1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BẤT BÌNH ĐẲNG về DIỆN TÍCH đất ĐAI TRONG hệ THỐNG PHÂN TẦNG xã hội ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY

14 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 300 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đây, mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm đi tìm xu hướng/dòng dịch chuyển đất đai tập trung vào các hộ gia đình có người ở tầng lớp lãnh đạo, quản lý đang diễn ra như thế nào.. Nguồn

Trang 1

Bất bình đẳng về diện tích đất đai trong hệ thống phân tầng xã hội

ở nông thôn Việt Nam hiện nay

Đỗ Thiên Kính

1 Ý tưởng và mục tiêu nghiên cứu

Thực trạng khiếu kiện về đất đai ở Việt Nam hiện nay đang trở thành vấn

đề xã hội nóng bỏng Gần 70% số vụ khiếu kiện có liên quan đến đất đai: “Theo

số liệu tổng hợp của Thanh tra Chính phủ, đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai bình quân hằng năm [từ 2003 đến 2010] chiếm 69,79% số đơn thư khiếu nại, tố cáo.” (Lê Sơn, 2013) Trong đó, vấn đề nổi bật là sự khiếu kiện của người dân đối với chính quyền về giả cả đền bù khi thu hồi đất Thực tiễn như vậy đã đặt ra vấn đề giữa người dân (chủ yếu là nông dân) với chính quyền (cán

bộ lãnh đạo, quản lý) có liên quan đến đất đai như thế nào?

Câu hỏi từ thực tiễn đặt ra trên đây được thể hiện trong tháp phân tầng xã hội ở Việt Nam (Đỗ Thiên Kính, 2012: 127~130) như sau:

Tầng lớp cao

Trong hình kim tự tháp này, các tầng lớp cao (trong đó có tầng lớp lãnh đạo, quản lý) sở hữu và kiểm soát nhiều loại nguồn lực của xã hội hơn cả Một trong những nguồn lực quan trọng là đất đai của quốc gia (bên cạnh nguồn lực tài chính và các nguồn lực khác) Các tầng lớp thấp (trong đó có tầng lớp nông dân) có ít nguồn

lực nhất Từ cơ sở lý thuyết về quyền sở

hữu và kiểm soát các nguồn lực một cách

Doanh nhân 2

C.Môn cao 3

Nhân viên 4

Tầng lớp giữa

(trung lưu)

Công nhân 5

B.bán-D.vụ 6

Tiểu thủ CN 7

L.động g.đơn 8

Tầng lớp thấp

bất bình đẳng như vậy giữa các tầng lớp xã hội đã gợi ra ý tưởng nghiên cứu

rằng phải chăng tầng lớp nông dân ngày càng kiểm soát ít đất đai hơn so với

tầng lớp lãnh đạo, quản lý? Từ đây, mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm đi tìm

xu hướng/dòng dịch chuyển đất đai tập trung vào các hộ gia đình có người ở tầng lớp lãnh đạo, quản lý đang diễn ra như thế nào Điều này sẽ có hàm ý gợi

mở ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu có ý nghĩa thời sự nóng hổi về tình trạng sử dụng đất đai ở Việt Nam hiện nay

2 Vài lời về phân tích và xử lý số liệu

Nghiên cứu này dựa trên kết quả xử lý 4 cuộc Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam: VHLSS 2004, 2006, 2008, 2010 Trong đó, 3 cuộc VHLSS

2004, 2006, 2008 được điều tra trên cùng một dàn khung chọn mẫu và có thể so sánh với nhau Từ năm 2010 về sau, các cuộc điều tra VHLSS được thực hiện trên dàn khung chọn mẫu mới (đầy đủ hơn) Do vậy, có thể nên lưu ý trong việc

so sánh giữa VHLSS 2010 với các cuộc VHLSS trước đó Cụ thể, khi phân tích

về đất trồng trọt, diện tích loại đất này của năm 2010 vẫn được trình bày trong

các bảng số liệu, nhưng xu hướng biến đổi của nó (thể hiện qua tỉ lệ % tăng,

Trang 2

giảm và đồ thị minh họa) thì phân tích chủ yếu cho các năm từ 2004~2008 Trong tương lai, nếu xử lý tiếp tục VHLSS 2012, 2014 thì ta có thể so sánh thêm

