1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG MỘT SỐ NƯỚC VÀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

47 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 466,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: Tổng quan (4)
    • 1.1 Giới thiệu vấn đề (4)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (4)
    • 1.3 Phương pháp (5)
    • 1.4 Phạm vi nghiên cứu (5)
    • 1.5 Lý do chọn đề tài (5)
    • 1.6 Ý nghĩa thực tiễn (6)
    • 1.7 Tính cấp thiết của đề tài (6)
  • Chương 2 Cơ sở lý thuyết (7)
    • 2.1 Tổng quan về ngân hàng trung ương (7)
      • 2.1.1 Định nghĩa về ngân hàng trung ương (7)
      • 2.1.2 Chức năng của ngân hàng trung ương (7)
    • 2.2 Tổng quan về lãi suất (8)
      • 2.2.1 Lãi suất là gì ? (8)
      • 2.2.2 Ảnh hưởng của lãi suất đối với nền kinh tế (8)
  • Chương 3 Cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng trung ương một số nước phát triển (10)
    • 3.1 Mỹ - Cục dự trữ liên bang Hoa Kì (10)
    • 3.2 Anh – Ngân hàng trung ương Anh (11)
    • 3.3 Thụy Sĩ – Ngân hàng quốc gia Thụy Sĩ (12)
    • 3.4 Trung Quốc – Ngân hàng trung ương Trung Quốc (13)
    • 3.5 Hàn Quốc – Ngân hàng trung ương Hàn Quốc (13)
    • 3.6 Nhật Bản – Ngân hàng trung ương Nhật Bản (13)
  • Chương 4: Cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng nhà nước Việt Nam (14)
    • 4.1 Hoạt động của Ngân hàng nhà nước Việt Nam (14)
      • 4.1.1 Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia (15)
      • 4.1.2 Phát hành tiền giấy và tiền kim loại (15)
      • 4.1.3 Cho vay, bảo lãnh, tạm ứng cho ngân sách (16)
      • 4.1.4 Quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối (17)
      • 4.1.5 Thanh tra, giám sát ngân hàng (19)
    • 4.2 Biến động về lãi suất của Việt Nam từ 2008 – nay (22)
    • 4.3 Ngân hàng nhà nước điều hành lãi suất (40)
  • Chương 5: So sánh và nhận xét (43)
  • Chương 6: Đề xuất ý kiến và giải pháp (45)
    • 5.1. Về vấn đề tính độc lập của ngân hàng nhà nước (45)
    • 5.2. Về mức lãi suất trần (45)
    • 5.3. Về tính minh bạch trong điều hành chính sách tiền tệ (46)
  • Chương 7: Kết luận (46)
  • Chương 8: Tài liệu tham khảo (47)

Nội dung

CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG MỘT SỐ NƯỚC VÀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM Cơ chế điều hành lãi suất của NHTW một số nước và NHNN Việt Nam CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TR.

Tổng quan

Giới thiệu vấn đề

Ở bất kỳ quốc gia nào, Ngân hàng trung ương (NHTW) cũng đều đóng vai trò đặc biệt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Bởi lẽ, nếu hệ thống ngân hàng được ví là huyết mạch thì NHTW có thể coi là trái tim của nền kinh tế Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển lành mạnh khi có một NHTW thực hiện tốt chức năng điều tiết hệ thống tiền tệ.Ngược lại, những trục trặc trong hoạt động của NHTW cũng có thể gây ra những cú “đột quỵ” đối với cả nền kinh tế Với vai trò quan trọng như thế, sau đây nhóm sẽ tìm hiểu về cơ chế điều hành lãi suất –một trong những công cụ quan trọng nhất của chính sách tiền tệ của một quốc gia trong hệ thống các NHTW ở các nước phát triển và của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam, để phân tích sự giống nhau và khác nhau giữa các mô hình NHTW cũng như sự khác biệt về chính sách riêng của mỗi quốc gia Bên cạnh đó, nhóm cũng sẽ xem xét ưu điểm và nhược điểm giữa cơ chế điều hành lãi suất giữa các nước, các khu vực để từ đó có thể đề xuất những giải pháp thích hợp đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và NHNN Việt Nam nói riêng.

Do thời gian thực hiện đề tài có giới hạn và lượng kiến thức của nhóm cũng chưa đủ sâu để có thể nghiên cứu một cách kỹ lưỡng nhất về đề tài vì vậy không thể tránh khỏi những thiếu sót, nhóm rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý từ cô.Chúng em xin chân thành cảm ơn cô.

Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu về cơ chế điều hành lãi suất –một trong những công cụ quan trọng nhất của chính sách tiền tệ của một quốc gia trong hệ thống các NHTW ở các nước phát triển và của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam, để phân tích sự giống nhau và khác nhau giữa các mô hình NHTW cũng như sự khác biệt về chính sách riêng của mỗi quốc gia Bên cạnh đó, nhóm cũng sẽ xem xét ưu điểm và nhược điểm giữa cơ chế điều hành lãi suất giữa các nước, các khu vực để từ đó có thể đề xuất những giải pháp thích hợp đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và NHNN ViệtNam nói riêng.

Phương pháp

Phân tích, tổng hợp dựa vào các thông tin thu thập từ dữ liệu thứ cấp, từ đó so sánh giữa các NHTW và kết luận.

