TÓM TẮTĐến đề tài: “ Nghiên cứu nội dung và phân tích sự phân bố của nước không đều theo không gian và thời gian, dẫn đến sự không phù hợp giữa tài nguyên nước và yêu cầu sử dụng của con
Trang 1TÓM TẮT
Đến đề tài: “ Nghiên cứu nội dung và phân tích sự phân bố của nước không đều
theo không gian và thời gian, dẫn đến sự không phù hợp giữa tài nguyên nước và yêu cầu sử dụng của con người.”, bài tiểu luận đã đi sâu vào tìm hiểu sự phân bố không đồng
đều của tài nguyên nước theo không gian và thời gian, được thể hiện qua các nội dungsau: phân tích sự phân bố không đều của nước không đều theo không gian và thời giantrên Thế Giới nói chung và Việt Nam nói riêng Dẫn đến sự không phù hợp giữa tàinguyên nước và yêu cầu sử dụng của con người là phần nội dung tiếp theo Từ đó, đưa ranhững giải pháp đối với nhà nước; các cơ quan, tổ chức, cá nhân; học sinh, sinh viên đểkhắc phục những vấn đề trên Cuối cùng là rút ra kết luận chung về nội dung của bài tiểuluận
LỜI MỞ ĐẦU
Nước – Nguồn tài nguyên thiên nhiên tưởng như vô tận nhưng thực ra là nguồn tài nguyênhữu hạn và vô cùng quý giá; là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của môi trường sống; làđộng lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh kinh tế của con người Nước được sử dụngrộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện, giao thông vận tải, dulịch và sinh hoạt,… Ngay từ thời cổ đại, nhà triết học Aristoteles (384 – 322 TCN) còn cho rằngnước quý hơn kim cương khi nói rằng: “Không gì có thể quý và hữu ích hơn nước và nước có giátrị hơn kim cương”
Hiện nay, việc sử dụng nguồn nước đang gặp phải nhiều vấn đề nan giải Tình trạng thiếunước sạch để sử dụng đang diễn ra theo chiều hướng gia tăng; hạn hán, lũ lụt diễn ra ngày càngtrầm trọng gây hưởng nghiêm trọng đối với chất lượng của con người Đây là một thực trạngđáng báo động Có rất nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng trên như việc sử dụng nước lãng phí,các hoạt động sản xuất gây ô nhiễm nguồn nước của con người…
Trong bài tiểu luận này, nhóm chúng tôi nghiên cứu về một trong những nguyên nhân gây ratình trạng trên Đó chính là “Sự phân bố của nước không đều theo không gian và thời gian dẫn
đến sự không phù hợp giữa tài nguyên nước và yêu cầu sử dụng của con người.” từ đó đề xuất
một số giải pháp để bảo vệ nguồn nước và khắc phục tình trạng trên
Trang 2Nhóm chúng tôi xin cám ơn thầy Huỳnh Chức đã tận tình hướng dẫn giúp nhóm chúng tôi hoàn thành tốt đề tài này
Mặc dù nhóm chúng tôi đã cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu nhiều tài liệu, bài giảng và giáo trình Song, do thời gian còn hạn chế và kiến thức có hạn nên bài viết chắc chắn sẽ có nhiều thiếu sót Nhóm chúng tôi mong nhận được sự nhận xét và góp ý của Thầy và các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn
Chân thành cảm ơn!
