1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vertical and horizontal coordination in agriculture - thực trạng và định hướng phát triển trong liên kết sản xuất chế biến và tiêu thị lúa tại đồng bằng sông cửu long

46 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 643,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một cách tự phát hoặc có sự tham gia của chính quyền địa phương ở một số tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, các hình thức liên kết nông dân – doanh nghiệp, nông dân – nông dân nhằm tiêu thụ l

Trang 1

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC G)A (À NỘI

VIỆN NG()ÊN CỨU KINH TẾ VÀ C(ÍN( SÁC( VEPR)

Chuyên đề

TRONG L)ÊN KẾT SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN

VÀ T)ÊU T(Ụ LÚA

Người thực hiện: TS Hồ Cao Việt & cộng sự

Tp H ồ Chí Minh, tháng năm

Trang 2

2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC G)A (À NỘI VIỆN NG()ÊN CỨU KINH TẾ VÀ C(ÍN( SÁC( VEPR

Chuyên đề

Hồ Cao Việt 1

1 Giới thiệu về mô hình Cánh đồng mẫu lớn CĐML, Large farm-Small farmers

ở Việt Nam & các tỉnh vùng ĐBSCL

Đứng trước những thách thức ngày càng tăng trong sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng lúa nói riêng ở Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa Người nông dân trồng lúa sản xuất cá thể, diện tích canh tác lúa nhỏ, khó áp dụng các kỹ thuật tiên

tiến và vận hành máy móc cơ giới Doanh nghiệp lúa gạo thu mua lúa của nông dân thông qua nhiều tầng lớp thương lái, tăng chi phí trung gian, chất lượng lúa không đồng

bộ, chất lượng gạo xuất khẩu thua kém so với gạo các nước xuất khẩu trong khu vực, giá

xuất khẩu và lợi nhuận cho ngành lúa gạo không như kỳ vọng, mặc dù hàng năm xuất

khẩu 6-7 triệu tấn gạo Vòng lặp Được mùa lúa , mất giá lúa diễn ra hàng năm và trong từng vụ lúa

Nhận thấy vấn đề mấu chốt trong ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam là sự thiếu liên

kết giữa Doanh nghiệp lúa gạo và Nông dân Nông dân sản xuất ra sản phẩm mà thị trường không cần hoặc có nhu cầu thấp Phản hồi của nhu cầu thị trường không được doanh nghiệp chuyển tải kịp thời đến người sản xuất Doanh nghiệp mua lúa theo từng

vụ để chế biến, thiếu sự kết nối, liên kết, hợp tác với nông dân để đặt hàng theo tín

hiệu của thị trường Hậu quả là cả ngành lúa gạo luôn phải đối mặt với rủi ro giá xuống

thấp, nông dân thua lỗ, doanh nghiệp giảm lợi thế cạnh tranh trên thương trường

Một cách tự phát hoặc có sự tham gia của chính quyền địa phương ở một số tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, các hình thức liên kết nông dân – doanh nghiệp, nông dân – nông dân nhằm tiêu thụ lúa gạo dưới nhiều tên gọi khác nhau như cánh đồng lớn , cánh đồng liên kết , cánh đồng mẫu , cánh đồng hợp tác , nhằm liên kết nhiều hộ nông dân sản xuất – tiêu thụ lúa đã được hình thành và phát triển ở một số địa phương

ở ĐBSCL từ những năm - Qua đó, Bộ NN&PTNT, các nhà khoa học nông nghiệp, chính quyền địa phương đã nhận thấy tính cấp thiết và vai trò quan trọng của hình thức liên kết này, và phát triển thành Mô hình CĐML ở ĐBSCL Mô hình được

1 Ti ến sĩ Kinh tế, Nghiên cứu viên chính Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, Giảng viên thỉnh

gi ảng chuyên ngành Marketing Email: hocaoviet2000@yahoo.com

Trang 3

3

đánh giá và tổng kết những kết quả bước đầu trong năm và hiện nay lan rộng ra nhiều tỉnh thành trong cả nước Mô hình này ở ĐBSCL tập trung chủ yếu vào sản xuất – tiêu thụ lúa.

2 Khái niệm và lịch sử hình thành ý tưởng Cánh đồng mẫu lớn và thực tiễn của

sự phát triển của mô hình CĐML

 Khái niệm Cánh đồng mẫu lớn :

Trước khi xuất hiện cụm từ Cánh đồng mẫu lớn , ở một số tỉnh Đồng bằng sông

Cửu Long đã xuất hiện cụm từ Cánh đồng liên kết , Cánh đồng hợp tác , Cánh đồng

mẫu , nhằm chỉ ra một mô hình hợp tác, liên kết giữa những hộ nông dân (trồng lúa trong một vùng với các nhà doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo

Cụm từ Cánh đồng mẫu lớn lần đầu tiên xuất hiện ở tỉnh An Giang, là tên gọi của cánh đồng lúa được nông dân trồng một loại giống xác nhận Năm , Đồng Tháp xây

dựng mô hình Cánh đồng liên kết , nhằm gắn kết nông dân với nhau trong sản xuất và

gắn kết tiêu thụ lúa cho nông dân Sở NN&PTNT Đồng Tháp 2 Nông dân được doanh nghiệp cung cấp giống, hướng dẫn kỹ thuật canh tác Doanh nghiệp vận chuyển, sấy khô

và bao tiêu sản phẩm Đỗ Kim Chung, Quy trình này đã cho năng suất và lợi nhuận cao hơn so với canh tác trên cánh đồng nhỏ Tăng Minh Lộc, 2012) Việt Nam cần

phải có một tầm nhìn chiến lược cho ngành lúa gạo trước cơ hội và thách thức trên cơ sở liên kết giữa các doanh nghiệp với nông dân thành những vùng sản xuất lớn, kết hợp chế

biến, xuất khẩu (Hồ Cao Việt, 2012)3 Và để làm được điều đó trong bối cảnh thị trường

cạnh tranh, nông dân và doanh nghiệp cần phải thay đổi phương thức liên kết thông qua

ký kết các hợp đồng (Hồ Cao Việt, 2011)4

Một số tác giả nghiên cứu cho rằng: Cánh đồng mẫu lớn là tên gọi của nông dân Nam Bộ, đó là một cánh đồng trồng một hay vài loại giống cây trồng với diện tích lớn, có cùng thời vụ và quy trình sản xuất, gắn sản xuất với đảm bảo cung ứng về số lượng và

chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của thị trường Đỗ Kim Chung và CTV, Cánh đồng mẫu lớn là cánh đồng mẫu làm mẫu, làm mô hình có diện tích lớn, tập hợp từ vài chục đến vài trăm nông dân có ruộng liền kề nhau trong một ấp hay trong một xã, cùng nhau sản xuất một loại giống lúa, gieo sạ lúa đồng loạt, áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến trong các khâu từ làm đất, gieo trồng, tưới tiêu nước, bảo vệ thực vật, thu

2 S ở NN&PTNT Đồng Tháp Sơ kết mô hình cánh đồng mẫu lớn và ghi chép sổ tay sản xuất lúa theo

VietGAP, 2011-2013

3 Hồ Cao Việt (2012) Ngành hàng lúa gạo Việt Nam: Tầm nhìn chiến lược trước cơ hội và thách thức Sách

tham kh ảo, nhiều tác giả Nhà xuất bản Đại học Cần Thơ Trang -84

4 Hồ Cao Việt (2011) Hợp đồng sản xuất – tiêu thụ nông sản trong bối cảnh thị trường cạnh tranh Liên kết

nhà -Giải pháp cơ bản góp phần xây dựng nông thôn mới ĐBSCL Sách tham khảo, nhiều tác giả Nhà

xu ất bản Văn hóa Thông tin Trang -300

Trang 4

4

hoạch, phơi sấy và tiêu thụ, lượng lúa hàng hóa được các doanh nghiệp ký kết hợp đồng thu mua Cánh đồng mẫu lớn là cánh đồng lớn có nhiều nông dân nhỏ Nguyễn Trí

Ngọc, 2012)5

Mô hình Cánh đồng mẫu lớn trước tiên được áp dụng cho cây lúa ở ĐBSCL và

hiện nay được nhân rộng ra các cây trồng khác ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung

Từ những khái niệm trên và thực tiễn nội dung hoạt động, có thể khái quát thành

khái niệm chung sau: Cánh đồng mẫu lớn là cụm từ chỉ sự liên kết giữa những hộ nông dân với nhau và nông dân với các doanh nghiệp các khâu từ sản xuất đến chế biến và tiêu

th ụ sản phẩm nhằm mang lại hiệu quả cao cho các bên tham gia và cho toàn ngành (Hồ