Phạm vi nghiên cứu

Nhóm tiến hành nghiên cứu hoạt động của một số NHTW các nước phát triển và NHNN Việt Nam từ mốc thời gian mới thành lập và những mốc thời gian đáng chú ý với những biến động về kinh tế như khủng hoảng hay tăng trưởng mạnh, và hoạt động của các NHTW ở thời điểm hiện tại.

Lý do chọn đề tài

Như chúng ta đã biết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đóng vai trò là ngân hàng của các ngân hàng và là người điều tiết kinh tế vĩ mô cùng với chính sách tiền tệ nhằm ổn định giá trị tiền tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lãi suất và can thiệp khi các ngân hàng thương mại đối mặt nguy cơ đổ vỡ, từ đó tạo đà cho tăng trưởng kinh tế và phát triển lành mạnh Hơn 10 năm qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể; tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là các chính sách đã thi hành có thực sự phù hợp với bối cảnh và nhu cầu thực tế của nền kinh tế hay không, và NHNN Việt Nam có thực sự điều chỉnh kịp nhịp với diễn biến thị trường để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững hay chưa.

Nam đã phát huy hiệu quả vai trò của mình hay chưa?Với lí do đó, nhóm tiến hành nghiên cứu sơ bộ về hoạt động điều hành lãi suất của NHTW các nước phát triển và Việt Nam để hiểu được các NHTW đã làm thế nào để có thể điều hành thị trường tài chính, và tìm hiểu sự giống cũng như sự khác biệt giữa những khu vực để tìm ra được sự lựa chọn đúng đắn cho NHNN Việt Nam.

Ý nghĩa thực tiễn

Mỗi quốc gia cũng như mỗi đặc tính của một nền kinh tế sẽ có các chính sách điều hành lãi suất phù hợp nhất, vì vậy ta tiến hành tìm hiểu nhiều mô hình khác nhau từ NHTW các nước phát triển cũng như NHNN Việt Nam để thấy được một bức tranh toàn diện về cơ chế điều hành lãi suất ở nhiều nước khác nhau, từ đó phân tích ưu nhược điểm để có thể tìm ra được giải pháp tối ưu nhất cho nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đề tài này không những giúp chúng ta nâng cao hiểu biết về hoạt động điều hành lãi suất của các NHTW mà còn giúp chúng ta nhận diện được thực trạng và xu hướngcủa toàn bộ nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.

Tính cấp thiết của đề tài

Như nhóm đã đề cập ở các phần trước, NHTW giữ vị trí then chốt trong việc quản lý và kiểm soát tiền tệ ngân hàng, chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ(CSTT), là một bộ máy tài chính tổng hợp.Các bằng chứng thực nghiệm cũng như những lý thuyết kinh tế đã chỉ ra rằng, trong nền kinh tế thị trường, để NHTW điều hành CSTT một cách hiệu quả, tính độc lập của NHTW là yếu tố then chốt Trong giai đoạn hiện nay, ta càng thấy rõ tầm quan trọng cũng như vai trò vô cùng to lớn của các NHTW trong việc điều hành CSTT, cụ thể đối với đề tài này là lãi suất đối với toàn bộ nền kinh tế thế giới.

Tại Việt Nam, khoảng thời gian 2012 hiện tại đã có nhiều sự biến động về lãi suất và những kết quả đáng lưu ý, sự cần thiết về việc tìm hiểu nguyên nhân tại sao lại như vậy là rất quan trọng và cấp bách đối với nước ta trong giai đoạn cung - cầu càng ngày càng hoàn thiện trên thị trường NHNN Việt Nam đã có hướng đi đúng hay chưa và những giải pháp khắc phục những yếu kém sẽ được nhóm đề cập trong những chương tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết

Tổng quan về ngân hàng trung ương

2.1.1 Định nghĩa về ngân hàng trung ương

Ngân hàng trung ương (có khi gọi là ngân hàng dự trữ, hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ) là một định chế công cộng, thực hiện chức năng độc quyền phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của chính phủ Ngân hàng trung ương là cơ quan quản lý của quốc gia về các hoạt động tiền tệ và ngân hàng.

2.1.2 Chức năng của ngân hàng trung ương

Ngân hàng trung ương có bốn chức năng chính sau đây:

Ngân hàng phát hành tiền

Ngân hàng của các ngân hàng

Ngân hàng của chính phủ

Cơ quan quản lý của quốc gia về chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng

Tuy nhiên, ở một số nước, ngân hàng trung ương có thể không thực hiện hết các chức năng ở trên

Tổng quan về lãi suất

Lãi suất là giá của quyền được sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định mà người sử dụng phải trả cho người vay Hay nói ngắn gọn, lãi suất là giá của việc sử dụng tiền Lãi suất được xác định bởi quan hệ cung - cầu và tính bằng tỷ lệ phần trăm hay số lẽ thập phân.

2.2.2 Ảnh hưởng của lãi suất đối với nền kinh tế

Lãi suất là một biến số kinh tế có ý nghĩa quan trọng, có tác động to lớn đến hành vi tiêu dùng của mọi chủ thể trong nền kinh tế.

