Kh ả năng tham gia của phụ nữ dân tộc ít người: cái nhìn t ừ góc độ nhóm ‘im lặng’ 1 Nguyễn Trung Kiên Công ty Nghiên cứu và tư vấn Đông Dương IRC Tóm t ắt Nghiên cứu định tính này sử d
Trang 1Kh ả năng tham gia của phụ nữ dân tộc ít người:
cái nhìn t ừ góc độ nhóm ‘im lặng’ 1
Nguyễn Trung Kiên Công ty Nghiên cứu và tư vấn Đông Dương (IRC)
Tóm t ắt
Nghiên cứu định tính này sử d ng tiếp cận lý thuyết từ cơ s (grounded theory) để
khảo sát và xây dựng mô hình lý thuyết về khả năng tham gia c a ph nữ H‟re và
Kor trong chương trình 135 giai đoạn II và chương trình ISP tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi Bài viết cho thấy khả năng tham gia c a ph nữ H‟re và Kor
dư ng như bị hạn chế từ phía môi trư ng khách quan (thể chế) và cũng như từ
bản thân họ Dựa trên kết quả nghiên cứu này, bài viết đưa ra các giả thuyết: (i) hệ
thống cung cấp thông tin cho ngư i dân trong các huyện miền núi Quảng Ngãi thiên về nam giới; (ii) khả năng tiếp cận thông tin c a ph nữ H‟re và Kor trong hai chương trình 135-II và ISP bị hạn chế và kém hơn nam giới cùng dân tộc; (iii) các chính quyền địa phương/ ban quản lý dự án chưa chú Ủ nhiều đến việc tham vấn ý kiến c a ngư i ph nữ; và (iv) khả năng biểu hiện ý kiến c a ngư i
ph nữ thấp Các dữ liệu được trình bày dưới dạng các câu chuyện, đối thoại, các ghi chép, các lược đồ và các bảng, nhằm m c đích xác định các mô hình lý thuyết cho các nghiên cứu tiếp theo
T ừ khóa
Khả năng tham gia, nhóm im lặng, giới, ph nữ, truyền thông
1 Đặt vấn đề
Ngày nay, tham gia (participation) là một thuật ngữ thông d ng, thậm chí có thể xem nó „chiếm vị trí nổi bật‟ (Cornwall & Brock, 2005: iii) trong lĩnh vực phát triển Việt Nam, việc huy động sự tham gia c a ngư i dân ngày càng có vị trí quan trọng, quyết định đến sự thành công và bền vững c a bất kỳ một dự án phát triển nào, đặc biệt trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo Trong quá trình thúc đẩy sự tham gia c a ngư i dân, một khó khăn thư ng gặp phải là sự tồn tại một „mối
quan hệ quyền lực không tương xứng‟ (Orbe, 1995: 9) giữa nhóm „thống trị‟ và
nhóm „im lặng‟(Littlejohn, 2002)
1 Bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, số 3, 2012, xem http://ifgs.org.vn/index.php?mact=quanlyxuatban_tapchi,cntnt01,default,0&cntnt01what=item&cntnt01alias
=XBTC118&cntnt01returnid=74
Trang 2Nhóm „im lặng‟ (Muted group) (Kramarie, 1981) còn gọi là nhóm bên lề (marginalized group) hoặc là „nhóm ẩn‟ (overlooked groups) (Ardener, 1965,
1975, 1978) là cách gọi một nhóm xã hội vào một địa vị yếu thế trong cơ cấu xã hội so với các nhóm thống trị hay là nhóm đặc quyền (privileged groups) Nhóm
im lặng thư ng gắn với nhóm nữ giới, ví như các nghiên cứu đầu tiên c a Edwin
Ardener (1968, 1978); Shirley Ardener (1975), và Kramarie (1981), nhưng cũng
có thể áp d ng đối với các nhóm yếu thế khác như ngư i nghèo, ngư i dân tộc ít ngư i, hoặc như Orbe (1995: 9-11) xác định là ngư i da màu, ngư i đồng tính nam, đồng tính nữ, lưỡng tính, ngư i khuyết tật, gọi chung là nhóm „cùng văn hóa‟ (co-cultural groups) Trong một cấu trúc xã hội chịu sự chi phối c a nhóm
thống trị, các nhóm im lặng nhận thức bằng tâm thế „bị thống trị” (Kramarie,
1981, 2004), cho nên trong quá trình truyền thông, họ bị „ẩn‟ đi, Ủ kiến c a họ hoặc bị „bóp méo‟ (Orbe, 1995: 9), hoặc „tiếng nói c a họ không được thể hiện rộng rãi trong cộng đồng‟ (Kroløkke & Sørensen, 2006: 30) Kramarie (2004) phân tích rõ rằng:
Ph nữ (và các thành viên c a các nhóm ph thuộc khác) không thể như nam giới tự do nói những gì, khi nào và nơi nào họ muốn, b i vì l i nói và các chuẩn mực trong việc sử
d ng l i nói c a họ bị sắp xếp b i nhóm thống trị - nam giới Vì vậy ph nữ không thể dễ