Cao Việt, 2014)

Đặc điểm chung của cánh đồng mẫu lớn: có đặc điểm chính sau đây:

- Quy mô diện tích canh tác đủ lớn và tập hợp nhiều hộ nông dân: tổng kết của Bộ NN&PTNT năm , diện tích bình quân của một cánh đồng mẫu lớn lúa biến động từ đến ha lúa, với sự tham gia từ vài chục đến vài trăm hộ nông dân Với năng suất lúa bình quân từ 5-7 tấn/ha, lượng lúa thu hoạch của một cánh đồng mẫu lớn từ 150 đến 350 tấn/vụ là chưa đủ lớn Do đó, cần phải có những cánh đồng từ 300-500 ha Trong niên vụ lúa , nhiều cánh đồng mẫu lớn ở ĐBSCL mở rộng diện tích từ 300-

ha, nhưng số lượng còn hạn chế (Hồ Cao Việt và cộng sự, 2014) Do diện tích đất

trồng lúa phân bố manh mún và năng lực quản lý hạn chế nên mô hình cánh đồng mẫu

lớn có diện tích hàng trăm ha lúa phải tổ chức trên địa bàn nhiều xã và huyện trong

phạm vi địa lý của một hoặc nhiều tỉnh

- Liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp thành chuỗi các hoạt động canh tác – thu hoạch – chế biến – tiêu thụ: Các hoạt động của quá trình sản xuất – tiêu thụ lúa gạo được nông dân và doanh nghiệp thực hiện với sự liên kết, phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau (a Nông dân sản xuất giống lúa thương phẩm nào phù hợp với nhu cầu của thị trường được doanh nghiệp thông tin và có thể cung cấp giống lúa chất lượng, (b Quy trình sản

xuất được áp dụng các kỹ thuật tiên tiến nhằm giảm chi phí, tăng năng suất, giảm giá thành và tăng lợi nhuận cho nông dân, tăng lợi thế cạnh tranh về giá cho doanh nghiệp

và đảm bảo chất lượng theo thị hiếu của thị trường, (c Các khâu sau thu hoạch phơi,

sấy, sơ chế, kho chứa được doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị, đảm bảo chất lượng và

giảm thất thoát sau thu hoạch, (d Nông dân tiêu thụ phần lớn lượng lúa sau thu hoạch

với giá bán hợp lý và lợi nhuận cao so hơn với ngoài mô hình CĐML

- Hiệu quả kinh tế cao cho cả nông dân và doanh nghiệp: Kết quả mong đợi của

nông dân và doanh nghiệp từ mô hình CĐML là giảm chi phí sản xuất (giảm lượng giống,

5

Nguyễn Trí Ngọc (2012) Kết quả triển khai mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” trong sản xuất lúa của cả nước

trong v ụ Hè Thu 2011 và Đông Xuân 2011-2012 và định hướng phát triển trong thời gian tiếp theo Cục Trồng

Tr ọt

Trang 5

5

phân bón và thuốc BVTV hóa học) và giảm giá thành, tăng năng suất và lợi nhuận cho

nông dân và doanh nghiệp Doanh nghiệp chủ động lượng lúa nguyên liệu cho xay

xát-chế biến-xuất khẩu với giá cả và chất lượng cạnh tranh Doanh nghiệp có thể thu thêm

lợi nhuận từ đầu tư kho chứa, máy sấy và vật tư nông nghiệp đầu vào (cho hộ nông dân

- Tập hợp và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai, nước), vốn và lao động

và máy móc nông nghiệp: nguồn nước sử dụng cho canh tác lúa được kỳ vọng giảm đáng

kể trong mô hình, vốn và lao động được sử dụng hiệu quả hơn khi giảm chi phí vốn/lao động và tăng doanh thu trên một đơn vị diện tích canh tác Qua liên kết, doanh nghiệp sẽ

hỗ trợ vốn cho nông dân thiếu vốn, ứng trước vật tư nông nghiệp cho nông dân Máy móc nông nghiệp được khai thác hiệu quả và góp phần giảm đáng kể lao động chân tay ở

những công đoạn như làm đất, gieo sạ, thu hoạch và sau thu hoạch Lượng thuốc bảo vệ

thực vật và phân bón hóa học được sử dụng hợp lý, giảm tác hại xấu đến môi trường nước, động vật thuỷ sinh và sức khỏe con người

- Ứng dụng các công nghệ tiên tiến: sự lồng ghép các chương trình khuyến nông và triển khai các biện pháp kỹ thuật canh tác cải tiến như ba giảm – ba tăng Giảm lượng

giống, giảm thuốc BVTV hóa học, giảm lượng phân đạm bón thừa – Tăng năng suất, tăng

chất lượng lúa, tăng hiệu quả kinh tế), một phải-năm giảm (Phải sử dụng giống xác

nhận – Giảm lượng hạt giống, giảm lượng phân đạm bón thừa, giảm lượng thuốc BVTV hóa học, giảm lượng nước tưới, giảm tổn thất sau thu hoạch)6 trong mô hình là điểm khác biệt của mô hình CĐML Với công nghệ và kỹ thuật phù hợp, các mô hình đạt được

mục tiêu giảm chi phí sản xuất và giảm giá thành, từ đó tăng lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp và lợi nhuận cho nông dân Giúp nông dân thay đổi dần nhận thức, làm cơ

sở để chuyển từ nền nông nghiệp quy mô nhỏ sang nền nông nghiệp hiện đại và bền vững

Ngoài ra, CĐML còn có những đặc trưng như có nhiều hộ canh tác, có cùng một

hoặc hai loại giống cây trồng, có sự liên kết chặc chẽ giữa doanh nghiệp với nông dân và

có hiệu quả sản xuất và tiêu thụ cao Đỗ Kim Chung, 2012)

Điều kiện để mô hình cánh đồng mẫu lớn hình thành và phát triển:

Theo một số nhà nghiên cứu, chuyên gia kinh tế nông nghiệp, các nhà quản lý Bộ NN&PTNT, các chủ doanh nghiệp lúa gạo (Huỳnh Văn Thòn, ; Đỗ Kim Chung, 2012; Nguyễn Trí Ngọc, 2012; Hồ Cao Việt, 2013; Phạm Văn Dư, ở từng góc độ khác nhau cho rằng mô hình CĐML muốn hình thành và phát triển đòi hỏi phải có những điều

kiện cơ bản sau đây:

6 Bi ện pháp kỹ thuật tổng hợp do nhóm tác giả Phạm Văn Dư, Phạm Sĩ Tân & Nguyễn Hữu Huân thực hiện từ năm 2001

Trang 6

6

- Quy hoạch sản xuất nông nghiệp với diện tích đủ lớn cho sản xuất hàng hóa và

lồng ghép trong xây dựng nông thôn mới,

- Liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp thu mua đầu ra và cung cấp đầu vào,

- Điều kiện đất đai, thuỷ lợi, giao thông nội đồng đồng nhất và thuận lợi,

- Quy trình sản xuất nhất quán và linh động, hình thức liên kết đa dạng,

- Được đầu tư đầy đủ cơ sở hạ tầng, hệ thống thủy lợi, máy móc cơ giới nông nghiệp phục vụ sản xuất tập trung,

- Có sự liên kết (ngang) giữa nông dân – nông dân một cách chặc chẽ,

- Hoạt động hỗ trợ của dịch vụ công bảo vệ thực vật, khuyến nông, khuyến thương, thủy lợi) khả thi,

- Xây dựng vùng nguyên liệu lúa hàng hóa, xuất khẩu theo tiêu chuẩn VietGAP hoặc GlobalGAP, xây dựng thương hiệu gạo

Tiêu chí xây dựng cánh đồng mẫu lớn: Theo Bộ NN&PTNT, UBND Tỉnh cần Thơ, và

các tỉnh ĐBSCL, tiêu chí để hình thành mô hình cánh đồng mẫu lớn là: a) Phải thuận

tiện cho việc sản xuất lúa hàng hóa và có triển vọng mở rộng, (b Nông dân tự nguyện tham gia, (c Có hạ tầng kinh tế - xã hội tương đối hoàn chỉnh, (d) Doanh nghiệp phải đủ năng lực tham gia, triển khai và tổ chức thực hiện, (e) Khả năng đáp

ứng của nông dân đối với các yêu cầu về kỹ thuật và pháp lý (ướng dẫn xây dựng

mô hình cánh đồng mẫu lớn theo hướng GAP tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu lúa hàng hóa chất lượng cao xuất khẩu, theo http://cantho.gov.vn)