Lãi suất đối với tăng trưởng kinh tế:

Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững là mục tiêu hàng đầu của mọi quốc gia. Để đạt được mục tiêu này cần phải đạt được nhiều mục tiêu khác như: đầu tư, tiêu dùng, tiết kiệm, lạm phát, xuất nhập khẩu… Và lãi suất là một trong những công cụ

Lãi suất đối với tiết kiệm và tiêu dùng:

Lãi suất có tác động cùng chiều với tiết kiệm và ngược chiều với tiêu dùng. Khi lãi suất tăng, phần thu nhập dành cho tiết kiệm tăng, cho tiêu dùng giảm Và ngược lại khi lãi suất giảm Quyết định của người tiêu dùng trong trường hợp vay tiêu dùng cũng phụ thuộc vào lãi suất Khi lãi suất tăng, người tiêu dùng sẽ cân nhắc nhiều hơn cho việc chi tiêu

Lãi suất đối với đầu tư:

Có nhiều yếu tố tác động đến quyết định đầu tư, nhưng có ba yếu tố chính sau đây: lãi suất, lạm phát dự tính và lợi nhuận dự tính Trong đó lãi suất thực và đầu tư có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau Lãi suất thực chính là chi phí cơ hội của đầu tư. Khi lãi suất thực ở mức cao thì tiền lãi phải trã (khi đi vay) hoặc tiền lợi nhuận (khi gửi tiền) sẽ cao, kết quả là làm cho đầu tư giảm vì nhà đầu tư sẽ tang gửi tiền vào ngân hàng để lấy lợi tức Và điều ngược lại sẽ xảy ra khi lãi suất thực thấp.

Lãi suất đối với lạm phát:

Lãi suất thường tăng trong các thời kì lạm phát cao để đảm bảo lãi suất cho vay thực luôn dương (lớn hơn 0) và để kiềm chế lạm phát Lãi suất thường giảm khi nền kinh tế trong thời kì giảm phát để tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn vay cho các doanh nghiệp, từ đó kích thích tăng trưởng.

Lãi suất đối với tỷ giá hối đoái:

Với các yếu tố khác không đổi, nếu lãi suất nội tệ tăng nhanh hơn lãi suất ngoại tệ sẽ làm cho tỷ giá giảm, tức nội tệ lên giá, và ngược lại Sự thay đổi về tỷ giá hối đoái sẽ tác động lên hoạt động xuất nhập khẩu

Lãi suất với quá trình phân bổ các nguồn lực:

Lãi suất đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ các nguồn lực xã hội Nếu xem tiền lương là giá của lao động và lãi suất là giá của vốn, thì khi giá của một đơn vị lao động thấp hơn giá của một đơn vị vốn thì sử dụng lao động hiệu quả hơn sử dụng vốn và ngược lại Từ đó, ta thấy được vai trò của lãi suất trong việc phân bổ có hiệu quả hai yếu tố đầu vào.

Lãi suất với hoạt động của ngân hàng thương mại:

Bằng các hoạt động cho vay và nhận tiền gửi tiết kiệm, ngân hàng thương mại vốn để đầu tư sản xuất Để giúp cho hoạt động trên diễn ra đạt hiệu quả cao, ngân hàng thương mại phải đưa ra các mức lãi suất cho vay và đi vay phù hợp Nếu mức lãi suất huy động (đi vay) thấp thì người có tiền nhàn rỗi sẽ ít gửi tiền vào ngân hàng, kết quả là ngân hàng thương mại sẽ không có tiền để cho người khác vay Và tương tự,nếu mức lãi suất cho vay quá cao, thì người cần vốn sẽ tìm giải pháp khác thay thế cho việc đi vay từ ngân hàng Vậy mức lãi suất hợp lý yêu cầu làm sao có thể huy động được nhiều nhất vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo phù hợp với điều kiện người đi vay và bù đắp được các chi phí rủi ro.

Cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng trung ương một số nước phát triển

Mỹ - Cục dự trữ liên bang Hoa Kì

Cục dự trữ liên bang Hoa Kì (Federal Reserves System), là một ngân hàng cổ phần tư nhân Tuy nhiên, cơ quan lãnh đạo cao nhất của FED là hội đồng thống đốc bao gồm 7 thành viên do Tổng thống đề cử và thương nghị viện bổ nhiệm FED gồm có 12 ngân hàng dự trữ liên bang.

FED thực hiện đầy đủ các chức năng của một ngân hàng trung ương và vận hành độc lập hoàn toàn với chính phủ trong việc điều hành chính sách tiền tệ của quốc gia.

FED điều hành lãi suất thông qua việc định hướng lãi suất quỹ liên bang (Federal Funds Rate) và ấn định lãi suất chiết khấu (Discount Rate)

Lãi suất quỹ liên bang là lãi suất áp dụng cho các khoản vay qua đêm nhằm đảm bảo đủ dự trữ bắt buộc theo quy định cho các tổ chức trung gian nhận tiền gửi. Nguồn vốn dành cho các khoản vay này là quỹ dự trữ liên bang được hình thành bởi số tiền dự trữ bắt buộc của các tổ chức trung gian nhận tiền gửi FFR do thị trường quyết định, tuy nhiên FED sẽ có nhựng tác động nhất định thông qua cung tiền (thị trường mở) để đạt được mức lãi suất mục tiêu

Hằng năm, FED sẽ sẽ công bố lãi suất quỹ mục tiêu (Federal Funds Target Rate) 8 lần Mặc dù đây không phải là lãi suất ấn định, nhưng lại có tác động lớn đến thị trường tài chính bởi mỗi sự thay đổi của FED ám chỉ một sự thay đổi trong chính sách

Lãi suất chiết khấu là lãi suất các ngân hàng phải trả khi vay tiền từ FED Lãi suất chiết khấu do FED ấn định.

