Như chúng ta đã biết, Sinh học là môn học có nhiều ứng dụng trong thực tế đời sống, gần gũi với kinh nghiệm, hiểu biết của học sinh. Từ đó tạo ra sự kích thích trí tò mò khoa học và hứng thú học tập của học sinh. Đặc biệt, ở môn học này giúp các em mô tả được hình thái, cấu tạo cơ thể thực vật thông qua các đại diện. Ví thế, đây là thuận lợi rất tích cực trong việc thực hiện đề tài này. Ngày nay, với phương pháp dạy học mới Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã trang bị cho các trường nhiều đồ dùng dạy học, nếu chúng ta không khai thác hết thì sẽ lảng phí. Một trong những thuận lợi khi thực hiện đề tài này là hầu như các tiết dạy môn sinh học 6 đều có đồ dùng dạy học; Học sinh rất hăng hái, say mê môn học này. Bên cạnh đó, Giáo viên cũng như Học sinh dễ dàng tìm kiếm mẫu vật sẵn có để phục vụ cho tiết dạy và học. Đặc biệt, nhà trường được trang bị một số máy chiếu nên giáo viên có thể sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ cho bài giảng.Với phương pháp dạy học mới đòi hỏi học sinh phải làm việc nhiều, đặc biệt vơí những bài có đồ dùng dạy học: Mẫu vật, tranh ảnh đòi hỏi học sinh tự nghiên cứu thảo luận nhóm để trình bày. Nếu giáo viên thường xuyên tạo cho các em một thói quen làm việc thì sẽ dễ dàng hơn, nhưng ở đây các giáo viên không phải tiết nào cũng thực hiện được. Qua nhiều năm công tác giảng dạy lớp 6, tôi nhận thấy việc thay đổi môi trường học tập làm cho các em cảm thấy thích thú khi được gạp thầy cô bạn bè mới nhưng các em cũng găp không ít khó khăn: các em phải làm quen với nhiều môn học mới và khó, mỗi môn học giáo viên có phương pháp giảng dạy khác nhau. Vì vậy hiệu quả học tập chưa cao. Riêng bộ môn trực tiếp giảng dạy tôi nhận thấy các em có thể hiểu bài trên lớp nhưng lại nhanh quên, khi kiêm tra bài cũ, kiểm tra viết thì kết quả chưa cao. Qua thử nghiệm, khảo sát một số phương pháp dạy học tôi thấy phương pháp trực quan góp phần khắc phục khó khăn trên Để trả lời được các câu hỏi các em phải quan sát, đây là đặc thù của bộ môn sinh học nói chung và Sinh học 6 nói riêng. Về kênh hình: Màu sắc đẹp thu hút sự tò mò của các em học sinh lớp 6. Các chi tiết đầy đủ cụ thể, thể hiện rõ cần nghiên cứu, hoạ tiết đẹp, bắt mắt. Trong hệ thống kênh hình còn giới thiệu được tính đa dạng, phong phú của giới thực vật có nhiều đại diện quý hiếm khó thu lượm hoặc chỉ có ở những vùng nhất định (ví dụ cây nắp ấm). Riêng mảng các hiện tượng sinh lý, chức năng kênh hình giới thiệu lại ở dạng mô tả thí nghiệm có sẵn. Ở đây nhiều thí nghiệm, thực nghiệm có thể làm được song việc giới thiệu thí nghiệm giúp học sinh có thể tiến hành độc lập ở nhà theo dõi kết quả và đối chiếu rút ra kết quả báo cáo. Rèn cho học sinh khả năng nghiên cứu khoa học. Dạng mẫu vật thật dễ phân tích dễ tìm, dễ kiếm, học sinh dễ nhận biết được cấu tạo ngoài của thực vật, môi trường sống và vai trò của thực vật đó đối với đời sống con người, các em có thể dễ dàng phân loại lá theo kiểu gân, kiểu mọc, lá đơn, lá kép...
