao.org.vn/, http://ghpgvn.vn/); Trang tin của Giáo hội Phật giáo thành phố Hà Nội (https://phatgiaohanoi.vn/)

5.2.3 Phương pháp khảo sát điền dã: Phương pháp quan sát tham dự,

phỏng vấn bảng hỏi, phỏng vấn sâu là phương pháp quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài luận án

Quan sát tham dự: NCS tham dự thực hành lễ chùa tại chùa Phúc Khánh,

chùa Hà và chùa Thầy (Hà Nội) để thực hiện ghi hình, quan sát người tham gia thực hành lễ chùa, quan sát cơ cấu, cách thức giao tiếp xã hội… của người đi

lễ chùa, quan sát hoạt động kinh doanh dịch vụ đồ lễ diễn ra xung quanh chùa NCS quan sát thực hành lễ chùa ở các công đoạn: Chuẩn bị đồ lễ, thực hiện dâng/thắp hương, cúng dường và công đức, thực hiện nghi lễ tại các Ban thờ…

NCS có mặt tại các địa điểm nghiên cứu, quan sát tham dự hoạt động lễ chùa của người dân diễn ra NCS nhận thấy những e dè khi tham gia hoạt động

lễ chùa khi có những ca dương tính Covid-19 đầu tiên, ưu tiên an toàn và hạn chế tiếp xúc tối đa khi thực hành lễ chùa trong bối cảnh dịch bệnh căng thẳng của đợt 2, đợt 3 với sự gia tăng về số lượng, chủng loại của các biến thể Covid-

Trang 17

19 và “cảm giác thả lỏng”, an tâm của người dân trong bối cảnh bùng phát dịch bệnh đợt thứ 4 (khi thực hiện 5K và tiêm phòng đầy đủ 2 đến 3 mũi vacxin phòng Covid-19) Trong suốt quá trình đó, NCS nhìn nhận trực quan, thu thập thông tin về sự vận động, thay đổi của thực hành lễ chùa hiện nay so với thời điểm trước năm 2019 cũng như khám phá quan điểm/nhìn nhận của người dân

về sự biến đổi này

Phỏng vấn sâu: Phương pháp được thực hiện nhằm khám phá và nhận

diện bức tranh lễ chùa của người dân hiện nay những thông tin thu thập được

từ phỏng vấn sâu (định tính) sẽ góp phần đối chiếu, minh định với những thông tin thu thập được từ bảng hỏi (định lượng) để đảm bảo kết quả nghiên cứu Đồng thời, phỏng vấn sâu cũng được thực hiện để bổ sung thông tin minh họa

và cụ thể hóa thông tin định lượng đã thu thập được bằng bảng hỏi về biến đổi của thực hành lễ chùa, đồng thời xác định nguyên nhân của những biến đổi này

Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu nhóm đối tượng là những người

đi lễ chùa

Số lượng cuộc phỏng vấn sâu: 25 cuộc phỏng vấn Trong đó, tại Hà thực hiện 11 cuộc phỏng vấn (07 nữ, 04 nam); tại chùa Thầy (Quốc Oai, Hà Nội) thực hiện 8 cuộc phỏng vấn (06 nữ, 02 nam); tại chùa Phúc Khánh (Đống Đa,

Hà Nội) thực hiện 08 cuộc phỏng vấn (04 nữ, 02 nam)

Nội dung phỏng vấn sâu tập trung xoay quanh các vấn đề: Tần suất đi lễ chùa trước và trong bối cảnh đại dịch Covid-19, cảm nhận khi đi lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19, cách sắm đồ lễ, trải nghiệm tham gia các sinh hoạt Phật giáo tại chùa…

Bên cạnh đó, chúng tôi còn thực hiện 11 cuộc phỏng vấn với nhóm đối tượng quản lí di tích chùa (03 người) và nhóm người kinh doanh dịch vụ ở gần chùa hoặc các vãi tại chùa (08 người) để có cái nhìn đa chiều về những thay đổi trong hoạt động lễ chùa trong bối cảnh hiện nay

Trang 18

Phỏng vấn bằng bảng hỏi: Được NCS sử dụng để thu thập cứ liệu khoa

học nhằm đánh giá hiện trạng và sự biến đổi của thực hành lễ chùa đồng thời tìm kiếm xu hướng vận động, biến đổi của thực hành lễ chùa trong bối cảnh hiện nay NCS sử dụng tổng số 507 phiếu trưng cầu ý kiến và sau đó xử lí bằng phần mềm SPSS for Window Trong đó, tổng số phiếu thu thập được từ chùa

Hà là 187 phiếu (102 nữ, 85 nam); tổng số phiếu khảo sát tại chùa Thầy (Quốc Oai, Hà Nội) là 160 phiếu (112 nữ, 48 nam); tổng số phiếu khảo sát tại chùa Phúc Khánh (Đống Đa, Hà Nội) là 160 phiếu (107 nữ, 53 nam)

Quá trình thu thập thông tin: Thời gian mở chính của chùa Phúc Khánh,

chùa Hà và chùa Thầy là 7h00 đến 17h00 trong ngày Tuy nhiên, do người đi

lễ chùa bắt đầu đông từ khoảng 8h00 đến 16h00 nên cuộc khảo sát ở các chùa thường được nhóm điều tra viên tiến hành từ 8h30 đến 16h30 trong ngày Thời gian tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi là tháng Hai, tháng Ba năm 2022 (bao gồm ngày mùng Một, ngày Rằm và cả ngày thường trong tháng) Chúng tôi tuân thủ 5K theo quy định phòng chống dịch tại các cơ sở tôn giáo tín ngưỡng, chuẩn bị phiếu phỏng vấn dưới 2 dạng là dạng phiếu in trên giấy A4 và phiếu điện tử biểu mẫu trên Google Form Cách chúng tôi tiếp cận phỏng vấn là mẫu thuận tiện, ngẫu nhiên: Sau khi kết thúc lượt phỏng vấn đầu tiên, điều tra viên

sẽ tiếp cận người lễ chùa tiếp theo để thực hiện cuộc phỏng vấn kế tiếp Đôi khi, điều tra viên có thể tiến hành đồng thời phỏng vấn song song (thường là 2 người) đối với những nhóm người đi lễ chùa Mỗi điều tra viên trong vòng 60

phút thường phỏng vấn được khoảng 10 - 12 người đi lễ chùa

Phỏng vấn có 2 hình thức: Tiếp cận và xin phép người đi lễ chùa thực hiện phỏng vấn trực tiếp trên phiếu in sẵn (do điều tra viên hỏi, đối tượng phỏng vấn trả lời và điều tra viên ghi lại đáp án) Cách thức hai, xin phép người phỏng vấn trả lời bảng hỏi thông qua link Google Form bằng cách trao đổi và chia sẻ qua zalo hoặc trả lời trực tiếp trên ứng dụng điện thoại của điều tra viên (áp

Trang 19

dụng đối với người đi lễ chùa trẻ tuổi, có khả năng sử dụng ứng dụng zalo trên điện thoại) Hai cách thức phỏng vấn đều cho kết quả tương đương nhau Trong quá trình thực hiện phỏng vấn, chúng tôi gặp khó khăn khi tỉ lệ người từ chối tiếp nhận phỏng vấn khá cao Đối với chùa Phúc Khánh (Đống Đa, Hà Nội) và chùa Hà (Cầu Giấy, Hà Nội) tỉ lệ từ chối phỏng vấn là 30 - 40% tổng số người được tiếp cận, tỉ lệ từ chối tại chùa Thầy là khoảng 10 - 20% Trong bối cảnh tình trạng dịch bệnh Covid-19 kéo dài, người đi lễ chùa e ngại những tiếp xúc, trao đổi đồng thời nhiều người không muốn chia sẻ và tiết lộ những thông tin với điều tra viên