NHÓM 1
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 4
I) Lí do thực hiện đề tài 4
II) Mục tiêu nghiên cứu 4
III) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN 1: TỔNG QUAN 5
1.1 Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Cơ sở khoa học 5
1.1.2 Cơ sở pháp lí 6
1.1.3 Cơ sở thực tiễn 6
PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH NGHIÊN CỨU NỘI DUNG VÀ PHÂN TÍCH SỰ PHÂN BỐ CỦA NƯỚC KHÔNG ĐỀU THEO KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN, DẪN ĐẾN SỰ KHÔNG PHÙ HỢP GIỮA TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ YÊU CẦU SỬ DỤNG CỦA CON NGƯỜI 8
2.1 Sự phân bố của nước không đều theo không gian và thời gian 8
2.1.1 Sự phân bố của nước không đều theo không gian 8
2.1.2 Sự phân bố của nước không đều theo thời gian 12
2.2 Sự không phù hợp giữa sự phân bố của tài nguyên nước và yêu cầu sử dụng của
Trang 3con người 16
2.2.1 Đối với yêu cầu sử dụng của người dân trên thế giới 16
2.2.2 Đối với yêu cầu sử dụng của người dân Ở Việt Nam 17
PHẦN 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 19
3.1 Đối với nhà nước 19
3.2 Đối với xã hội, các cơ quan, tổ chức và cá nhân 20
3.3 Đối với học sinh, sinh viên 20
KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
ĐẶT VẤN ĐỀ
I) Lí do thực hiện đề tài
Nước là nguồn tài nguyên quý giá của thiên nhiên ban tặng cho con người nên tất cả mọi người đều có quyền khai thác sử dụng Tuy nhiên, lượng nước trên Trái Đất là hữu hạn trong đó lượng nước con người có thể khai thác sử dụng được cũng rất hạn chế chỉ chiếm khoảng 1% tổng lượng nước hiện có trên Trái Đất, hơn nữa chúng lại phân bố không đều theo không gian và biến đổi lớn theo thời gian nên nhu cầu sử dụng nước của con người mọi lúc, mọi nơi không được đáp ứng một cách hiệu quả Điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống, sản xuất của con người Đây chính là nguyên nhân gây ra nhiều vấn đề nan giải trong việc sử dụng nguồn nước hiện nay
Là sinh viên trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.Hồ Chí Minh, nhóm
chúng tôi nhận thấy rằng, việc tìm hiểu đề tài “Nghiên cứu nội dung và phân tích sự phân bố của nước không đều theo không gian và thời gian, dẫn đến sự không phù hợp giữa tài nguyên nước và yêu cầu sử dụng của con người.” là vấn đề cấp thiết
giúp cho chúng ta có những định hướng đúng đắn trong việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước nhằm khắc phục tình trạng đã nêu Và đó cũng là lí do giải thích tại sao nhóm chúng tôi lại đến với đề tài này
II) Mục tiêu nghiên cứu
Nắm được các nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố không đều của nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tác động và ảnh hưởng của tài nguyên nước đến nhu cầu sử
Trang 4dụng của con người từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ và sử dụng tàinguyên nước một cách hiệu quả hơn.
III) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng ta sẽ đào sâu nghiên cứu về sự phân bố không đồng đều củatài nguyên nước theo không gian và thời gian trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nóiriêng cũng như những ảnh hưởng của sự không phù hợp của sự phân bố không đều củatài nguyên nước và yêu cầu sử dụng của con người
b) Thể tồn tại của nước, tính chất và ý nghĩa
Trong biên nhiệt độ Trái Đất, nước tồn tại được ở cả ba thể rắn, lỏng, hơi và dễ dàngchuyển hoá được từ thể này sang thể khác, khả năng hoà tan các chất cao, tạo thuận lợicho các phản ứng hoá học và chuyển dịch vật chất trong môi trường Hơi nước trong khíquyển là yếu tố khép kín tuần hoàn nước và phân phối ẩm theo không gian, hấp thụ bức
xạ sóng dài, tạo biên nhiệt lí tưởng cho sự sống và các quá trình tự nhiên khác Nướcđóng băng thì nở ra, tăng 11% thể tích, giảm tỉ trọng, nên luôn nổi trên mặt nước Nước ởthể lỏng tồn tại ở nhiều dạng, nhưng chỉ có nước màng, mao dẫn, trọng lực là có khả năngdịch chuyển tốt và hệ sống tiêu thụ được, nên thực sự có ý nghĩa là tài nguyên
c) Tuần hoàn nước tự nhiên
Tuần hoàn nước là quá trình tự vận động khép kín, từ sự bốc hơi do bị đốt nóng bởibức xạ Mặt Trời, chuyển dịch theo dòng khí do chênh lệch áp suất, mật độ, đến ngưng tụsinh mưa rơi xuống mặt đất, tạo dòng chảy trên mặt hoặc trong đất, đổ vào mạng lưới