xu hướng biến đổi cho các năm 2010~2014 Mặt khác, đất trồng trọt là nguồn lực được thể hiện chủ yếu ở khu vực nông thôn, chứ không phải ở đô thị Do vậy, nghiên cứu này sẽ tập trung vào các loại đất trồng cây hàng năm, lâu năm, đất lâm nghiệp (bao gồm cả các loại đất đi thuê, cho thuê trong 12 tháng qua) và vườn/ao liền kề đất thổ cư được tính toán cho khu vực nông thôn thì sẽ có ý nghĩa hơn Riêng đối với bất động sản tích trữ (có mảnh đất ở, hoặc nhà ở khác) được phân tích cho cả nước và 2 khu vực nông thôn, đô thị Trong bảng hỏi VHLSS có một số câu hỏi về diện tích từng loại đất đai và bất động sản tích trữ của hộ gia đình

Nguồn lực đất đai và bất động sản tích trữ được phân tích theo từng nhóm

hộ gia đình nhằm miêu tả thực trạng bất bình đẳng về diện tích đất đai và bất động sản tích trữ giữa các hộ gia đình nông nghiệp (đại diện cho tầng lớp nông dân) và các hộ có người làm lãnh đạo, quản lý (đại diện cho tầng lớp lãnh đạo, quản lý) Điều này nhằm thực hiện ý tưởng nghiên cứu đã nêu trên đây rằng phải chăng tầng lớp nông dân ngày càng kiểm soát ít đất đai hơn so với tầng lớp lãnh đạo, quản lý? Ý tưởng này được xuất phát từ cơ sở lý thuyết về quyền sở hữu và kiểm soát các nguồn lực một cách bất bình đẳng giữa các tầng lớp trong tháp phân tầng xã hội

3 Các khái niệm

Trong nghiên cứu này, khái niệm tóm tắt một số loại đất dưới đây do

Tổng cục Thống kê (TCTK) xác định:

“- Đất sản xuất nông nghiệp: là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm.

+ Đất trồng cây hàng năm: là đất chuyên trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một (01) năm; [ ]

+ Đất trồng cây lâu năm: là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng trên một

năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch; [ ]

- Đất lâm nghiệp: Là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn

rừng, đất đang khoanh nuôi phục hồi rừng [ ], đất để trồng rừng mới [ ]

- Ao liền kề đất thổ cư: Là diện tích ao trong phạm vi đất thổ cư của hộ, không kể ao, hồ

khác ngoài đất thổ cư của hộ.

- Vườn liền kề đất thổ cư: Là diện tích đất vườn quanh nhà trong phạm vi đất thổ cư của

hộ, không kể vườn ngoài đất thổ cư của hộ.” (Tổng cục Thống kê, 2010: 57-58)

Đất trồng trọt: là khái niệm chung bao gồm cả 3 loại đất (trồng cây hàng năm, lâu năm và lâm nghiệp) trên đây Diện tích trung bình các loại đất đai và bất động sản tích trữ được tính toán cho tất cả 3 nhóm HGĐ có, hoặc không có

loại tài sản này Đối với sự phân loại thành 3 nhóm HGĐ do tác giả xác định

(dựa trên cơ sở khái niệm HGĐ nông nghiệp do TCTK xác định1):

1 “Nông nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả nuôi trồng thủy sản và lâm nghiệp (chỉ bao gồn trồng

rừng, tu bổ, cải tạo rừng và khai thác lâm sản) Hộ nông nghiệp: Là những hộ có toàn bộ hoặc phần lớn lao động

tham gia sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp) Nguồn sống chính của các thành

Trang 3

- Hộ gia đình có người làm lãnh đạo, quản lý (đại diện cho tầng lớp lãnh

đạo, quản lý): là hộ gia đình có ít nhất 01 lao động từ 15 tuổi trở lên có nghề nghiệp chính trong 12 tháng qua làm lãnh đạo, quản lý (có mã nghề nghiệp từ số

11 đến số 17 trong bảng hỏi VHLSS)

