1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích hoạt động thẩm tra dự thảo Luật Soạn thảo văn bản bổ nhiệm cán bộ

13 26 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 47,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề bài Câu 1 Phân tích hoạt động thẩm tra dự thảo Luật Câu 2 Soạn thảo văn bản pháp luật để chủ thể có thẩm quyền bổ nhiệm ông Nguyễn Văn A làm Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa dân tộc, Bộ Văn hóa – Thể thao.

Trang 1

Đề bài:

Câu 1 Phân tích hoạt động thẩm tra dự thảo Luật

Câu 2 Soạn thảo văn bản pháp luật để chủ thể có thẩm quyền bổ nhiệm ông

Nguyễn Văn A làm Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa dân tộc, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 Câu 1 Phân tích hoạt động thẩm tra dự thảo Luật 1 Câu 2 Soạn thảo văn bản pháp luật để chủ thể có thẩm quyền bổ nhiệm ông Nguyễn Văn A làm Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa dân tộc, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch 9 KẾT LUẬN 10 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 2

MỞ ĐẦU

Hoạt động thẩm tra có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật Trước hết, hoạt động thẩm tra là giải pháp nâng cao chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật, đóng vai trò “đi trước” là

“phương thức” mang tính chất phòng ngừa và mang lại hiệu quả nhất định Thông qua hoạt động thẩm tra giúp chủ thể ban hành dễ dàng đánh giá, xem xét tính hợp hiến, hợp pháp và khả thi của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có trọng tâm, đúng pháp luật Soạn thảo văn bản pháp luật cũng là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao vai trò quản lý nhà nước Do đó, thông qua đề bài tiểu luận dưới đây, em xin làm rõ thêm những vấn đề đã đề cập ở trên:

Câu 1 (5 điểm): Phân tích hoạt động thẩm tra dự thảo Luật

Câu 2 (5 điểm): Soạn thảo văn bản pháp luật để chủ thể có thẩm quyền bổ

nhiện ông Nguyễn Văn A làm Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa dân tộc, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch

NỘI DUNG Câu 1 Phân tích hoạt động thẩm tra dự thảo Luật

a Khái niệm, ý nghĩa, vai trò của hoạt động thẩm tra

Theo tử điển tiếng Việt, “thẩm” là xem xét; “tra” là tra khảo, tra cứu, tra hỏi

“Thẩm tra” là điều tra, xem xét lại có đúng, có chính xác không Như vậy hoạt động thẩm tra dự thảo Luật là hoạt động của một chủ thể có thẩm quyền thực hiện nhằm kiểm tra, đánh giá, xem xét mọi vấn đề của dự án luật theo những tiêu chí nhất định

Nói một cách cụ thể, việc thẩm tra dự thảo luật ở Việt Nam bao gồm các hoạt động cốt lõi như xem xét, đánh giá nội dung, chính sách pháp luật, hình thức của

Trang 3

dự thảo luật và kỹ thuật pháp lý, nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ và tính khả thi của dự thảo luật Hoạt động này được tiến hành trước khi dự thảo luật được trình lên chủ thể có thẩm quyền xem xét, thông qua

Ý nghĩa, vai trò của hoạt động thẩm tra:

Thứ nhất, thẩm tra là là một trong những khâu then chốt tạo nên chất lượng của dự thảo Luật Hoạt động thẩm tra là “chốt” đầu tiên của cả quá trình xem xét, thông qua dự thảo Luật khi dự thảo được trình lên cơ quan có thẩm quyền Trên thực tế, ý kiến của cơ quan tiến hành thẩm tra có tác động không nhỏ đến các thủ tục tiếp theo trong quy trình thông qua dự thảo Luật Trường hợp báo cáo thẩm tra đưa ra ý kiến dự án, dự thảo chưa đủ điều kiện để trình thì sẽ trả lại hồ sơ cho cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện

Thứ hai, hoạt động thẩm tra là cơ sở đảm bảo chất lượng trong hoạt động xây dựng Luật Kết quả của hoạt động thẩm tra là tiền đề để các cơ quan hữu quan, đặc biệt là cơ quan có thẩm quyền ban hành sẽ có thêm cơ sở để xem xét và quyết định thông qua dự thảo Luật một cách toàn diện, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật

Thứ ba, thẩm tra là cơ chế đảm bảo, nâng cao sự phối hợp và giám sát lẫn nhau của các cơ quan có thẩm quyền trong xây dựng dự thảo Luật Việc đặt ra thủ tục này trong quy trình xây dựng và ban hành văn bản Luật giống như một cơ chế

để kiểm soát chất lượng, hiệu quả của giai đoạn soạn thảo, vừa khiến cơ quan chủ trì cần nâng cao trách nhiệm của mình trong quá trình soạn thảo, vừa giúp họ nhìn nhận những điểm còn thiếu sót trong dự thảo Từ đó, các cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu, kịp thời sử đổi góp phần mang lại chất lượng cáo hơn cho dự thảo

Thứ tư, thông qua hoạt động thẩm tra, các cơ quan có thẩm quyền sẽ có thể nhìn ra những chính sách chưa phù hợp góp phần làm cho dự thảo Luật đáp ứng đúng với ý chí và nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với thực tiễn của cuộc sống Thể hiện vai to lớn của các cơ quan có thẩm quyền đặc biệt là cơ quan lập pháp đối với nhân dân, từ đó đưa pháp luật đến gần với cuộc sống hơn

b Nguyên tắc thẩm tra

Trang 4

Thẩm tra là hoạt động nhằm nâng cao chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật nói chung, dự thảo Luật nói riêng do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành theo những thủ tục nhất định Do đó, hoạt động này có những nguyên tắc nhất định sau:

- Nguyên tắc khách quan, khoa học: Nguyên tắc này được xuất phát từ yêu cầu đảm bảo giá trị của báo cáo thẩm tra là ý kiện độc lập của cơ quan này Chủ thể tiến hành thẩm tra không được đưa ra những nhận xét chỉ mang tính chủ quan,

mà phải dựa trên các căn cứ khách quan, có sức thuyết phục về mặt lý luận và thực tiễn khi đánh giá dự thảo Luật

- Nguyên tắc tuân thủ trình tự, thủ tục, thời hạn thẩm tra: Trình tự, thủ tục thẩm tra dự thảo Luật là cách thức tổ chức thực hiện hoạt động này theo quy định của pháp luật bao gồm các bước thực hiện, nội dung, mục đích tiến hành các công việc liên quan Thực hiện tốt nguyên tắc này nhằm đảm bảo chất lượng, tiến độ, sự minh bạch của công tác thẩm tra Đồng thời, cũng xác định được rõ trách nhiệm của người tham gia thẩm tra Theo đó, cơ quan soạn thảo phải gửi đầy đủ, đúng thời hạn hồ sơ thẩm tra, cơ quan thẩm tra có trách nhiệm tổ chức thẩm tra theo quy định pháp luật

- Nguyên tắc đảm bảo sự phối kết hợp giữa các cơ quan, các đơn vị trong quá trình thẩm tra: Đây là nguyên tắc nhằm phá vỡ tính cục bộ trong hoạt động thẩm tra nhằm đảm bảo chất lượng hiệu quả của hoạt động này Nguyên tắc này được thực hiện là việc cơ quan soạn thảo phải thuyết trình sự thảo, cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết liên quan đến dự thảo theo yêu cầu của cơ quan thẩm định Điều này tạo thuận lợi cho cơ quan thẩm tra trong việc đánh giá dự thảo Luật một cách chính xác, khách quan hơn, nhằm hạn chế việc đánh giá chỉ xuất phát từ ý chí chủ quan của chủ thể thẩm tra

c Chủ thể thẩm tra

Thẩm tra Luật được tiến hành sau giai đoạn soạn thảo, khi các chính sách đã được quy phạm hóa thành các điều khoản cụ thể

Theo quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020, thẩm quyền thẩm tra dự án, dự thảo của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thuộc về

Trang 5

Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra (còn gọi là cơ quan thẩm tra).1 Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm chủ trì thẩm tra dự án, dự thảo thuộc lĩnh vực do mình phụ trách và dự án, dự thảo khác do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội giao Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra về những nội dung liên quan đến lĩnh vực do mình phụ trách, gửi văn bản tham gia thẩm tra đến cơ quan chủ trì thẩm tra và cử đại diện tham dự phiên họp thẩm tra của cơ quan chủ trì thẩm tra

Cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm mời đại diện cơ quan tham gia thẩm tra tham dự phiên họp thẩm tra để phát biểu ý kiến về những nội dung của dự án,

dự thảo liên quan đến lĩnh vực do cơ quan đó phụ trách và những vấn đề khác thuộc nội dung của dự án, dự thảo