Trang 5sông và chảy đến các thuỷ vực nơi nó đã bốc hơi dưới tác động của trọng lực Tuần hoànnước diễn ra liên tục trên quy mô toàn cầu nhưng lại phân hoá về quy mô theo từng vùngđịa lí
d) Cân bằng nước
Sự biến đổi lượng nước có sẵn trong khu vực trong khoảng thời gian đó được cânbằng trên cơ sở định luật bảo toàn vật chất Khi lượng mưa rất lớn thì độ lớn của sự bốchơi không phụ thuộc vào trường ẩm mà bị giới hạn bởi trường nhiệt Phần lượng mưavượt khả năng bốc hơi sẽ sinh dòng chảy nên mưa càng lớn, dòng chảy càng lớn Trongvùng ít mưa, hầu hết lượng mưa tổn thất vào bốc hơi, nên dòng chảy thường hạn chế,thậm chí không có Trong vùng khô hạn, nếu lượng nhiệt cung cấp cho quá trình bốc hơiluôn sẵn thì việc cấp thêm nước làm tăng độ ẩm đất, tăng diện tích mặt nước sẽ làm tăngbốc hơi thực tế
1.1.1.2 Vai trò của tài nguyên nước
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng cho tất cả các sinh vật trên quả đất Từxưa, con người đã biết đến vai trò quan trọng của nước; các nhà khoa học cổ đại đã coinước là thành phần cơ bản của vật chất và trong quá trình phát triển của xã hội loài người.Nước đảm bảo cho sự phát triển của xã hội trong tương lai: là nguồn nguyên liệu đầu vàorất quan trọng trong nông nghiệp, công nghiệp, trong sinh hoạt, thể thao, giải trí và cho rấtnhiều hoạt động khác của con người Ngoài ra, nước còn được coi là một khoáng sản đặcbiệt vì nó tàng trữ một nguồn năng lượng lớn và lại hòa tan nhiều vật chất có thể khai thácphục vụ cho nhu cầu về nhiều mặt của con người
1.1.2 Cơ sở pháp lí
Hiện nay, các nước trên thế giới quản lí tài nguyên nước bằng công cụ chính đó làpháp luật và chính sách quản lí tổng hợp tài nguyên nước thông qua luật tài nguyên nước,chính sách bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên nước và tiêu chuẩn môi trường.Cũng giống như các nước trên thế giới, ở Việt Nam, Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) đãđược Quốc hội khóa XIII, kì họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012 Luật này quy định việcđiều tra cơ bản tài nguyên nước; bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng,chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; quản lí nhà nước về tài nguyên nước
Trang 6trên lãnh thổ Việt Nam Ngoài ra, các nước trên thế giớ nói chung và Việt Nam nói riêngcòn sử dụng thêm công cụ như giáo dục cộng đồng, công cụ kinh tế… để nâng cao hiệuquả quản lí nguồn nước.
1.1.3 Cơ sở thực tiễn
1.1.3.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu
Hiện nay có khoảng 97% nước trên Trái Đất là nước muối, chỉ 3% còn lại là nướcngọt nhưng gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ởcác cực Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm, và chỉmột tỉ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí Do chế độ mưa, nhiệt độ, địa hình,thảm thực vật… khác nhau về không gian và thời gian nên dẫn đến lượng nước trên thếgiới phân bố không đều theo không gian và thời gian
Ở Việt Nam cũng thế, lượng nước cũng có sự khác nhau giữa vùng ven biển và đấtliền, giữa đồng băng và miền núi, giữa các vùng trên lãnh thổ và giữa các mùa trong năm
1.1.3.2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Sự phân bố không đều của nước theo không gian và thời gian
2.2 Sự không phù hợp giữa sự phân bố của tài nguyên nước và yêu cầu sửdụng của con người
Phần 3: Một số đề xuất của nhóm
3.1 Đối với nhà nước
3.2 Đối với xã hội, các cơ quan, tổ chức và cá nhân
3.3 Đối với học sinh, sinh viên
1.1.3.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 7- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thông qua việc thu thập phân tích và trình bày tómtắt nội dung nghiên cứu
- Phương pháp quan sát hiện trạng, kế thừa và tổng hợp những tài liệu đã có có liênquan đến đề tài đang tìm hiểu
- Phương pháp so sánh cho thấy sự phân bố khác biệt về không gian và thời gian củanguồn nước nên thế giới nói riêng và ở Việt Nam nói chung
- Phương pháp quy nạp và diễn giải đễ phân tích, trinh bày nội dung đề tài
PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH NGHIÊN CỨU NỘI DUNG VÀ PHÂN TÍCH SỰ PHÂN BỐ CỦA NƯỚC
KHÔNG ĐỀU THEO KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN, DẪN ĐẾN SỰ KHÔNG PHÙ HỢP GIỮA TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ YÊU CẦU
SỬ DỤNG CỦA CON NGƯỜI.