Lịch sử hình thành:

Nhược điểm lớn của nền nông nghiệp Việt Nam nói chung và ngành hàng lúa gạo nói riêng là quy mô ruộng đất nhỏ, phân tán manh mún, chất lượng sản phẩm không đồng bộ, thiếu sự liên kết – hợp tác giữa các tác nhân tham gia trong ngành và bất bình đẳng trong phân phối lợi nhuận giữa người nông dân và các doanh nghiệp Từ đó ngành

sản xuất lúa gạo ngày càng giảm lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh với các nước trồng lúa trong khu vực và trên thế giới Lượng gạo xuất khẩu tăng liên tục trong thập kỷ qua, nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu gạo không tăng và người nông dân luôn phải đối mặt

với giá bán lúa thấp và hiệu quả sản xuất kém trong nhiều thập niên qua (Hồ Cao Việt, 2013)7

Xuất phát từ những yếu kém và bất cập của ngành hàng lúa gạo Việt Nam, nhiều chính sách và thiết kế được thiết lập và không ngừng chuyển biến nhằm mang lại hiệu

quả kinh tế cao cho toàn ngành, nâng cao lợi nhuận cho người nông dân trồng lúa và các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo Ở cấp độ nhà nước, quyết định 80/2002 của chính phủ

đã tạo một hành lang pháp lý cho doanh nghiệp và nông dân liên kết với nhau để tiêu thụ

7 Hồ Cao Việt (2014) Tối ưu hóa lợi thế so sánh của việc sản xuất lúa tại vùng ĐBSCL trong khu vực Châu Á

Tham lu ận Tọa đàm doanh nhân Việt Nam tại TP.(CM năm

Trang 7

7

lúa gạo, nhưng chưa đủ và chưa có hiệu lực trong thực tiễn gần năm thực hiện Trong

thập niên đầu những năm , khá nhiều hình thức liên kết chính thức và phi chính

th ức (tự phát được hình thành giữa doanh nghiệp lúa gạo và nông dân trồng lúa ở

ĐBSCL như: a Mô hình liên kết sản xuất lúa Nhật (giữa công ty Angimex và Kitoku , b)

Mô hình liên kết xây dựng vùng nguyên liệu công ty Angimex với nông dân , c Mô hình sản xuất lúa theo tiêu chuẩn GlobalGAP (giữa công ty ADC và Liên hiệp Hợp tác xã Nông nghiệp An Giang), (d Mô hình liên kết tiêu thụ và chế biến gạo (giữa Công ty Thuốc BVTV An Giang và nhà máy chế biến gạo Vĩnh Bình , e Cánh đồng liên kết ở

tỉnh Đồng Tháp, (g Cánh đồng mơ ước ở Tiền Giang liên kết với công ty ADC và h) Cánh đồng mẫu lớn ở 13 tỉnh ĐBSCL Trước khi xuất hiện cụm từ Cánh đồng mẫu

lớn , các liên kết trên được gọi là Liên kết nhà hàm ý mối liên kết gồm có tác nhân: Nhà Nông Nông dân – Nhà Doanh nghiệp – Nhà Khoa học và Nhà nước (hoặc Nhà Bank – Ngân hàng Liên kết nhà không những được triển khai trên cây lúa mà còn các cây

trồng và vật nuôi khác như mía đường, cây ăn trái, rau, tôm sú, cá basa, v.v…

Một số nghiên cứu cho rằng mô hình liên kết nhà là mô hình hợp tác, liên kết

làm tiền đề cho hình thành mô hình cách đồng mẫu lớn Các liên kết dọc (Vertical

coordination) giữa các tác nhân trong một chuỗi cung ứng là nhằm tăng thêm giá trị gia tăng cho từng tác nhân và toàn chuỗi cung ứng lúa gạo Cả hai mô hình đều nhằm đạt

được 2 mục tiêu chủ yếu, đó là: a) Mang lại lợi nhuận cao cho nông dân và doanh nghiệp

và b (ình thành nền sản xuất nông nghiệp hiện đại Tuy nhiên, điểm khác biệt căn bản

giữa hai mô hình này là: Trong mô hình CĐML tập hợp được diện tích đất canh tác một

loại cây trồng nào đó liền thửa trong một đơn vị hành chính là ấp hay xã Chính vì thế,

việc quản trị sản xuất được thuận tiện và dễ dàng Việc hoạch định thời vụ sản xuất, áp

dụng cùng một giống lúa, cùng thời điểm gieo sạ, bón phân, tưới tiêu, thu hoạch và sau thu hoạch khá dễ dàng, thuận tiện và hiệu quả Do phát huy được lợi thế kinh tế của quy

mô (economics of scale), nên chi phí sản xuất giảm, năng suất lúa và giá thành lúa luôn

cao hơn so với các mô hình liên kết khác

Những hoạt động chủ yếu trong mô hình CĐML: nhằm tăng năng lực cạnh tranh

của các tác nhân chính tham gia trong mô hình là nông dân & doanh nghiệp, nông dân

trồng lúa giảm chi phí sản xuất lúa, tăng năng suất (giảm giá thành và tăng chất lượng lúa thông qua các biện pháp kỹ thuật và ứng dụng công nghệ tiên tiến và phù hợp (ba

giảm – ba tăng, một phải – năm giảm) Tiêu thụ lúa với mức giá bán phù hợp và lợi nhuận cao là các yếu tố quan trọng hàng đầu mà người nông dân rất quan tâm Doanh nghiệp

ký kết các hợp đồng bao tiêu lúa với giá cả cạnh tranh so với giá trên thị trường Đồng

thời, doanh nghiệp hỗ trợ nông dân vốn hoặc vật tư nông nghiệp đầu vào nhằm tăng khả năng thực thi tốt các biện pháp giảm chi phí sản xuất và giảm giá thành Chính quyền địa phương các cấp hỗ trợ nông dân các thủ tục hành chính, các hợp đồng ký kết, tập hợp và

Trang 8

8

vận động nông dân tham gia mô hình, quy hoạch các vùng sản xuất lúa phù hợp có diện tích đủ lớn và tập trung thành vùng sản xuất lớn và phối hợp với khuyến nông, các nhà khoa học tổ chức các khóa tập huấn kỹ thuật cho nông dân tham gia trong mô hình Bên

cạnh đó, các doanh nghiệp đầu tư nhà máy xay xát, sân phơi, máy sấy, nhà kho và phối

hợp với các thương lái ở địa phương tổ chức thu mua, sấy, tạm trữ, xay xát, chế biến và

tìm thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước Trong mối liên kết này, doanh nghiệp đóng vai trò đầu tàu , phân khúc thị trường (số lượng, chất lượng, quy cách sản phẩm lúa

gạo), tổ chức hệ thống thu mua – chế biến – thương mại lúa gạo, họ chính là kênh phản

h ồi về lượng cầu lúa gạo và thị hiếu của thị trường cho người trồng lúa và các nhà

nghiên cứu giống lúa, hình thành chuỗi cung ứng từ người trồng lúa đến người tiêu thụ

gạo & các sản phẩm từ lúa gạo Nông dân trồng lúa đóng vai trò cung cấp nguyên liệu

cho chuỗi cung ứng, nhận các phản hồi từ các doanh nghiệp, định hướng kế hoạch sản

xuất phù hợp (trồng giống lúa gì?, diện tích bao nhiêu?, mùa vụ nào?, chất lượng gạo ra sao?, giá thành bao nhiêu?, v,v… nhằm cung đủ lượng và chất lượng đảm bảo theo nhu

cầu của thị trường với mức giá cả cạnh tranh

Đứng trước những thách thức do giảm dần diện tích đất nông nghiệp bình quân trên đầu người và giảm diện tích lúa ở các tỉnh ĐBSCL trong thập niên gần đây, tổ chức

sản xuất lúa như thế nào là bài toán lớn cho nông nghiệp Việt Nam Diện tích lúa bình quân ở ĐBSCL trước năm là , ha/hộ, từ năm - là , ha/hộ và đến giai đoạn 2001- là , ha/hộ có xu hướng giảm dần rất đáng kể trong gần 2 thập niên

qua Trong thập niên đến 2010, số hộ có diện tích lúa dưới 0,5 ha chiếm , %, và 10,3% hộ có diện tích lúa trên ha (ồ Cao Việt, 2010)8 Chính sự phân tán và quy mô