dàng bộc lộ trực tiếp rõ ràng l i nói c a mình như nam giới Vì vậy ph nữ tr nên im lặng (p 19)
Như vậy, khả năng tham gia c a các nhóm yếu thế sẽ bị cản tr trong các chương trình, dự án phát triển tại địa phương c a họ Những nhóm càng chịu nhiều cấu trúc yếu thế thì càng tr nên „im lặng‟trong quá trình tham gia các dự án/ chương trình phát triển
Việt Nam, ch đề sự tham gia và các nhóm yếu thế chưa được nghiên cứu nhiều dưới dạng liên kết các cách tiếp cận với nhau Ch đề nữ giới được nghiên cứu từ thập niên 60 c a thế kỷ XX (xem Werner & Bélanger, 2002: 13)
Cuối thập niên 1990, đầu thập niên 2000, ch đề giới được quan tâm gồm vấn đề
xã hội hóa trẻ em (Mai, 2003; Lê, 2006); mức sinh (Đặng, 2006), đặc biệt là các
ch đề „nóng” như bất bình đẳng giới như Mai & Lê (1999), Vũ & Carr (2000), Ngân hàng Thế giới (WB) (2001), Trần & Nguyễn (2008), Trần (2010); hay bạo
lực giới như Nguyễn, Vũ & Vũ (1999), Vũ (2006), Hoàng (2006), Trần & Vũ
(2006), Lê & Đặng (2007), Nguyễn & Trần (eds.) (2010); các vấn đề về quan hệ giới như phân công lao động trong gia đình hoặc quan hệ giới trong các quá trình kinh tế như Vũ & Carr (2000), Bùi (2002), Long và những ngư i khác (2000), Knodel và những ngư i khác (2004), Teerawichitchainan và những ngư i khác (2008), hoặc trong di dân (Đặng, 2005); vai trò ngư i cha trong gia đình (Trần &
Đỗ, 2001; Vũ, 2002; Mai, 2003); lấy chồng nước ngoài (Trần, 2005; Phùng, 2006;
Lê, 2010); tuổi kết hôn (Nguyễn, 2010)
Về sự tham gia cũng chưa thực sự có các nghiên cứu đánh giá sâu theo phương diện các mức độ tham gia Các nghiên cứu mới chỉ phân tích sự tham gia
c a ngư i dân nói chung trong các dự án cấp nước, quy hoạch đô thị, quản lý nhà nước, hay dự án khác như Phùng & Đào (1999), WB (1999), Đỗ (2000), Leaf (2001), Nguyễn (2003), hay phân tích chi tiết hơn đến sự tham gia trong quan hệ
với quy chế dân ch cơ s đồng bằng sông Hồng (Trung tâm Dịch v Phát triển Nông thôn (RDSC) & WB, 2003, 2005), Ninh Thuận (WB, 2003), miền núi
Trang 3phía Bắc (Bộ phát triển Quốc tế (DFID) & UNDP, 2003), đồng bằng sông Cửu Long (UNDP & Cơ quan Phát triển Quốc tế Australia (AusAID), 2004) Một báo cáo gần đây c a các nhà tài trợ Việt Nam trong Anderson (ed 2010: 33), cũng xác nhận rằng ngư i dân „chỉ tập trung vào việc thực hiện những vấn đề được quyết định‟ Đã có một số nghiên cứu gắn kết ch đề tham gia và nhóm yếu thế nhưng thư ng chỉ tiếp cận theo quan điểm giới hay nữ quyền ví d như nghiên
cứu đề cập đến sự tham gia c a nữ giới trong hoạt động kinh tế và quá trình ra quyết định (Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), 2002); hay trong việc lập kế
hoạch phát triển thôn bản (Lê, 2004), trong hệ thống chính trị (Võ, 2006)
Tóm lại, hiện nay, các nghiên cứu thư ng tập trung một cách riêng rẽ các cách tiếp cận sự tham gia, vấn đề giới hoặc nhóm yếu thế Thực tế, nhóm ph nữ trong quan điểm giới có thể xem là một nhóm yếu thế hay nhóm im lặng, nhưng hai cách tiếp cận này (từ giới và từ nhóm im lặng) không hoàn toàn đồng nhất với nhau Cách tiếp cận từ góc độ nhóm im lặng không lý giải sự tham gia chỉ dựa trên quan điểm giới, mà cung cấp cho nhà nghiên cứu một cách giải quyết đầy đ hơn dựa trên nguồn lực và các vấn đề „cơ hội‟ c a bản thân các nhóm Nhóm im
lặng, có thể là bất kỳ nhóm nào, chứ không chỉ riêng nhóm ph nữ Do vậy, một nghiên cứu sử d ng lý thuyết nhóm im lặng để xem xét một cách c thể và sâu
sắc sự tham gia c a nhóm yếu thế là cần thiết trong bối cảnh nghiên cứu Việt Nam
M ục đích c a nghiên cứu định tính này là sử d ng cách tiếp cận lý thuyết
từ cơ s (grounded theory) nhằm tìm hiểu và khám phá mô hình lý thuyết về khả