Trang 1Nội dung Trang
I Phần mở đầu 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Giới hạn của đề tài 2 5 Phương pháp nghiên cứu 2
II Phần nội dung 3
1 Cơ sở lý luận 3
2.Thực trạng vấn đề nghiên cứu 3
3 Nội dung và hình thức của giải pháp 4 a Mục tiêu của giải pháp 4 b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp 4 c Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, pham vi và hiệu quả ứng dụng 11 III Phần kết luận, kiến nghị 11
1 Kết luận 11
MỤC LỤC
Trang 2CÁC TỪ VIẾT TẮT
SGK: Sách giáo khoa
HS: Học sinh
GV: Giáo viên
PHẦN I – PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu của toàn cầu hiện nay Đối với nước ta, đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển con người mới toàn diện, có tri thức, có học vấn, có năng lực tư duy hành động, có khả năng tiếp thu được những tinh hoa của các nước trên thế giới để xây dựng đất nước giàu mạnh Vì thế, Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam qui định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”
Chương trình sinh học 6 nghiên cứu chủ yếu về giới thực vật - một thế giới tự nhiên bao quanh chúng ta gần gũi Vì vậy nguồn vật mẫu sống động
và dễ kiếm tìm Vật mẫu là phương tiện dạy học mang lại hiệu quả cao, thu hút sự tìm tòi và khám phá của học sinh Mặt khác, Sinh học 6 nghiên cứu toàn bộ giới thực vật, từ những kiến thức về tế bào thực vật đơn vị sống đến những kiến thức về sinh lý thực vật, môi trường, giới nấm Nội dung kiến thức thường được diễn đạt qua tranh vẽ, mô hình
Là giáo viên đứng lớp tôi nhận thức được trách nhiệm của mình không ngừng học tập nâng cao kiến thức đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy - học Bản thân tôi đã tập huấn, nghiên cứu tài liệu bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở, tôi nhận thấy rằng trong hệ thống các phương pháp dạy học thì phương pháp tự lực quan sát tìm tòi kiến thức là một trong những phương pháp trọng tâm của dạy học Sinh học nói chung và Sinh học lớp 6 nói riêng
Do yêu cầu của ngành trong đổi mới phương pháp dạy học Do đặc trưng của môn sinh học 6 đòi hỏi quan sát trên mẫu vật, kênh hình là chủ yếu
Trang 3làm cho học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức, tự lực sáng tạo, phát triển tư duy
Trên cơ sở đó tôi áp dụng vào sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: Một vài kinh nghiệm về rèn luyện quan sát mẫu vật, kênh hình trong chương trình sinh học lớp 6
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
Qua đề tài này tôi mong muốn nâng cao chất lượng bộ môn Sinh học Học sinh yêu thích môn Sinh học hơn
3 Đối tượng nghiên cứu
Để làm rõ được mục đích tôi đã nói rõ ở trên, tôi đã lấy đối tượng nghiên cứu là học sinh khối 6 Trường THCS
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thông qua hầu hết tiết dạy môn Sinh học 6 hàng ngày ở các lớp mà bản thân được phân công giảng dạy năm học 2018-2019
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra quan sát
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương đối chứng so sánh
- Kết hợp nhiều phương pháp hỗ trợ khác
PHẦN II - NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận.