5.2.4 Phương pháp dân tộc học trực tuyến: Trong bối cảnh đại dịch

Covid-19 có những diễn biến phức tạp cùng với đó thực hành lễ chùa không chỉ diễn ra trực tiếp tại các chùa truyền thống mà còn phát triển mạnh mẽ trong không gian mạng Do đó, NCS áp dụng phương pháp dân tộc học trực tuyến (hay còn gọi là phương pháp dân tộc học mạng) để khảo sát, phân tích, đánh giá diện mạo cũng như xu hướng biến đổi của thực hành lễ chùa trên một số nền tảng Internet: Web, facebook…

5.2.5 Phương pháp phân tích, so sánh đối chiếu: NCS dựa tên những tư

liệu, thông tin thu thập được trong quá trình khảo sát điền dã, quan sát tham dự, kết quả xử lí phiếu điều tra bảng hỏi, tài liệu phỏng vấn sâu…; luận án sẽ mô

tả và hoàn thiện bức tranh về hiện trạng thực hành lễ chùa tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy (Hà Nội) cùng với những biến đổi nhanh chóng trong bối cảnh đại dịch Covid-19

NCS triển khai đối sánh hoạt động lễ chùa trong bối cảnh đại dịch

Covid-19 với hoạt động lễ chùa những năm trước đại dịch (khoảng 10 năm trước đại dịch) (thực hiện qua kết quả khảo sát trên cùng đối tượng người đi lễ chùa (thể hiện qua các câu hỏi Q3, Q4, Q8 - Q11, Q15 - Q18) [Phụ lục 1, tr 169 - 175] Đồng thời, trên cơ sở phân tích các nhân tố ảnh hưởng trong bối cảnh đại dịch Covid-19, NCS sẽ có những phân tích, đánh giá về hiện trạng và xu hướng biến

Trang 20

đổi của thực hành lễ chùa hiện nay

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa khoa học

Luận án là công trình vận dụng cơ sở lí luận về thực hành sinh hoạt tôn giáo và lí thuyết biến đổi văn hóa, lí thuyết chức năng trong nghiên cứu thực hành lễ chùa - một sinh hoạt thực hành Phật giáo tiêu biểu và điển hình

Bằng những kết quả khảo sát thực tiễn và kế thừa từ các nghiên cứu trước

đó, luận án đã xây dựng bức tranh về thực hành lễ chùa của người dân tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy (Hà Nội) dưới ảnh hưởng và tác động của bối cảnh đại dịch Covid-19 Bên cạnh đó, luận án bàn luận và dự báo những xu hướng của thực hành lễ chùa trong tương lai tại ba điểm chùa nói riêng và tại

Hà Nội nói chung

Kết quả trên sẽ góp phần làm đa dạng, phong phú, rộng mở thêm những

lí luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu biến đổi thực hành sinh hoạt tôn giáo nói chung và thực hành lễ chùa nói riêng trong bối cảnh đại dịch Covid-19

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống về thực hành sinh hoạt lễ chùa của người dân qua khảo sát trường hợp tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy (Hà Nội) Đây sẽ là nguồn tư liệu thực tiễn, hữu ích cho những ai quan tâm, nghiên cứu về thực hành lễ chùa và biến đổi thực hành lễ chùa

Luận án bàn luận và góp phần chỉ báo các xu hướng biến đổi của thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 cũng như hậu Covid-19

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bảo tồn và phát huy thực hành sinh hoạt văn hóa Phật giáo, bảo tồn và phát huy những giá trị Phật giáo nói riêng và giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc nói chung Điều này cũng góp phần khẳng định xu thế hiện thực hóa, gắn đạo với đời, khẳng định những đóng góp của văn hóa Phật giáo trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam thông qua thực hành lễ chùa Bên cạnh đó, cũng khẳng định vai trò, chức

Trang 21

năng của thực hành lễ chùa trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu (13 trang), Kết luận (4 trang), Tài liệu tham khảo (16 trang) và Phụ lục (48 trang), nội dung nghiên cứu của luận án được trình bày trong 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí luận và địa bàn nghiên cứu (35 trang)

Chương 2 Truyền thống lễ chùa trong văn hóa Việt Nam (33 trang) Chương 3 Thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 (Khảo sát tại chùa Phúc Khánh, chùa Hà và chùa Thầy) (31 trang)

Chương 4 Thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và một

số vấn đề bàn luận (31 trang)

Trang 22

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN

VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các công trình liên quan đến biến đổi tôn giáo tín ngưỡng

1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu thế giới về biến đổi tôn giáo tín ngưỡng

Thực hành sinh hoạt tôn giáo nhất là thực hành nghi lễ tôn giáo là một phần quan trọng không thể thiếu của bất kì tôn giáo nào Qua dòng chảy của thời gian, chịu những tác động của hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… sự biến đổi của thực hành tôn giáo tín ngưỡng là một tất yếu Đi sâu vào những nghiên cứu về biến đổi tôn giáo tín ngưỡng nói chung và biến đổi thực hành tôn giáo tín ngưỡng nói riêng trong giai đoạn gần đây, trên thế

giới xuất hiện hai xu hướng nghiên cứu biến đổi tôn giáo tín ngưỡng

Thứ nhất, xu hướng nghiên cứu biến đổi tôn giáo tín ngưỡng do ảnh hưởng của sự phát triển công nghệ thông tin và Internet

Trong Religion and the Internet (Tôn giáo và mạng Internet) (2006),

tác giả Heide Campbell đã chỉ ra sự biến đổi của tôn giáo manh nha vào những năm 1995, 1996 [99, tr 3] khi có sự xuất hiện và phát triển của Internet Tác giả khẳng định dưới tác động của Internet đã tạo nên các hình thức tôn giáo trực tuyến qua các trang web, phòng trò chuyện và các nhóm thảo luận qua email Không gian thờ phụng mới cũng được thiết lập và bước đầu ở dạng các trang web Song hành với đó, nghi lễ mạng và cách thức thực hành tôn giáo qua không gian mạng được cấu thành Trong các diễn đàn trực tuyến, các buổi cầu nguyện được tập hợp hàng tuần vào một thời điểm cụ thể Sự phát triển của công nghệ thông tin đã góp phần hình thành “cộng đồng tôn giáo trực tuyến” (cộng đồng ảo) bên cạnh các cộng đồng tôn giáo truyền thống tại các địa phương

Trang 23

Ở bài viết “Religion and the Internet: A microcosm for studying Internet trends and implications” (Tôn giáo và Internet: Một mô hình thu nhỏ (để) nghiên cứu các xu hướng và tác động của Internet) (2013) [102], Heide Campbell tiếp tục khẳng định những kết nối trực tuyến - ngoại tuyến, cộng đồng

và quyền lực trực tuyến đều liên quan đến thực tiễn xã hội Cùng chung nội dung này, tác giả chi tiết hóa bằng bài viết “Rethinking the online-offline connection in the study of religion online” (Suy nghĩ lại về kết nối trực tuyến –

ngoại tuyến trong việc nghiên cứu tôn giáo trực tuyến) [100] để bàn về mối

quan hệ giữa sinh hoạt trực tuyến và ngoại tuyến của tôn giáo qua khảo sát mạng xã hội Trong đó, tác giả phân tích và chỉ ra việc sử dụng và lựa chọn công nghệ trực tuyến không tách khỏi bối cảnh ngoại tuyến Hay nói một cách khác, thực hành ngoại tuyến hướng dẫn niềm tin và hành vi trực tuyến

Trong cuốn sách Creating Church Online: Ritual, Community and New

Media (Sáng tạo Nhà thờ Trực tuyến: Nghi lễ, Cộng đồng và Phương tiện mới)