Cơ quan chủ trì thẩm tra có thể mời đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản tham dự cuộc họp do mình tổ chức để phát biểu ý kiến về những vấn

đề liên quan đến nội dung của dự án, dự thảo

Cơ quan thẩm tra có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình

dự án, dự thảo báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu về những vấn đề liên quan đến nội dung của dự án, dự thảo; tự mình hoặc cùng cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo tổ chức hội thảo, khảo sát về những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo

Cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu và đáp ứng các yêu cầu khác của cơ quan thẩm tra

d Nội dung của hoạt động thẩm tra 2

- Phạm vi, đối tượng điều chỉnh của văn bản Thẩm tra về phạm vi, đối tượng điều chỉnh văn bản nhằm đánh giá về các vấn đề có liên quan đến đối tượng, phạm

vi điều chỉnh của văn bản đó ở các góc độ: sự phù hợp giữa đối tượng với phạm vi điều chỉnh của dự thảo; sự phù hợp giữa đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo

1 Điều 63 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020

2 Điểu 65 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020

Trang 6

với chính sách cơ bản của dự thảo; sự phù hợp giữa đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo với các quy định cụ thể của dự thảo

- Nội dung của dự thảo văn bản và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; việc giao và chuẩn bị văn bản quy định chi tiết (nếu có)

- Sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với chủ trương, đường lối của Đảng; tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật; tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

- Tính khả thi của các quy định trong dự thảo văn bản

- Điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành văn bản quy phạm pháp luật

- Việc bảo đảm chính sách dân tộc, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo văn bản, nếu dự thảo văn bản có quy định liên quan đến vấn đề dân tộc, bình đẳng giới

- Ngôn ngữ, kỹ thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản

Trong trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm tra yêu cầu cơ quan trình dự án, dự thảo báo cáo về những vấn đề liên quan đến nội dung dự thảo

e Thời hạn thẩm tra

Đối với dự thảo Luật trình Quốc hội, chậm nhất là 30 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1, Điều 64 đến cơ quan chủ trì thẩm tra, Ủy ban Pháp luật, Ủy ban về các vấn đề xã hội và cơ quan khác tham gia thẩm tra để tiến hành thẩm tra Chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, hồ sơ

dự án, dự thảo trình Quốc hội phải được gửi đến các đại biểu Quốc hội 3 Với quy định nêu trên, thời hạn để Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội tiến hành thẩm tra một dự án luật có thể chỉ là 10 ngày

f Thực trạng thẩm tra dự thảo Luật

- Kết quả:

3 Điều 73 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020

Trang 7

Trong những năm gần đây việc thẩm tra dự thảo Luật ngày càng được quan tâm và chú trọng đặc biệt tại Quốc hội Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV vừa qua đã có rất nhiều cuộc họp để thẩm tra các dự thảo Luật mang lại kết quả rất lớn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam Cơ quan Ủy ban Pháp luật của Quộc hội đã chủ trì thẩm tra 12 dự thảo luật trong đó có những bộ luật như Luật Hành chính công, Luật Đơn vị hành chính – Kinh tế đặc biệt, Luật về Hội… Đặc biệt trong quá trình thẩm tra Luật về Hội nhận thấy vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau cần có giải pháp tổng thể hơn nên đã giao lại cho Chính phủ tiếp tục nghiên cứu, chuẩn bị Ủy ban Pháp luật Quốc hội cũng chủ trì thẩm tra một số dự thảo Luật cần sửa đổi, bổ sung sao cho kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng, nhà nước, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của hệ thống pháp luật như Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Cán

bộ, công chức và Luật Viên chức,… Bên cạnh đó, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban khác của Quốc hội cũng đã chủ trì thẩm tra đối với 69 dự thảo Luật như Luật Đường sắt (sửa đổi), Luật Du lịch (sửa đổi), Luật Thủy hải sản (sửa đổi),… giúp

Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp thu, chỉnh lý và được đánh giá cao

- Hạn chế:

Khoản 4 Điều 63 Luật Ban hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 quy định, cơ quan thẩm tra có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu về những vấn đề liên quan đến nội dung của dự án, dự thảo; tự mình hoặc cùng cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo tổ chức hội thảo, khảo sát về những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo Quá trình thực hiện quy định này cho thấy, trong một

số trường hợp, dự thảo luật đã được trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và đưa vào chương trình kỳ họp Quốc hội, phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nhưng lại thiếu các thông tin, tư liệu cần thiết và trong nhiều trường hợp, các thông tin này lại mang ý nghĩa quyết định cho việc thẩm tra của Hội đồng dân tộc, các