Qua nghiên cứu các tài liệu tham khảo tôi thấy bản chất của việc đổi mới phương pháp dạy học (hoặc dạy học theo phương pháp tích cực) là việc
sử dụng hợp lý nhiều phương pháp dạy học cùng với nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau để học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, tích cực, sáng tạo Nhằm phát huy tính tích cực phát triển năng lực tư duy nâng cao khả năng vận dụng thực tiễn
Sinh học 6 nghiên cứu toàn bộ giới thực vật, từ những kiến thức về tế bào thực vật đơn vị sống đến những kiến thức về sinh lý thực vật, môi trường, giới nấm Nội dung kiến thức thường được diễn đạt qua tranh vẽ, mô hình hoặc các mẫu vật sống động Tranh trong sách sinh học 6, rõ nét làm sáng tỏ nội dung cần quan sát, tìm tòi Tranh đẹp được sao chụp từ mẫu vật
có thật nên sống động lôi cuốn sự quan sát của học sinh
Người dạy với vai trò chủ đạo tổ chức hướng dẫn học sinh sử dụng các phương pháp quan sát, mô tả thí nghiệm hay thực nghiệm để giúp học sinh tìm tòi phát hiện kiến thức sinh học Người dạy tổ chức hướng dẫn giao việc để học sinh thực hiện các hoạt động học tập, theo dõi giúp đỡ để học
Trang 4sinh đạt được kết quả nhận thức, là người uốn nắn khi học sinh gặp khó khăn
là trọng tài mẫu mực, chính xác khi học sinh thảo luận
Học sinh phải được tiếp nhận kiến thức theo quy luật của quá trình nhận thức "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng" phù hợp với quy luật phát triển tư duy ở học sinh và mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học
từ đó xác định được phương pháp chủ đạo trong dạy học sinh học 6 là quan sát
2 Thực trạng.
Như chúng ta đã biết, Sinh học là môn học có nhiều ứng dụng trong thực tế đời sống, gần gũi với kinh nghiệm, hiểu biết của học sinh Từ đó tạo
ra sự kích thích trí tò mò khoa học và hứng thú học tập của học sinh Đặc biệt, ở môn học này giúp các em mô tả được hình thái, cấu tạo cơ thể thực vật thông qua các đại diện Ví thế, đây là thuận lợi rất tích cực trong việc thực hiện đề tài này Ngày nay, với phương pháp dạy học mới Bộ Giáo Dục
và Đào Tạo đã trang bị cho các trường nhiều đồ dùng dạy học, nếu chúng ta không khai thác hết thì sẽ lảng phí Một trong những thuận lợi khi thực hiện
đề tài này là hầu như các tiết dạy môn sinh học 6 đều có đồ dùng dạy học; Học sinh rất hăng hái, say mê môn học này Bên cạnh đó, Giáo viên cũng như Học sinh dễ dàng tìm kiếm mẫu vật sẵn có để phục vụ cho tiết dạy và học Đặc biệt, nhà trường được trang bị một số máy chiếu nên giáo viên có thể sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ cho bài giảng
Với phương pháp dạy học mới đòi hỏi học sinh phải làm việc nhiều, đặc biệt vơí những bài có đồ dùng dạy học: Mẫu vật, tranh ảnh đòi hỏi học sinh tự nghiên cứu thảo luận nhóm để trình bày Nếu giáo viên thường xuyên tạo cho các em một thói quen làm việc thì sẽ dễ dàng hơn, nhưng ở đây các giáo viên không phải tiết nào cũng thực hiện được
Qua nhiều năm công tác giảng dạy lớp 6, tôi nhận thấy việc thay đổi môi trường học tập làm cho các em cảm thấy thích thú khi được gạp thầy cô bạn bè mới nhưng các em cũng găp không ít khó khăn: các em phải làm quen với nhiều môn học mới và khó, mỗi môn học giáo viên có phương pháp giảng dạy khác nhau Vì vậy hiệu quả học tập chưa cao Riêng bộ môn trực tiếp giảng dạy tôi nhận thấy các em có thể hiểu bài trên lớp nhưng lại nhanh quên, khi kiêm tra bài cũ, kiểm tra viết thì kết quả chưa cao Qua thử nghiệm, khảo sát một số phương pháp dạy học tôi thấy phương pháp trực quan góp phần khắc phục khó khăn trên