đất lúa nhỏ như vậy đã cản trở sự phát triển của nền sản xuất lúa gạo, sự phát triển của

một nền nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa Tính tất yếu để có nền nông nghiệp hàng hóa là phải có sản xuất nông nghiệp tập trung và quy mô sản xuất lớn Do đó, việc hình

thành, phát triển mô hình cánh đồng mẫu lớn là xu hướng tất yếu Đỗ Kim Chung và

Kim Mỹ Dung, 2012)9ở Việt Nam nói chung và các tỉnh ĐBSCL nói riêng nhằm gắn sản

xuất lúa với hệ thống chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo thông qua các hình thức

h ợp đồng (contract farming) và quy mô sản xuất lớn (Hồ Cao Việt, 2014)10

8 Hồ Cao Việt (2010) Động thái kinh tế-xã hội hộ nông dân trồng lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong

th ời kỷ đổi mới Luận án Tiến sĩ Kinh tế Trang 82

9Đỗ Kim Chung và Kim Mỹ Dung (2012) Cánh đồng mẫu lớn trong nông nghiệp: Một số vấn đề lý luận và

thực tiễn phát triển Trang 3

10 Hồ Cao Việt (2013) Cánh đồng mẫu lớn: từ lý thuyết đến thực tiễn Diễn đàn (ợp tác nhà trong Cánh

đồng mẫu lớn Bộ NN$PTNT tổ chức tại An Giang năm

Trang 9

8 tưởng về mô hình CĐML được các nhà làm chính sách nông nghiệp đề xướng và

lần đầu tiên hình thành ở ĐBSCL năm Vào lúc khởi điểm, diện tích lúa trong mô hình chỉ mới ha và hộ nông dân tham gia Một năm sau, vụ Đông Xuân ,

diện tích của mô hình CĐML đã tăng lên , lần, đạt khoảng ngàn ha trên khắp cả nước Nhiều tỉnh thành ở miền Bắc và miền Trung bắt đầu triển khai mô hình này Đến

vụ Đông Xuân -2014, sau khoảng gần năm thực hiện, diện tích CĐML của các tỉnh phía Nam đã gần ngàn ha Bộ NN&PTNT, , tăng , lần diện tích cùng kỳ năm

2011

Riêng các tỉnh ở ĐBSCL, diện tích lúa trong CĐML tăng lên rất nhanh Vụ Đông Xuân -2014, diện tích đạt trên ngàn ha lúa, tăng ngàn ha so với năm , nhiều nhất tại An Giang và Cần Thơ Theo ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ)

Diễn tiến của sự phát triển mô hình CĐML ở Việt Nam và ở vùng ĐBSCL

- T ỉnh Cần Thơ: (è Thu , bắt đầu triển khai mô hình CĐML trên ha tại Ấp

Thầy Ký, thị trấn Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh Năm , mở rộng ra mô hình với

tổng diện tích ha Năm , mô hình với 9.152 ha Trong đó, có ha sản xuất theo quy trình VietGAP, ha sản xuất theo quy trình GlobalGAP tại huyện Vĩnh Thạnh

Vụ ĐX -2014, diện tích CĐML theo hướng VietGAP tăng lên ngàn ha ở các (uyện

Vĩnh Thạnh, Thới Lai, Cờ Đỏ và Phong Điền Vụ ĐX - , năng suất lúa trong mô hình cao hơn ngoài mô hình trung bình kg/ha ở các huyện Vĩnh Thạnh (7.78

tấn/ha), Cờ Đỏ (7,8 tấn/ha), Thới Lai (8 tấn/ha) (Phụ lục) (Sở NN&PTNT Cần Thơ)

- T ỉnh Sóc Trăng: Có diện tích gieo trồng lúa từ 320- ngàn ha, sản lượng trên triệu tấn lúa/năm Từ vụ HT đã xây dựng mô hình Cánh đồng lúa mẫu với 40 ha lúa được canh tác cùng một giống, và quy trình trình kỹ thuật ở xã Trường Khánh, huyện Long Phú Vụ HT 2011, diện tích tăng đến 1.525 ha, với 1.675 hộ tham gia và mô hình

Vụ (T có 91 ha lúa sản xuất theo mô hình này nhưng đến vụ ĐX 3-2014 đã CĐML, diện tích 19.034 ha với 14.829 hộ tham ở 9 huyện sản xuất lúa chủ lực của

tỉnh Năng suất lúa trong mô hình cao hơn ngoài mô hình từ 5- %, giá thành giảm

Trang 10

10

12,5%, lợi nhuận tăng , % Ví dụ điển hình: CĐML ấp , xã Vĩnh Lợi, huyện Thạnh

Trị, vụ ĐX -2013 nhờ áp dụng Một phải-Năm giảm nên chi phí sản xuất bình quân 16,8 triệu đồng/ha, năng suất lúa , tấn/ha, giá thành đồng/kg, giá bán theo hợp đồng với doanh nghiệp đồng/kg, lợi nhuận 22,64 triệu đồng/ha) (Sở NN&PTNT Sóc Trăng 11

- T ỉnh Tiền Giang: Triển khai từ năm , với diện tích 2.100 ha, 5.730 hộ tham gia, nhưng chỉ có , % lượng lúa được doanh nghiệp thu mua Năm , diện tích CĐML là ha, hộ nông dân và doanh nghiệp tiêu thụ được , % lượng lúa Đến năm , diện tích tăng nhẹ là ha với 1.160 hộ nông dân, nhưng lượng lúa tiêu thụ

với tỷ lệ cao so với năm trước, đạt từ 79-100% Trong vụ ĐX -2014, diện tích CĐML đạt 1.795 ha, tập trung ở các huyện trọng điểm như Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Tân Phước, Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây và thị xã Gò Công với 1.160 hộ nông dân tham gia Trong đó, mô hình CĐML kết hợp với mô hình VietGAP, GlobalGAP, Cánh đồng

mơ ước với sự liên kết giữa nông dân với 14 doanh nghiệp Hiệu quả sản xuất lúa trong

mô hình CĐML tăng từ 1,55-1,85 triệu đồng/ha so với ngoài mô hình (Sở NN&PTNT

Tiền Giang)1213

- T ỉnh An Giang: Quy hoạch diện tích lúa mô hình CĐML 45 ngàn ha/năm, sản xuất

từ 2-3 vụ/năm Để thực thi mô hình, ngành nông nghiệp đề ra Khung logic cho từng

giai đoạn và Khung kế hoạch cho từng vụ lúa Riêng vụ ĐX -2014, diện tích CĐML đạt 72.948 ha, với sự tham gia của 20 doanh nghiệp (ơn % diện tích lúa ở các huyện

sản xuất lúa chủ lực của tỉnh như Long Xuyên, Châu Đốc, Tân Châu, Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới tham gia mô hình Ngoài ra nông dân còn tham gia các mô hình liên kết

sản xuất lúa chất lượng cao , liên kết sản xuất lúa theo tiêu chuẩn Global GAP Nông dân tham gia mô hình CĐML giảm giá thành từ 10-20% Các công ty có diện tích liên kết

trong CĐML thu mua lúa vụ ĐX - như: công ty Angimex-Kitoku (1.100 ha), công ty AFIEX (635 ha), công ty Xuất nhập khẩu Đồng Tháp Mười (410 ha), công ty Cổ

13 Sở NN&PTNT Tiền Giang (2014) Kết quả thực hiện liên kết xây dựng CĐML sản xuất lúa vụ ĐX -14

và các vụ lúa tiếp theo năm

Trang 11

11

phần du lịch An Giang ha , công ty Vĩnh Phát ha , công ty Lương thực Nam Trung bộ (280 ha) (Sở NN&PTNT An Giang)14

- T ỉnh Long An: Khởi điểm xây dựng CĐML từ vụ HT2011, hiện nay gọi là Cánh

đồng lớn , diện tích CĐML tăng liên tục từ vụ HT là , ha, lên 2.000 ha trong vụ

ĐX -2012, 4.201,3 ha (ĐX 2012-2013), 10.134 ha (ĐX 2013-2014 và dự kiến là 17 ngàn ha năm Năm 1 mới chỉ có 237 hộ tham gia mô hình CĐML, ở 3 huyện Nhưng đến ĐX 2013-2014 đã có 2.922 hộ tham gia, tập trung ở 8 huyện sản xuất lúa chủ

lực của tỉnh Hiện nay có khoảng 20 doanh nghiệp tham gia liên kết xây dựng vùng lúa nguyên liệu và bao tiêu lúa trong CĐML Điển hình có Công ty Cổ phần Bảo vệ Thực vật

An Giang ký hợp đồng với nông dân 000 ha Lợi nhuận thu được trong mô hình cao hơn ngoài mô hình từ 3-5 triệu đồng/ha Các Công ty cổ phần Bình Điền, Công ty cổ phần

