Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức và thực hiện pháp luật, các quy định về giải thể doanh nghiệp đã thể hiện rõnhiều bất cập , hạn chế nhất định và nếu điều này không được khắc phục
KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
Khái niệm giải thể doanh nghiệp
Một đất nước để có thể phát triển vững mạnh thì trình độ kinh tế là một trong những yếu tố cần được chú trọng Do đó nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích và tạo điều kiện cho nhiều chủ thể kinh doanh tham gia hoạt động kinh tế nhiều thành phần của nước ta Trong đó doanh nghiệp được xem là thành phần quan trọng trong nền kinh tế, từ đó cho ra đời nhiều đạo luật điều chỉnh các hoạt động của các chủ thể kinh doanh trong đó có doanh nghiệp nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thống nhất, ổn định. Đầu tiên ta cần biết thế nào là doanh nghiệp Theo Điều 4 Khoản 10 của Luật doanh nghiệp năm 2020 mới nhất hiện nay thì “doanh nghiệp được định nghĩa là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” Sau khi lựa chọn được mô hình kinh doanh và được đăng ký giấy tờ thì người chủ sẽ chính thức được tham gia vào hoạt động kinh doanh, đóng góp cho nước nhà và thu lợi nhuận cá nhân.
Con người khi sinh ra phải trải qua quy luật tự nhiên của cuộc đời là “Sinh - lão
Mọi doanh nghiệp đều trải qua một vòng đời gồm bảy giai đoạn: gieo hạt, khởi động, phát triển, ổn định, mở rộng, suy thoái và tan rã Đây là quy luật tự nhiên của kinh doanh và giai đoạn tan rã là lúc doanh nghiệp không thể tiếp tục hoạt động nữa, buộc chủ thể phải chấm dứt hoạt động Việc chấm dứt mang ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó thể hiện nội dung pháp lý cơ bản của doanh nghiệp.
Từ đó chúng ta có thể biết được việc chấm dứt ở đây chính là giải thể doanh nghiệp, giải thích cho cụm từ này thì có nghĩa là việc chấm dứt sự tồn tại, hoạt động của doanh nghiệp thông qua việc doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu doanh nghiệp chủ động thực hiện thanh lý tài sản, thanh toán các khoản nợ và xóa tên doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh Nó là một thủ tục mang tính chất hành chính, hậu quả của nó là bị xóa tên trong sổ đăng ký kinh doanh, chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp trên thực tế Việc giải thể chỉ được thực hiện khi doanh nghiệp còn khả năng thanh toán nợ và các nghĩa vụ tài sản đến hạn.
Đặc điểm pháp lý của giải thể doanh nghiệp
Chấm dứt hoạt động kinh doanh là hành động một doanh nghiệp rút khỏi thị trường và kết thúc mọi hoạt động thương mại Quá trình này bao gồm cả các thủ tục về kinh tế lẫn pháp lý nhằm xóa bỏ tư cách pháp lý của doanh nghiệp trên sổ đăng ký kinh doanh và chấm dứt sự hiện diện của doanh nghiệp trên thương trường.
Thủ tục giải thể doanh nghiệp tuy được xem là doanh nghiệp tự nguyện chấm dứt hoạt động kinh tế, nhưng tính chất hành chính vẫn hiện hữu vì cơ quan hành chính có thẩm quyền chấp thuận trong quá trình giải thể Lý giải cho đặc điểm này là để bảo vệ lợi ích của các chủ nợ, tránh trường hợp doanh nghiệp chưa thanh toán hết nợ mà bị xóa tên khỏi sổ đăng ký kinh doanh Nếu xảy ra như vậy, chính cơ quan có thẩm quyền sẽ chịu trách nhiệm thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp.
Về lý do giải thể doanh nghiệp thì rất đa dạng, nó có thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chủ doanh nghiệp hoặc liên quan đến các hành vi pháp luật Nên hành động này mang tính tự nguyện hoặc bắt buộc Đa phần, doanh nghiệp giải thể khi chủ đầu tư không có nhu cầu tiếp tục kinh doanh hoặc kinh doanh thua lỗ nhưng chưa đến mức độ mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Bên cạnh đó, lý do vi phạm pháp luật của doanh nghiệp cùng với việc bị áp dụng chế tài đình chỉ hoạt động và rút giấy phép sẽ dẫn đến trường hợp giải thể bắt buộc.
Điều kiện để cơ quan có thẩm quyền cho phép giải thể doanh nghiệp là doanh nghiệp đó phải đảm bảo và thực sự thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác Khi doanh nghiệp muốn xóa tên khỏi sổ đăng ký kinh doanh, nó phải hoàn tất mọi khoản nợ và nghĩa vụ tài chính với các bên liên quan trước khi được phép giải thể; đây được xem là điều kiện cần thiết cho thủ tục giải thể Nếu không đáp ứng được điều kiện này, doanh nghiệp sẽ không được phép giải thể và phải tiến hành phá sản như là cách duy nhất để chấm dứt hoạt động.