Lãi suất quỹ liên bang và lãi suất chiết khấu tác động chi phối lãi suất ưu đãi. Lãi suất ưu đãi là lãi suất áp dụng cho các khách hàng có mức rủi ro thấp nhất hay có độ tin cậy cao nhất, do bản thân các ngân hàng thương mại tự xác định căn cứ vào tình hình hoạt động cụ thể của ngân hàng mình.

Anh – Ngân hàng trung ương Anh

Ngân hàng Anh (Bank of England – BOE) là ngân hàng trung ương của Anh, được thành lập vào năm 1694 Cùng với Ủy ban chính sách tiền tệ, Ngân hàng Anh chịu trách nhiệm quản lý chính sách tiền tệ của Vương quốc Anh

Ngân hàng Anh điều hành lãi suất thông qua lãi suất chính thức (official bank rate) Lãi suất chính thức là mức lãi suất mà BOE trả cho các khoản tiền dự trữ của các ngân hàng thương mại để tại BOE Mức dự trữ bao gồm phần dự trữ bắt buộc và tự nguyện của các ngân hàng

Các ngân hàng thương mại được phép vay có bảo đảm hoặc gửi tiền tại BOE với mức lãi suất nằm trong biên độ +1% so với lãi suất chính thức cho tất cả các ngày trong tháng (trừ ngày cuối cùng của kỳ duy trì, biên độ thu hẹp còn +0.25%) Lãi suất các kì hạn 3-12 tháng do các ngân hàng tự xác định và không phụ thuộc vào biên độ của lãi suất chính thức Tương tự như lãi suất quỹ liên bang của FED, lãi suất chính thức chỉ là lãi suất mục tiêu, và BOE sẽ sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để bảo vệ mức lãi suất mục tiêu này.

Thụy Sĩ – Ngân hàng quốc gia Thụy Sĩ

Ngân hàng quốc gia Thụy Sĩ (The Swiss National Bank – SNB) chịu trách nhiệm điều hành chính sách tiền tệ và phát hành đồng franc Thụy Sĩ Là ngân hàng theo mô hình sở hữu hỗn hợp, SNB có khoảng 55% cổ phần do các bang và ngân hàng bang nắm giữ, phần còn lại do các cổ đông tư nhân Nhờ có tính độc lập trong quá trình thực thi, SNB thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia nhằm phục vụ lợi ích của đất nước.

Khi nhắc đến SNB, người ta thường nhắc đến lãi suất LIBOR CHF 3 tháng.Lãi suất cơ bản này còn được gọi là lãi suất tham chiếu, được SNB sử dụng để hướng dẫn mức lãi suất cụ thể trên thị trường tiền tệ Thụy Sĩ Bằng cách thiết lập một mục tiêu cho lãi suất LIBOR CHF 3 tháng, có giới hạn trên và dưới, SNB có thể sử dụng chính sách tiền tệ của mình để ảnh hưởng đến lãi suất cho vay, tiết kiệm và thế chấp.

Trung Quốc – Ngân hàng trung ương Trung Quốc

Ngân hàng nhân dân Trung Quốc (PBOC) là ngân hàng trung ương của Trung Quốc, có trách nhiệm thực thi chính sách tiền tệ và điều tiết các hoạt động của các tổ chức tài chính ở Trung Quốc Đại Lục PBOC là một cơ quan tài chính độc lập có tài sản lớn nhất thế giới PBOC bao gồm 9 ngân hàng khu vực, không dựa trên ranh giới hành chính, với các thống đốc được Thủ tướng bổ nhiệm và được Quốc hội thông qua Kể từ khi thành lập, vai trò của PBOC trong việc điều hành chính sách tiền tệ ngày càng được tăng cường, nhất là sau năm 2003.

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBC) có quyền tự chủ hoàn toàn trong điều hành chính sách tiền tệ Trong việc điều hành lãi suất, PBC ấn định mức lãi suất cơ bản cho các ngân hàng thương mại, từ đó có ảnh hưởng lớn đến thị trường cho vay thế chấp và gửi tiết kiệm Ở Trung Quốc, lãi suất do PBC ấn định thường chia hết cho 9, còn trên thế giới thì thường chia hết cho 25 Lãi suất cơ bản hiện nay của Trung Quốc là khoảng 6%.

Hàn Quốc – Ngân hàng trung ương Hàn Quốc

Ngân Hàng Hàn Quốc (Bank of Korea – BOK) là ngân hàng trung ương của Hàn Quốc BOK thực hiện đầy đủ các chức năng của một ngân hàng trung ương.

Trước đây, ở Hàn Quốc, người ta thường sử dụng thuật ngữ lãi suất qua đêm,nhưng kể từ tháng 3 năm 2008, nó được thay thế bởi thuật ngữ lãi suất cơ bản Bằng cách thay đổi lãi suất cơ bản, BOK ảnh hưởng đến các loại lãi suất khác như lãi suất cho vay, tiết kiệm và thế chấp.