Dầu khí Đông Nam Bộ, Công ty Lương thực Long An, Công ty Lương thực Thực phẩm Long An, Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư Phước Sơn ứng trước vật tư cho nông dân

với lãi xuất bằng không và thu mua lúa với giá cao hơn giá thị trường từ 100-150 đồng/kg Trong đó, có công ty Trang trại nông nghiệp sinh thái Kiên Giang mua lúa thơm Nàng thơm Chợ Đào với giá cao hơn - đồng/kg (Sở NN & PTNT Long An)15

- T ỉnh Kiên Giang: Bắt đầu triển khai CĐML dưới tên gọi Cánh đồng mẫu lớn sản

xuất theo hướng VietGAP (sự lồng ghép CĐML và sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP)

vụ HT 2011 chỉ làm mẫu trên phạm vi 4 huyện, với diện tích ha, nông dân tham gia Chỉ sau một vụ, vụ ĐX -2012, diện tích tăng lên lần, đạt 1.280 ha với

692 hộ Vụ ĐX 2012-2013, 7 huyện trong mô hình, có 421 ha lúa nằm trong mô hình CĐML tăng gần 1.000 ha so với vụ HT 2011) và vụ ĐX 2013-14, diện tích CĐML là

ha bao trùm lên tất cả 12 huyện trồng lúa chủ lực của tỉnh Tân (iệp, Gò Quao, Châu Thành, (òn Đất, An Biên, U Minh Thượng, Giồng Riềng, An Minh, Kiên Lương, Giang Thành, và Vĩnh Thuận) với nông dân tham gia Trung tâm Khuyến nông-Khuyến ngư, Sở NN&PTNT Kiên Giang 16

- T ỉnh Đồng Tháp: Dưới tên gọi Cánh đồng liên kết" thay vì gọi là CĐML, năm

, Đồng Tháp bắt đầu tổ chức hình thức Cánh đồng liên kết và tiêu thụ" vì các nhà lãnh đạo nông nghiệp cho rằng cánh đồng liên kết nhấn mạnh đến yếu tố "hợp tác" giữa

14 Chi cục Phát triển Nông thôn Sở NN&PTNT An Giang (2014) Tình hình thực hiện cánh đồng lớn vụ ĐX

2013- và kế họach vụ HT2014

15 Sở NN&PTNT Tỉnh Long An(2014) Tình hình triển khai xây dựng cánh đồng lớn trên cây lúa

16 Trung tâm Khuyến nông-Khuyến ngư tỉnh Kiên Giang Kết quả năm thực hiện chương trình Cánh

đồng mẫu lớn sản xuất lúa theo hướng VietGAP năm – 2013

Trang 12

12

những người sản xuất và mối "liên kết" giữa sản xuất với tiêu thụ, khởi điểm có cánh đồng liên kết CĐLK ở 7 huyện với diện tích (T là , ĐX 2010- là ha, năng suất trung bình , tấn/ha, giá thành giảm (so với ngoài mô hình đồng/kg,

lợi nhuận tăng thêm , triệu đồng/ha Năm : có CĐLK ở 8 huyện với tổng diện tích là ha Trong đó, ĐX - là ha, (T là ha và TĐ

là ha , năng suất đạt 6,7 tấn/ha, giá thành giảm đồng/ha và tăng thêm lợi nhuận 2,56 triệu đồng/ha Đến cuối năm , diện tích CĐLK toàn tỉnh đạt 41.504 ha Trong đó, ĐX 201- là ha, (T là ha , tăng hơn 20 lần so với năm 1, được thực hiện ở 9 trong số 13 huyện trong tỉnh, với tổng số CĐLK, năng

suất đạt 7,1 tấn/ha, giá thành giảm , đồng/kg, lợi nhuận tăng thêm , triệu đồng/ha Kế hoạch năm , tổng diện tích CĐLK trong năm đạt khoảng nghìn ha

Một số doanh nghiệp đầu tư hệ thống phụ trợ và logistic cho sản xuất-chế biến-tiêu thụ lúa gạo (Công ty Võ Thị Thu (à, xây dựng kho chuyên dùng với tổng sức chứa hơn nghìn tấn gạo, nhà máy sấy lúa - xay xát với công suất 1.000 tấn/ngày Năm , ký kết

hợp đồng 7.500 ha, ĐX - , bao tiêu hơn nghìn ha với giá mua cao hơn giá lúa thị trường đồng/kg) (Sở NN&PTNT Đồng Tháp 17

T ỉnh V2011 (ha) ụ (è Thu Xuân Vụ Đông

-2012 (ha)

C ả năm

2012 (ha)

V ụ Đông Xuân -

An Giang 3.857 5.500 9.357 72.948 35.320 236.900

Ti ền Giang 222 626 848 1.796 3.153 80.600 Kiên Giang 490 1.280 1.800 1.614 2.960 292.200

C ần Thơ 195 1.832 2.027 14.228 9.152 87.800 Sóc Trăng 1.525 2.685 7.547 19.034 22.485 138.800 ĐBSCL 7.803 19.724 27.527 106.782 140.000 1.580.300

Chú thích: * Tính toán từ số liệu của Sở NN&PTNT các tỉnh và của Cục Trồng Trọt Bộ NN&PTNT Tài liệu đã dẫn của Nguyễn Trí Ngọc (2012)

** Niên giám thống kê

Bộ NN&PTNT chủ trương tăng diện tích cánh đồng mẫu lớn ở ĐBSCL trong vụ ĐX 2013- lên ngàn ha cao hơn ngàn ha so với năm , tập trung nhiều nhất ở

2 tỉnh An Giang và Cần Thơ (Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, 2014 và đạt 201 ngàn ha trong năm Báo điện tử Chính phủ, 2014)18

17 Sở NN&PTNT Đồng Tháp (2013) Sơ kết mô hình cánh đồng mẫu lớn và ghi chép sổ tay sản xuất lúa theo

VietGAP, 2011-2013

18 www.baodientu.chinhphu.vn

Trang 13

13

Tóm lại: Mô hình cánh đồng mẫu lớn (lúa) trong gần 4 năm đầu (2011- có xu

hướng phát triển nhanh cả về số lượng mô hình (diện tích lúa trong mô hình trãi rộng trên toàn vùng ĐBSCL, số lượng nông dân tham gia tăng , lẫn về chất lượng (giảm chi

phí sản xuất, giảm số lần phun thuốc BVTV, giảm giá thành, tăng giá bán và tăng thêm lợi nhuận cho hộ nông dân , nông dân tổ chức sản xuất lúa thuận lợi và hiệu quả hơn được

ứng trước vật tư nông nghiệp, giống lúa tốt, thu mua kịp thời giảm tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch, được hỗ trợ kho chứa lúa Doanh nghiệp hưởng lợi từ việc tham gia liên kết

với nông dân trong mô hình về chất lượng lúa đạt yêu cầu của doanh nghiệp, số lượng

lúa thu mua đủ lớn, tổ chức thu mua thuận lợi, giá lúa cạnh tranh

Đánh giá những vấn đề liên quan đến mô hình điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức), mức độ phù hợp và bất cập chính sách đối với mô hình này

* Thể chế và chính sách nông nghiệp liên quan đến mô hình CĐML

Một số căn cứ pháp lý để xây dựng mô hình cánh đồng mẫu lớn:

- Quyết định / /QĐ-TTg ban hành ngày / / : chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa qua hợp đồng

- Quyết định / /QĐ-BNN ban hành ngày / / : hướng dẫn mẫu hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa theo quyết định 80/2002

- Ch ỉ thị 25/2008/CT-TTg ban hành ngày / / : tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng

- Công văn /CTT ban hành ngày / / về đăng ký thực hiện Cánh đồng mẫu lớn vụ (è Thu

- Quyết định / /QĐ-TTg ban hành ngày / / về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng mẫu lớn19

- Quyết định /QĐ-BCT ban hành ngày / / về quy hoạch thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo, ưu tiên thương nhân có vùng nguyên liệu hoặc có hợp

tác, đặt hàng, liên kết với hộ nông dân trồng lúa

Các chính sách liên quan có tác động rất lớn đến sự phát triển của mô hình CĐML ở

ĐBSCL trong bối cảnh nền nông nghiệp ở các tỉnh được điều phối bởi hệ thống chính trị

Do đó, các chính sách là cơ sở cho các tỉnh ĐBSCL vận dụng và thực thi các chiến lược và

19 Thông tư hướng dẫn thực hiện QĐ / /QĐ-TTg

Trang 14

14

kế hoạch cho liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ nông sản nói chung và lúa gạo nói riêng