Về chế tài pháp lý đối với chủ doanh nghiệp và người chịu trách nhiệm quản lý điều hành, pháp luật hiện hành không đặt ra các hạn chế hay cấm đoán đối với việc họ đảm nhận chức vụ điều hành doanh nghiệp hoặc tham gia thực hiện một số hoạt động kinh doanh liên quan Vì vậy, chủ doanh nghiệp và người quản lý vẫn được quyền nắm giữ vai trò điều hành và tham gia hoạt động kinh doanh, miễn tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật và chuẩn mực quản trị doanh nghiệp.
Phân biệt giải thể với các trường hợp chấm dứt hoạt động doanh nghiệp 5 1 Phân biệt giải thể doanh nghiệp với phá sản doanh nghiệp
1.3.1 Phân biệt giải thể doanh nghiệp với phá sản doanh nghiệp
Thứ nhất, khác nhau về lý do, nếu ở giải thể lý do chấm dứt có thể khá đa dạng như từ phía chủ ý của chủ doanh nghiệp khi mà hoạt động của doanh nghiệp không được thuận lợi, không đáp ứng được nhu cầu thị trường, Ngoài ra nó có thể đến từ chủ ý của các cơ quan quản lý Nhà nước khi muốn thu hồi giấy phép đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp do các hành vi vi phạm pháp luật hoặc không đủ điều kiện tồn tại Còn về phía phá sản chỉ có một lý do duy nhất là không đủ khả năng chi trả nợ dẫn đến thực hiện thủ tục phá sản.
Thứ hai, khác nhau về việc các chủ thể quyết định áp dụng thủ tục Nếu doanh nghiệp giải thể tự nguyện thì các thủ tục sẽ được thực hiện thông qua chính các doanh nghiệp Còn nếu việc giải thể xuất phát từ chủ ý của cơ quan Nhà nước thì sau cùng vẫn do các chủ doanh nghiệp thực hiện các thủ tục Tuy nhiên đối với việc phá sản thì chỉ có duy nhất Tòa án là cơ quan có thẩm quyền tuyên bố phá sản và thực hiện các thủ tục liên quan.
Thứ ba nêu rõ sự khác biệt về trình tự thủ tục thực hiện giữa giải thể và phá sản Thủ tục giải thể mang tính hành chính nên được thực hiện bởi các cơ quan đăng ký kinh doanh Ngược lại, thủ tục phá sản thuộc trình tự tư pháp và do Tòa án thực hiện.
Trong quá trình xử lý thủ tục phá sản, điều kiện tiến hành có sự khác nhau tùy theo hoàn cảnh Doanh nghiệp chỉ được phép thực hiện thủ tục phá sản khi đã đảm bảo giải quyết triệt để các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính với các bên liên quan Ngược lại, khi doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán nữa thì đó là thời điểm thủ tục phá sản được tiến hành.
Thứ năm, có sự khác nhau về thủ tục thanh lý tài sản Khi doanh nghiệp giải thể, các khoản nợ được xử lý và thanh toán do chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm thanh toán Ngược lại, phá sản xảy ra khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, khiến tài sản bị hạn chế; phần tài sản phá sản sẽ được giao cho Tổ quản lý thanh lý tài sản để quản lý và thanh toán cho các chủ nợ.
Chế tài pháp lý đối với chủ doanh nghiệp và người chịu trách nhiệm quản lý điều hành thể hiện sự khác biệt rõ ràng Khi chủ doanh nghiệp thực hiện giải thể, các giới hạn về thành lập hoặc quản lý doanh nghiệp sẽ không được áp dụng bởi quyết định giải thể xuất phát từ ý chí của chính chủ doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh gặp khó khăn Ngược lại, khi doanh nghiệp phá sản, chủ doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với hạn chế thành lập doanh nghiệp mới do kết quả kinh doanh thua lỗ và nợ nần không thể thanh toán, phần lớn là do quản lý yếu kém và sai lầm.
Trong quá trình áp dụng các thủ tục pháp lý liên quan đến doanh nghiệp, các hậu quả khác nhau xuất hiện tùy theo loại thủ tục Giải thể doanh nghiệp đồng nghĩa với việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp Ngược lại, đối với tình trạng phá sản, doanh nghiệp có thể được mua lại hoặc Toà án có thể áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, giúp doanh nghiệp vẫn tồn tại ở khía cạnh pháp lý Vì vậy, về mặt pháp lý, hành trình xử lý các rủi ro tài chính của doanh nghiệp có thể dẫn tới các kết quả khác nhau về quyền sở hữu, sự sống còn của doanh nghiệp và cơ hội tái khởi động hoạt động.