(2017) [105], tác giả Tim Hutching phản ánh sự tồn tại nhà thờ trực tuyến của cộng đồng Cơ đốc dựa trên nền tảng Internet bắt đầu từ những năm 1990 đến nay Khi internet đã trở thành nền tảng chính cho tin tức, kinh doanh, giáo dục… thì nhiều nhà thờ cũng đã chuyển sang không gian mạng như một lĩnh vực truyền giáo, nơi mọi người có thể tìm thấy đức tin bằng cách tham gia cầu nguyện, tham dự các buổi lễ… Tác giả khẳng định hàng trăm nghìn người hiện đang tham gia vào các hội nhóm trực tuyến đã tạo ra các loại nghi thức, hình thức quản lí, cộng đồng và mạng lưới ảnh hưởng toàn cầu mới Điểm nổi bật trong nghiên cứu của Hutchings là nhiều người tham gia nhà thờ trực tuyến trong khi vẫn kết nối với các Hội thánh địa phương Điều này trái ngược so với các thăm dò dư luận Cơ đốc giáo trước đó khi dự đoán các nhà thờ trực tuyến

sĩ dần thay thế các Hội thánh địa phương

Có thể thấy, các nghiên cứu trên thế giới đều chỉ ra trong bối cảnh

Trang 24

Internet, “thực hành” tôn giáo trên Internet đang tăng lên Hệ quả là có sự hình thành các cộng đồng tôn giáo online (cộng đồng ảo) ở khắp các nền tảng, nghi

lễ online, không gian tôn giáo online đa dạng…và mối quan hệ mật thiết giữa sinh hoạt tôn giáo trực tuyến và sinh hoạt tôn giáo trực tiếp

Thứ hai, xu hướng nghiên cứu biến đổi tôn giáo tín ngưỡng do đại dịch

Covid-19

Đại dịch Covid-19 xuất hiện trên thế giới từ cuối năm 2019 cho đến nay Trước nguy hiểm của đại dịch Covid-19, vấn đề về cách ứng phó và những thay đổi của tôn giáo, trong đó có Phật giáo cũng nóng lên trên toàn cầu Bởi lẽ, tôn giáo trước nay luôn gắn với sinh hoạt cộng đồng mà trong bối cảnh đại dịch, đặc biệt trong giai đoạn đầu virut Corona “càn quét” ở châu Á, thế giới chưa sản xuất được vacxin phòng bệnh thì giãn cách, không tập trung là nguyên tắc hàng đầu để ứng phó với đại dịch Từ thực tiễn này, thúc đẩy sự ra đời của các nghiên cứu trên thế giới xoay quanh biến đổi của tôn giáo để nhằm ứng phó với đại dịch

Bài viết “On Face Masks as Buddhist Merit: Buddhist Responses to Covid-19 A Case study of Tibetan Buddhism in Shanghai” (Những phản ứng của Phật giáo đối với Covid-19 Một nghiên cứu điển hình về Phật giáo Tây Tạng ở Thượng Hải) (2020) [104] của tác giả Kai Shmushko phản ánh thực trạng các cơ sở hoạt động tôn giáo Phật giáo ứng phó với đại dịch, xem xét tác động của đại dịch đối với nhóm tín đồ Phật tử tại gia ở Thượng Hải Kết quả nổi bật là trong bối cảnh đại dịch, nhóm tín đồ đã hoãn các cuộc hành hương; trong vài tháng đầu của đại dịch, nhóm đã hủy bỏ các buổi tụng kinh và học tập tập trung Thay vào đó, mỗi cá nhân tín đồ thực hiện lễ nghi, tụng kinh riêng tại phòng Trong bối cảnh đại dịch, với tình trạng khẩu trang còn thiếu nguồn cung, nhóm đã triển khai sản xuất khẩu trang để kinh doanh (được tác giả gọi

là dạng kinh tế lễ nghi)

Trang 25

Trong bài viết “Covid-19 and Korean Buddhism: Assessing the Impact

of South Korea’s Coronavirus Epidemic on the Future of Its Buddhist Community” (Covid-19 và Phật giáo Hàn Quốc: Đánh giá tác động của đại dịch

Coronavirut đối với tương lai của cộng đồng Phật giáo Hàn Quốc) (2021) [96],

tác giả Cheonghwan Park và Kyungrae Kim đã phản ánh thực trạng ba tôn giáo của đất nước là Công giáo, Phật giáo và Tin lành đối mặt với thách thức bị giảm thu nhập và hạn chế phạm vi mở rộng, phát triển Trước những thách thức của

đại dịch, nhóm tác giả đề xuất khuyến nghị: Thiết lập hệ thống giáo dục Phật

giáo trực tuyến, thu hút những người ủng hộ qua các nền tảng truyền thông xã hội khác nhau, phát triển chương trình học tập ảo, các lớp thiền ảo cho những người trong tình trạng cách li xã hội

Như vậy, để ứng phó với “khủng hoảng xã hội” là một đại dịch nguy hiểm, tôn giáo tín ngưỡng trên thế giới đã thích ứng dựa trên nguyên tắc giảm nhẹ tối đa thiệt hại của đại dịch Covid-19 Tôn giáo tín ngưỡng ứng phó với đại dịch thông qua sự biến đổi về thực hành sinh hoạt tôn giáo và biến đổi về cộng

đồng tôn giáo Trong đó, xét riêng về hoạt động thực hành sinh hoạt tôn giáo,

bản chất thay đổi trong bối cảnh đại dịch chính là xu hướng thiết lập, gia tăng

và đa dạng các hoạt động trực tuyến Vậy, liệu rằng ở Việt Nam, dưới tác động

của đại dịch Covid-19, thực hành tôn giáo có biến đổi giống với xu hướng của

thế giới hay không?

1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước về biến đổi tôn giáo tín ngưỡng và biến đổi thực hành tôn giáo tín ngưỡng

Trong những năm gần đây, các công trình liên quan đến biến đổi tôn giáo tín ngưỡng khá phong phú và có chiều hướng gia tăng về số lượng Nhìn chung, các công trình đều khẳng định thực trạng phát triển của sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam Điển hình như các công trình luận án tiến sĩ Văn hóa học:

Biến đổi tín ngưỡng của cư dân ven biển Đà Nẵng trong quá trình đô thị hóa

Trang 26

của Lê Thị Thu Hiền (2017) [31], Tín ngưỡng của cư dân xã đảo Nghi Sơn,

huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa của Nguyễn Thị Trúc Quỳnh (2019) [73]; Hành hương Phật giáo chùa Hương hiện nay của Nguyễn Thị Thanh Loan

(2019) [45]… Cùng với đó là các bài viết, tiêu biểu như bài tạp chí “Những biến đổi trong đời sống lễ nghi ở làng nghề La Phù, Hoài Đức, Hà Tây” của Nguyễn Thị Thanh Bình (2006) [12]; “Những biến đổi trong hành lễ của một

bà đồng gọi hồn ở vùng cao phía Bắc Việt Nam” của tác giả Phan Đăng Nhật

và Oscar Salemink (2003) [61]; Bài viết “Câu chuyện “Cô Đa Đai”: Thực hành tôn giáo tại một ngôi chùa Mật tông ở Hà Nội” (2015) của tác giả Nguyễn Thị Hiền [32]; Bài viết “Sự biến đổi tâm thức tôn giáo truyền thống của người Tây Nguyên hiện nay” (2014) của tác giả Phạm Quỳnh Phương [71], “Biến đổi đời sống tôn giáo - Một yếu tố cần tính đến trong việc hoàn thiện chính sách tôn

giáo” của tác giả Đỗ Quang Hưng trên Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo (2018) [35]…

Đa phần, các tác giả đều khẳng định biến đổi tôn giáo, tín ngưỡng là tất yếu

của quy luật vận động tự nhiên, xã hội, lịch sử Ở mỗi công trình dựa trên bối cảnh

nông thôn mới hoặc đô thị mới; ảnh hưởng và tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa, biến đổi tôn giáo tín ngưỡng ở mỗi địa phương,

khu vực sẽ có những diện mạo ít nhiều khác nhau theo cả 2 xu hướng: (1)

Gia tăng một số hoạt động tôn giáo tín ngưỡng trong bối cảnh mới và (2)

Xu hướng đơn giản hóa một số thực hành tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống

Trong bài viết “Sự biến đổi của tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh hội

nhập quốc tế” trên Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo (2015) tác giả Chu Văn Tuấn [84] cung cấp tổng quan về 3 khía cạnh biến đổi tôn giáo trong bối cảnh hội

nhập quốc tế:

(1) Xu hướng biến đổi niềm tin tôn giáo

(2) Xu hướng biến đổi về thực hành tôn giáo

(3) Xu hướng biến đổi về cộng đồng thực hành tôn giáo

Trang 27

Tác giả khẳng định:

Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế cùng với những yếu tố khác nhau như sự phát triển của khoa học công nghệ, các lĩnh vực thông tin truyền thông đã khiến cho đời sống tôn giáo có nhiều sự biến đổi

Sự biến đổi của tôn giáo diễn ra trên tất cả các khía cạnh: niềm tin, thực hành và cộng đồng cũng như trên các cấp độ cá nhân, gia đình

và cộng đồng Sự biến đổi của niềm tin tôn giáo không chỉ phản ánh

xu hướng nhu cầu tôn giáo mà còn phản ánh những đặc điểm niềm tin xã hội [84, tr 37-38]

Trong công trình gần đây Biến đổi tôn giáo dân gian trong chiến lược

phát triển bền vững ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Ngọc Mai chủ biên (2021)

[51] cùng chung quan điểm của với tác giả Chu Văn Tuấn ở việc khẳng định biến đổi tôn giáo dân gian hiện nay (thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu, thờ thổ thần, thờ Thần tài, thờ cúng nhiên thần, linh vật…) đã và đang diễn ra trên nhiều phương diện như: Chủ thể tôn giáo, thực hành nghi lễ, biến đổi về cơ sở tôn giáo và mục đích thực hành nghi lễ…

Trong công trình Sự biến đổi của tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam hiện

nay của tác giả Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Phương Châm [48] đã phản ánh sự

biến đổi về lễ vật, không gian, cách thức thực hành… dưới tác động của kinh

tế thị trường và hội nhập quốc tế

Trong bài viết “Sự biến đổi đời sống tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh

toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0”, (2019); tác giả Nguyễn Phú Lợi

[126] khẳng định sự biến đổi của đời sống tôn giáo ở Việt Nam trên các phương diện: Diện mạo và cấu trúc tôn giáo, biến đổi niềm tin và biến đổi phương thức truyền giáo và sống đạo Tác giả khẳng định về sự xuất hiện sinh hoạt online:

Dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đời sống tâm linh - tôn giáo ở nước ta đang có sự biến đổi sâu sắc, xuất hiện loại

Trang 28

hình sống đạo mới: sống đạo online Mặc dù các tôn giáo đều cho rằng, việc sống đạo online, kể cả lễ chùa online, tham dự thánh lễ online hay cúng giỗ online không thể thay thế cho sống đạo trực tiếp, song các tôn giáo đều không phản đối, thậm chí còn khuyến khích lối sống đạo trực tuyến này để thu hút tín đồ thời cách mạng công nghiệp 4.0 [126]

Như vậy, các công trình về biến đổi tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay được đặt trong bối cảnh kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế với nội dung

nổi bật là: (1) Trọng tâm biến đổi là sự gia tăng thực hành mới và đơn giản hóa

các thực hành tôn giáo tín ngưỡng truyền thống (2) Trong bối cảnh toàn cầu

hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, lối sống đạo trực tuyến được khuyến khích

(nhưng sự tồn tại của lối sống đạo trực tuyến rất mờ nhạt so với thế giới)

1.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến lễ chùa và biến đổi thực hành lễ chùa

1.1.2.1 Các công trình liên quan đến lễ chùa

Hoạt động đi chùa lễ Phật được đề cập với nhiều hướng tiếp cận khác nhau: văn hóa, xã hội, tôn giáo, tâm lí… Cho đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến vấn đề này, có thể chia những tài liệu này thành

3 nhóm tiếp cận như sau:

Một là, nhóm công trình nghiên cứu tiếp cận tôn giáo học và triết học:

Những nghiên cứu tôn giáo học trong quá trình tiếp cận đối tượng nghiên cứu có dành sự quan tâm cho vấn đề đi lễ chùa nhưng chưa sâu sắc, cụ thể Đó là các

công trình như: Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo - Những vấn đề lý luận và thực

tiễn cấp bách ở Việt Nam hiện nay (2013) của Nguyễn Hoài Sanh [74], công

trình luận án Triết học Ảnh hưởng của văn hóa tôn giáo trong đời sống tinh thần

xã hội Việt Nam hiện nay của tác giả Lê Văn Lợi [46] Trong quá trình phản ánh

thực trạng bức tranh đời sống văn hóa tôn giáo hiện nay, các công trình này đều

Trang 29

khẳng định sự gia tăng các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống xã hội

trong đó có hoạt động lễ chùa

Bên cạnh đó là nhóm công trình tập trung phản ánh và khai thác các nghi

lễ thờ cúng tại các cơ sở tôn giáo tín ngưỡng trong đó có nghi lễ tại các chùa:

Nghi lễ Phật giáo (2012) của Trương Bội Phong [68]; Nghi lễ thờ cúng tổ tiên, đền chùa, miếu phủ (2007) của Trương Thìn [79]; Tập tục và nghi lễ dâng hương của nhóm tác giả Tuệ Nhã và Diệu Nguyệt, hiệu đính bởi Thích Thanh

Tứ [60]… Các công trình này mô tả và giới thiệu về các nghi lễ Phật giáo một cách sâu sắc như nghi lễ: Dâng hương, cúng hoa, cúng đèn, cách ăn uống, nghi thức quy y, nghi thức phóng sinh, nghi thức khai quang… [68, tr 17-24], [60,

tr 176, 180 - 181], [79, tr 89 - 94] Nhóm công trình này đã giới thiệu về các nghi lễ thờ cúng tại chùa trong đó có giới thiệu cách sắm lễ và trình tự hành lễ tại chùa theo đúng quy định của Phật giáo Tuy nhiên, cách thức sắm lễ và trình

tự hành lễ chung của người dân (những người không quy y) thì chưa được đề cập, phản ánh

Hai là, các công trình nghiên cứu xã hội học: Các công trình nghiên cứu

xã hội học cũng lưu ý đến hiện tượng này và đã đưa ra những kết quả nhất định cho việc khảo sát hoạt động của người đi lễ chùa và những mối tương tác xã

hội của hoạt động này Tiêu biểu trong số đó là ấn phẩm sách Chân dung xã

hội của người đi lễ chùa (2012) của tác giả Hoàng Thu Hương [37] Dựa trên

lí thuyết chức năng, lí thuyết hành động xã hội, lí thuyết trao đổi; tác giả Hoàng Thu Hương tập trung phác thảo chân dung những người đi lễ chùa tại chùa Quán Sứ và chùa Hà (Hà Nội) qua các đặc trưng về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tôn giáo đồng thời chỉ ra vị trí, vị thế của ngôi chùa có

sự tác động đến cơ cấu xã hội của người đi lễ chùa Tác giả khẳng định: “Những người đi lễ chùa vào ngày rằm và ngày mồng một tuy là một nhóm “động”, có tính “mở” nhưng nhóm này có sự ổn định tương đối về mặt cơ cấu và tính chất

Trang 30

của khuôn mẫu thực hành nghi lễ” [37, tr 189]

Tương ứng với mục tiêu và đích đến như tác giả Hoàng Thu Hương, tác giả Trần Thị Thúy Hằng mang đến những kết luận cho hoạt động lễ chùa ở miền Trung qua khảo sát phỏng vấn sâu tại chùa Từ Đàm (Thành phố Huế) với