năng tham gia vào các chương trình 135-II và ISP1
c a ph nữ H‟re và Kor tại 5 huyện miền núi gồm Tây Trà, Trà Bồng, Sơn Hà, Ba Tơ và Minh Long c a tỉnh
Quảng Ngãi Khái niệm trung tâm c a nghiên cứu - „khả năng tham gia‟ – tạm
th i được hiểu bao gồm khả năng tiếp cận các thông tin về chương trình và khả năng thể hiện ý kiến c a ngư i ph nữ H‟re và Kor trong việc lập các kế hoạch
c a các chương trình trên Khả năng tham gia c a ngư i ph nữ được xem xét dựa trên hai chiều cạnh là „cơ cấu cơ hội‟ thuộc cấu trúc xã hội và các yếu tố về „thực
lực‟ thuộc ch thể xã hội (xem Alsop, Bertelsen & Holland, 2006: 14-17) Nhóm
ph nữ H‟re và Kor sẽ được xem xét dưới „thấu kính‟ lỦ thuyết nhóm im lặng trong đối sánh với các nhóm còn lại gồm nhóm nam giới ngư i Kinh và ngư i Kor, H‟re
Để đạt tới m c đích trên, bài viết này sẽ trả l i các câu hỏi c thể gồm: (i) vai trò cung cấp thông tin cho ngư i ph nữ c a chính quyền/ các ban quản lý dự
án thể hiện như thế nào? (ii) khả năng tiếp cận thông tin c a ngư i ph nữ dân tộc H‟re và Kor trong hai chương trình 135-II và ISP biểu hiện như thế nào? (iii) vai trò tham vấn ý kiến ngư i dân c a chính quyền/ các ban quản lý dự án thể hiện
như thế nào? (iv) khả năng biểu hiện ý kiến nhóm c a ph nữ?
2 Phương pháp nghiên cứu
1
C hương trình ISP (Implementation Support Programme) là chương trình Hỗ trợ Thực hiện Chương trình 135- II do AusAID tài trợ cho tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2008 đến nay (xem báo cáo MTR IA ISP)
Trang 4Nghiên cứu định tính này xuất phát từ tiếp cận lý thuyết từ cơ s (grounded theory) được lựa chọn nhằm khái quát hóa các mô hình lý thuyết về khả năng tham gia c a ph nữ dân tộc H‟re và Kor tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi
Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ hai cuộc khảo sát thực địa c a hai dự án là Đánh giá Thể chế giữa kỳ chương trình ISP (MTRIA) được thực hiện từ ngày 19/7/2010
tới ngày 6/8/2010 và dự án Đánh giá Truyền thông ISP (ĐGTT) được thực hiện từ ngày 6 đến 13/12/2010
Bộ dữ liệu được sử d ng gồm 37 cuộc thảo luận nhóm tập trung với
ngư i dân (17 cuộc từ dự án MTRIA, 20 từ dự án ĐGTT); 12 thảo luận nhóm
hoạt động sản xuất (AG) nhóm các hộ gia đình nhận hỗ trợ c a chương trình ISP
và 9 thảo luận với Ban Quản lý dự án xã (CMB) gồm các đại diện từ y ban Nhân dân tại 3 huyện Tây Trà, Ba Tơ và Sơn Hà Các báo cáo c a dự án MTRIA ISP (2010), báo cáo ĐGTT (2010), báo cáo c a các thành viên trong đoàn khảo sát c a dự án MTRIA ISP, các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội, các báo cáo
thực hiện chương trình 135-II và ISP tại địa phương là các tài liệu được sử d ng
để phân tích thứ cấp cho nghiên cứu này
3 K ết quả nghiên cứu
3.1 Kh ả năng tiếp cận thông tin
3.1.1 Vi ệc cung cấp thông tin của hệ thống chính quyền
Mô hình 1 dưới đây mô tả lại sự khác biệt giới trong việc cung cấp thông tin về chương trình 135-II và ISP tại Quảng Ngãi Trong khi nam giới được cung cấp thông tin từ cả hai kênh thông tin từ họp xã và từ họp thôn, thì nữ giới hầu như chỉ được cung cấp thông tin trong buổi họp thôn Bên cạnh đó, cũng có thể nhận ra
rằng, nữ giới là đối tượng nhận thông tin cuối cùng trong hệ thống truyền tải thông tin c a xã – thôn
Mô hình 1: S ự khác biệt giới trong việc cung cấp thông tin về chương trình 135-II và
ISP
Ngu ồn: Tổng hợp từ IRC (2010b) và dữ liệu ĐGTT, 2010
Theo mô hình 1, kênh thông tin thứ nhất, chính quyền xã tổ chức họp để cung cấp thông tin về chương trình (họp trực báo vào thứ hai hàng tuần) và
Xã
Cán b ộ
thôn
H ọp thôn
Nam gi ới
N ữ giới
T ổ chức và
ph ổ biến
V ề dự họp
1-2 l ần một năm
T ổ chức họp xã,
ph ổ biến thông tin,