1.3.2 Phân biệt giải thể doanh nghiệp với các trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp Đầu tiên chúng ta cần biết các trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp sẽ bao gồm: chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi doanh nghiệp Như vậy về bản chất các hoạt động này sẽ do chính chủ doanh nghiệp thực hiện và nó sẽ có những khác gì so với hoạt động giải thể.
Thứ nhất, sự khác biệt về chủ thể quyết định giữa giải thể và tổ chức lại doanh nghiệp Giải thể là quyết định có thể được đưa ra bởi chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc bởi các cơ quan quản lý nhà nước thu hồi giấy phép kinh doanh, dẫn tới chấm dứt tư cách pháp lý và hoạt động của doanh nghiệp Trong khi đó, tổ chức lại chỉ do chính chủ sở hữu doanh nghiệp thực hiện.
Thứ hai, nguyên nhân quyết định giữa giải thể và tổ chức lại doanh nghiệp khác nhau Giải thể có thể xảy ra khi doanh nghiệp không đáp ứng điều kiện tồn tại hoặc có hành vi vi phạm pháp luật, khiến cơ quan Nhà nước thu hồi giấy phép Ngược lại, việc tổ chức lại doanh nghiệp xuất phát từ chính ý chí của doanh nghiệp; Nhà nước với vai trò quản lý sẽ không can thiệp, và mọi quyết định liên quan đến tổ chức lại phụ thuộc hoàn toàn vào chủ doanh nghiệp.
Trong quy trình tiến hành thủ tục, mục đích của hai lựa chọn sẽ khác nhau: một số chủ doanh nghiệp nhận thấy hoạt động không còn thuận lợi và cho rằng giải thể sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn, nên quyết định giải thể; trong khi đó, các tổ chức muốn tiếp tục cải thiện doanh nghiệp hoặc chuyển đổi cơ cấu quản lý sang hình thức khác mà vẫn giữ nguyên quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp.
Thủ tục giải thể và thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp có thời điểm hoàn thành khác nhau Thủ tục giải thể được xem là hoàn tất khi cơ quan đăng ký kinh doanh xóa tên doanh nghiệp khỏi sổ đăng ký kinh doanh, lúc đó quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị chấm dứt Trong khi đó, thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp chỉ được xem là hoàn tất khi một doanh nghiệp mới được thành lập.
Thứ năm cho thấy sự khác biệt về hậu quả pháp lý sau giải thể: sau khi hoàn tất thủ tục giải thể, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp được xem là chấm dứt, và chủ doanh nghiệp chỉ phải chịu hậu quả pháp lý khi việc giải thể là do hành vi vi phạm pháp luật Ngược lại, đối với tổ chức lại doanh nghiệp, dù doanh nghiệp không còn tồn tại về mặt pháp lý, bản chất hoạt động vẫn tồn tại, nên các quyền và nghĩa vụ sẽ được chuyển giao và tiếp tục nằm trong doanh nghiệp mới được hình thành.
THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
Các trường hợp và điều kiện giải thể
2.1.1 Các trường hợp giải thể
Theo khoản 1 Điều 207 Luật Doanh nghiệp năm 2020, doanh nghiệp bị giải thể trong các trường hợp sau đây.
Giải thể tự nguyện: là trường hợp chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp theo ý chí của chủ sở hữu doanh nghiệp
Trường hợp 1: Doanh nghiệp kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn hoặc khi chủ sở hữu doanh nghiệp không muốn tiếp tục kinh doanh Thời hạn hoạt động của doanh nghiệp có thể do thỏa thuận của các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc do sự cấp phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định
Trường hợp 2: Theo nghị quyết, quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của Hội đồng thành viên đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần;
Quyết định giải thể doanh nghiệp bắt nguồn từ sự tự nguyện và chủ động của chủ doanh nghiệp Lý do giải thể thường là lợi nhuận thấp hoặc thua lỗ kéo dài, khiến doanh nghiệp phải chọn giải thể để thu hồi vốn hoặc chuyển đổi sang mô hình kinh doanh khác Trong thực tiễn, chủ doanh nghiệp có thể bán doanh nghiệp và chuyển giao các quyền và nghĩa vụ tài sản cho người mua nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế Do đó, giải thể doanh nghiệp chỉ được tiến hành khi việc bán doanh nghiệp không thực hiện thành công.