Nhật Bản – Ngân hàng trung ương Nhật Bản

Ngân hàng Nhật Bản (Bank of Japan – BOJ) là ngân hàng trung ương của Nhật Bản, hay còn được gọi là Nichigin Sự độc lập của BOj bị hạn chế một phần bởi Bộ tài chính thông qua việc kiểm soát nhân sự và ngân sách của BOJ

BOJ thực hiện chính sách tiền tệ thông qua kiểm soát cung tiền bằng lãi suất. Lãi suất cho vay qua đêm là lãi suất cơ bản của Nhật Các khoản vay qua đêm không có tài sản thế chấp, và các ngân hàng thương mại buộc phải thanh toán toàn bộ trước

10 giờ sáng ngày hôm sau, BOJ công bố mức lãi suất cho vay thấp nhất từ trước đến nay Với mức lãi suất cơ bản này, BOJ có thể tác động đến cung tiền và từ đó đưa lãi suất về gần với mức yêu cầu hoặc mức mục tiêu mà thị trường kỳ vọng.

Cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng nhà nước Việt Nam

Hoạt động của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Ngày 16/6/2010 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội khóa XII chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ Hoạt động củaNgân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm sự an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Việt Nam quản lý ngân sách nhà nước thông qua Kho bạc Nhà nước, trực thuộc Bộ Tài Chính Điều này khác với nhiều quốc gia khác, nơi quản lý ngân sách có các cơ chế và cơ quan khác nhau.

4.1.1 Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ của cửa cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá đồng tìền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra Trong đó:

Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm được thể hiện thông qua việc quyết định chỉ số giá tiêu dùng và giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.

Chính phủ trình quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hằng năm.

Thủ tướng Chính phủ và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định của Chính phủ.

Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỉ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ.

4.1.2 Phát hành tiền giấy và tiền kim loại Đơn vị tiền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN là “Đồng”, ký hiệu quốc gia là “đ”, ký hiệu quốc tế là “VND”, 1 đồng bằng 10 hào, 1 hào bằng 10 xu NHNN là cơ quan duy nhất phát hành tiền giấy, tiền kim loại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN Tiền giấy, tiền kim loại lo NHNN phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp trên lãnh thổ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam

NHNN chịu trách nhiệm thiết kế mệnh giá, kích thước, trọng lượng, hình vẽ, hoa văn và các đặc điểm khác của tiền, tất cả các yếu tố này đều phải được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Trên cơ sở các thiết kế được phê duyệt, NHNN tổ chức in ấn, đúc tiền, bảo quản, vận chuyển và phát hành tiền vào lưu thông, đồng thời tiến hành tiêu hủy tiền khi cần thiết.

Các hành vi bị cấm gồm có: làm tiền giả; vận chuyển, tàng trữ, lưu hành tiền giả; hủy hoại đồng tiền trái pháp luật; từ chối nhận, lưu hành đồng tiền đủ tiêu chuẩn lưu thông do NHNN phát hành; và các hành vi bị cấm khác theo quy định của Pháp Luật.

4.1.3Cho vay, bảo lãnh, tạm ứng cho ngân sách a/ Cho vay:

NHNN cho TCTD vay ngắn hạn thông thường theo quy định của Luật này, nhằm bảo đảm thanh khoản và sự ổn định của hệ thống tín dụng NHNN không cho vay đối với cá nhân hoặc tổ chức không phải là TCTD Ngoài ra, NHNN xem xét và quyết định cho vay đặc biệt với TCTD trong các trường hợp sau đây.

-TCTD lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả, đe dọa sự ổn định của hệ thống các TCTD;

-TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả do sự cố nghiêm trọng khác. b/ Bảo lãnh:

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chỉ bảo lãnh cho các TCTD vay vốn nước ngoài theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; ngoài trường hợp này, NHNN không bảo lãnh cho bất kỳ trường hợp nào khác C/ Tạm ứng cho NSNN:

NHNN tạm ứng cho ngân sách trung ương để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Khoản tạm ứng này phải được hoàn trả trong năm ngân sách, trừ trường hợp đặc biệt do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định.

4.1.4 Quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối a/ Nhiệm vụ, quyền hạn về quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối của NHNN:

1 Quản lý ngoại hối và sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật.

2 Tổ chức và phát triển thị trường ngoại tệ.

3 Cấp thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối do TCTD, các tổ chức khác có hoạt động ngoại hối.

4 Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định biện pháp hạn chế giao dịch ngoại hối để đảm bảo an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia.

5 Tổ chức, quản lý, tham gia thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.

6 Nhiệm vụ, quyền hạn khác về quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối theo quy định của pháp luật. b/ NHNN thực hiện quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước như sau:

Dự trữ ngoại hối nhà nước bao gồm:

Ngoại tệ tiền mặt, tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài;

Chứng khoán, giấy tờ có giá khác bằng ngoại tệ do chính phủ, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế phát hành;

Quyền rút vốn đặc biệt, dự trữ tại Quỹ tiền tệ quốc tế;

Vàng do NHNN quản lý;

Các loại ngoại hối khác của nhà nước.