Ủy ban của Quốc hội Chẳng hạn như, khi soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, cơ quan soạn thảo chưa tiến hành tổng kết thực tiễn thi hành, chưa lấy ý kiến các cơ quan,

tổ chức hữu quan, chưa có ý kiến chính thức của từng thành viên Ban soạn thảo về

Trang 8

dự án mà chủ yếu là ý kiến của cơ quan chủ trì soạn thảo đối với các nội dung của

dự án hoặc chưa được thảo luận tập thể tại cơ quan có thẩm quyền trình…

Thực tế cho thấy, khi chưa có đủ thông tin, tư liệu cần thiết, nhất là ý kiến của các cơ quan có liên quan tới nội dung quy định của dự án luật, pháp lệnh mà theo yêu cầu vẫn phải tiến hành thẩm tra, thì việc xử lý các hậu quả sau đó gặp không ít khó khăn, tốn nhiều thời gian và như vậy thường là phải thẩm tra lại

Về thời hạn tiến hành thẩm tra Đối với trường hợp thẩm tra một dự án luật, thời hạn 10 ngày là quá ít để xem xét một dự án quan trọng, có tầm ảnh hưởng rộng lớn, tác động đến rất nhiều đối tượng trong xã hội Có thể chúng ta cho rằng, vấn đề quy định về thời hạn chỉ là kỹ thuật, nhưng trên thực tế, đây là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của hoạt động thẩm tra Với thời hạn được quy định, chất lượng của các báo cáo thẩm tra khó có thể đảm bảo

Trình báo cáo thẩm tra dự án luật, pháp lệnh là một trong những hệ quả quan trọng của hàng loạt các hoạt động thẩm tra của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội Việc một dự án luật, pháp lệnh được soạn thảo để trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội có bảo đảm chất lượng hay không phụ thuộc một phần không nhỏ vào chất lượng của quá trình thẩm tra

Thông thường, nội dung của báo cáo thẩm tra nêu ý kiến về: các quan điểm,

sự cần thiết phải ban hành, phạm vi quy định, đối tượng điều chỉnh, nội dung lớn của dự án, một số vấn đề cụ thể, tên gọi, bố cục dự án, kỹ thuật soạn thảo văn bản, kiến nghị một số biện pháp bảo đảm triển khai thực hiện văn bản trong cuộc sống… Một trong những yêu cầu của nội dung báo cáo thẩm tra là phải nêu lên được chính kiến, quan điểm của Hội đồng dân tộc, Ủy ban về những vấn đề được nhất trí, không nhất trí hoặc còn có ý kiến khác nhau để làm cơ sở cho đại biểu Quốc hội thảo luận và Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định Trên thực tế, các báo cáo thẩm tra không chỉ nêu lên chính kiến của Hội đồng dân tộc, Ủy ban về toàn bộ nội dung của Dự án Những ý kiến này thường được thể hiện dưới các hình thức như: ý kiến nhất trí của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban; ý kiến đa số thành viên Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban; ý kiến bảo lưu của một hoặc một số thành viên Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban…

Trang 9

Việc thể hiện được chính kiến của tập thể Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban trong báo cáo thẩm tra là rất quan trọng và cần thiết; tuy nhiên, không phải bao giờ

nó cũng được thực hiện một cách đầy đủ Sở dĩ có tình trạng này là do cách thức tổ chức thẩm tra dự án luật, pháp lệnh của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban như đã nêu trên không bảo đảm được đông đủ thành viên tham dự (có khi không đủ quá bán thành viên tham dự) Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều trường hợp báo cáo thẩm tra của Hội đồng dân tộc hoặc các Ủy ban chỉ nêu được các loại

ý kiến khác nhau chứ không nêu được ý kiến của đa số, thiểu số Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban

Ngoài ra, báo cáo thẩm tra của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội cũng cần thể hiện được ý kiến chỉ đạo của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước về những vấn đề lớn của dự án luật, pháp lệnh; trong một số trường hợp còn phải thể hiện quan điểm của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội đối với các ý kiến chỉ đạo đó Những ý kiến này vừa là cơ sở cho việc thảo luận, thông qua, vừa là phương thức để thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong công tác xây dựng pháp luật, nhất là công tác lập pháp của Quốc hội Trong trường hợp dự án được lấy ý kiến các ngành, các cơ quan hữu quan, ý kiến nhân dân, báo cáo cũng cần thể hiện được ý kiến và quan điểm của các cơ quan thẩm tra về nội dung các ý kiến đó Đây cũng là một trong những cơ sở thực tiễn quan trọng để Quốc hội, Ủy ban thường

vụ Quốc hội xem xét, quyết định thông qua dự án luật, pháp lệnh

g Một số kiến nghị hoàn thiện

Thứ nhất, Thường trực Hội đồng dân tộc hoặc các Ủy ban của Quốc hội cần báo cáo và đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội chưa đưa dự thảo Luật vào chương trình kỳ họp Quốc hội hoặc phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội; đồng thời yêu cầu cơ quan soạn thảo phải hoàn thiện các bước theo quy định của pháp luật và bảo đảm cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết trước khi tiến hành cuộc họp thẩm tra để trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định

Thứ hai, cần phải nghiên cứu và đưa ra quy định về thời hạn thẩm tra phù hợp hơn, đảm bảo cho các chủ thể có thể hoàn thành khối lượng công việc nhiều và phức tạp với chất lượng hiệu quả cao

Trang 10

Thứ ba, một báo cáo thẩm tra cần được quy định cụ thể về hình thức thể hiện, những nội dung cơ bản và đặc biệt cần nêu rõ những quan điểm của cơ quan thẩm tra đối với những vấn đề được đặt ra, giải quyết trong báo cáo thẩm tra Kinh nghiệm cho thấy, với những báo cáo thẩm tra có chất lượng tốt, quan điểm, lập luận có tính thuyết phục, rõ ràng, sẽ là một trong những căn cứ hết sức quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thảo luận, xem xét thông qua dự án luật, pháp lệnh; giúp cho đại biểu Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội căn cứ để tỏ thái độ của mình về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau và bảo đảm tiết kiệm được thời gian, vật chất trong việc xem xét, quyết định thông qua dự án luật, pháp lệnh

Câu 2 Soạn thảo văn bản pháp luật để chủ thể có thẩm quyền bổ nhiệm ông Nguyễn Văn A làm Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa dân tộc, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch.

BỘ VĂN HÓA

THỂ THAO VÀ DU LỊCH

Số: …/QĐ- BVHTTDL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội, ngày… tháng… năn 2022

QUYẾT ĐỊNH

Về việc bổ nhiệm ông Nguyễn Văn A giữ chức vụ Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa

dân tộc

————————

BỘ TRƯỞNG BỘ VĂN HÓA – THỂ THAO VÀ DU LỊCH

Căn cứ Luật tổ chức chính phủ ngày 19 tháng 06 năm 2015;

Căn cứ cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;

Căn cứ Luật Cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008;

Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức ngày 25 tháng 11 năm 2019;

Ngày đăng: 12/09/2022, 16:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Xây dựng văn bản pháp luật, NXB.Tư pháp, Hà Nội, năm 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xây dựng văn bản pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB.Tư pháp
Năm: 2021
2. Hội thảo khoa học: Góp ý dự thảo Giáo trình Kỹ năng thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội - Khoa Pháp luật Hành chính Nhà nước, Hà Nội, năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo khoa học: Góp ý dự thảo Giáo trình Kỹ năng thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Nhà XB: Trường Đại học Luật Hà Nội - Khoa Pháp luật Hành chính Nhà nước
Năm: 2019
3. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020
Năm: 2020
4. Nghị định 154/2020/NĐ-CP sửa Nghị định 34/2016 hướng dẫn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 154/2020/NĐ-CP sửa Nghị định 34/2016 hướng dẫn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Năm: 2020
5. Nghị định 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Năm: 2016
6. Báo cáo 3836/BC-UBPL14 của Ủy ban Pháp luật Quốc hội khóa XIV về tổng kết công tác của Ủy ban Pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV (2016-2021) ngày 09 tháng 02 năm 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo 3836/BC-UBPL14 của Ủy ban Pháp luật Quốc hội khóa XIV về tổng kết công tác của Ủy ban Pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV (2016-2021) ngày 09 tháng 02 năm 2021
Tác giả: Ủy ban Pháp luật Quốc hội khóa XIV
Năm: 2021

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w