Giải thể bắt buộc là trường hợp chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp theo ý chí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi doanh nghiệp vi phạm pháp luật trong quá trình thành lập và hoạt động của chính doanh nghiệp đó Đây là biện pháp xử lý nghiêm khắc nhằm bảo đảm tuân thủ pháp luật, bảo vệ lợi ích của cổ đông và người lao động, cũng như duy trì trật tự và an toàn kinh tế thị trường Quá trình giải thể bắt buộc được thực hiện theo quy định của pháp luật và chỉ áp dụng khi các hành vi vi phạm được xác định là nghiêm trọng hoặc gây tác hại đáng kể đối với nhà nước và xã hội.
Trường hợp 3 quy định rằng công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật này trong thời hạn 06 tháng liên tục và không thực hiện thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.
Với một số loại hình doanh nghiệp, số lượng thành viên tối thiểu là điều kiện để tồn tại và hoạt động Theo quy định của pháp luật Việt Nam, khi công ty có số lượng thành viên giảm dưới mức tối thiểu (ba thành viên đối với công ty cổ phần; giảm dưới 02 thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; giảm dưới 02 thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh), công ty phải có giải pháp khắc phục như bổ sung thành viên hoặc chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp khác Nếu trong thời hạn sáu tháng liên tục công ty không xử lý được thì phải tiến hành giải thể doanh nghiệp.
Trường hợp 4: Doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Luật Quản lý thuế có quy định khác
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là văn bản có thể ở dạng giấy hoặc bản điện tử, ghi lại đầy đủ các thông tin về đăng ký doanh nghiệp và được Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp cho doanh nghiệp theo Khoản 15 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
Chế tài thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là chế tài nghiêm khắc đặt ra với các vi phạm pháp luật nghiêm trọng (các trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp xem khoản 1 Điều 211 Luật Doanh nghiệp năm 2020) Kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực, doanh nghiệp phải triệu tập họp để quyết định giải thể
2.1.2 Điều kiện giải thể doanh nghiệp
Theo khoản 2 Điều 207 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác Doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc Trọng tài Người quản lý có liên quan và doanh nghiệp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp”
Trong trường hợp doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán, tức là mất khả năng thanh toán, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục phá sản theo quy định của Luật phá sản năm 2014 Quá trình này nhằm xử lý tài sản và nợ một cách có trật tự, bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ và tạo điều kiện cho các phương án như tái cơ cấu hoặc thanh lý doanh nghiệp được thực hiện đúng theo pháp luật Việt Nam.
Trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp
Căn cứ khoản 1 Điều 59 Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 quy định:
“Trước khi thực hiện thủ tục đăng ký giải thể doanh nghiệp, doanh nghiệp phải làm thủ tục chấm dứt hoạt động các chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp tại Phòng Đăng ký kinh doanh nơi đặt chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh” Như vậy nếu muốn giải thể công ty phải chấm dứt các hoạt động của các chi nhánh, văn phòng đại diện hay các địa điểm kinh doanh khác nếu có.
2.2.1 Giải thể doanh nghiệp trong trường hợp quy định tại các điểm a, b và khoản Điều 207 Luật Doanh nghiệp năm 2020
Theo Điều 208 Luật Doanh nghiệp năm 2020 trình tự thủ tục được thực hiện theo quy định sau:
Bước 1: Thông qua nghị quyết, quyết định giải thể doanh nghiệp Nghị quyết, quyết định giải thể doanh nghiệp phải bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
+ Tên, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp;
+ Thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp;
+ Phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động;
+ Họ, tên, chữ ký của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ty, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị;
Bước 2: Thông báo công khai quyết định giải thể.
Sau khi quyết định giải thể được thông qua, doanh nghiệp phải thông báo cho những người có quyền và lợi ích liên quan đến hoạt động giải thể doanh nghiệp biết về quyết định giải thể Trường hợp doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải gửi kèm theo quyết định giải thể phương án giải quyết nợ đến các chủ nợ, người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan Thông báo phải có tên, địa chỉ của chủ nợ; số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ (theo khoản 3 Điều 208 Luật doanh nghiệp 2020). Bước 3: Thanh lý tài sản và thanh toán các khoản nợ của công ty.
Khoản 2 và Khoản 5 Điều 208 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về người tổ chức thanh lý tài sản và thứ tự thanh toán nợ Theo đó, chủ doanh nghiệp tư nhân,Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty, Hội đồng quản trị trực tiếp tổ chức thanh lý tài sản doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định thành lập tổ chức thanh lý riêng.
Các khoản nợ của doanh nghiệp được thanh toán theo thứ tự sau:
(a) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;
Sau khi đã thanh toán hết các khoản nợ và chi phí giải thể doanh nghiệp, phần còn lại thuộc về chủ thể doanh nghiệp tư nhân, các thành viên, cổ đông hoặc chủ sở hữu công ty Việc thanh toán các khoản nợ là rất phức tạp vì cần phải quy định một trình tự phù hợp nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của những người liên quan.