NHNN quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước theo quy định của pháp luật về ngoại hối nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế và bảo toàn Dự trữ ngoại hối nhà nước.

Thủ tướng chính phủ quyết định việc sử dụng Dự trữ ngoại hối nhà nước cho nhu cầu đột xuất, cấp bách của Nhà nước; trường hợp sử dụng Dự trữ ngoại hối nhà nước dẫn đến thay đổi dự toán ngân sách thì thực hiện theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.

NHNN báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo định kỳ và đột xuất về quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước.

Biến động về lãi suất của Việt Nam từ 2008 – nay

Biến động lãi suất năm 2008

2008 được xem là năm của lãi suất, khi lãi suất biến động trái chiều với biên độ lớn chỉ trong vòng 12 tháng Diễn biến lãi suất năm 2008 gồm hai giai đoạn chính: cuộc đua tăng lãi suất của các ngân hàng ở nửa đầu năm và cuộc đua giảm lãi suất theo chiều ngược lại về sau, dù mức độ quyết liệt ít hơn Những sự kiện lớn đối với diễn biến lãi suất năm 2008 diễn ra như sau:

6 tháng đầu năm 2008, lãi suất tăng mạnh :

Hình 5: Lãi suất huy động tiền gởi VNĐ năm 2008

Khởi đầu từ mức lãi suất 8,5% trong tháng 1, các ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh đã tham gia cuộc đua lãi suất, đẩy mặt bằng lãi suất lên nhanh chóng Đỉnh điểm lãi suất lên tới 18,5% vào tháng 6 năm 2008 Hiện tượng người dân rút tiền từ các ngân hàng có lãi suất thấp sang ngân hàng có lãi suất cao bắt đầu xuất hiện, buộc các ngân hàng phải điều chỉnh lãi suất nhanh chóng Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến diễn biến này.

Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường… do lạm phát trong nước cao 19.39% vào 1/2008 Ảnh hưởng khủng hoảng tài chính Mỹ làm khả năng trả nợ của khách hàng giảm sút khiến các NH không muốn đẩy mạnh cho vay mà chú trọng vào việc bảo đảm an toàn hoạt động.

Mặc khác kinh tế Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên vật liệu thế giới Cú sốc giá lương thực thực phẩm, giá dầu, giá phôi thép, giá phân bón… khiến hàng nội địa tăng giá chóng mặt trong nửa đầu năm 2008 Trước tình hình đó NHNN thắt chặt chính sách tiền tệ bằng cách tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11%/năm và nâng lãi suất cơ bản từ 8.25% lên 8.75%/năm kể từ 01/02/2008 lãi suất huy động có lúc lên trên 20%, lãi suất cho vay cũng tăng lên ở mức tương ứng, rút tiền khỏi thị trường thông qua việc phát hành 20,300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc 17/03/2008, đồng thời buộc Kho bạc rút 50.000 tỷ từ các Ngân hàng Thương mại làm cho tính thanh khoản của các ngân hàng bị chặn đột ngột điều này gây ra tình trạng thiếu vốn trầm trọng thể hiện rõ qua làn sóng đua nhau tăng lãi suất huy động vốn trong toàn hệ thống ngân hàng.

6 tháng cuối năm lãi suất giảm mạnh:

Bắt đầu từ tháng 7 trở đi, các ngân hàng lại bước vào cuộc đua lãi suất mới nhưng với xu hướng ngược lại so với 6 tháng đầu năm Cuộc đua ban đầu chỉ mới nhích nhẹ từ 18,5% xuống còn 17,5% và bắt đầu giảm mạnh từ tháng 10 năm 2008

Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến là do các ngân hàng đã giữ được tính thanh khoản của dòng tiền, đảm bảo được độ an toàn cao và tính rủi ro thấp Mặt khác, sau 6 tháng đã huy động được một lượng tiền khổng lồ về thì nay các ngân hàng giảm lãi suất cho vay để kích thích người tiêu dùng trong hoạt động sản xuất cũng như cho các doanh nghiệp vay để đầu tư

Thứ hai, tín hiệu tích cực từ lạm phát và chuyển biến kinh tế vĩ mô cũng là cơ sở để có được sự điều chỉnh này.

Và thứ ba, trên cơ sở xem xét các nhu cầu tín dụng, cân đối khả năng huy động cũng như yêu cầu quản trị…, các ngân hàng đã có quyết định phù hợp với trường hợp của mình, cũng như theo hướng chung của hệ thống

Biến động lãi suất năm 2009

Ngay từ những tháng đầu năm, lãi suất huy động của các ngân hàng tăng nhẹ Ngày 12/3, các NHTM gây chú ý khi công bố mức lãi suất huy động cao nhất 8,7%/năm cho kỳ hạn 36 tháng Lãi suất các kỳ hạn lần lượt được điều chỉnh tăng lên 8%/năm cho kỳ hạn trên 12 tháng, 7,32%/năm cho kỳ hạn 3 tháng, và 6 - 9 - 12 tháng lần lượt nhận được 7,44%/năm, 7,524%/năm và 8,004%/năm.