2.1 Sự phân bố của nước không đều theo không gian và thời gian
2.1.1 Sự phân bố của nước không đều theo không gian
2.1.1.1 Trên thế giới
Các thành phần chủ yếu của cán cân nước thể hiện qua mưa, bốc hơi và dòng chảy.Thông qua các đại lượng này để đánh giá tài nguyên nước của lãnh thổ Các nguồn tàinguyên nước chủ yếu là: nước mạch, nước ngầm, nước biển và nước mưa
Do Trái Đất luôn luôn vận động, các điều kiện tự nhiên ảnh hưởng tới các đại lượngtrên như nhiệt độ, bức xạ, bốc thoát hơi,… ở các khu vực khác nhau thì khác nhau dẫnđến lượng nước phân bố trên Trái Đất không đều theo không gian Bên cạnh đó, chiếm ¾
bề mặt Trái Đất là nước, trong tổng lượng nước trên Trái Đất có 97% lượng nước ở cácđại dương, 3% còn lại nước ngọt tồn tại ở dạng băng tuyết, nước ngầm, sông ngòi và hơinước trong không khí
Nguồn nước ở dạng băng tuyết chủ yếu phân bố ở những vùng núi cao và hai cực Tathấy nước được cất giữ lâu dài trong băng tuyết và các con sông băng, vùng Nam cựcchiếm 90% tổng lượng băng của Trái Đất, các đỉnh núi băng ở Greenland chiếm 10% tổnglượng lên khoảng 70m3(1) Khi băng tan sẽ làm tăng lượng nước mạch, nước ngầm và nước
1 Số liệu từ Trung tâm Tư liệu Băng và Tuyết Quốc gia.
Trang 8biển Do cấu trúc địa hình cũng như điều kiện tự nhiên nên tạo nên sự khác nhau về phân
bố không gian của những loại nước này Giống như các loại nước trên, nước mưa cũngphân bố không đều theo không gian Lượng mưa trên Trái Đất phân bố không đều theo vĩ
độ Vùng xích đạo chủ yếu là biển cả, đường xích đạo được bao quanh bởi Thái BìnhDương, Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương Mặt biển rộng lớn cộng với nhiệt độ cao nên
sự bốc hơi của nước biển nhiều dẫn đến mưa nhiều nhất ở vùng xích đạo Mưa tương đối
ít ở hai vùng chí tuyến Bắc và Nam Mưa nhiều ở hai vùng ôn đới (hai vùng vĩ độ trungbình ở bán cầu Bắc và bán cầu Nam) Càng về gần hai cực nhiệt độ càng giảm nên mưacàng ít Mặc khác, mưa nhiều hay ít còn phụ thuộc vào vị trí gần hay xa đại dương vàdòng biển nóng hay dòng biển lạnh chảy ven bờ, những yếu tố về lục địa, địa hình…Chẳng hạn như khu vực Tây Âu và Đông Âu, Tây và Đông của Bắc Mĩ… có lượng mưakhác nhau Bên cạnh đó, cũng có sự khác biệt về lượng mưa giữa các đại dương
Lượng mưa (mm/năm) ở các đại dương (theo K Subgramanya, 1994)
độ thấp nên lượng bốc hơi ít gây mưa ít
Giữa các lục địa cũng có sự phân bố không đều về lượng mưa
Lượng nước trên lục địa (theo Livovich, 1973)
Trang 9Từ bảng số liệu ta thấylượng mưa trên 1 đơn vịdiện tích ở Nam Mỹ là caonhất do dòng biển nóng hoạtđộng mạnh có tác dụngtrong việc tăng cường độ ẩmcho gió mậu dịch, nên khivào lục địa gây mưa nhiều
và mưa phân bố đều và thấpnhất ở Bắc Mỹ
Qua những phân tích trên, ta thấy rằng tài nguyên nước phân bố theo không gian rấtkhông đều Trên Trái Đất có vùng có lượng mưa phong phú, mưa nhiều như dãy Anpơ,Côcauy, Nauy, Việt Nam, Philipin, Nhật Bản (trên 2000mm/năm) nhưng cũng có nhữngvùng khô hạn như Trung Đông, phía đông nước Mỹ, bắc châu Phi và Trung Á