Để trả lời được các câu hỏi các em phải quan sát, đây là đặc thù của
bộ môn sinh học nói chung và Sinh học 6 nói riêng Về kênh hình: Màu sắc đẹp thu hút sự tò mò của các em học sinh lớp 6 Các chi tiết đầy đủ cụ thể, thể hiện rõ cần nghiên cứu, hoạ tiết đẹp, bắt mắt Trong hệ thống kênh hình còn giới thiệu được tính đa dạng, phong phú của giới thực vật có nhiều đại diện quý hiếm khó thu lượm hoặc chỉ có ở những vùng nhất định (ví dụ cây nắp ấm) Riêng mảng các hiện tượng sinh lý, chức năng kênh hình giới thiệu
Trang 5lại ở dạng mô tả thí nghiệm có sẵn Ở đây nhiều thí nghiệm, thực nghiệm có thể làm được song việc giới thiệu thí nghiệm giúp học sinh có thể tiến hành độc lập ở nhà theo dõi kết quả và đối chiếu rút ra kết quả báo cáo Rèn cho học sinh khả năng nghiên cứu khoa học Dạng mẫu vật thật dễ phân tích dễ tìm, dễ kiếm, học sinh dễ nhận biết được cấu tạo ngoài của thực vật, môi trường sống và vai trò của thực vật đó đối với đời sống con người, các em có thể dễ dàng phân loại lá theo kiểu gân, kiểu mọc, lá đơn, lá kép
Với điều kiện trang thiết bị hiện có của trường trung học cơ sở, các
em có thể tiến hành quan sát cấu tạo vật thể bằng kính lúp, kính hiển vi trên các tiêu bản có sẵn
3 Nội dung và hình thức của giải pháp
a Mục tiêu của giải pháp
Trang bị cho học sinh phương pháp, kĩ năng học tập phù hợp Trên cơ
sở đó hình thành cho học sinh thói quen học tập tích cực, chủ động trong sát tìm tòi,tự thu thập kiến thức
Sử dụng phương pháp quan sát trong dạy học Sinh học nên cho học sinh quan sát, tư duy tự lập, lĩnh hội kiến thức và mạnh dạn trình bày ý kiến trước tập thể
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
b.1 Bằng việc chủ động quan sát giúp học sinh tự nhận định khái quát vấn đề cần nghiên cứu.
Bằng trực giác kiểm tra vật mẫu học sinh sẽ tìm tòi kiến thức khái quát nhận định được bao quát kiến thức cần nghiên cứu Biết phân tích hay
mô tả mẫu vật từ đó học sinh tự thu thập thông tin vào vở bài tập hay phiếu học tập
Ví dụ: Bài 9- Các loại rễ và các miền của rễ
Mục tiêu: Qua bài học học sinh nhận biết được rễ cọc rễ chùm Biết phân loại rễ, từ đó nêu lên được đặc điểm của rễ cọc và rễ chùm Biết lấy ví
dụ thực tiễn và ứng dụng làm bài tập
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
- GV yêu cầu học sinh đặt các bộ rễ của
nhóm mình có lên bàn học
- GV định hướng : Các em hãy phân
chia các bộ rễ của nhóm mình thành 2
nhóm
- GV theo dõi hoạt động của học sinh
* Lưu ý HS có thể xếp sai
- HS làm theo lệnh
- HS trao đổi nhóm tìm những cây
có bộ rễ giống nhau xếp thành một nhóm
- HS chia những bộ rễ hiện có thành 2 nhóm:
Trang 6
- GV yêu cầu học sinh đối chiếu thực
tế với hình 9.1a và 9.1 b
- GV định hướng cho học sinh nhận
biết đâu là nhóm cây có rễ cọc, đâu là
nhóm cây có rễ chùm
- GV yêu cầu học sinh xác định:
Nhóm cây có rễ cọc và nhóm cây
có rễ chùm
- GV rèn kĩ năng quan sát nhận
định cho học sinh bằng cách yêu cầu
học sinh quan sát hình 9.2
và làm phiếu học tập phân loại rễ
- GV tiếp tục rèn luyện kĩ năng quan sát
cho HS bằng cách cho các ví dụ về cây
có rễ cọc, cây có rễ chùm
Nhóm 1: Gồm rễ cây bưởi và cây
nhãn
Nhóm 2 : Rễ cây lúa,rễ cây tỏi.