Từ tháng 5 đến tháng 7/2009, làn sóng đua tăng lãi suất huy động Việt nam đồng (VND) ở các NHTM chưa có dấu hiệu dừng do nhu cầu hấp thụ vốn của nền kinh tế tăng cao, lãi suất huy động VND đang tiến sát về mức trần cho vay Nhiều NHTM chỉ trong 2 tuần đã tăng lãi suất tiền gửi 2 đến 3 lần Ở khối NHTM Nhà nước, lãi suất huy động VND không kỳ hạn phổ biến là 2,88%/năm, kỳ hạn 3 tháng: 7,3%, 6 tháng: 7,5%/ năm và 12 tháng là 7,85%/năm Tại khối NHTM cổ phần, mức 2,87%/năm dành cho không kỳ hạn Từ tháng 8 đến tháng10/2009, các ngân hàng gia tăng lãi suất và đỉnh cao nhất lên đến 9,5%

Tiếp tục sau đó các ngân hàng thương mại đưa ra các mức lãi suất huy động cơ bản như 15 tháng (9,4%), 24 tháng (9,8%) hay 36 tháng (10,3%/năm) và tiếp tục tăng lãi xuất huy động 0.3% Đặc biệt, vào ngày 12/8 lãi suất huy động vốn VND đã lên tới đỉnh là 10.3% Đến đầu tháng 11 nhóm NHTM cổ phần điều chỉnh tăng lãi suất huy động VND với mức từ 0,1-0,3%/năm và tăng lãi suất huy động USD từ 0,1-0,2%/năm ở hầu hết các kỳ hạn, đặc biệt là lãi suất ngắn hạn Hiện nay, lãi suất của các ngân hàng đã lên tới 9.99%/năm cho kỳ hạn 1 tháng.

Có thể thấy, thực tế lãi suất huy động tăng gần sát lãi suất cho vay đã phản ánh sự căng thẳng nguồn vốn của các ngân hàng Có nhiều nguyên nhân dẫn đến các ngân hàng tiến vào cuộc đua lãi suất vào cuối năm.

Trước hết là do áp lực về vốn để thực hiện chính sách cho vay ưu đãi của chính phủ và nhu cầu đáo hạn các khoản tiền gởi vào cuối năm Khi ngân hàng thực hiện hỗ trợ lãi suất, một yêu cầu bắt buộc là không được từ chối cho vay nếu đối tượng đủ điều kiện Hơn nữa, những hợp đồng tín dụng đã ký từ trước đã đến ngày giải ngân cũng là một áp lực về vốn đối với ngân hàng Trong bối cảnh hiện nay, khó khăn không chỉ đến với ngân hàng thương mại mà cả đối với Ngân hàng Nhà nước Bởi lẽ, nếu giữ nguyên hoặc hạ lãi suất cơ bản để hạ giá vốn cho doanh nghiệp, hỗ trợ chống suy giảm kinh tế thì phải đối mặt với áp lực cung cầu vốn trên thị trường Và điều này lại mâu thuẫn với việc nâng lãi suất cơ bản để giải tỏa cơn khát vốn cho ngân hàng.

Ngoài ra, do tác động của việc nới lỏng chính sách tài khoá và tiền tệ, nhất là cơ chế hỗ trợ lãi suất trong 10 tháng đầu năm 2009, làm cho việc kiểm soát tốc độ tăng ở mức hợp lý của hai chỉ tiêu trên gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng không thuận lợi đối với việc kiềm soát lạm phát, ổn định lãi suất thị trường trong các tháng cuối năm 2009 và sẽ kéo dài sang năm 2010 do độ trễ của tác động tiền tệ.

Lãi suất 2010 – Kịch bản lặp lại, nhiều biến động và khó khăn.

Diễn biến lãi suất năm 2010 được dự báo đi theo kịch bản năm 2009: lãi suất điều hành duy trì ở mức ổn định trong một thời gian dài và sau đó tăng lên vào cuối năm nhằm kiềm chế lạm phát; lãi suất thị trường có xu hướng giảm giữa năm và tăng trở lại ở những tháng cuối năm.

* Chính sách điều hành lãi suất của NHNN

Năm 2010, một năm đầy biến động của thị trường tiền tệ trong nước cũng như trên thế giới,một năm mà nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn trong giai đoạn phục hồi sau những ảnh hưởng từ biến động kinh tế thế giới 2008 – 2009 Trước những biến động đó, để thực hiện đồng bộ với các giải pháp của Chính phủ, NHNN thực hiện điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt nhằm tạo điều kiện hỗ trợ tích cực cho thị trường tiền tệ - tín dụng hoạt động ổn định, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát gia tăng những tháng cuối năm một cách hiệu quả.Theo đó, NHNN đã duy trì lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam ổn định ở mức 8% trong suốt 10 tháng đầu năm và thực hiện điều chỉnh lên mức 9% trong hai tháng cuối năm trước sức ép của lạm phát.