đưa công văn
Trang 5thư ng chỉ m i các cán bộ thôn tham gia họp Theo cả khảo sát MTRIA và
ĐGTT thì nam giới đảm nhiệm hầu hết các vị trí chính quyền và đoàn thể tại thôn – như trư ng thôn, phó thôn, bí thư chi bộ, các tổ trư ng tổ sản xuất, các khu trư ng khu dân cư, hội nông dân vì vậy khả năng họ truyền đạt thông tin cho các nam giới khác sẽ thuận lợi hơn Trong khi đó, nữ giới thư ng ít khi đảm nhiệm
một chức v nào liên quan đến hệ thống chính quyền, họ thư ng chỉ đảm nhiệm
chức v trong hội ph nữ Do đó nam giới hư ng lợi đầu tiên trong việc tiếp cận thông tin về chương trình 135-II và ISP
Kênh thứ hai là cán bộ xã và cán bộ thôn cung cấp thông tin trực tiếp tại
họp thôn Có thể nói, ph nữ H‟re và Kor chỉ có thể nhận được thông tin từ phần
lớn qua các cuộc họp thôn Hơn nữa, nữ giới cũng là nhóm được cung cấp ít thông tin từ cán bộ xã hơn nam giới do một thực tế là cán bộ xã ít khi xuống tham gia
họp thôn: „„Cán bộ xã 1 năm về gặp dân 1-2 lần‟ hay „Thỉnh thoảng cán bộ xã có
xuống ‟ (nhóm nữ, ĐGTT) Bên cạnh đó, nữ giới cũng chưa nằm trong nhóm đối tượng được ưu tiên được cung cấp thông tin b i vì „nữ giới thư ng không phải là
ch hộ‟ (Thảo luận nhóm CMB, MTRIA) Như vậy, mặc dù các cán bộ xã có cung cấp thông tin được qua họp thôn nhưng với việc không nằm trong nhóm đối tượng được ưu tiên khi thông báo họp thôn nên việc cung cấp thông tin cho nữ
giới sẽ gặp nhiều khó khăn và hạn chế hơn
3.1.2 Kh ả năng tiếp cận thông tin của phụ nữ H‟re và Kor
Mức độ tiếp cận thông tin không chỉ đơn giản là một quá trình tiếp nhận thông tin
mà quá trình này phải được xem xét bao gồm hai yếu tố là khả năng tiếp nhận: có
tiếp nhận thông tin nào không? đó là thông tin gì? có nhận thức về thông tin được
tiếp nhận không?; và khả năng lưu giữ: có ghi nhớ việc đã tiếp nhận thông tin gì
không?
Kh ả năng tiếp nhận thông tin
Nghiên cứu này tổng hợp mức độ nhận biết thông tin c a hai nhóm nam và nữ dưới các cấp độ: không biết, biết ít, biết vừa phải và biết đầy đ (xem bảng 1)
B ảng 1: Mức độ tiếp nhận thông tin của nhóm nữ và nhóm nam
Mức độ Chỉ báo cụ thể Các nhóm nữ Các nhóm nam
Không
biết gì Hiếm khi nhận thông tin, không biết một thông tin gì về các chương trình,
dự án tại địa phương hoặc nắm không
đáng kể thông tin và nắm một cách
rất mơ hồ
Ph nữ tình cảnh đặc biệt:
Đơn thân, ngư i già
M ù chữ và học vấn thấp
K hông biết tiếng
Kinh
Nam giới tình cảnh đặc biệt:
M ù chữ Không biết tiếng
Kinh
Biết ít Thỉnh thoảng nhận thông tin qua hỗ
trợ, chỉ biết một số hỗ trợ c thể c a
dự án, chương trình cho hộ gia đình
nhưng không biết thuộc dự
án/chương trình nào
P h nữ hộ nhận hỗ trợ, được đi tập huấn Làm ch hộ gia đình
( góa chồng)
Có trình độ học vấn tương đối cao
Có khả năng đọc, viết, giao tiếp tiếng
Kinh tốt
Ngư i già
Mù chữ, có học vấn
K hả năng sử d ng tiếng Kinh hạn chế Bận đi làm
Trang 6Mức độ Chỉ báo cụ thể Các nhóm nữ Các nhóm nam
Biết vừa
phải Thường nhận thông tin qua công việc và nhận hỗ trợ, biết một số hỗ trợ c
thể tại địa phương và nắm được một
số thông tin cơ bản về một số chương
trình như 135-II và ISP
L àm trong chi hội
ph nữ Trẻ, có học vấn và
có đi tập huấn
Làm cán bộ thôn, xã
Có học vấn, được đi tập huấn
Cựu chiến binh Biết đầy
đ Thường nhận thông tin qua công việc và thực hiện hỗ trợ tại xã, thôn, biết
đầy đủ về m c đích, nội dung các
chương trình, dự án thực hiện tại địa
phương Do đó, nhóm này có thể
phân biệt được các chương trình dự
án diễn ra tại địa phương
Nguồn: Tổng hợp từ IRC (2010a, tr 70-71), dữ liệu MTRIA và ĐGTT
Bảng trên cho thấy không có quá nhiều sự khác biệt giữa hai nhóm nam và
nữ mức độ „không biết gì‟ và „biết ít‟ Sự khác biệt rõ ràng hơn xuất hiện mức