đề tài cấp cơ sở: Các yếu tố tác động đến hoạt động đi lễ chùa (Qua khảo sát

tại chùa Từ Đàm (Thành phố Huế) (nghiệm thu năm 2015) [29]… Cũng dưới

góc nhìn xã hội học, tác giả Hoàng Thị Phương chọn đối tượng là sinh viên của trường Đại học Hồng Đức để triển khai bài viết: “Thực trạng đi lễ chùa của sinh viên trường Đại học Hồng Đức” [69] và “Nguyên nhân đi lễ chùa của sinh viên trường Đại học Hồng Đức” [70]…

Có thể nói, kết quả nổi bật trong cách tiếp cận xã hội học là đã trả lời cho câu hỏi “Những người đi lễ chùa là ai?” Với các nhóm khách thể nghiên cứu

khác nhau, các tác giả đã vẽ lên bức tranh về cơ cấu của những nhóm người đi

lễ chùa tại thời điểm nhất định (thường là ngày rằm, mồng một)

Ba là, nhóm công trình thuộc những nghiên cứu văn hóa học: Các công

trình tiếp cận dưới góc độ văn hóa học phần lớn được đề cập qua các bài báo, tạp chí, phóng sự, tin tức… Những công trình này đa phần tập trung theo 4 hướng chủ đạo sau:

Hướng nghiên cứu thứ nhất, điển hình như các công trình: Đầu năm đi

lễ Phật (2009) của Nhóm Quảng Văn [64]; “Chuyện đi lễ chùa hái lộc đầu

xuân” (1997) của Nguyễn Thu Hường [39], “Đi chùa - Những bước đầu của hành trình tâm linh” (2013) của tác giả Thiện Ý [144], “Đầu xuân đi chùa lễ

Phật và xin chữ” (2017) của Thiên Đức Mạnh Hùng [118]… Các công trình

thuộc nhóm này đa phần là các bài báo, tin tức, sách Nội dung của các công

trình trong nhóm tập hợp những ghi nhận, cảm xúc hoặc những mô tả hành

trình tham gia vào hoạt động lễ chùa tại một điểm hay một cụm di tích nào đó

Đồng thời các bài báo đều khẳng định lễ chùa, đặc biệt lễ chùa đầu xuân là một tập

Trang 31

tục phổ biến trong văn hóa Việt Nam đem lại cho con người những cảm xúc hi vọng

Chúng ta đi chùa để cầu xin hay để tu theo Phật của tác giả Thích Thanh Từ

(2000) [137], “Giữ gìn văn hóa trong lễ hội chùa” của Vũ Đình Anh (2010) [4], “Văn hóa đi chùa của người trẻ: Đi chùa đúng pháp, được phước” của

Thích Nhật Từ [135], “Giữ nét đẹp văn hóa đi lễ chùa” của Lâm Vũ [142],

“Cần làm gì khi đến chùa” của Thích Cung Minh [127]… Các công trình này giải thích, hướng dẫn và hướng mọi người đến những ứng xử đúng đắn khi tham gia lễ chùa:

Thắp nhang không phải là văn hóa gốc của Phật giáo (từ Ấn Độ) Thắp nhang là văn hóa tín ngưỡng tại Trung Quốc, người Việt Nam

do bị ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc nên có thói quen sử dụng

từ lâu Tôi nghĩ, giới trẻ và mọi thành phần khi đi chùa chỉ thắp một nén nhang tượng trưng Chùa nào ở trước chánh điện có một lư hương lớn bằng đồng, bằng đá hoặc bằng một chất liệu gì đó nghĩa là vị trụ trì ở đó có dụng ý muốn chúng ta cắm nhang vào lư hương đó Khi vào chánh điện chúng ta chỉ chắp tay để trải nghiệm đời sống tâm linh và tinh thần, không cần phải thắp nhang nữa [136]

Bên cạnh đó, các bài viết còn có nội dung phản ánh những mặt trái trong văn hóa lễ chùa của một bộ phận nhỏ những người đi chùa hiện nay như: hiện tương chen lấn xô đẩy, thương mại hóa, trần tục hóa, dùng đồ lễ mặn, xả rác thải ra môi trường, trang phục chưa phù hợp khi đi lễ chùa (nhất là đối với tầng lớp thanh niên)… đồng thời hướng đến việc nâng cao ý thức, giáo dục hành vi

Trang 32

phù hợp trong hoạt động lễ chùa, tiêu biểu như các công trình: “Giới trẻ và văn hóa lễ chùa đầu năm” của tác giả Hồng Yến (2017) [145], “Nóng” văn hóa ăn mặc nơi đền chùa và văn hóa ứng xử nơi lễ hội” của Bích Ngọc [129], “Giáo dục hành vi đi lễ chùa phù hợp lối sống mới cho thanh niên Việt Nam hiện nay” của tác giả Phạm Thị Thương (2017) [81]…

Hướng nghiên cứu thứ ba: Nhóm các công trình đề cập đến niềm tin,

phản ánh cách thức tổ chức và quản lí về về văn hóa tôn giáo tín ngưỡng trong

đó có sinh hoạt lễ chùa Khẳng định lễ chùa là một “phong tục đẹp”, “văn hóa đẹp” của người Việt Nam đã tồn tại hàng nghìn năm nay, đáp ứng những nhu cầu tinh thần của nhân dân, cần được duy trì và phát triển Đó là các công trình

Nghi lễ thờ cúng tổ tiên, đền chùa miếu phủ của tác giả Trương Thìn [79]; Phật giáo trong lòng người Việt của tác giả Hạnh Nguyên [57]; Một vài đóng góp của Phật giáo trong văn hóa Việt Nam của Lê Đức Hạnh [27]; Tôn giáo trong mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam của Nguyễn Hồng Dương [22];,

đề tài cấp Bộ Tác động của thực hành tín ngưỡng và các hoạt động lễ hội đến

lối sống của con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập quốc tế của tác giả Nguyễn Thị Hiền [33]…

Đời sống tâm linh của một bộ phận người Việt thực hành tín ngưỡng, tham gia vào các hoạt động của lễ hội truyền thống được biểu hiện trong nhiều hình thức phong phú, mặc dù họ không theo một tôn giáo chính thống nào, nhưng họ vẫn vào chùa lễ Phật, tham dự các lễ cầu siêu, cầu an trong chùa Họ cũng đi lễ các đình, đền, phủ để cầu sức khỏe, cầu tài, cầu lộc, cầu công danh địa vị Đôi khi những cầu cúng này không phải là những điều cao siêu, giải thoát mà thể hiện mong muốn trong cuộc sống thường nhật như cầu con cái ngoan ngoãn, học

giỏi, công việc thuận lợi, may mắn, hạnh phúc [33, tr 68]

Cùng chủ đề này còn nhiều bài viết công bố trên các tạp chí, hội thảo như:

Trang 33

Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo,Tạp chí Nghiên cứu Phật học, Tạp chí Giác ngộ, Tạp chí Di sản văn hóa, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Xã hội học… tiêu biểu như

các bài viết: “Về xu hướng thế tục hóa và dân tộc hóa của Phật giáo” của tác giả Minh Chi [17], “Giá trị của sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo trong xã hội hiện đại” của tác giả Đào Thị Vinh [91], “Vai trò của Phật giáo trong đời sống văn hóa xã hội Việt Nam hiện nay” của tác giả Phạm Xuân Tài [76]…

Hướng nghiên cứu thứ tư: Nhóm công trình tập trung khai thác và khẳng

định vai trò, giá trị của văn hóa Phật giáo trong đó có hoạt động lễ chùa đồng thời cũng khẳng định sự gia tăng của các sinh hoạt Phật giáo hiện nay Công

trình luận án Tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học của Dương Thị Thu Hà Văn hóa

Thiền tông trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay [26], Giá trị và chức năng

cơ bản của Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay [18] do tác giả Hoàng

Văn Chung (chủ biên) cung cấp một số giá trị (giá trị nhận thức, giá trị đạo đức)

và chức năng cơ bản của Phật giáo bao gồm: Liên kết xã hội; hỗ trợ xã hội và

giáo dục về đạo đức và lối sống [18, tr 84]