- Hộ gia đình nông nghiệp (đại diện cho tầng lớp nông dân), hoặc cách gọi khác là hộ gia đình nông dân: Loại trừ hộ có người làm lãnh đạo, quản lý ở trên, hộ gia đình nông nghiệp/nông dân là hộ gia đình có từ quá nửa của tổng số

lao động trong hộ từ 15 tuổi trở lên có nghề nghiệp chính trong 12 tháng qua làm nông, lâm nghiệp, thủy hải sản (có mã nghề nghiệp từ số 61 đến số 63 và số

92 trong bảng hỏi VHLSS) Nhóm hộ gia đình thứ ba là nhóm hộ còn lại (bao gồm những HGĐ có lao động trong hộ từ 15 tuổi trở lên và có những mã số nghề nghiệp chính còn lại, sau khi đã loại trừ các mã nghề của hai nhóm HGĐ nông dân và HGĐ có người làm lãnh đạo, quản lý) Như vậy, những hộ nào mà không có lao động từ 15 tuổi trở lên và không làm nghề chính trong 12 tháng qua thì không nằm trong các nhóm hộ được nghiên cứu ở đây (số hộ loại này trong cả nước chiếm tỉ lệ rất ít, khoảng 2~3%) Sở dĩ như vậy, bởi vì nghiên cứu muốn thông qua HGĐ để đại diện cho các tầng lớp xã hội Tỉ lệ 3 nhóm HGĐ ở

khu vực nông thôn trong VHLSS biến đổi qua các năm như sau:

Tổng (N) % (6.816) 100 (6.707) 100 (6.656) 100 (6.564) 100

Nguồn: Kết quả xử lý VHLSS 2004, 2006, 2008, 2010

Ba nhóm hộ gia đình ở bảng trên là đại diện cho những cá nhân ở khu vực nông thôn có mã nghề nghiệp chính trong 12 tháng qua (từ 15~60 tuổi và đã nghỉ

học trong 12 tháng qua) thuộc 3 nhóm các tầng lớp xã hội như sau:

Tổng (N) % (15.008)

100

(14.743) 100

(14.586) 100

(13.271) 100

Nguồn: Kết quả xử lý VHLSS 2004, 2006, 2008, 2010

Kết quả nghiên cứu trình bày dưới đây là đại diện cho toàn thể các HGĐ nông dân và HGĐ có người là lãnh đạo, quản lý (qua đó đại diện cho các tầng lớp nông dân và tầng lớp lãnh đạo, quản lý) ở khu vực nông thôn trong 2 bảng trên đây

viên trong hộ dựa vào kết quả sản xuất nông nghiệp.” (Tổng cục Thống kê, 2000: 207)

Trang 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4 Sự quản lý, sử dụng diện tích đất đai và bất động sản tích trữ của các nhóm hộ gia đình

Các loại đất đai trình bày dưới đây là đất đã giao cho HGĐ quản lý, sử dụng Ngoài ra còn có các chủ thể xã hội khác (như nông, lâm trường, quân đội

…) cũng quản lý và sử dụng nguồn lực đất đai này (nhưng không được thu thập thông tin trong VHLSS)

4.1 Đất trồng cây hàng năm

Kết quả xử lý VHLSS 2004, 2006, 2008, 2010 về diện tích đất trồng cây hàng năm của 3 nhóm HGĐ đại diện cho các tầng lớp xã hội ở khu vực nông thôn được trình bày trong Bảng 1

Bảng 1 Diện tích đất trồng cây hàng năm do các hộ gia đình quản lý và sử dụng

(khu vực nông thôn)

Đ.v = m2/người/HGĐ

Đại diện các

tầng lớp xã hội

2004 2006 2008

Tăng/

giảm (%)

(04~08)

0 500 1000 1500

2004 2006 2008

Hộ L.đạo

Hộ giữa

Hộ N.dân

Hộ L.đạo, q.lý 1084 1010 1569 44,8 1011

Hộ nông dân 1101 1174 1287 16,8 1191

Nguồn: Kết quả xử lý VHLSS 2004, 2006, 2008, 2010 (tính cho tất cả 3

nhóm HGĐ có đất, hoặc không có loại đất này)

Ở Bảng 1, ta thấy tổng diện tích đất hàng năm do các hộ gia đình (đại diện cho các tầng lớp xã hội) quản lý và sử dụng đã tăng lên 8,1% từ năm 2004 đến