độ „biết vừa phải‟ Không có nhiều nữ giới đáp ứng mức độ này Một số trư ng
hợp khá ít gặp đó thư ng là cán bộ trong Hội ph nữ xã hoặc chi hội ph nữ thôn
và những ngư i ph nữ trẻ có học vấn, đã được tập huấn Nam giới xuất hiện nhiều hơn trong các chức v là: cán bộ xã, cán bộ thôn, những ngư i có học vấn,
và các cựu chiến binh, thông thạo tiếng Việt và có nhận thức tốt, nam giới thể
hiện sự nhận thức rõ ràng và c thể hơn nhóm nữ mức độ biết đầy đ chỉ có nhóm nam với các cán bộ xã, thôn đáp ứng được
Phân tích từ dự án ĐGTT cũng cho thấy, trong khi hầu hết các nhóm nam
giới đều nhận thức rõ ràng và khá toàn diện các khía cạnh về chương trình 135-II:
Anh Đ: Là chương trình được Nhà nước hỗ trợ về đư ng giao thông nông thôn Ví d : làm đư ng giao thông nông thôn, làm đư ng bê tông,v.v
Anh C: Chương trình 135 xây dựng trư ng, xây dựng trạm y tế, làm đư ng bê tông, cầu
c ống, vật nuôi cây trồng
Anh D: Ch ương trình 135 là chương trình c a dự án hỗ trợ sản xuất, chăn nuôi, cơ s hạ
t ầng
Anh V: Chương trình 135 là chương trình dự án giúp đỡ cho con dân, hỗ trợ cho những
h ộ còn thiếu thốn như nhà, cây trồng
Nguồn: Nhóm nam, ĐGTT
thì nhận thức c a đa phần nữ giới tập trung vào các hỗ trợ c thể gắn với gia đình
họ, ví d như:
Ch ị C: 135 cho nhà, cho cửa đó hả? Có nghe Biết!
Ch ị N: Hỗ trợ bò, heo, gà
Chị K: Cho tôi nhà vệ sinh vậy đó, rồi cho heo, cho bò
Chị D: Cho 1 cái giếng (họ có ghi trên giếng do 135 hỗ trợ) Cho cuốc, xà beng cách
đây 1 năm rồi
Cô H: C ô được hỗ trợ xà beng, cuốc nhưng không biết do chương trình nào hỗ trợ) Nguồn: Nhóm nữ, ĐGTT
Lưu giữ và „tái mù thông tin‟
Nghiên cứu IRC (2010a) phát hiện ra rằng lượng thông tin nhận được không phải
là một „hằng số‟ bất biến trong nhận thức c a ngư i dân tức là có „sự thiếu bền
vững c a tiếp nhận thông tin‟ (tr 76) Cũng như hiện tượng „tái mù chữ‟ hiện tượng „tái mù thông tin‟ xuất hiện có thể là do ngư i dân không còn được tiếp t c
Trang 7tiếp nhận thông tin hoặc thông tin tiếp nhận không thư ng xuyên, không được sử
d ng trong thực tế
Mô hình 2: M ức độ tiếp cận thông tin về chương trình của phụ nữ H’re và Kor
Nguồn: Tổng hợp từ dữ liệu MTRIA và ĐGTT
Một câu hỏi đặt ra là hiện tượng „tái mù thông tin‟ diễn ra như thế nào nhóm nam giới và nhóm nữ giới? Bài viết phát hiện rằng hiện tượng „tái mù thông tin‟ diễn ra cả hai nhóm nam và nữ giới nhưng nguyên nhân dẫn đến „tái mù thông tin‟ lại khác nhau Nam giới cho rằng lý do quên là vì bận “đi làm miết” (nhóm nam, MTRIA, thôn IV Vả Tia, Ba Lế, Ba Tơ) Nhưng đối với ph nữ thì nguyên nhân là quá bận bịu với các công việc gia đình như gánh nước xa, chăm sóc con nhỏ, chăn nuôi, trồng trọt Hơn nữa, hiện tượng „tái mù thông tin‟ dư ng như diễn ra dễ dàng hơn với nhóm nữ khi mà họ tham gia tiếp nhận thông tin
trong m ột tâm thế không sẵn sàng, c thể họ phải mang cả con nhỏ đi theo trong
các cuộc họp thôn hoặc cuộc phổ biến thông tin Hiện tượng này được ghi nhận khá nhiều các nhóm nữ, ví d thôn Trà Ích, Trà Lãnh, Tây Trà (MTRIA), thôn Con Dóc - Con Riêng xã Ba Trang, huyện Ba Tơ (MTRIA) ảnh hư ng rất lớn đến khả năng tập trung c a họ vào việc tiếp nhận thông tin
Hộp 1 dưới đây mô tả một vài phát biểu điển hình về hiện tượng „tái mù thông tin‟ đối với nhóm nữ:
Hộp 1: Biểu hiện của hiện tượng ‘tái mù thông tin’ ở nhóm nữ H’re và Kor
- Quên hết rồi ;
- Cho cuốc, xà beng cách đây 1 năm rồi nhưng không nhớ c a chương trình nào
Nhớ 134, không nhớ 135, chưa nghe 135 triển khai lâu lắm rồi, năm chín mấy lận
- Có cho nhà nhưng không nhớ thuộc 135 không;
- Cho giếng, cấp xà beng, xẻng Nhiều lắm quên hết;
- Nhiều dự án làm sao nhớ nổi Chương trình 135 có nước sạch thì nhớ, còn cái kia