Bước 4: Nộp hồ sơ giải thể.
Theo quy định tại Khoản 7 Điều 208 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp gửi hồ sơ giải thể doanh nghiệp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp”.
Bước 5: Cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Khoản 8 Điều 208 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định như sau: “Sau thời hạn
180 ngày kể từ ngày nhận được nghị quyết, quyết định giải thể theo quy định tại khoản
Trong trường hợp không nhận được ý kiến bằng văn bản về việc giải thể từ doanh nghiệp hoặc phản đối của bên liên quan trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể, Cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
2.2.2.Giải thể doanh nghiệp trong trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc theo quyết định của Tòa án
Theo Điều 209 Luật Doanh nghiệp 2020, trình tự thủ tục giải thể được thực hiện như sau:
Bước 1: Cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo tình trạng doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo tình trạng doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đồng thời với việc ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc ngay sau khi nhận được quyết định giải thể của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Kèm theo thông báo phải đăng tải quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Bước 2: Ra quyết định giải thể và gửi quyết định này đến cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp và công khai quyết định này.
Theo khoản 2 Điều 9 Luật doanh nghiệp 2020 quy định: “Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, doanh nghiệp phải triệu tập họp để quyết định giải thể Nghị quyết, quyết định giải thể và bản sao quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lạo động trọng doanh nghiệp và phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp Đối với trường hợp pháp luật yêu cầu phải đăng báo thì nghị quyết, quyết định giải thể doanh nghiệp phải được đăng ít nhất trên 01 tờ báo in hoặc báo điện tử trong 03 số liên tiếp.
Trường hợp doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải đồng thời gửi kèm theo nghị quyết, quyết định giải thể của doanh nghiệp, phương án giải quyết nợ đến các chủ nợ, người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan Thông báo phải có tên, địa chỉ của chủ nợ; số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ”.
Bước 3: Tổ chức thanh lý tài sản và thanh toán các khoản nợ.
Bước 4: Nộp yêu cầu giải thể doanh nghiệp.
Bước 5: Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật trình trạng pháp lý của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Trình tự, cách thức thực hiện tại các bước 3, 4, 5 tương tự như trường hợp giải thể quy định tại các điểm a, b và khoản Điều 207 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
Hồ sơ về giải thể
Theo khoản 1 Điều 210 Luật Doanh nghiệp 2020: Hồ sơ giải thể doanh nghiệp bao gồm giấy tờ sau đây:
“Thông báo về giải thể doanh nghiệp
Báo cáo thanh lý tài sản doánh nghiệp; danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh toán, gồm cả thanh toán hết các khoản nợ về thuế và nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động sau khi quyết định giải thể doanh nghiệp (nếu có)”.
Quy định bảo đảm quyền và lợi ích của các chủ thể có liên quan trong quá trình giải thể doanh nghiệp
2.4.1 Về trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp đối với việc giải thể doanh nghiệp
Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 210 Luật Doanh nghiệp 2020 có quy định về trách nhiệm cá nhân đối với tính trung thực, chính xác của hồ sơ giải thể doanh nghiệp “Thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần, thành viên Hội đồng quản trị công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty, chủ doanh nghiệp tư nhân, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, thành viên hợp danh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của hồ sơ giải thể doanh nghiệp” “Trường hợp hồ sơ giải thể không chính xác, giả mạo, những người quy định tại khoản 2 Điều này phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán quyền lợi của người lao động chưa được giải quyết, số thuế chưa nộp, số nợ khác chưa thanh toán và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong thời hạn 05 năm kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến Cơ quan đăng ký kinh doanh”.
2.4.2 Về các hoạt động bị cấm kể từ khi có quyết định giải thể
Theo khoản 1 điều 211 Luật Doanh nghiệp 2020, kể từ khi có quyết định giải thể doanh nghiệp, doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp bị nghiêm cấm thực hiện các hoạt động sau đây: a) Cất giấu, tẩu tán tài sản; b) Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ; c) Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành các khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp; d) Ký kết hợp đồng mới, trừ trường hợp để thực hiện giải thể doanh nghiệp; đ) Cầm cố, thế chấp, tặng cho, cho thuê tài sản; e) Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực; g) Huy động vốn dưới mọi hình thức.
Việc quy định các hành vi bị cấm nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan, ngăn chặn việc phát sinh thêm quyền và nghĩa vụ khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong khả năng trả nợ, đồng thời hạn chế tình trạng doanh nghiệp tẩu tán tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ với các đối tác trong quá trình hoạt động.