2008 Nhưng, nhóm HGĐ lãnh đạo, quản lý đã tăng lên tới 44,8% (tức là gần gấp rưỡi sau 4 năm), còn nhóm HGĐ nông dân tăng được 16,8% Nhóm HGĐ ở

giữa thì giảm diện tích loại đất này Như vậy, số liệu ở Bảng 1 đã thể hiện xu hướng dịch chuyển (dòng dịch chuyển) diện tích đất trồng cây hàng năm tập trung vào nhóm HGĐ lãnh đạo, quản lý là nhiều hơn Điều này cũng được thể

hiện trên đồ thị minh họa cho thấy đường đồ thị của nhóm HGĐ lãnh đạo có xu hướng đi lên cao hơn cả

4.2 Đất trồng cây lâu năm

Tương tự loại đất trên đây, kết quả xử lý VHLSS 2004, 2006, 2008, 2010

về diện tích đất trồng cây lâu năm của 3 nhóm HGĐ đại diện cho các tầng lớp xã hội ở khu vực nông thôn được trình bày trong Bảng 2

Trang 5

Bảng 2 Diện tích đất trồng cây lâu năm do các hộ gia đình quản lý và sử dụng

(khu vực nông thôn)

Đ.v = m2/người/HGĐ

Đại diện các

tầng lớp xã hội

2004 2006 2008

Tăng/

giảm (%)

(04~08)

2010 Đất lâu năm

0 200 400 600

2004 2006 2008

Hộ L.đạo

Hộ giữa

Hộ N.dân

Hộ L.đạo, q.lý 179 522 543 203,7 360

Nguồn: Kết quả xử lý VHLSS 2004, 2006, 2008, 2010 (tính cho tất cả 3

nhóm HGĐ có đất, hoặc không có loại đất này)

Ở Bảng 2, ta thấy tổng diện tích đất lâu năm do các hộ gia đình (đại diện cho các tầng lớp xã hội) quản lý và sử dụng đã tăng lên 25,1% từ năm 2004 đến

2008 Nhưng, nhóm HGĐ lãnh đạo, quản lý đã tăng lên tới 203,7%, còn nhóm HGĐ nông dân tăng được 24,9% (tương đương mức tăng trung bình là 25,1%)

Như vậy, số liệu ở Bảng 2 cũng đã thể hiện xu hướng dịch chuyển (dòng dịch chuyển) diện tích đất trồng cây lâu năm tập trung vào nhóm HGĐ lãnh đạo, quản lý là nhiều hơn Điều này cũng được thể hiện trên đồ thị minh họa cho thấy

đường đồ thị của nhóm HGĐ lãnh đạo có xu hướng đi lên cao hơn cả Hơn nữa, đường đồ thị của nhóm HGĐ lãnh đạo, quản lý vượt nhóm HGĐ nông dân ngay

từ năm 2006 Trong khi đó, đối với đất hàng năm ở mục trên thì đến năm 2008 nhóm lãnh đạo mới vượt nhóm nông dân

4.3 Đất lâm nghiệp

Tương tự các loại đất trên đây, kết quả xử lý VHLSS 2004, 2006, 2008,

2010 về diện tích đất lâm nghiệp của 3 nhóm HGĐ đại diện cho các tầng lớp xã hội ở khu vực nông thôn được trình bày trong Bảng 3

Ở Bảng 3, ta thấy tổng diện tích đất lâm nghiệp do các hộ gia đình (đại diện cho các tầng lớp xã hội) quản lý và sử dụng đã tăng lên 53,4% từ năm 2004 đến 2010 Nhưng, nhóm HGĐ lãnh đạo, quản lý đã tăng lên tới 1.294,0% (gần gấp 13 lần) từ năm 2004 đến 2010, còn nhóm HGĐ nông dân tăng được 63,3% (cao hơn một chút so với mức tăng trung bình là 53,4%) Riêng nhóm HGĐ ở giữa có mức tăng thấp nhất diện tích loại đất này là 11,3% Như vậy, số liệu ở

Bảng 3 cũng tiếp tục thể hiện xu hướng dịch chuyển (dòng dịch chuyển) diện tích đất lâm nghiệp tập trung vào nhóm HGĐ lãnh đạo, quản lý là nhiều hơn và nhanh hơn so với 2 loại đất trồng cây hàng năm và lâu năm ở trên Điều này

cũng được thể hiện trên đồ thị minh họa cho thấy đường đồ thị của nhóm HGĐ lãnh đạo có xu hướng vút lên cao và nhanh hơn (thể hiện qua đường đồ thị có độ dốc lớn hơn)