(ISP- tác giả) thì không nhớ, nhiều dự án và tập huấn thì không nhớ được 134 cho
nhà cửa, 135 không nhớ, do không đi tập huấn đầy đ , chỉ nghe thôi, không nhớ
triển khai th i gian nào
- Có nói nhưng không nhớ;
- Đi tham quan đi tỉnh thì đi mấy huyện luôn, không nhớ hết được
Nguồn: Tổng hợp từ ĐGTT
Hiện tượng „tái mù thông tin‟ rõ ràng ảnh hư ng rất lớn tới nhận thức c a ngư i dân sau khi được cung cấp thông tin, đặc biệt là ph nữ - vốn được cung
cấp ít thông tin và không thư ng xuyên Chính vì bị „tái mù thông tin‟ cho nên
Lưu giữ
Tái mù thông tin
Ti ếp
c ận
thông
tin
Trang 8nhiều ph nữ lại quay tr về tình trạng „không biết‟ thông tin gì, mặc dù đã được cung cấp, điều này càng làm cho khả năng tham gia c a họ giảm đi
3.2 Kh ả năng biểu hiện ý kiến
3.2.1 S ự thúc đẩy tham vấn ý kiến của chính quyền/ban quản lý dự án
Câu hỏi đặt ra là liệu với ngư i cung cấp tin hầu hết là nam giới đang đảm nhiệm các chức v cán bộ xã - thôn thì liệu họ có chú ý tới quyền lợi c a nữ giới và chú
trọng đến việc tạo điều kiện cho nữ giới phát biểu ý kiến không? Hay nói cách khác: nhận thức giới c a lãnh đạo/ nhà quản lý dự án tại xã như thế nào?
Về phía cán bộ thuộc Ban quản lý c a xã, nghiên cứu này chưa thấy ý kiến nào tỏ
ra thực sự đề cao vai trò và ý kiến c a nữ giới trong cuộc họp: họ„chưa có ý tưởng
đề cập đến nữ giới‟ như là một trọng tâm trong quá trình tổ chức họp thôn
(MTRIA) Mặt khác, việc tạo điều kiện để lập kế hoạch tại thôn cũng khá „hình
thức‟ đối với ph nữ (xem mô hình 3) B i quá trình tổ chức lập kế hoạch tương đối khép kín với vai trò chỉ đạo c a cấp huyện từ khâu đầu cũng như khâu cuối
c a dự án giữa, tức trong cuộc họp thôn, như đã phân tích trên, có sự tham gia c a cả nam và nữ Vấn đề ph nữ có tham gia và cung cấp ý kiến trong cuộc
họp thôn có dẫn tới việc bao hàm quan điểm và lợi ích c a họ trong kế hoạch dự
án c a địa phương không sẽ được phân tích phần tiếp theo Tuy nhiên, có thể
thấy, sự tham gia c a nữ giới hai cuộc họp xã là hầu như không có cuộc họp
xã đầu tiên để lập khung kế hoạch thư ng chỉ có sự tham gia c a các cán bộ xã
nằm trong Ban quản lý dự án, ngoài ra có thể có thêm trư ng thôn để triển khai công việc tại các thôn Những ngư i này hầu hết là nam giới Trong khi đó,
cuộc họp xã tiếp theo sau khi có kết quả họp thôn, sự tham gia c a nữ giới hầu như không có khi mà thành phần chỉ có cán bộ xã và trư ng các thôn
Mô hình 3: Quy trình l ập kế hoạch trong chương trình 135-II và ISP
Ngu ồn: Tổng hợp từ các CMB của MTRIA
3.2.1 Kh ả năng biểu hiện ý kiến của phụ nữ H‟re và Kor
Khả năng biểu hiện ý kiến c a ph nữ H‟re và Kor được phân tích từ dữ liệu các
buổi thảo luận nhóm, dựa trên các khía cạnh như: ph nữ tích cực tham gia thảo
luận, đưa Ủ kiến và các đánh giá về sự tham gia thực tế c a ph nữ Qua phân tích
dữ liệu cho thấy nữ giới thư ng bị rơi vào tình trạng „im lặng‟ trong cuộc họp cần
phải trao đổi ý kiến Theo các thành viên thuộc ban quản lý dự án xã, trong các
cuộc họp thôn, nữ giới thư ng th động và ph thuộc vào việc ngư i điều hành có
chỉ định họ không: „Nữ có phát biểu khi mà ngư i tổ chức cuộc họp chỉ định‟ (Thảo luận nhóm CMB xã Ba Trang) Không chỉ có nam giới nhận xét về sự th
Huy ện phân
b ổ kinh phí
Xã l ập „khung kế
ho ạch‟ để triển khai
H ọp thôn lựa
ch ọn đầu tư
H ọp xã thống
nh ất
Cán b ộ xã (nam)
h ọp, cán bộ thôn
(nam) tham gia
Trư ng thôn tổ
ch ức, nam – nữ
cùng tham gia
Cán b ộ xã (nam)
h ọp, cán bộ thôn
(nam) tham gia
Trang 9động và ít ý kiến c a nữ giới, mà bản thân ph nữ cũng đồng ý với nhận xét c a nam giới về “sự th động” c a bản thân họ (xem đoạn thảo luận dưới đây):
H ỏi: Trong cuộc họp ai là ngư i phát biểu ý kiến nhiều hơn, nam hay nữ ạ?