Những hạn chế, vướng mắc
Thành phần hồ sơ trong thủ tục giải thể chưa rõ ràng, còn yêu cầu trùng lặp hồ sơ giữa các thủ tục thực hiện tại cơ quan nhà nước khác nhau Điều này dẫn đến sự thiếu thống nhất trong yêu cầu hồ sơ từ phía các cơ quan nhà nước tại quá trình giải quyết thủ tục và khiến doanh nghiệp phải mất nhiều công sức để chuẩn bị
Hiện nay, quy định về thủ tục giải thể doanh nghiệp vẫn bị rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau như thuế, đăng ký doanh nghiệp, công an, hải quan và bảo hiểm, khiến các thủ tục hành chính phải được giải quyết tại nhiều cơ quan nhà nước khác nhau Do đó, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn khi hoàn tất các thủ tục, tốn kém chi phí và mất nhiều thời gian.
Chưa có quy chế liên thông và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan nhà nước khiến doanh nghiệp gặp khó khăn khi thực hiện giải thể Do vậy, trong quá trình giải thể, doanh nghiệp phải nộp cùng một loại giấy tờ cho nhiều cơ quan khác nhau, gây lặp lại thủ tục và tốn thời gian Cụ thể, khi làm Quyết định giải thể, doanh nghiệp phải nộp nhiều loại giấy tờ cho các cơ quan: đăng ký kinh doanh, thuế, hải quan, bảo hiểm và công an Việc thiếu quy chế liên thông khiến hồ sơ phải đi qua nhiều đầu mối, làm gia tăng chi phí và kéo dài thời gian xử lý Việc thiết lập hệ thống chia sẻ thông tin giữa các cơ quan nhà nước sẽ giúp đơn giản hóa thủ tục, giảm tải giấy tờ và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Quy trình giải quyết các thủ tục liên quan đến con dấu khi doanh nghiệp giải thể còn chưa hợp lý Ví dụ, thủ tục hủy con dấu và giấy tờ chứng nhận mẫu dấu phải thực hiện trước khi gửi hồ sơ đến cơ quan đăng ký doanh nghiệp để xin giải thể Trường hợp doanh nghiệp phát sinh nhu cầu sử dụng con dấu trong thời gian chưa chính thức giải thể sẽ gặp khó khăn, vì doanh nghiệp vẫn chưa được chính thức giải thể nhưng con dấu đã bị hủy.
Chế tài xử lý đối với chủ doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ giải thể doanh nghiệp khi đã chấm dứt hoạt động chưa đủ răn đe, nhiều chủ doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật không quan tâm đến nghĩa vụ giải thể và phá sản doanh nghiệp.
Tại khoản 2 Điều 207 Luật Doanh nghiệp 2020 chỉ quy định doanh nghiệp phải trả hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mới được giải thể, mà không lưu tâm đến các nghĩa vụ khác được thực hiện như thế nào chẳng hạn như nghĩa vụ bảo vệ môi trường của những doanh nghiệp đặc thù, doanh nghiệp có các hoạt động có nguy cơ gây ảnh hưởng đến môi trường (như doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực y tế, kinh doanh hóa chất).
Pháp luật có quy định về các hoạt động bị cấm kể từ khi có quyết định giải thể tại Điều 211, Luật Doanh nghiệp 2020, tuy nhiên lại chưa có quy định về chế tài áp dụng với doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp nếu thực hiện các hoạt động bị cấm, kể từ khi có quyết định giải thể Luật Doanh nghiệp 2020 chỉ chung chung, “Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, cá nhân có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
Kiến nghị đối với công tác lập pháp
Về phía luật pháp, các Bộ ngành cần triển khai những phương án mang tính hiệu quả hơn, triệt để các nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao trong thời gian qua, đồng thời tiến hành song song việc đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập; trong đó, tập trung thực hiện các nhiệm vụ:
Chính sách sửa đổi Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư nhằm phân định rõ chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và đối với dự án đầu tư, nhằm tạo khung pháp lý nhất quán và minh bạch cho hoạt động kinh doanh và đầu tư Đồng thời, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về giải thể doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp theo thông lệ kinh tế thị trường nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo đảm quyền lợi doanh nghiệp và nhà đầu tư, và tăng cường tính cạnh tranh của thị trường.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách và nền tảng công nghệ thông tin để hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia giữ vai trò đầu mối cung cấp thông tin pháp lý về đăng ký doanh nghiệp, từ đó, tạo điều kiện cho mọi tổ chức, cá nhân có thể tiếp cận dễ dàng các thông tin chính xác về tình trạng pháp lý của doanh nghiệp; phát huy vai trò giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp Cần bổ sung vào luật với những trường hợp doanh nghiệp bỏ trốn khi chưa thực hiện giải thể trong nền kinh tế và bổ sung một số trường hợp giải thể doanh nghiệp vào Luật doanh nghiệp cho phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp Việt Nam. Đối với tiêu chí xác định một doanh nghiệp mất tích hoặc chủ doanh nghiệp bỏ trốn, Luật Doanh nghiệp cần quy định trong vòng bao nhiêu ngày người đại diện của doanh nghiệp vắng mặt mà không có thông báo cho chính quyền sở tại và không có ủy quyền hợp pháp cho người khác hoặc các cơ quan chức năng đã có thông báo công khai mà chủ doanh nghiệp không có phản hồi thì được xem là "chủ doanh nghiệp bỏ trốn" Khi đó, cơ quan chức năng được quyền thanh lý tài sản của doanh nghiệp theo luật định để trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động Đồng thời, qua đó làm cơ sở cho người lao động hoặc tổ chức Công đoàn khởi kiện, yêu cầu phá sản doanh nghiệp để đảm bảo quyền lợi cho người lao động.