2.1.1.2 Ở Việt Nam
a) Sự khác biệt về yếu tố tự nhiên giữa ba miền ở nước ta
Tài nguyên nước ở Việt Nam chủ yếu là nước mạch và nước mưa Việt Nam nằmtrong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều; có mạng lưới sông ngòi dàyđặc với khoảng 2360 con sông có chiều dài lớn hơn 10km, 16 lưu vực sông có diện tíchlưu vực lớn hơn 2000km2 Trong đó, có hơn 10 lưu vực có diện tích lớn hơn 10.000km2
Do đặc điểm địa lí nước ta kéo dài theo phương kinh tuyến, địa hình bị chia cắt mạnh đãtác động trực tiếp tới sự ảnh hưởng của các chế độ gió mùa, đây là nguyên nhân dẫn đến
sự phân bố lượng mưa giữa các vùng trên lãnh thổ Việt Nam khác nhau Mưa từ Bắc vàoNam cũng mang tính chất khác nhau, miền Bắc và miền Trung chế độ mưa phức tạp,không có quy luật rõ ràng như ở Nam bộ Mưa ở Nam Bộ như Đồng Tháp Mười thì cóquy luật hơn
* Miền Bắc
Ở miền Bắc Việt Nam có rất nhiều sông ngòi chằng chịt, sông ngòi ở đây có dạnghình quạt nên chế độ dòng chảy thất thường, nơi có mật độ sông ngòi dày nhất ở Bắc Bộ
Trang 10là cửa sông Hồng (4km/km2), tuy nhiên mật độ sông ngòi lại thưa dần về phía dãy HoàngLiên Sơn (1-1,5km/km2) Lượng mưa ở miền Bắc trung bình vào khoảng 1,700-2,400mm.Với lượng mưa lớn ở miền Bắc thường có lũ lụt như ngày 2-4/8, trên hệ thống sôngHồng-Thái Bình sẽ xuất hiện một đợt lũ với biên độ lũ ở thượng lưu từ 3-5m, ở hạ lưu từ2-3m Từ đó, ta có thể thấy một nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến sự phân bố khôngđều của tài nguyên nước ở Bắc Bộ do cùng một sườn núi đón gió càng lên cao nhiệt độcàng giảm, càng mưa nhiều, tới một độ cao nào đó, độ không khí đã giảm nhiều, sẽ khôngcòn mưa Vì thế ở những sườn núi cao thường khô ráo.
* Miền Trung
Địa hình ở miền Trung có nhiều đồi núi cắt xẻ, lãnh thổ hẹp ngang, địa hình thấp dần
từ Tây sang Đông nên sông ngòi chủ yếu ngắn, dốc, nước chảy mạnh và phân thành nhiềulưu vực nhỏ, độc lập Từ đó, ta có thể thấy được sự rõ nét về phân bố không đồng đềucủa các con sông về mặt không gian của tài nguyên nước ở Việt Nam nói chung và miềnTrung nói riêng, tạo ra sự khó khăn cho việc khai thác sử dụng nguồn nước tại đây Một ví
dụ điển hình là sự khô hạn thường xuyên ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận Về lượngmưa, Thừa Thiên Huế là một trong các tỉnh có lượng mưa nhiều nhất ở Việt Nam vớilượng mưa trung bình năm vượt trên 2.600mm, có nơi lên đến 4.000mm Hàng năm có từ200-220 ngày mưa ở các vùng núi, 150-170 ngày mưa ở khu vực đồng bằng duyên hải.Vào mùa mưa, mỗi tháng có 16-24 ngày mưa Những đợt mưa kéo dài nhiều ngày trêndiện rộng thường gây ra lũ lụt lớn Với lượng mưa chiếm 68-75% lượng mưa trong năm,