Trang 6

Bảng 3 Diện tích đất lâm nghiệp do các hộ gia đình quản lý và sử dụng (khu

vực nông thôn)

Đ.v = m2/người/HGĐ

Đại diện các

tầng lớp xã hội

2004 2006 2008 2010

Tăng (%) (04~10)

Đất lâm nghiệp

0 1000 2000 3000

2004 2006 2008 2010

Hộ L.đạo

Hộ giữa

Hộ N.dân

Hộ L.đạo, q.lý

192 248 1289 2679 1.294, 0

Nguồn: Kết quả xử lý VHLSS 2004, 2006, 2008, 2010 (tính cho tất cả 3

nhóm HGĐ có đất, hoặc không có loại đất này)

4.4 Vườn, ao liền kề với đất thổ cư

Tương tự các loại đất trên đây, kết quả xử lý VHLSS 2004, 2006, 2008,

2010 về diện tích đất vườn, ao liền kề với đất ở (không tính đất vườn, ao bên ngoài đất thổ cư) của 3 nhóm HGĐ đại diện cho các tầng lớp xã hội ở khu vực nông thôn được trình bày trong Bảng 4

Bảng 4 Diện tích đất vườn, ao liền kề với đất ở do các hộ gia đình quản lý và sử

dụng (khu vực nông thôn)

Đ.v = m2/người/HGĐ

Đại diện các

tầng lớp xã hội

2004 2006 2008

Tăng/

giảm (%)

(04~08)

2010

Đất vườn, ao

0 50 100 150

2004 2006 2008

Hộ L.đạo

Hộ giữa

Hộ N.dân

Nguồn: Kết quả xử lý VHLSS 2004, 2006, 2008, 2010 (tính cho tất cả 3

nhóm HGĐ có đất vườn/ao, hoặc không có loại đất vườn/ao này)

Ở Bảng 4, ta thấy xu hướng chung là giảm diện tích đất vườn, ao từ năm

2004 đến 2008 (tỉ lệ giảm là - 32,5%) Điều này cho thấy xu hướng giảm bớt diện tích đất vườn, ao của các HGĐ Có lẽ xu hướng giảm này phản ánh quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất vườn, ao trở thành đất ở nhằm tăng giá trị của đất đai? Phải chăng điều này cũng phù hợp với những cơn sốt đất đai nổi lên trong các năm gần đây? Nhưng, riêng nhóm HGĐ lãnh đạo, quản lý lại tăng tới 52,2% Còn nhóm HGĐ nông dân có xu hướng ngược lại là giảm (- 28,0%) Nếu tiếp tục mở rộng tính toán tỉ lệ tăng/giảm diện tích loại đất này đến năm 2010 (so với năm 2004), thì nó cũng vẫn thể hiện xu hướng tăng/giảm tương tự (mặc

dù mẫu khảo sát của VHLSS 2010 là khác với các VHLSS trước đó) Như vậy,

Trang 7

số liệu ở Bảng 4 cũng đã thể hiện xu hướng dịch chuyển (dòng dịch chuyển) diện tích đất vườn, ao liền kề với đất ở tập trung vào nhóm HGĐ lãnh đạo, quản

lý là nhiều hơn Điều này cũng được thể hiện trên đồ thị minh họa cho thấy

đường đồ thị của nhóm HGĐ lãnh đạo có xu hướng đi lên, còn nhóm HGĐ nông dân thì không như vậy

4.5 Mảnh đất ở, hoặc nhà ở khác

Ngoài nơi ở chính hiện tại, VHLSS có thu thập thông tin về nơi ở thứ 2 trở lên, hoặc mảnh đất ở khác nữa Kết quả xử lý VHLSS 2004, 2006, 2008,

2010 về số hộ gia đình có mảnh đất ở, hoặc nhà ở khác của 3 nhóm HGĐ đại diện cho các tầng lớp xã hội trong cả nước và 2 khu vực nông thôn, đô thị như được trình bày trong Bảng 5 và đồ thị Hình 1 tương ứng