Anh H: Thư ng thư ng là nam…Ủ kiến c a ph nữ thì ít hơn
H ỏi: Số lượng ai đi họp nhiều hơn
Anh H: Có lúc thì nam, đi véng [đi vắng] thì nữ đi
Chú Đ: Nữ đi họp nhiều
H ỏi: Tại sao nữ đi họp nhiều mà nam phát biểu nhiều hơn?
Chú Đ: Vì họ không biết phát biểu đó
Chị H: Do thiếu trình độ và không có ý kiến
Ch ị Th: Chị cũng đồng ý
Chị N: Do vừa không tự tin, vừa thiếu trình độ, không biết suy nghĩ ạ (cư i)
Chú Đ: Nó ít nghe nó cũng không phát biểu…thiếu trình độ
Anh H: Thư ng đàn bà hay mắc cỡ lắm
Nguồn: Trích dẫn từ MTRIA
Đoạn thảo luận trên cho thấy ý kiến c a ph nữ „ít hơn‟ nam giới Đáng chú
ý là cả nam giới và nữ giới đều cùng thừa nhận nữ giới kém tích cực và không
hoặc ít phát biểu Nam giới thì nhìn nhận nữ giới „không biết phát biểu‟, „ít nghe‟,
„thiếu trình độ‟ và „mắc cỡ‟ Còn nữ giới thì cũng đồng tình với ý kiến đó, họ cho
rằng bản thân họ „thiếu trình độ‟, „không tự tin‟, „không biết suy nghĩ‟ Vấn đề này nói lên rằng chính ph nữ cũng tỏ ra kém tự tin vào bản thân mình và điều đáng quan tâm hơn là họ đang tự bằng lòng với thực trạng đó Đó là một trong
những lực cản lớn nhất đối với sự tham gia c a họ vào các hoạt động xã hội Hộp
2 minh họa điển hình cho tình trạng „im lặng‟ c a nữ giới
Hộp 2: Tâm lý rụt rè của nữ giới trong tham gia thảo luận nhóm
:Chị C trong suốt buổi thảo luận thường im lặng và ngoảnh mặt ra ngoài Chị N và chị V ít nói và chỉ nói lí nhí khi được hỏi Các chị thường ngại nói dù nói tiếng H‟re (Thôn Nước Như, xã Ba
Xa, huyện Ba Tơ)
Chị T và chị Th được hỗ trợ bò và heo nên đã kể lại được nhưng khi nói chậm và phải suy nghĩ lâu, thường quay sang hỏi anh trưởng thôn (Thôn Bà Ha, xã Ba Xa, huyện Ba Tơ)
Chị Đ làm cán bộ y tế xã nên tỏ ra hiểu biết, diễn đạt tốt hơn, nhưng chị vẫn rụt rè và chị biết không nhiều về chương trình 135-II và ISP Hai chị L và M tỏ ra kém tích cực và thường im lặng trong buổi thảo luận Các anh nam giới nói nhiều hơn và chiếm hầu hết ý kiến (Thôn I Bái Lế, xã
Ba Lế, huyện Ba Tơ)
Chị D đi họp nhưng phải mang con đi theo, con khóc và quấy nên chị thỉnh thoảng bồng con ra ngoài dỗ, không có điều kiện tập trung vào cuộc họp (Thôn Trà Ích, xã Trà Lãnh, huyện Tây Trà) Chị N và chị T thường ít khi đóng góp ý kiến và thường nói theo nhóm nam giới (Thôn Trà Dinh,
xã Trà Lãnh, huyện Tây Trà)
Nguồn: Tổng hợp từ dữ liệu MTRIA
4 Bàn lu ận
Y ếu tố cản trở khả năng tham gia của nữ giới
Việt Nam, đã có một số nghiên cứu phân tích về các nguyên nhân cản tr sự tham gia c a nữ giới Các nghiên cứu này cũng đã bàn tới các trở ngại mà ph nữ
đang gặp phải trong quá trình tham gia như tình trạng bất bìnhđẳng về giới trong quyền ra quyết định trong gia đình, bạo lực gia đình, sự coi thư ng sức khỏe ph
nữ (ADB, 2002); sự không tôn trọng ph nữ, địa vị thấp c a ph nữ trong gia đình và trong phân công lao động (Nguyễn, 2004); nam giới là ch hộ, từ phong
t c lạc hậu, ph nữ bị hạn chế m i họp, quá nhiều công việc gia đình, hạn chế
Trang 10trình độ văn hóa và không biết/ biết ít tiếng Kinh, định kiến không tôn trọng ý
kiến ph nữ (Lê, 2004: 50); tâm lý e ngại c a ph nữ tự cản tr họ (Nguyễn, 2009: 47)