Như vậy, có thể khẳng định trong nghiên cứu về lễ chùa trước đến nay

có một số điểm nổi bật như sau:

Về lí thuyết nghiên cứu: Các công trình sử dụng các lí thuyết chính như:

Lí thuyết chức năng xã hội, lí thuyết trao đổi xã hội…

Về phương pháp tiếp cận: Có sự đa dạng với các cách tiếp cận: Tôn giáo học, xã hội học và văn hóa học

Về phương pháp nghiên cứu: Hầu hết các công trình điều vận dụng các phương pháp định tính như: Quan sát, phỏng vấn kết hợp với miêu tả, phân tích, diễn giải để vẽ lên bức tranh về sinh hoạt lễ chùa nói riêng và sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng nói chung

Về nội dung nghiên cứu: Đặt trong bối cảnh sau Đổi mới và sự phát triển của kinh tế thị trường, các công trình trên phản ánh 5 nội dung chính liên quan

Trang 34

đến hoạt động lễ chùa Cụ thể như sau: (1) Các công trình khẳng định sự phát

triển và gia tăng của các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng nói chung và hoạt động lễ chùa nói riêng (2) Một số công trình tập trung phản ánh sự đa dạng

của cơ cấu xã hội của cộng đồng người đi lễ chùa Nhìn chung, các tác giả đánh

giá nhóm người đi lễ chùa có cơ cấu độ tuổi ngày càng trẻ hơn so với trước đây,

tỉ lệ nam giới tham gia hoạt động lễ chùa cũng nhiều hơn trước (3) Phản ánh

đa dạng nguyên nhân, động cơ thúc đẩy hoạt động lễ chùa như đáp ứng nhu

cầu cầu mong những điều tốt đẹp cho cuộc sống, giao lưu kết bạn, giảm stress…

(4) Các công trình hướng dẫn, giới thiệu về các nghi lễ cũng như chỉ dẫn thực

hành nghi lễ tại chùa theo quan điểm và nguyên tắc của nhà Phật (5) Các công

trình nghiên cứu tập trung phản ánh hiện tượng lễ chùa và khẳng định vai trò

chức năng của hoạt động lễ chùa trong đời sống tinh thần của một bộ phận

quần chúng nhân dân Lễ chùa đặc biệt lễ chùa đầu xuân là một nét đẹp trong

đời sống văn hóa tinh thần của người Việt từ bao đời nay cần được giữ gìn, bảo

tồn và phát huy

1.1.2.2 Các công trình liên quan đến biến đổi thực hành lễ chùa

Trong các công trình liên quan về biến đổi tôn giáo tín ngưỡng khá đa dạng, tuy nhiên những công trình đề cập đến biến đổi của thực hành lễ chùa còn khan hiếm

Nghiên cứu lễ chùa sau Đổi mới với sự cởi mở của chính sách tôn giáo

và bối cảnh kinh tế thị trường, các công trình đề cập đến những thay đổi thay

đổi trong đồ lễ của người đi lễ chùa: tiền đang trở thành một loại đồ lễ mới [37,

tr 141] Cùng với đó, tác giả Nguyễn Thị Minh Ngọc và Nguyễn Mạnh Cường khẳng định công đức tại một số chùa hiện nay còn nhiều nghịch lí khi “không

ít người trong nền kinh tế thị thường đi chùa để tìm về với truyền thống, nhưng những đồng tiền mà họ công đức lại đang hàng ngày hàng giờ được sử dụng để gặm nhấm cái truyền thống đó và biến các ngôi chùa truyền thống này thành

Trang 35

những ngôi chùa hiện đại” [20, tr 55] Đặc biệt, bối cảnh kinh tế thị trường đã

thúc đẩy sự xuất hiện của các “dịch vụ tâm linh” để đáp ứng nhu cầu của

nhân dân tại các chùa hiện nay như: cúng sao giải hạn đầu năm, cầu siêu, cầu

an, bán khoán, cắt giải tiền duyên…[51]

Đề cập đến biến đổi lễ chùa trong bối cảnh Internet và sự phát triển của công nghệ thông tin, tác giả Mai Thị Hạnh có bài viết “Chùa online và vấn đề hiện đại hóa Phật giáo trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại” (2014) [28] Trong đó, ngôi chùa online được tác giả giới thiệu: “Ngôi chùa này được thành lập bởi trang mạng của tuvien.com, là cổng thông tin của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Với tiêu chí là nơi để Phật tử thắp hương niệm Phật khi chưa có điều kiện đến chùa, chùa online đang đón hàng nghìn Phật tử tới thắp hương” [28, tr 46]

1.1.2.3 Các công trình liên quan đến thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19

Nổi bật nhất là nhóm công trình bàn về tác động của đại dịch Covid-19 đối với hoạt động tôn giáo tín ngưỡng và thực hành lễ chùa Các công trình tập

trung phản ánh cách ứng phó, chung tay gây quỹ góp phần đẩy lùi đại dịch và công tác thực hiện phòng chống dịch tại các cơ sở tôn giáo Song song với đó

là cập nhật tình hình thực hiện phòng chống đại dịch tại các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng Tiêu biểu như các bài viết “Tôn giáo đồng hành với dân tộc trong cuộc

chiến chống đại dịch” của tác giả Mai Lan (2021) [121], “Các tổ chức tôn giáo

phát huy vai trò, trách nhiệm trong công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19” của tác giả Trần Hữu Tuấn (2020) [138], “Tôn giáo phát huy nguồn lực đồng

hành cùng cả nước chống đại dịch Covid-19” của tác giả Lê Thị Liên (2021) [123]…

Bên cạnh đó, một số ít các công trình nghiên cứu về hoạt động truyền bá, thúc đẩy các hoạt động Phật sự trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội trong bối cảnh đại dịch Covid-19 như bài viết “Ra mắt mạng xã hội Phật giáo

Việt Nam Butta.vn” (2019) của Đức Văn [140]; “Đi chùa online thời

Trang 36

Covid-19” (2021) của tác giả Việt Văn [141], “Lễ hội Phật giáo đầu xuân xưa và nay”

(2021) từ nguồn Vụ Phật giáo - Ban Tôn giáo Chính phủ [143], bài phỏng vấn nhà nghiên cứu Chu Văn Tuấn với chủ đề “Nghi lễ tôn giáo trực tuyến đáp ứng

nhu cầu tín ngưỡng” (2021) của tác giả Mai Hà [114]… Nhóm các công trình

này chỉ ra hoạt động tôn giáo đang được định hình bởi các điều kiện trong bối cảnh đại dịch Trong bối cảnh dịch bệnh, có sự thay đổi khi cộng đồng ở nhà

để thực hiện lễ chùa thay vì đến trực tiếp tại chùa trước kia Phật tử và người đi

lễ chùa được hỗ trợ tại nhà thông qua các sự kiện trên truyền hình và các công

cụ trên Internet…

Có thể thấy những nghiên cứu về biến đổi thực hành lễ chùa trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt là dưới tác động của đại dịch Covid-19 còn rất hạn chế Các công trình đa phần là các bài viết, bài phóng sự… chủ yếu dừng lại ở hai nội dung chính: (1) Các hoạt động chung tay vì cộng đồng của Phật giáo nói riêng và các tôn giáo nói chung trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 (2) Phản ánh sự phát triển của các công cụ xã hội để đáp ứng nhu cầu lễ chùa online của người dân trong bối cảnh đại dịch và tiềm năng sáng tạo của thời đại công nghệ số

Tóm lại, từ sự tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài cho thấy: Hiện nay đã có những công trình nghiên cứu về biến đổi tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam nói chung và biến đổi thực hành lễ chùa nói riêng chủ yếu là những biến đổi do chịu tác động của kinh tế thị trường, biến đổi sau Đổi mới với chính sách tôn giáo cởi mở của Nhà nước Bên cạnh đó là một số ít công trình về biến đổi trong bối cảnh internet Nhưng những biến đổi về thực hành lễ chùa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 thì thiếu vắng