Bảng 5 Tỉ lệ hộ gia đình có mảnh đất ở, hoặc nhà ở khác

Đ.v = %

Đại diện các

tầng lớp XH

2004 2006 2008 2010 2004 2006 2008 2010 2004 2006 2008 2010

Nguồn: Kết quả xử lý VHLSS 2004, 2006, 2008, 2010

Cả nước

0

5

10

15

20

2004 2006 2008 2010

Hộ L.đạo

Hộ giữa

Hộ N.dân

Đô thị

0 10 20 30

2004 2006 2008 2010

Hộ L.đạo

Hộ giữa

Hộ N.dân

Nông thôn

0 5 10 15 20

2004 2006 2008 2010

Hộ L.đạo

Hộ giữa

Hộ N.dân

Hình 1 Tỉ lệ hộ gia đình (cả nước, đô thị và nông thôn) có mảnh đất ở, hoặc nhà

ở khác

Đồ thị Hình 1 thể hiện nguồn số liệu ở Bảng 5 và cho thấy rằng đường đồ thị của nhóm HGĐ lãnh đạo, quản lý luôn nằm trên cùng (cao nhất) và nhóm HGĐ nông dân nằm dưới cùng (thấp nhất) Xu hướng chung của cả nước là bất bình đẳng tăng lên cho đến năm 2010 (đường đồ thị loe ra) Trong đó, ở khu vực

đô thị nguồn bất động sản tích trữ này tăng mạnh ở nhóm HGĐ lãnh đạo (26,8%) vào năm 2010 Ở khu vực nông thôn thì không như vậy (2010): nhóm HGĐ lãnh đạo giảm chỉ còn bằng nửa (13,2%) khu vực đô thị (26,8%) Từ đây,

câu hỏi đặt ra là phải chăng sự tăng nhanh của nguồn bất động sản tích trữ đối với nhóm HGĐ lãnh đạo vào năm 2010 ở khu vực đô thị là sự phản ánh cơn sốt đất đai ở Việt Nam lên đến đỉnh điểm vào năm 2010? Từ đó (2011) đến nay

(2014), thị trường bất động sản rơi vào tình trạng đóng băng và chưa phục hồi trở lại Phải chăng cơn sốt đất đai (2010) đã làm cho nhóm HGĐ lãnh đạo, quản

lý có nhiều tiền đầu tư vào nguồn bất động sản tích trữ này? Nếu đúng như vậy,

Trang 8

thì nguồn lực tài chính (tiền tệ) được tập trung nhiều vào nhóm HGĐ lãnh đạo, quản lý và biểu hiện dưới dạng bất động sản tích trữ tăng lên mạnh vào năm

2010 ở khu vực đô thị là khá rõ ràng Nguồn dữ liệu minh họa từ Báo điện tử VietNamNet trong Hộp 1 dưới đây sẽ thể hiện rõ thêm nữa phần nào cho điều

này ở Việt Nam hiện nay Đến đây, lý thuyết phân tầng xã hội cho rằng lợi thế

về quyền lực đã gắn liền (tương quan) với tài sản được thể hiện rõ ở đồ thị Hình

1 của Bảng 5

QUAN CHỨC CÓ NHIỀU BẤT ĐỘNG SẢN

Chỉ có Việt Nam "bảo mật" tài sản quan chức?

Lan Hương (Báo điện tử VietNamNet, ngày 03-04-2014)

LTS: Quan chức có nên/được/phải giàu hơn người dân không? Tài sản của những người đang/

đã là lãnh đạo có cần được công khai minh bạch về nguồn gốc tài chính, người dân cần được tạo điều kiện hơn để thực hiện quyền giám sát của mình là nội dung trao đổi của GS.TS Đặng Hùng Võ với Tuần Việt Nam.

Người dân nổi giận là tất yếu

[PV Lan Hương hỏi]: Có một thực tế là suốt thời gian qua, mỗi khi truyền thông đưa tin hình

ảnh đất đai, nhà cửa, tài sản lớn của quan chức, người dân thường bày tỏ thái độ phản ứng Ông lý giải ra sao về sự giận dữ đó?

[GS.TS Đặng Hùng Võ trả lời]: Trên thực tế, chúng ta vẫn thấy nhân dân rất giận dữ mỗi khi nghe thông tin về sự giàu có của quan chức này hay quan chức khác, ngay cả khi họ chưa hiểu

rõ ngọn ngành sự giàu có đó Người dân ngay lập tức đã kết luận đó là do tham nhũng mà có.