* Vai trò và mối quan hệ của các tác nhân chính tham gia trong mô hình CĐML

Để có thể đánh giá một cách toàn diện mô hình CĐML, sự tồn tại và mối quan hệ tương

hỗ giữa các tác nhân tham gia trong mô hình cần được phân tích (ình

- Hộ nông dân trong và ngoài mô hình:

Hộ nông dân ND là một trong hai tác nhân chính của mối quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp DN lúa gạo trong bất kỳ chuỗi giá trị lúa gạo ND đóng vai trò quan trọng

và quyết định chất lượng sản phẩm lúa, gạo , uy tín gạo trên thương trường, cũng như giá cả lúa gạo và lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu gạo Do đó sản xuất lúa không thể tách rời với doanh nghiệp, kinh doanh, tiếp thị lúa gạo trong nền kinh tế có sự cạnh tranh cao

Sự thành bại của mô hình CĐML phụ thuộc rất lớn vào người nông dân Để hiểu

nông dân trồng muốn suy nghĩ, nhận thức, tiếp cận, tham gia, đánh giá, kỳ vọng gì ở mô hình CĐML, điều cần thiết là phải lắng nghe họ nói, so sánh hai nhóm hộ trồng lúa chính: (i) Hộ đang tham gia mô hình CĐML và ii (ộ chưa tham gia mô hình CĐML hộ ngoài

mô hình

- Doanh nghiệp lúa gạo:

Doanh nghiệp ngành lúa gạo và doanh nghiệp ngành vật tư nông nghiệp có vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị lúa gạo, nhất là trong CĐML Trong đó các doanh nghiệp

lúa gạo DN như đầu tàu dẫn dắt, định hướng, kết nối với thị trường trong nước và

xuất khẩu) mang lại hiệu quả cho toàn ngành hàng lúa gạo nói chung và CĐML nói riêng

DN là tác nhân trực tiếp tham gia giao dịch (mua – bán , kinh doanh lúa-gạo với đối tác chính là ND trong mô hình này Giải quyết được bài toán sản xuất – tiêu thụ, sẽ là chìa khóa cho sự thành công của CĐML Trong thực tế phát triển nền nông nghiệp hơn thập niên qua, lấy đấu mốc QĐ / cho sự liên kết giữa ND-DN, cho thấy: a Các DN

nhận thức tầm quan trọng của liên kết giữa nơi sản xuất ra nguyên liệu (ND) với DN đã

tự tìm đến ND để liên kết, đặt hàng thông qua ký kết các hợp đồng chính thức và phi chính thức, b QĐ /2002 là cơ sở pháp lý, vừa khuyến khích vừa bắt buộc các DN tham gia ký kết tiêu thụ nông sản cho ND, c Sau hơn một thập niên, liên kết giữa DN-

ND chưa phù hợp với nền kinh tế cạnh tranh với giá cả luôn biến động và đòi hỏi chất lượng sản phẩm ngày càng khắc khe

Trang 16

16

Chính vì thế, số lượng DN thực sự gắn kết với ND trồng lúa rất ít, diện tích đất lúa được ký kết chiếm tỷ lệ không đáng kể so với gần 4 triệu ha lúa, sản lượng lúa được

DN bao tiêu qua hợp đồng chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với hơn sản lượng lúa hàng năm trên

30 triệu tấn Được mùa – Rớt giá là điệp khúc quen thuộc cho nền kinh tế lúa gạo Việt Nam trong gần một thập niên qua, d) Nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam nói chung và ngành lúa gạo nói riêng có đặc điểm quy mô nhỏ, thiếu sự quy hoạch tổng thể, thiếu chiến lược lâu dài, nên cả DN và ND luôn chạy theo lợi ích ngắn hạn và thiếu sự liên

doanh - liên kết DN càng có năng lực cạnh tranh cao, thị trường lúa gạo càng tăng trưởng mạnh, ND sẽ hưởng lợi nhiều hơn, quy mô mô hình CĐML sẽ ngày càng mở rộng

và hoạt động hiệu quả hơn

- Các tổ chức nông dân (ợp tác xã, tổ nhóm sản xuất):

Trong những năm đầu thực hiện CĐML, việc liên kết giữa DN với ND chủ yếu

thông qua các tổ chức của ND như (TX, nhóm sản xuất, nhóm liên kết, tập đoàn sản xuất

Các tổ chức như (TX tập hợp được số lượng lớn nông dân, diện tích canh tác lúa tập trung, có các dịch vụ hỗ trợ (thủy lợi, vay vốn, vật tư nông nghiệp, thuê máy móc nông nghiệp , có đại diện đàm phán và giao dịch với DN các chủ nhiệm (TX và Ban quản lý

(TX , có tư cách pháp nhân ký kết các hợp đồng kinh tế với DN và các đối tác, có quỹ vốn

và cơ sở hạ tầng cần thiết nhà kho, máy móc cho sản xuất lúa (TX là cầu nối, là đại

diện của ND trong các liên kết giữa ND với DN lúa gạo, DN vật tư nông nghiệp, thương lái, nhà khoa học, chính quyền địa phương, các tổ chức tài chính và dân sự Không có

(TX mô hình CĐML rất khó triển khai vì mỗi DN không thể ký kết hợp đồng, giao dịch

với hàng trăm, hàng ngàn nông dân cá thể như các thương lái lúa Điều này đòi hỏi DN

phải có đội ngũ nhân lực đông, tốn kém nhiều thời gian và tăng chi phí quản lý cho DN

Cho đến nay, (TX là tổ chức nông dân phù hợp nhất với xu thế hợp tác – liên kết – cùng có

l ợi, là đại diện của nông dân có vị thế trong xã hội, có năng lực thực sự và mang lại nhiều

lợi ích cho các ND cá thể

- Chính quyền địa phương:

Trong thực tế trong giai đoạn đầu hình thành mô hình CĐML, địa phương là cánh tay

n ối dài thực thi các chính sách của nhà nước Địa phương có những đóng góp khá quan

trọng như: vận động nông dân, tuyên truyền chính sách, hoàn chỉnh các thủ tục hành chánh cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, chứng nhận vay vốn/thế chấp vay vốn), thuyết phục doanh nghiệp, làm cầu nối giữa DN và ND, làm trọng tài hòa giải khi có

Trang 17

17

tranh chấp, chứng thực cho bản hợp đồng ký kết giữa DN và ND góp thêm phần đảm

bảo thực thi đầy đủ các cam kết, cùng với các tổ chức nông dân (ND và các tổ chức dân

sự (Hội phụ nữ, Hội liên hiệp khoa học kỹ thuật) hỗ trợ CĐML vận hành tốt hơn Bên

cạnh đó, cơ sở hạ tầng nông thôn đường thủy, đường bộ, lưới điện cho sản xuất nông nghiệp, hệ thống đê bao và thuỷ lợi nội đồng phát triển nhờ vào chính quyền địa phương Những địa phương có bộ máy chính quyền tốt, các lãnh đạo địa phương nhận

thức được tầm quan trọng của CĐML, luôn hỗ trợ cho nông dân và doanh nghiệp, thì mô hình CĐML phát triển nhanh về số lượng nông dân tham gia, diện tích lúa được ký hợp đồng tiêu thụ và DN hài lòng

- Cơ quan khuyến nông:

Trước khi hình thành mô hình CĐML, hệ thống khuyến nông phát triển rộng khắp,

với đội ngũ khuyến nông viên đông đảo và được đào tạo cả về kiến thức lẫn kỹ năng

thực hành Cơ quan khuyến nông các cấp thực thi một cách hiệu quả các chương trình/dự án, các chính sách của ngành nông nghiệp Do đó, khuyến nông góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho sản xuất lúa, chất lượng lúa gạo tốt hơn, đồng bộ hơn, giá thành lúa giảm, lợi nhuận từ lúa tăng nhờ vào sự chuyển giao các công nghệ và kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến của khuyến nông cho ND Ngoài ra, các đơn vị ngành bảo vệ thực vật các

cấp góp phần giảm lượng hóa chất nông nghiệp, giảm chi phí thuốc BVTV, giảm tác hại đến sức khỏe và môi trường Khuyến nông cũng là nơi cung cấp thông tin về thị trường lúa gạo, giúp nông dân có nhiều cơ hội tiếp cận với các công ty kinh doanh nông nghiệp, các nhà khoa học nông nghiệp

- Các tác nhân khác: ngân hàng, tổ chức tài chính, nhà khoa học nông nghiệp:

Các tổ chức tài chính, tín dụng, ngân hàng, các cơ quan khoa học có vai trò như

ch ất xúc tác cho mô hình CĐML bởi vì các tác nhân này tạo điều kiện cho CĐML vận

hành tốt hơn, hiệu quả hơn Với quy mô sản xuất tăng, diện tich tập trung với số lượng

lớn, chi phí đầu tư tăng vượt khả năng vốn của các (TX, các hộ cá thể và các DN Khan

hiếm vốn, thiếu vốn ngắn và dài hạn là bài toán lớn cho các DN lúa gạo để đầu tư cho các

cơ sở chế biến, dự trữ, thu mua lượng lúa lớn Hiện nay một số chính sách tiền tệ và ngân hàng đã phần nào tháo gỡ vấn đề thiếu vốn của DN, đầu tư dài hạn cho hạ tầng chế

biến - xuất khẩu gạo, tăng năng lực cạnh tranh cho DN lúa gạo so với các nước xuất khẩu

gạo trong khu vực

Trang 18

18

Tóm lại: Tất cả các tác nhân đều đóng vai trò như một mắt xích quan trọng trong việc

hình thành – vận hành - phát triển mô hình CĐML trong giai đoạn 2010-2014 ở ĐBSCL Trong đó, nông dân, hợp tác xã nông nghiệp), doanh nghiệp là các tác nhân chính, quyết định sự thành bại của mô hình này

* Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) của mô hình CĐML

Bảng 2 Những điểm mạnh và yếu điểm của mô hình cánh đồng mẫu lớn ở ĐBSCL, 2010-2014

- Tập hợp nông dân cá thể quy mô nhỏ thành vùng sản xuất quy mô lớn

về diện tích và sản lượng lúa

- Liên kết tác nhân chính trong chuỗi giá trị lúa gạo, đó là Người trồng lúa – Doanh nghiệp theo xu hướng phát triển của thị trường và tạo ra giá trị tăng thêm cho từng tác nhân và cho toàn ngành hàng lúa gạo

- Nâng cao vị thế của người nông dân trồng lúa

- Tạo ra một lượng lúa đủ lớn cho thị trường với chất lượng lúa cao, đồng

nhất

- Tăng hiệu quả kinh tế và lợi nhuận cho nông dân

- Tăng lợi thế cạnh tranh của gạo Việt và các doanh nghiệp lúa gạo

- Nông dân ủng hộ, tham gia tự nguyện, các tổ chức chuyên môn, dân sự, chính quyền, tài chính cùng tham gia, chia sẽ lợi ích cũng như rủi ro với nông dân

- Được định hướng bởi những chính sách và thể chế phù hợp với xu thế

hội nhập và toàn cầu hóa trong lĩnh vực lúa gạo

- Triển khai đúng lúc nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam cần có sự tái cơ

cấu, nền kinh tế thế giới nhiều rủi ro và nguy cơ

- Đi đúng xu hướng phát triển của các nước có nền kinh tế nông nghiệp phát triển, sản xuất quy mô lớn, tập trung, hiện đại hóa, áp dụng công nghệ cao và lợi tức kinh tế theo quy mô economics of scale

- Giảm thiểu khổ nhọc cho người trồng lúa từ việc áp dụng cơ giới hóa trong khâu thu hoạch

- Là nơi thích hợp để triển khai những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ sản

xuất lúa gạo

Trang 19

- Nhiều hợp đồng giữa ND và DN không thực hiện đúng điều khoản cam

kết, lúa tiêu thụ chậm, thanh toán chậm, giá mua lúa không cạnh tranh

so với thương lái

- Khả năng tổ chức thu mua, thị trường đầu ra của phần lớn DN nhiều

biến động Hầu hết DN chưa có thương hiệu gạo, thiếu chiến lược kinh doanh lâu dài, chưa chủ động trong hoạch định kế hoạch cung – cầu gạo,

rủi ro giá gạo trên thị trường cao

- Quy mô CĐML chưa đáp ứng đủ nhu cầu của nông dân

- Cơ sở hạ tầng phụ trợ nhà kho, lò sấy, phương tiện vận chuyển… cho

mô hình chưa đầy đủ, chưa phù hợp với quy mô diện tích của CĐML

- Một số DN lợi dụng chính sách hỗ trợ cho CĐML để trục lợi, không chia

sẻ rủi ro với ND khi có biến cố về giá cả, đẩy khó khăn về phía ND

- Nguồn nhân lực cho quản lý, tổ chức, điều hành ở các (TX, các tổ chức nông dân chưa đáp ứng yêu về cầu chất lượng và số lượng

- DN trong nước chưa liên kết chặc chẽ với nhau để tạo vùng lúa nguyên

liệu, sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng phụ trợ, tăng lợi thế cạnh tranh với

DN nước ngoài, giảm thiểu rủi ro do biến động giá lúa gạoNguồn: Hồ Cao Việt & cộng sự, 2014

ổn định sản xuất

- DN chủ động nguồn nguyên liệu cả về số lượng và chất lượng Từng bước xây dựng thương hiệu gạo Thâm nhập vào thị phần gạo chất lượng cao và giá trị gia tăng cao Tăng lợi nhuận từ xuất khẩu và lợi thế

cạnh tranh trên thị trường gạo thế giới

- Nông dân và DN hướng đến một nền sản xuất lúa hiện đại hóa, nâng cao giá trị gạo Việt, ND khẳng định vị trí xã hội và đời sống được nâng cao

Trang 20

gạo khi triển khai đại trà, mở rộng mô hình

- Rủi ro thị trường rất lớn, giá cả lúa gạo biến động trong ngắn hạn và dài

hạn, lợi thế cạnh tranh của các nước sản xuất gạo trong khu vực, biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan ảnh hưởng đến canh tác lúa

- Cạnh tranh giữa các DN trong nước và với các DN nước ngoài rất cao về

thị phần, giá giao dịch, chất lượng gạo, vốn và công nghệ chế biến

- Đầu tư một số lượng vốn lớn cho cơ sở hạ tầng phụ trợ ngành lúa gạo là

một thách thức rất lớn đối với các DN trong giai đoạn hiện nay

Nguồn: Hồ Cao Việt & cộng sự, 2014

* Những đánh giá bước đầu về kết quả thực hiện mô hình CĐML ở vùng ĐBSCL, giai đoạn 2010-2013

Tập hợp những ý kiến thông qua các diễn đàn, hội thảo và hội nghị, ý kiến của các chuyên gia kinh tế, các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách nông nghiệp, các nhà lãnh đạo địa phương, các doanh nghiệp và bà con nông dân về mô hình CĐML, tựu trung có các ưu điểm và nhược điểm sau đây

Những ưu điểm so với các mô hình, các hình thức hợp tác và liên kết khác:

- Tập hợp được số lượng lớn hộ nông dân tham gia với diện tích tập trung đủ lớn cho sản xuất lúa hàng hóa,

- Áp dụng một cách hiệu quả các kỹ thuật canh tác và công nghệ tiên tiến,

- Đem lại hiệu quả sản xuất, lợi nhuận cao cho các hộ nông dân trồng lúa và lợi thế

cạnh tranh cho các doanh nghiệp tham gia,

- Sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên lao động gia đình, máy móc, vốn, nước và giảm thiểu những thiệt hại cho môi trường (giảm thuốc BVTV và hóa

Trang 21

21

- Tập hợp số lượng nông dân tham gia tương đối đông do quy mô diện tích đất/hộ

thấp nên việc tổ chức, thực hiện, quản lý, giám sát, kiểm tra đòi hỏi nhiều thời gian và chi phí cho doanh nghiệp,

- Những rủi ro do phá vỡ hợp đồng, cam kết giữa hộ nông dân và doanh nghiệp

Việc phá vỡ hợp đồng thường do cả hai bên, nguyên nhân chính từ lợi ích kinh tế không cân bằng khi có biến cố về giá cả lúa gạo trên thị trường,

- Nhận thức của nông dân về hợp đồng kinh tế chưa đầy đủ, đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn hạn chế,

- Thiếu cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp và nguồn ngân sách để đền bù thiệt

hại khi mô hình bị thất bại,

- Chưa có cơ chế quản trị rủi ro cho mô hình và triển khai trong điều kiện cơ sở hạ

tầng nông thôn giao thông thuỷ và bộ, kho chứa, hệ thống thủy lợi còn rất yếu

kém

* Tác động của các yếu tố vốn, nhân lực, khoa học công nghệ, thị trường đến mô hình CĐML

- Tác động của vốn đầu tư:

Vốn là yếu tố cả DN và ND quan tâm khi triển khai mô hình CĐML Càng tăng quy mô

sản xuất, nhu cầu vốn cho vật tư đầu vào càng tăng Càng tăng quy mô thị trường, nhu

cầu vốn thu mua lúa gạo, dự trữ gạo, vốn kinh doanh ngày càng tăng Nhiều mô hình liên

kết tay ba giữa ND – DN lúa gạo – DN vật tư nông nghiệp – Ngân hàng hiện nay rất thành công ở ĐBSCL Để đầu tư vốn một cách hiệu quả, DN lúa gạo xác định nhu cầu vốn đầu tư lượng vốn, thời gian đầu tư của ND, vốn tiền mặt được chuyển thành vốn phi

tiền mặt (non-cash , ND được nhận vật tư (ứng trước) theo nhu cầu vào đầu vụ và hoàn

trả vốn vay vào cuối vụ sau khi tiêu thụ lúa với lãi suất thỏa thuận thường thấp hơn hoặc

bằng lãi suất của thị trường Với cách tiếp cận vốn này, ND chủ động đầu tư đúng theo khuyến cáo của các nhà kỹ thuật, tối ưu hiệu quả sinh học, giảm thiểu lượng vật tư đầu

tư, là cơ sở để tăng năng suất và giảm giá thành Vốn dài hạn cho việc đầu tư cơ sở hạ

tầng kỹ thuật phụ trợ cho sản xuất lúa là rất quan trọng (ơn thập niên qua, cơ sở hạ

tầng ngành lúa gạo yếu kém do nguyên nhân vốn đầu tư dài hạn Xây dựng nhà kho, lò

sấy lúa, máy gặt đập liên hợp… đòi hỏi lượng vốn khá lớn, đầu tư lâu dài, tỷ lệ thu hồi

vốn thấp…, là những nguyên nhân DN ngần ngại đầu tư hoặc đầu tư cầm chừng

- Ảnh hưởng của khoa học công nghệ:

Nông dân gắn kết với mô hình CĐML vì được tiếp cận với các yếu tố liên quan đến kỹ thuật – công nghệ và cũng chính yếu tố này giúp họ và DN tăng lợi thế cạnh tranh của

mình Bốn yếu tố khoa học công nghệ có tầm ảnh hưởng lớn đến CĐML là: a Công nghệ

Trang 22

22

giống lúa chất lượng cao, (b Công nghệ canh tác Một phải - Năm giảm và Ba giảm –

Ba tăng , c Công nghệ cơ giới hóa gặt đập liên hợp, san bằng mặt ruộng tia lazer, máy

cuộn rơm , d) Quản lý nước trên đồng ruộng (giảm lượng nước, giảm phát thải carbon) Lao động nông thôn thiếu là bài toán lớn cho nông nghiệp Việt Nam và ngành trồng lúa trong thập niên tới và các vùng sản xuất quy mô lớn như CĐML Môi trường nông thôn ở các vùng sản xuất lúa tập trung như CĐML có mức độ ô nhiễm hóa chất và nông dược ở

mức báo động Chất lượng gạo (tồn dư hóa chất là yếu tố hàng đầu nhiều quốc gia nhập

khẩu quan tâm Những áp lực trên đây đòi hỏi những hộ ND, DN lúa gạo, DN vật tư nông nghiệp tham gia CĐML phải áp dụng công nghệ thân thiện với môi trường và phát triển

bền vững

- Tác động của thị trường:

Thị trường quyết định toàn bộ chuỗi cung ứng từ sản xuất đến tiêu thụ lúa gạo DN

nhận được tín hiệu từ thị trường, xác định lượng cầu lúa gạo, ước lượng lượng cung

lúa gạo và giá cả Trong một vùng sản xuất tập trung, rộng lớn, sản lượng lúa hàng vụ khá cao như CĐML thị trường đóng vai trò vô cùng quan trọng ND không thể xác định

được giá bán lúa trên thị trường mà chính DN lúa gạo quyết định giá bán vì ngành lúa

gạo Việt Nam phụ thuộc vào xuất khẩu Một mức độ co giãn nhỏ về giá gạo trên thị

trường thế giới ảnh hưởng lớn đến thị trường gạo trong nước và giá bán lúa của ND ND

sản xuất giống lúa nào, diện tích và sản lượng bao nhiêu, ở mức giá thành nào…đều hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường thông qua các DN Trong CĐML, sự gắn kết chặc chẽ giữa

ND và DN sẽ giảm thiểu rủi ro do thị trường và đáp ứng đúng với nhu cầu tiêu thụ gạo

của người tiêu dùng

Nhằm phân tích sâu các tác động của mô hình CĐML đối với các tác nhân chính tham gia trong mô hình, khảo sát được tiến hành trên 3 hộ trồng lúa thuộc 7 tỉnh ĐBSCL đã và đang tham gia mô hình này trong giai đoạn 2010- Sau đây là một số kết quả chủ yếu:

- Trước khi tham gia CĐML, nông dân ở ĐBSCL đã có nhiều kinh nghiệm khi tham gia các

hình thức liên kết khác trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo Nông dân tự phát liên kết thành những nhóm/tổ liên kết (mutual group) tập hợp từ 10-30 hộ trong cùng làng/xã/ấp, có ruộng lúa nằm liền thửa, nhóm mang nhiều tên gọi khác nhau: Nhóm liên

k ết sản xuất giống nhân giống), Tổ quản lý nước (hoặc thủy lợi), Tổ hợp tác, v.v…Tên gọi

của nhóm thể hiện nội dung các hoạt động Những nhóm này nhằm nâng cao hiệu quả, tương trợ lẫn nhau trong sản xuất lúa, mang lại lợi ích chung và cùng nhau chia sẻ những

rủi ro trong sản xuất lúa Ngoài hội nông dân, là một tổ chức chính trị do nhà nước thiết

lập, các hình thức liên kết khác đều do nông dân tự phát hình thành Chỉ có , % nông

dân khảo sát có tham gia hội nông dân, vì theo họ thực chất hội không đem lại những lợi

Trang 23

23

ích thiết thực trong sản xuất nông nghiệp, không thực sự thể hiện tiếng nói của một hội

đại diện cho nông dân, mang nhiều hình thức hơn thực chất (ình thức liên kết phát triển cấp độ hơn là hợp tác xã nông nghiệp (HTX) Hầu hết các (TX đều có lịch sử hình thành từ Tập đoàn sản xuất trong những năm (iện nay nhiều (TX đã chuyển sang hoạt động theo Luật Hợp tác xã mới và nghị định hướng dẫn thực hiện20 56,3% hộ nông dân tham gia CĐML hiện hoặc đã từng đang tham gia các (TX

- Kết quả khảo sát 383 hộ ở 7 tỉnh ĐBSCL cho thấy rằng, từ sau khi có chủ trương của nhà nước và chính quyền địa phương trong giai đoạn 2010-2014, có 91,2% hộ nông dân tham gia CĐML hoặc CĐLK Tỷ lệ hộ nông dân tham gia các liên kết và CĐML cũng tăng nhanh trong giai đoạn này, từ 3,6% hộ năm lên , % hộ năm Trong đó, , % nông dân đã từng ký kết hợp đồng với doanh nghiệp trong 3 vụ lúa liên tiếp, 30%

hộ ký kết tiêu thụ liên tục nhiều vụ lúa với các DN Điều này chứng tỏ nông dân bước đầu

đã có lòng tin vào DN và DN đã thỏa mãn được kỳ vọng của họ, đó là tiêu thụ lúa với giá

cả hợp lý, giúp họ chủ động trong việc lên kế hoạch sản xuất lúa và giảm thiểu rủi ro thua lỗ trước tình hình giá lúa rất biến động Từ đó, hình thức liên kết nào mang lại lợi nhuận cao, giảm thiểu rủi ro, đều được nông dân rất kỳ vọng và sẵn lòng tham gia

(ình 2 Tham gia các liên kết và cánh đồng mẫu lớn của hộ trồng lúa ở ĐBSCL, 8-2014.

Chú thích: Tính từ số liệu khảo sát hộ tham gia CĐML ở 7 tỉnh ĐBSCL năm Nguồn: Hồ Cao Việt và cộng sự (2014)

- Để mô hình CĐML tồn tại và phát triển, điều cần thiết là mô hình phải đáp ứng những kỳ

v ọng của nông dân và doanh nghiệp tham gia Như vậy mô hình CĐML đã đáp ứng những

kỳ vọng gì của hộ nông dân trồng lúa? Từ kết quả khảo sát cho thấy: những kỳ vọng của nông dân tham gia CĐML chủ yếu là: a Tiêu thụ lúa với giá bán hợp lý, cao hơn giá

Ngày đăng: 12/09/2022, 10:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w