Hiện tượng đi lễ chùa tuy được nhiều lĩnh vực khoa học quan tâm nhưng theo hướng tiếp cận văn hóa học ở một quy mô cần thiết thì chưa có Có thể khẳng định, cho đến thời điểm hiện tại những công trình nghiên cứu về biến

Trang 37

đổi thực hành lễ chùa còn rất tương đối hạn chế, đặc biệt là những biến đổi của thực hành lễ chùa hiện nay với những tác động đến từ đại dịch Covid-19, các mạng công nghệ 4.0 thì thật sự là một “khoảng trống” cần được đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu, khai thác Những thay đổi cụ thể về thời gian, không gian, tần suất, hình thức… thực hành lễ chùa những năm gần đây chưa được đi sâu, nghiên cứu Do đó, việc khảo sát về sự biến đổi thực hành lễ chùa trong bối cảnh hiện nay dưới góc nhìn văn hóa học là thực sự cần thiết

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Các khái niệm công cụ

1.2.1.1 Lễ chùa

Lễ chùa là một sinh hoạt Phật giáo đồng thời cũng là hoạt động văn hóa

in đậm, hòa quyện làm một với tập tục đời sống của dân tộc Lễ chùa là chỉ những thực hành nghi lễ của người dân tại chùa Để hiểu rõ hơn về “lễ chùa” chúng ta tìm hiểu nghĩa của “lễ” và “chùa”

Khái niệm lễ: Trong Từ điển Hán Việt, tác giả Đào Duy Anh nêu “Lễ là

cách bày tỏ kính ý” [3, tr 235] Có thể hiểu, kính ý chính là lòng thành kính

Lễ gồm có lễ độ âm (lễ cho người chết), lễ độ dương (lễ cho người sống, có thể cho bản thân mình hoặc người khác) nhằm nhiều mục đích như cầu bình an (khi

gặp nạn), cầu đảo bệnh (khi ốm đau bệnh tật), cầu phúc thọ, cầu tài lộc… Sổ

tay từ Hán - Việt giải thích “Lễ là nghi thức chung theo tập quán xã hội” [59,

tr 147] Cùng chung quan điểm này, tác giả Nguyễn Như Ý trong Đại từ điển

tiếng Việt giải nghĩa về “lễ” có trường nghĩa là: “Tham dự các nghi thức tôn

giáo: đi lễ chùa” [91, tr 1008] Từ điển Phật học cụ thể hóa về Lễ hoặc Nghi

lễ: “Nội dung của một buổi lễ bao gồm có dâng phẩm vật, hương hoa và niệm Các nghi lễ trong đạo Phật thay đổi từ nước này qua nước khác Những buổi hành lễ gồm có tụng niệm, tay bắt ấn, niệm danh hiệu các vị Phật cũng như thiết tưởng linh ảnh” [89, tr 231]

Trang 38

Như vậy, lễ là hành vi tôn giáo cơ bản nhất mang tính chất thờ phụng của một tôn giáo Không có một tôn giáo nào tồn tại mà không có lễ Lễ/Nghi

lễ có tác dụng dẫn người tham gia đến với đối tượng họ thờ cúng, đến với tôn giáo mà họ lựa chọn và ở chiều ngược lại thế giới siêu linh của tôn giáo cũng đến với người tham gia Nghi lễ có thể thể hiện niềm tin tôn giáo của con người, bày tỏ lòng thành kính đối với đối tượng được thờ phụng hoặc bày tỏ sở nguyện, mong muốn của người thực hành lễ

Khái niệm chùa: Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa chùa “là ngôi nhà dùng

làm nơi thờ Phật, thường lợp ngói, mái uốn cong” [94, tr 396] Cùng cách hiểu theo ý nghĩa chức năng này, tác giả Thích Minh Châu trong Từ điển Phật học

Việt Nam nêu: “Chùa là nơi thờ Phật, nơi tu học của tăng ni” [16, tr 132] Từ điển Hán - Việt định nghĩa: “Chùa - tự gồm 2 thành tố “thổ” và “thốn”, nghĩa

là tấc đất” [2, tr 339] Chùa chính là mảnh đất đầu tiên nơi Đức Ông (tên đầy

đủ là Đức Ông Trưởng giả Cấp Cô độc) dâng cúng để Đức Phật dùng làm nơi thuyết pháp cho chúng sinh

Trên thực tế ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng, chùa không chỉ thờ Phật mà còn có sự hiện diện của tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ Thánh, tín ngưỡng thờ thần… Ví như chùa Thầy, chùa Láng (Hà Nội) thờ Thánh sư Từ Đạo Hạnh; chùa Dâu, chùa Đậu (Bắc Ninh), chùa Nành (Gia Lâm,

Hà Nội), chùa Sét (Hai Bà Trưng, Hà Nội) thờ Tứ Pháp… và hiện nay “hầu hết các ngôi chùa ở Hà Nội đều có gian thờ Mẫu” [25, tr 42]

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định: Chùa là công trình kiến trúc dùng làm nơi thờ Phật và một số tín ngưỡng dân gian bản địa như tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ Thánh, tín ngưỡng thờ thần… đồng thời chùa cũng là địa điểm để thực hành các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo Chùa là cơ sở hoạt động

và truyền bá Phật giáo Các tín đồ của đạo Phật hay những người dân tuy không

phải là Phật tử nhưng có niềm tin vào Phật cũng thường đến chùa dâng hương

Trang 39

lễ Phật vào ngày mười rằm, mồng một hàng tháng Lên chùa lễ Phật không chỉ

là nhu cầu của Phật tử - những người theo đạo Phật mà còn là nhu cầu của rất

nhiều người dân Việt Nam

Tóm lại, từ những cơ sở trên, chúng ta có thể hiểu “lễ chùa” một cách

đơn giản như sau: Lễ chùa là sinh hoạt tôn giáo/nghi thức tôn giáo mà các tín

đồ Phật tử hay người dân đến chùa để cúng bái Phật và hệ thống đối tượng bổ trợ (Thánh/Mẫu/Thần…) Người tham gia dâng vật phẩm, hương hoa hay khấn vái để bày tỏ thành kính đồng thời có thể thể hiện mong muốn, nguyện cầu của bản thân/gia đình trước Phật, Thánh, Mẫu… được thờ tự tại chùa

Ở đề tài nghiên cứu này, khái niệm “lễ chùa” được sử dụng đồng nghĩa với

các cách gọi quen thuộc, phổ biến khác trong dân gian như: “lên chùa”, “đi chùa”,

“đi lễ chùa”…

1.2.1.2 Thực hành lễ chùa

Thực hành tôn giáo có mặt ở mọi tôn giáo và là một bộ phận không thể

thiếu ở bất kì tôn giáo nào Thực hành tôn giáo được lặp đi lặp lại trong nhân dân/cộng đồng để khơi dậy niềm tin và nhắc nhở về sự hiện diện của các đối tượng thiêng

Thực hành tôn giáo được thực hiện bởi cá nhân hoặc các nhóm tập thể khác nhau và được biểu hiện bằng những hành vi khác nhau Thực hành tôn giáo có thể là thực hiện nghi thức tế lễ tại không gian tôn giáo hoặc cầu nguyện bằng một số động tác… “Trong tất cả thực hành tôn giáo, quan trọng bậc nhất

và cơ bản nhất chính là thực hành nghi lễ Thực hành nghi lễ tôn giáo nhằm thỏa mãn một yêu cầu phi trần tục và giúp tín đồ có một đảm bảo an toàn trong cuộc sống đạo cũng như đời” [50]