Xét về lô-gíc tư duy, sự giận dữ đó là thiếu cơ sở […] Đó cũng là quy luật tất yếu thôi, vì người ta thấy cứ làm quan chức là giàu […] Cứ nhìn các cán bộ ăn tiêu xa hoa thì họ bực mình là đương nhiên Trên giấy tờ thì thu nhập chính thức của cán bộ không hơn người lao động bình thường bao nhiêu Nhưng trên thực tế thì người lao động bình thường chỉ dám ăn bát bún dăm nghìn, nhưng một quan chức lại có thể đàng hoàng đi ô-tô xịn, ăn bát phở đặc biệt vài trăm nghìn Khi người dân nhìn thấy sự chi tiêu nhiều quá so với sự tằn tiện, eo hẹp của họ mà lại không được biết căn nguyên của sự giàu sang đó, thì việc họ nổi giận là tất yếu.

(còn nữa)…

Nguồn:

Lương Thứ trưởng 8 triệu, tôi đủ sống thoải mái

Lan Hương (Báo điện tử VietNamNet, ngày 04-04-2014)

Tuần Việt Nam tiếp tục cuộc trò chuyện với GS.TS Đặng Hùng Võ:

Còn nhiều quan chức có tài sản giật mình hơn ông Truyền

[PV Lan Hương hỏi]: Ông có bình luận gì về những tài sản khủng của quan chức mà truyền

thông đưa tin thời gian gần đây?

[GS.TS Đặng Hùng Võ trả lời]: Tôi chưa bao giờ bình luận về khối tài sản của người này hay người khác, và cũng không bình luận để trả lời câu hỏi này.

Trước hết, để bình luận thì cần tới những thông tin chính xác Sau đó, câu chuyện tài sản của quan chức là câu chuyện chung Việc tìm ra người này hay người kia có tài sản bao nhiêu

không phải là cách để giải quyết vấn đề Tôi tin sẽ còn có nhiều quan chức có tài sản đáng

giật mình hơn thế nhiều […] Tiền bạc có thể giấu được, chứ còn đất đai, nhà cửa thì không thể giấu được Hiện nay ở nước ta, đất đai là chỗ dễ phát hiện sự tham nhũng của quan chức nhất Trong công cuộc chống tham nhũng, chúng ta hãy nhằm vào những câu hỏi đó để giải quyết toàn bộ vấn đề (tác giả nhấn mạnh) Tôi vẫn cho là phòng tham nhũng quan trọng hơn,

Trang 9

là giải pháp dài hạn.

Nguồn:

Những biệt thự chục tỉ gây ầm ĩ của quan chức

(Báo điện tử VietNamNet, ngày 27-02-2014)

LTS: Trong khi có khoảng 17 triệu lao động Việt Nam có thu nhập dưới chuẩn nghèo, theo một báo cáo cuối năm 2013 của Tổ chức Lao động Quốc tế, không ít quan chức nhà nước hoặc con quan chức, bằng đồng lương công chức Nhà nước lại xây được biệt thự hàng chục tỉ đồng.

Nhà vườn con trai chủ tịch tỉnh Hải Dương

Vào năm 2012, dư luận đã xôn xao bàn tán trước nguồn gốc khu vườn rộng 4.152m2 trồng các loại gỗ sưa và đá phong thủy quý hiếm có giá trị hàng triệu đô tại huyện Ninh Giang, Hải Dương

Theo thông tin vào thời điểm đó, chủ sở hữu của khu vườn này là Bùi Thanh Tùng, một trưởng phòng của Sở Lao động Thương binh Xã hội tỉnh Hải Dương, đồng thời cũng là con trai của ông Bùi Thanh Quyến – Bí thư tỉnh Hải Dương

Với chức danh như vậy, ông Bùi Thanh Tùng không tránh khỏi việc dư luận đặt ra câu hỏi: với mức thu nhập của một cán bộ công chức Nhà nước, ông Tùng lấy đâu ra tiền để xây dựng cho mình một dinh cơ lộng lẫy đến như vậy?