- HS quan sát tranh đối chiếu thực tế
HS xác định
Trang 7HS quan sát hình 9.2 phân loại rễ vào phiếu học tập
- Cây rễ cọc: Cây bưởi, hồng xiêm,
- Cây rễ chùm: cây tỏi, cây lúa
- HS lấy ví dụ
Như đã trình bày ở trên qua việc quan sát vật thật cộng với quan sát tranh học sinh đã nắm được một cách khái quát về đặc điểm của rễ cọc, rễ chùm Từ đặc điểm khái quát đó mà các em có thể phân loại rễ, nhận biết được cây rễ cọc, cây rễ chùm trong tự nhiên bằng cách so sánh với vật mẫu, tranh mẫu
b.2 Bằng quan sát giúp học sinh phân tích đặc điểm nội dung kiến thức của vấn đề nghiên cứu.
Quan sát trên vật mẫu để tìm hiểu phân tích nội dung kiến thức:
Ví dụ: Bài 9 - Các loại rễ và các miền của rễ
Như ta đã biết ngoài mục tiêu nhận biết được rễ cọc, rễ chùm thì học sinh còn phải biết nêu đăc điểm của rễ cọc, rễ chùm một cách chính xác
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
Trên cơ sở học sinh xác định được
đâu là nhóm cây rễ cọc, đâu là nhóm
cây rễ chùm trong mẫu vật của tổ
- GV định hướng cho học sinh quan
sát so sánh rễ cọc khác rễ chùm ở
những điểm nào?
- GV yêu cầu học sinh quan sát rễ
cây bưởi và ghi lại đặc điểm của rễ
cây bưởi
- GV yêu cầu học sinh đối chiếu kết
quả quan sát nhận xét với hình 9.1 a
- GV yêu cầu học sinh xác định rễ
cái, con, cháu trên hình
- GV yêu cầu HS quan sát rễ lúa ghi
- Phân biệt nhóm cây : + rễ cọc
+ rễ chùm
- Học sinh quan sát đại diện rễ cọc và
rễ chùm bằng mắt thường và bằng kính lúp
+ Rễ cây bưởi (rễ cọc) gồm 1 rễ cái to dài Rồi từ đó mọc ra các rễ con nhỏ hơn và rễ cháu bé li ti
- HS đối chiếu trên hình 9.1a
- Học sinh xác định các rễ cái, con
Trang 8lại đặc điểm
- Cho học sinh thực hành trên vật
mẫu bằng cách cho HS cầm những
bộ rễ khác nhau và nhận xét nêu ý
kiến về đặc điểm của rễ và xếp loại
Chú ý: Tăng số lượng HS được
biểu
hiện mình trước tập thể.
trên hình
- HS quan sát ghi lại đặc điểm: Rễ lúa (rễ chùm) gồm nhiều rễ to dài gần bằng nhau mọc toả chùm từ gốc thân không có rễ cái
- HS thực hành trên vật mẫu
Giáo viên rèn kỹ năng quan sát cho học sinh, sau khi biết được các đặc điểm đặc trưng của rễ cọc, rễ chùm bằng cách: Cho HS phân nhóm lại các loại rễ mà tổ mình có cho chính xác Qua nắm được đặc điểm các tổ, nhóm tiến hành phân nhóm lại rễ Cho báo cáo trước lớp
Từ những cái chung nhất, khái quát qua quan sát học sinh đã nêu được đặc điểm riêng biệt của các đơn vị kiến thức, hay từ cái chung, khái quát học sinh đã tìm ra cái riêng, bản chất, cụ thể của từng đơn vị kiến thức
b.3 Bằng quan sát giúp học sinh bao quát tổng hợp kiến thức thông qua việc thực hiện các bài tập tổng hợp.
Ví dụ: Bài tập 2 - Bài 9- Các loại rễ và các loại miền của rễ
Để chuẩn bị phần này có thể cho học sinh chép bài tập 2 vào vở bài tập hoặc thực hiện bằng hệ thống phiếu học tập Đối với tôi, phiếu học tập phải cụ thể, rõ ràng và xuất hiện đúng lúc, đúng chỗ mang tính khoa học và tính giáo dục cao Giáo viên trên cơ sở học sinh so sánh được sự khác nhau giữa rễ cọc, và rễ chùm Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm hoàn thành phiếu học tập.