Như vậy, trên cơ sở hiểu biết về thực hành tôn giáo có thể hiểu thực hành

lễ chùa là sinh hoạt cơ bản và quan trọng không thể thiếu trong Phật giáo Thực

hành lễ chùa là cách thức để Phật tử, cộng đồng liên hệ với các đấng thiêng (ở

Trang 40

đây là Phật và các đối tượng bổ trợ (Thánh, Mẫu…) Thực hành lễ chùa được thực hiện bởi các cá nhân hoặc tập thể bằng chuỗi hành vi “lễ chùa” Mà cụ thể

ở đây là chuỗi hành vi bao gồm: Dâng đồ lễ/vật phẩm hay khấn vái, bày tỏ thành kính/nguyện cầu của bản thân/gia đình trước Phật, Thánh, Mẫu nhằm thỏa mãn nhu cầu phi trần tục của cá nhân/cộng đồng thực hiện nghi lễ

1.2.1.3 Biến đổi thực hành lễ chùa

“Biến đổi” là một cặp từ Hán - Việt đồng nghĩa chỉ sự thay đổi Trong

Đại từ điển tiếng Việt, tác giả Nguyễn Như Ý giải thích biến đổi là “thay đổi

khác đi, thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác” [94, tr 159] Như vậy,

chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản: “Biến đổi là thay đổi thành ra khác

trước” Khái niệm biến đổi này, trước kia chủ yếu sử dụng trong khoa học tự

nhiên với lĩnh vực toán học, vật lí, hóa học… để chỉ sự thay đổi độc lập của phương trình dạng này sang phương trình dạng khác, nguyên tố này sang nguyên

tố khác Hiện nay, chúng ta có thể thấy khái niệm “biến đổi” đã được sử dụng phổ biến trong khoa học xã hội để chỉ những thay đổi trong cấu trúc của một loại hình/thiết chế/tồn tại xã hội như: Biến đổi xã hội, biến đổi lối sống, biến đổi tôn giáo tín ngưỡng…

Nghiên cứu về xu hướng biến đổi của tôn giáo, tín ngưỡng đang là vấn

đề được nhiều lĩnh vực quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây: Sự biến

đổi của tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay (2008) [48], Biến đổi tín ngưỡng của cư dân ven biển Đà Nẵng trong quá trình đô thị hóa (2017) [31], Tín ngưỡng của cư dân xã đảo Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (2019) [73], Biến đổi tôn giáo dân gian trong chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay (2021) [51]… Những biến đổi trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng

chính là tấm gương phản chiếu những biến đổi của lịch sử và xã hội

Biến đổi tôn giáo và đời sống tôn giáo biểu hiện đa chiều qua ba khía cạnh: (1) Biến đổi niềm tin tôn giáo, (2) Biến đổi thực hành tôn giáo và (3)

Ngày đăng: 12/09/2022, 20:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tổng Cục Thống kê (2021), Báo cáo tình hình kinh tế - Xã hội quý IV và năm 2021, Tổng Cục Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kinh tế - Xã hội quý IV và năm 2021
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tổng Cục Thống kê
Năm: 2021
14. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng Cục Thống kê, (2021), Báo cáo tác động của dịch Covid-19 đến tình hình lao động, việc làm quý III năm 2021, Tổng Cục Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tác động của dịch Covid-19 đến tình hình lao động, việc làm quý III năm 2021
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng Cục Thống kê
Năm: 2021
15. Nguyễn Phương Châm (2011), Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay (trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay (trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2011
16. Thích Minh Châu (chủ biên) (1991), Từ điển Phật học Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Phật học Việt Nam
Tác giả: Thích Minh Châu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1991
17. Minh Chi (2001), “Về xu hướng thế tục hóa và dân tộc hóa của Phật giáo”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 3, tr. 26-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xu hướng thế tục hóa và dân tộc hóa của Phật giáo”, Tạp chí" Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Minh Chi
Năm: 2001
18. Hoàng Văn Chung (2019), Giá trị và chức năng cơ bản của Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị và chức năng cơ bản của Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hoàng Văn Chung
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2019
19. Trương Văn Chung, Nguyễn Công Lý, Thích Nhật Từ, Thích Bửu Chánh (2015), Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế Phật giáo vùng Mê - Kông:Ý thức môi trường và toàn cầu hóa, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo vùng Mê - Kông: "Ý thức môi trường và toàn cầu hóa
Tác giả: Trương Văn Chung, Nguyễn Công Lý, Thích Nhật Từ, Thích Bửu Chánh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
20. Nguyễn Mạnh Cường và Nguyễn Thị Minh Ngọc (2007), “Công đức vào chùa ở Hà Nội những nghịch lí của một xã hội hiện đại”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 7, tr. 49-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công đức vào chùa ở Hà Nội những nghịch lí của một xã hội hiện đại”, Tạp chí" Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường và Nguyễn Thị Minh Ngọc
Năm: 2007
21. Thích Thanh Duệ (2002), Tập tục và nghi lễ dâng hương, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập tục và nghi lễ dâng hương
Tác giả: Thích Thanh Duệ
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2002
22. Nguyễn Hồng Dương (2013), Tôn giáo trong Văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo trong Văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2013
23. Lê Tâm Đắc (2012), “Góp phần bàn về đối tượng thờ phụng trong các ngôi chùa Việt truyền thống ở miền Bắc”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2, tr. 42-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần bàn về đối tượng thờ phụng trong các ngôi chùa Việt truyền thống ở miền Bắc”, Tạp chí" Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Lê Tâm Đắc
Năm: 2012
24. Ngô Quốc Đông (2018), “Vài nét về thực hành tôn giáo trong gia đình tôn giáo ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 11, tr. 3-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về thực hành tôn giáo trong gia đình tôn giáo ở Việt Nam”, Tạp chí "Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Ngô Quốc Đông
Năm: 2018
25. Hoàng Giáp (chủ biên) (2007), Di tích lịch sử văn hóa đình - chùa Hà, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử văn hóa đình - chùa Hà
Tác giả: Hoàng Giáp (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
26. Dương Thị Thu Hà (2016), Văn hóa Thiền tông trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Văn hóa học, Thư viện Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Thiền tông trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
Tác giả: Dương Thị Thu Hà
Năm: 2016
27. Lê Đức Hạnh (2005), “Một vài đóng góp của Phật giáo trong văn hóa Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5, tr. 16-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài đóng góp của Phật giáo trong văn hóa Việt Nam”, Tạp chí "Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Lê Đức Hạnh
Năm: 2005
28. Mai Thị Hạnh (2014), “Chùa online và vấn đề hiện đại hóa Phật giáo trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 12 (138), tr. 46-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa online và vấn đề hiện đại hóa Phật giáo trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại”, Tạp chí" Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Mai Thị Hạnh
Năm: 2014
29. Trần Thị Thúy Hằng (2015), Các yếu tố tác động đến hoạt động đi lễ chùa (Qua khảo sát tại chùa Từ Đàm, thành phố Huế), Đề tài cấp Cơ sở, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố tác động đến hoạt động đi lễ chùa (Qua khảo sát tại chùa Từ Đàm, thành phố Huế)
Tác giả: Trần Thị Thúy Hằng
Năm: 2015
30. Đỗ Lan Hiền (2018), Cẩm nang về tín ngưỡng, tôn giáo, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang về tín ngưỡng, tôn giáo
Tác giả: Đỗ Lan Hiền
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2018
31. Lê Thị Thu Hiền (2017), Biến đổi tín ngưỡng của cư dân ven biển Đà Nẵng trong quá trình đô thị hóa, Luận án tiến sĩ Văn hóa học, Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi tín ngưỡng của cư dân ven biển Đà Nẵng trong quá trình đô thị hóa
Tác giả: Lê Thị Thu Hiền
Năm: 2017
32. Nguyễn Thị Hiền (2015), “Câu chuyện “Cô Đa Đai”: Thực hành tôn giáo tại một ngôi chùa Mật tông ở Hà Nội”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 04 (142), tr. 46-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện “Cô Đa Đai”: Thực hành tôn giáo tại một ngôi chùa Mật tông ở Hà Nội”, Tạp chí "Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2015

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w