Vụ việc càng trở lên "nóng" khi những phản ánh của báo Quân đội nhân dân về hàng loạt sai phạm đất đai của ông Bùi Thanh Quyến được đưa ra bàn tán Cụ thể, khi còn đương chức Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương, ông Quyến từng bị tố cáo và thanh tra về một số dự án sử dụng đất […]

Nhà Dương Chí Dũng

Dương Chí Dũng là trường hợp đầu tiên cơ quan điều tra phát hiện ra hành vi dùng tiền tham

ô để mua sắm một số căn hộ cao cấp cho "bồ nhí" Theo thông tin từ Bộ Công an, số tiền 1,66 triệu USD Dương Chí Dũng tham ô trong việc mua ụ nổi vào năm 2007 đều được đổ vào mua

2 căn hộ chung cư cao cấp cho người tình là bà P.T.T […]

Nhà ông Trần Văn Truyền

Ẫm ĩ không kém hai vụ việc trên, một số biệt thự có giá trị của nguyên Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền đang là chủ đề được bàn luận sôi nổi hiện nay.

Căn biệt thự sang trọng được xây dựng trên

lô dất có diện tích khủng 10.000 m2 đã "tình cờ" bị phát hiện.

Ngay lập tức, ông Truyền bắt buộc phải lên tiếng trần tình, và rằng khu đất này là của con trai ông, còn căn biệt thự là do một

“người em kết nghĩa” của ông xây tặng, hoàn toàn không phải là tài sản từ đồng lương ít ỏi của một vị quan chức như ông Tuy nhiên, đó mới chỉ là lời giải thích cho căn biệt thự trên khu đất có giá 15 tỉ đồng, còn 3 căn biệt thự ở Sài gòn thì ông chưa nói đến Hiện ông Truyền đang đứng trước một yêu cầu chính đáng của nhân dân là phải chứng minh được nguồn tiền xây biệt thự là tiền hợp pháp.

(Theo Một thế giới)

Nguồn:

Trang 10

Hộp 1 Quan chức ở Việt Nam có nhiều bất động sản

4.6 Xu hướng dịch chuyển các loại đất trồng trọt

Tổng hợp lại diện tích các loại đất trồng trọt đặt cạnh nhau (Hình 2), ta

đều thấy rằng xu hướng dịch chuyển (dòng dịch chuyển) diện tích các loại đất trồng trọt tập trung vào nhóm HGĐ lãnh đạo, quản lý là nhiều hơn so với nhóm HGĐ nông dân Điều này được thể hiện trên Hình 2 cho thấy đường đồ thị của

nhóm HGĐ lãnh đạo luôn có xu hướng đi lên cao hơn cả Trong đó, đường đồ thị của nhóm HGĐ lãnh đạo vượt lên (vút lên) cao hơn nhóm HGĐ nông dân một cách rõ ràng ở loại đất lâm nghiệp Còn đường đồ thị đối với các loại đất khác cũng tương tự, nhưng không cao lên rõ ràng như đất lâm nghiệp Đến đây, câu hỏi đặt ra là phải chăng phần lớn đất lâm nghiệp thuộc về quyền quản lý, sử dụng của nhà nước và tập thể đã dễ dàng dịch chuyển tập trung vào nhóm HGĐ lãnh đạo, quản lý là nhiều hơn so với đất trồng cây hàng năm và lâu năm? Phải chăng quỹ đất lâm nghiệp là mảnh đất màu mỡ cho tình trạng tham nhũng về đất đai diễn ra ở đây? Sở dĩ như vậy, bởi vì chủ thể quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp thường là nhà nước và tập thể (như cộng đồng, nông, lâm trường, quân đội) -những chủ thể này thường sử dụng đất kém hiệu quả, nhiều khi thực chất là đất

vô chủ Trong khi đó, đất trồng cây hàng năm và lâu năm vốn thuộc về quyền sử dụng của HGĐ từ lâu - tức là đất có chủ sử dụng thực sự và hiệu quả Những câu hỏi đặt ra ở đây có liên quan gì đến tình trạng tham nhũng về đất đai ở Việt Nam hiện nay hay không? Đây là câu hỏi còn bỏ ngỏ chưa có câu trả lời Nguồn

dữ liệu minh họa từ Báo điện tử Tiền Phong trong Hộp 2 sẽ thể hiện rõ thêm nữa

cho những câu hỏi đặt ra ở đây

Ngày đăng: 12/09/2022, 15:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w