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
- GV yêu cầu HS thảo luận nhóm
hoàn thành phiếu học tập, sau phát
phiếu học tập theo nhóm
Nội dung phiếu học tập:
- Dùng các từ sau đây: Rễ cọc, rễ
chùm điền vào chỗ trống cho thích
hợp:
- HS nhận phiếu của nhóm, thống nhất ghi ( mỗi bàn 1 nhóm) ý kiến nhóm và báo cáo trước lớp
Trang 9- Có 2 loại rễ chính: (1) và (2)
+ (3) có rễ cái to khoẻ đâm sâu
xuống đấtvà nhiều rễ con mọc xiên
Từ các rễ con lại mọc ra nhiều rễ bé
hơn nữa
+ (4) gồm nhiều rễ to dài gần
bằng nhau thường mọc toả ra từ gốc,
thân thành 1 chùm
- Đáp án: 1 Rễ cọc
2 Rễ chùm
3 Rễ cọc
4 Rễ chùm
- GV treo bảng chuẩn kiến thức để
học sinh so sánh và nhận xét hiểu
biết của nhóm mình
- HS hoàn thành phiếu học tập Báo cáo trước lớp, các tổ còn lại nhận xét
bổ sung
- HS tự cho điểm nhóm mình
Như vậy để hoàn thành được dạng bài tập này học sinh phải có kiến thức tổng hợp về các loại rễ, biết phân biệt các loại rễ và biết được đặc điểm của từng loại rễ
b.4 Quan sát cấu tạo hiển vi và chức năng của từng bộ phận.
Yêu cầu học sinh phải biết quan sát trên tranh vẽ hoặc các tiêu bản hiển vi có sẵn Giáo viên cung cấp cho học sinh một nguyên tắc quan sát đó là: Quan sát cấu tạo chung khái quát đến quan sát cấu tạo chi tiết và từ đó mà
dự đoán, nhận địnhvề chức năng sinh lý của các cơ quan, bộ phận
Ví dụ: Bài 9 - Các loại rễ và các miền của rễ.
Phần 2 : Các miền của rễ
- GV yêu cầu học sinh tham khảo 2
SGK
- GV định hướng : HS quan sát H.9.3
SGK ghi nhớ kiến thức bằng trực
giác xác định vị trí các miền của rễ
trên tranh
- HS tham khảo phần 2 SGK
- HS quan sát hình 9.3 xác định vị trí các miền của rễ trên tranh
Trang 10- GV rèn luyện kỹ năng quan sát bằng
cách cho HS xác định các miền của rễ
trên vật thật
* Lưu ý: Cho nhiều HS được thực
hành và trình bày trước tập thể
- GV định hướng : với vị trí các miền
của rễ thì chức năng của mỗi miền
như thế nào?
- GV yêu cầu đối chiếu với sgk
(hoặc giáo viên có thể đưa lên bảng
phụ để học sinh theo dõi)
- Thực hành: Rèn luyện kỹ năng quan
sát nêu và nói trước lớp, bằng cách
chỉ các miền của rễ và nêu các chức
năng của mỗi miền (cho nhiều học
sinh được thực hành)
- HS xác định các miền của rễ trên vật thật
- HS đối chiếu vị trí của các miền với chức năng mỗi miền của rễ
- HS chỉ các miền của rễ và chức năng của mỗi miền
b.5 Quan sát diễn biến thí nghiệm hoặc theo dõi diễn biến kết quả.
Khi quan sát học sinh tự rút ra được mục đích thí nghiệm, tự dự đoán được kết quả, tự giải thích
Ví dụ: Bài 14 - Thân dài ra do đâu.
Mục tiêu của bài là học sinh phải biết được thân dài ra do phần ngọn