sẽ phát sinh lũ lụt lớn và gây thiệt hại sản xuất, tài sản, tính mạng cư dân, tác động tiêucực đến môi trường sinh thái Ngược lại, trong mùa ít mưa thì nước lại không đủ cung cấpcho sinh hoạt và sản xuất của một số địa phương trong vùng
* Miền Nam
Miền Nam với hệ thống sông ngòi dày đặc, lòng sông rộng và sâu Ở đây cũng có sựphân bố không đều về lượng nước của các con sông ở miền Nam do lượng mưa thay đổigiảm dần đều từ Tp.Hồ Chí Minh xuống khu vực phía tây và Tây Nam Ở khu vực ĐôngNam có lượng mưa thấp nhất có khi xuất hiện cường độ mưa lớn xảy ra trên một số khuvực trong vùng Nguyên nhân dẫn đến lượng mưa phân bố không đều là do địa hình trên
Trang 11toàn vùng Nam Bộ khá bằng phẳng, phía tây giáp Vịnh Thái Lan, phía đông và ĐôngNam giáp biển Đông, phía bắc và Tây Bắc giáp Campuchia và một phần phía tây bắc giápNam Trung Bộ sẽ nhận được gió mùa Tây Nam với tính chất nóng ẩm mưa nhiều nhưng
do địa hình ở miền Nam có nhiều vùng trũng với độ cao khác nhau làm cho lượng mưaphân bố không đều của các con sông
b)Sự khác biệt giữa vùng đồng bằng và miền núi, giữa lục địa và ven biểnNước ta có địa hình đồi núi chiếm đến 3/4 diện tích lãnh thổ, tập trung phần lớn ởvùng Đông Bắc, Tây Bắc và miền Trung, phần diện tích còn lại là châu thổ và đồng bằngphù sa, chủ yếu là ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long Ở sườn núiđón gió mang hơi ẩm từ biển vào thì có mưa lớn Ví dụ, vào đầu mùa hè gió mùa TâyNam thổi từ vịnh Bengan vào phía Tây Trường Sơn gây mưa lớn ở Lào Ngược lại, ởĐông Trường Sơn từ Thanh Hoá đến Bình Trị Thiên có gió Lào khô nóng và mưa nhỏ.Điều đáng chú ý là sự chênh lệch lượng mưa ở sườn đón gió và khuất gió cũng phụ thuộcvào độ cao địa hình, càng lên cao mưa càng tăng Tuy vậy, khi tăng đến một độ cao nào
đó thì lượng mưa không tăng nữa vì hơi ẩm của khối không khí do mây mang đi đã giảm
đi Ở Ba Vì, sự biến thiên của lượng mưa năm theo độ cao là 60mm/100mm, ở Tam Đảocao hơn Ba Vì, độ biến thiên của lượng mưa năm là 127mm/100mm Ảnh hưởng của độcao địa hình đến mưa trong những vùng khí hậu khác nhau thì cũng khác nhau Miền núimưa nhiều hơn vùng đồng bằng và các vùng trũng khuất gió; chênh lệch giữa vùng cólượng mưa lớn và vùng có lượng mưa nhỏ vào khoảng 5-6 lần (ở những vùng cá biệtchênh lệch này có thể lên tới xấp xỉ 10 lần)
Theo GS.TS Ngô Đình Tuấn cho rằng, thượng nguồn thừa nước nhưng cư dân ít,ruộng lúa nước ít Hạ nguồn thiếu nước ngọt do mưa ít lại bị xâm nhập mặn nhưng lạingười đông, không những ruộng lúa nước nhiều mà còn có nhiều khu công nghiệp, khu
đô thị, cảng giao thông vận tải trong nước và thế giới, nuôi trồng thủy sản Qua đó,chúng ta có thể thấy nguy cơ thiếu nước ở vùng đồng bằng xảy ra rất cao Đây là một sựkhông phù hợp về phân bố tài nguyên nước ở nước ta
Thực tế ta thấy được ảnh hưởng của điều kiện địa hình trên lãnh thổ Việt Nam đã tạo
ra các trung tâm điển hình về mưa như Bắc Quang (Hà Giang), Bạch Mã (Huế), lượng