Việc sửa đổi và bổ sung quy định yêu cầu doanh nghiệp giải thể phải gửi quyết định giải thể đến cơ quan bảo hiểm xã hội cùng với các cơ quan khác nhằm khắc phục các rào cản trong thủ tục giải thể tại Việt Nam Việc bổ sung chủ thể cơ quan bảo hiểm xã hội được gửi thông báo quyết định giải thể sẽ không chỉ bảo vệ quyền lợi người lao động mà còn tăng cường quản lý nhà nước của cơ quan bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp giải thể và hạn chế các trở ngại phát sinh trong quá trình thanh lý tài sản.
Kiến nghị với Cơ quan Nhà Nước quản lý hành chính
Để tạo thuận lợi cho quá trình giải thể và khắc phục các vướng mắc, bất cập của quy định pháp luật doanh nghiệp, cần thực hiện những thay đổi căn bản về công tác quản lý nhằm tăng tính minh bạch, hiệu quả và tuân thủ pháp luật, từ đó đẩy nhanh tiến độ giải thể, giảm thiểu rủi ro pháp lý và bảo đảm quyền lợi cho các bên liên quan.
Thứ nhất, các cơ quan tiếp tục nghiên cứu, đơn giản hóa những thủ tục hành chính của doanh nghiệp tại các cơ quan quản lý nhà nước trước khi doanh nghiệp thực hiện nộp bộ hồ sơ giải thể tại Cơ quan đăng ký kinh doanh Trong đó, tập trung đơn giản hóa quy trình về kê khai và quyết toán thuế sau khi doanh nghiệp quyết định giải thể Thực hiện đồng thời thủ tục giải thể doanh nghiệp với giải thể đơn vị phụ thuộc như: chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh Bên cạnh đó, thực hiện liên thông, đồng thời thủ tục đóng mã số thuế doanh nghiệp với mã số thuế đơn vị phụ thuộc.
Cần sửa đổi bổ sung quy định về trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp, ví dụ như: Cần bổ sung quy định về thủ tục thanh toán nợ có bảo đảm nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của chủ nợ có bảo đảm, pháp luật cần quy định cụ thể thời hạn thanh toán các khoản nợ, thanh lý hợp đồng để phù hợp hơn với thực tế nhằm tránh các vướng mắc không đáng có Ngoài ra, pháp luật cũng cần quy định thêm những cách thức để cơ quan đăng ký kinh doanh có thể căn cứ vào đó tiến hành kiểm tra tính chính xác và minh bạch về nội dung trong hồ sơ giải thể doanh nghiệp.
Cần quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thông báo doanh nghiệp bị giải thể và gửi hồ sơ lên tòa án, nhằm đảm bảo trình tự pháp lý được thực hiện đúng và kịp thời Đồng thời, cần quy định rõ sự phối hợp giữa cơ quan thuế và hải quan trong việc thực hiện xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp để đảm bảo dữ liệu và nghĩa vụ thuế được cập nhật đầy đủ.
Để đẩy nhanh quá trình giải thể doanh nghiệp và giảm tải cho ngành thuế, cần xây dựng các quy định và thời gian cụ thể để cơ quan thuế giải quyết hồ sơ giải thể doanh nghiệp; trong quá trình kiểm tra tình trạng thuế trước khi chấm dứt hiệu lực mã số thuế, cơ quan thuế phải tạo mọi điều kiện về mặt thủ tục để thuận lợi cho doanh nghiệp hoàn tất hồ sơ giải thể tại cơ quan thuế Nghị quyết 94/2019/QH14 về khoanh và xóa nợ thuế cho các khoản thuế khó thu được xem như bước tiến, nhưng cần mở rộng áp dụng cho các doanh nghiệp không hoạt động lâu năm nhưng chưa giải thể được, nhằm tạo điều kiện cho chủ doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng pháp lý lửng lơ và tránh tình trạng doanh nghiệp đã “chết” mà chưa được “chôn”; đồng thời nhằm giảm áp lực công việc cho cơ quan thuế khi theo dõi và quản lý những doanh nghiệp này.