Các phát hiện được trong nghiên cứu này cũng chia sẻ đối với kết quả c a các nghiên cứu trên Tuy nhiên, điểm mới c a nghiên cứu này là tập trung phân tích „khả năng tham gia‟ từ góc độ nhóm im lặng Trong đó, bài viết này chỉ ra sự thiếu h t về „thông tin‟ như một „tài sản‟ (xem Alsop, Mette & Jeremy, 2006) quan trọng đối với sự tham gia c a họ Sự thiếu h t về thông tin và thiếu khả năng
diễn đạt ý kiến khiến ph nữ H‟re và Kor rơi vào tình trạng im lặng trong môi trư ng truyền thông tại địa phương Điều này biểu hiện cả hai khía cạnh: môi trư ng cung cấp thông tin và các đặc trưng xuất phát từ bản thân ngư i ph nữ H‟re và Kor Đối với khía cạnh đầu tiên, nghiên cứu phát hiện và nhấn mạnh rằng
những ngư i ph nữ này đang trong một hệ thống và môi trư ng thông tin
„của‟, „do‟, và „vì‟ nam giới, không chỉ nam giới ngư i Kinh, mà còn là nam giới
ngư i Kor và H‟re Thậm chí, không chỉ có nam giới, so với nhóm nữ giới ngư i Kinh, nhóm nữ H‟re và Kor cũng tr thành nhóm „im lặng‟ (như thôn Trà Dinh,
xã Trà Lãnh, Tây Trà; thôn Lạc Sơn, xã Long Sơn, huyện Minh Long) Do vậy,
nữ giới H‟re và Kor hầu như có rất ít cơ hội để tiếp cận thông tin Khía cạnh thứ hai, nghiên cứu này nhấn mạnh đến việc ph nữ H‟re và Kor không thể tham gia
một cách hiệu quả vào các dự án c a chương trình 135-II và ISP vì họ chưa thoát
khỏi vòng luẩn quẩn c a sự chưa biết – tiếp nhận – tái mù thông tin - không biết
Tuy nhiên, điều đáng chú Ủ là không phải người phụ nữ nào cũng „im lặng‟ với
m ức độ như nhau
Thang b ậc mức độ tham gia
Đã có nhiều nghiên cứu phân tích mức độ tham gia c a công dân Từ góc độ „trao quyền‟ cho ngư i dân, nghiên cứu sớm c a Sherry R.Arnstern (1969, 1971) cho
rằng sự tham gia như một cái „thang‟ với các „nấc‟ tăng dần việc trao quyền lực
công dân Có 8 nấc thang, 3 cấp độ tham gia, càng cấp độ tham gia cao hơn thì ngư i dân sẽ có „quyền lực‟ cao hơn Từ góc độ hành động tham gia c a ngư i dân, quan điểm năm 1973 c a Brager và Specht (xem Carrey, 2000: 36-38; Wright, 2003: 72) lại xem mức độ tham gia là một chuỗi hành động của người tham gia t ừ thấp đến cao theo hướng tăng mức độ quyền lực tới khi ngư i dân có
quyền kiểm soát đối với những phát triển liên quan đến bản thân họ WB (1996)
chỉ nêu ra 04 cấp độ tham gia gồm chia sẻ thông tin, tham vấn, tranh luận và hợp tác và cuối cùng là trao quyền (empowerment) Một quan điểm đáng chú Ủ nữa là
c a Goethert năm 1998 (Imparato & Ruster, 2003: 22) khi ông cho rằng, sự tham gia nằm trong thế đối sánh và thay đổi vai trò giữa cộng đồng và những tác nhân
bên ngoài (outsider) qua 5 cấp độ từ thấp lên cao, từ việc cộng đồng nằm ngoài quá trình „làm ch ‟ cho tới khi họ là ngư i „đứng đầu‟ và thực hiện việc huy động tác nhân bên ngoài với tư cách là nguồn lực
Dựa trên các cách tiếp cận trên, chúng tôi cho rằng „thang bậc‟ (thuật ngữ c a Arnstein)mức độ tham gia nên được xây dựng theo mô hình vai trò đối sánh giữa
chính quyền, các nhà lập và quản lý dự án (tác nhân bên ngoài) và vai trò tham gia c a ngư i ph nữ H‟re và Kor, theo hướng tăng dần mức độ trao quyền và