Thứ ba, về điều kiện giải thể: cần quy định điều kiện giải thể theo hướng mở rộng, thông thoáng hơn, nhằm tạo điều kiện cho những doanh nghiệp muốn giải thể được thực hiện thủ tục giải thể.
Theo quy định hiện hành của Luật Doanh nghiệp, chưa có chế tài đủ sức răn đe đối với chủ, đại diện theo pháp luật không chịu chấp hành các quy định về giải thể Do đó, cần sửa đổi Luật Doanh nghiệp theo hướng tăng chế tài xử phạt Đồng thời, cần bổ sung các quy định về xử phạt đối với một số trường hợp còn thiếu sót Tăng chế tài xử lý đối với các trường hợp không thực hiện thủ tục giải thể doanh nghiệp khi đã ngừng hoạt động
Ngoài ra, để tăng ý thức ,trách nhiệm của chủ doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật trong việc tuân thủ pháp luật, cũng như có cơ chế pháp lý rõ ràng cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý những đối tượng này, cần thiết lập và quy định rõ các biện pháp chế tài đối với chủ/người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trong trường hợp không tuân thủ quy định về giải thể doanh nghiệp khi doanh nghiệp đã rơi vào tình trạng khó khăn, phải tạm ngừng hoạt động.
Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, số lượng các doanh nghiệp ra đời ngày càng nhiều Tuy nhiên tương đương với sự ra đời đó cũng có không ít các doanh nghiệp bị buộc phải giải thể do nhiều nguyên nhân khác nhau Qua đó, ta có thể thấy giải thể doanh nghiệp là một hiện tượng tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường.
Pháp luật về giải thể doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế - xã hội; khi doanh nghiệp giải thể sẽ phát sinh nhiều mối quan hệ phức tạp với người lao động, chủ nợ và Nhà nước cần được giải quyết một cách trật tự Nó tạo điều kiện cho doanh nghiệp rút khỏi thị trường nhanh chóng và trật tự, góp phần ổn định nền kinh tế, tăng sức cạnh tranh và nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước; đồng thời đảm bảo quyền lợi người lao động như ưu tiên thanh toán nợ lương, trợ cấp thôi việc và bảo hiểm xã hội trước khi thanh toán các khoản nợ khác Tuy pháp luật về giải thể doanh nghiệp đã được điều chỉnh qua các thời kỳ để phù hợp với sự phát triển của kinh tế và xã hội, vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế trong thực thi, dẫn đến nhiều doanh nghiệp không tuân thủ hoặc không hoàn tất thủ tục giải thể.
Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới và cạnh tranh kinh doanh đang trở nên khốc liệt, giải thể doanh nghiệp đang trở thành thách thức lớn đối với nền kinh tế Việc thành lập và giải thể doanh nghiệp là quá trình song hành, trong đó chấm dứt hoạt động thông qua giải thể là quy luật tất yếu để điều chỉnh hoạt động doanh nghiệp và đảm bảo tính ổn định của thị trường Do đó, nghiên cứu, hoàn thiện và hệ thống hóa pháp luật về giải thể doanh nghiệp trở nên cấp thiết nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả của pháp luật, đồng thời phát huy vai trò điều chỉnh của pháp luật trong nền kinh tế thị trường.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT
[2] Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 quy định trình tự, thủ tục đăng ký giải thể doanh nghiệp
[1] Thế giới Luật Truy cập 08/01/2022, từ https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/GIAI-THE-DOANH-NGHIEP-THEO- PHAP-LUAT VIET-NAM-VA-THUC-TIEN-AP-DUNG-TAI-CONG-TY-CO- PHAN-JM-1443/.
[2] Phạm Khắc Hoan (2020) Pháp luật về giải thể doanh nghiệp qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Bình Truy cập 08/01/2022, từ http://hul.hueuni.edu.vn/upload/file/tn_caohoc/tt-pham-khac-hoan.pdf.
[3] Nguyễn Ngọc Hải (2021) Hoàn thiện các quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành về giải thể doanh nghiệp Truy cập 09/01/2022, từ https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/hoan-thien-cac-quy-dinh-cua-luat-doanh- nghiep-hien-hanh-ve-giai-the-doanh-nghiep-84287.htm
[4] Nguyễn Thị Hồng Thắm (2021) Quy định của pháp luật về giải thể doanh nghiệp. Truy cập 09/01/2022, từ https://luatminhkhue.vn/quy-dinh-cua-phap-luat-ve-giai- the-doanh-nghiep.aspx.