Diễn biến lãi suất điều hành năm 2010 của NHNN

Thời gian Lãi suất cơ bản (%)

Lãi suất tái cấp vốn (%)

Lãi suất tái chiết khấu (%)

Lãi suất cho vay qua đêm (%)

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

* Lãi suất thị trường vẫn ở mức cao

Ngân hàng nhà nước điều hành lãi suất

Những thuận lợi và hạn chế trong việc điều hành lãi suất của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Từ khi thành lập cho đến nay, NHNN Việt Nam luôn là một cơ quan thuộc Chính phủ, là một đơn vị ngang Bộ Chính vì vậy, hoạt động của NHNN chịu sự điều chỉnh rất lớn của Chính phủ NHNN chỉ là cơ quan xây dựng dự án CSTT quốc gia để Chính phủ trình Quốc hội quyết định, trên cơ sở đó, NHNN tổ chức thực hiện và có trách nhiệm điều hành trong phạm vi đã được Quốc hội và Chính phủ duyệt Tương tự, NHNN Việt Nam không được độc lập thiết lập mục tiêu hay xây dựng chỉ tiêu hoạt động

Theo như xếp loại của IMF về cấp độ độc lập của NHTW đối với Chính phủ năm 2004 thì NHNN Việt Nam nằm ở cấp độ độc lập thứ tư “độc lập tự chủ hạn chế”. Đây là cấp độ độc lập thấp nhất của NHTƯ đối với Chính phủ Tác động: Điều đó phần nào làm giảm tính linh hoạt trong việc điều hành thực hiệnCSTT quốc gia, thậm chí đôi khi gây ra sự chậm trễ trong phản ứng chính sách trước các diễn biến khó lường trên thị trường tài chính - tiền tệ ảnh hưởng đến sự ổn định của đồng tiền Gần như mọi hoạt động của NHNN đều phải được sự cho phép của

Chính phủ (phát hành tiền, thực hiện CSTT quốc gia, cho vay ngân sách trung ương, bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay vốn nước ngoài, cho vay các tổ chức tín dụng trong trường hợp đặc biệt) Ở đây, NHNN Việt Nam chỉ được coi như là cơ quan quản lý hành chính nhà nước, giống như các Bộ khác, chứ không phải là một thiết chế đặc biệt dù tổ chức, hoạt động của NHNN ảnh hưởng rất lớn đến tính an toàn của hệ thống ngân hàng, sự ổn định của giá trị đồng tiền, an ninh tiền tệ của một quốc gia

Bên cạnh đó, do là cơ quan của Chính phủ nên có trường hợp NHNN phải thực hiện những nhiệm vụ không phù hợp với mục tiêu của CSTT, chẳng hạn như tái cấp vốn cho các NHTM để khoanh, xoá nợ các khoản vay của các tập đoàn nhà nước và doanh nghiệp nhà nước Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của NHNN, nhất là trong việc thực hiện mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền.

Việc áp trần lãi suất huy động là nhằm ngăn chặn cuộc chạy đua lãi suất của các ngân hàng và giảm lãi suất cho vay trên thị trường Tuy nhiên, về lý thuyết và thực tế, hai mục tiêu này đều khó đạt được.

Thực vậy, theo lý thuyết kinh tế, khi hàng hóa (không độc quyền) bị áp giá trần sẽ gây ra mất mát vô ích (dead weight loss) Khi áp trần lãi suất huy động thấp hơn mức cân bằng của thị trường thì vốn huy động của ngân hàng giảm, điều này đồng nghĩa với nguồn cung tiền để cho vay giảm và sẽ làm lãi suất cho vay tăng chứ không phải là giảm như nhiều người vẫn thường ngộ nhận.

Khi áp trần lãi suất cho vay thấp hơn mức cân bằng thì ngân hàng cũng sẽ hạn chế cho vay vì mức lãi suất đó không bù được với rủi ro Điều này đồng nghĩa với việc nhiều người có nhu cầu vay vốn và họ sẵn sàng trả lãi suất cao nhưng vẫn không vay được vốn Trên thực tế, mỗi lần lãi suất trần được áp dụng đã gây ra nhiều xáo trộn trên thị trường tiền tệ Trong nhiều trường hợp ngân hàng và người gửi tiền, người vay tiền cùng nhau lách luật để phá vỡ các mốc trần lãi suất.

Việc NHNN liên tục hạ trần lãi suất huy động và áp trần lãi suất cho vay trong một số lĩnh vực ưu tiên thường không đạt được mục tiêu giảm lãi suất cho vay Ngược lại, các biện pháp này thường gây méo mó thị trường tiền tệ và đẩy nhiều ngân hàng nhỏ vào tình trạng khó khăn về thanh khoản Hiện tượng lách luật đã làm tăng rủi ro và chi phí giao dịch cho thị trường tài chính Do đó, tác động của chính sách lên lãi suất cho vay và chi phí vốn không đồng nhất và có thể làm tăng chi phí vốn, ảnh hưởng đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

Cơ chế điều hành thiếu minh bạch

Lãi suất cơ bản do NHNN công bố có thể thiếu yếu tố trách nhiệm cá nhân khi các quyết định không phù hợp được áp dụng Nhiều quyết định được đưa ra còn chưa có cơ sở khoa học vững chắc, khiến tính hợp lý của chính sách bị nghi ngờ Ví dụ điển hình là quy định trần lãi suất cho vay không được vượt quá 150% lãi suất huy động, cho thấy một cách tiếp cận dựa trên các mức khống chế mà thiếu nền tảng khoa học để đánh giá tác động thực tế lên thị trường và người vay.

Tích cực: Những điểm tích cực trong giai đoạn từ 2008 – nay:

Một là, việc áp dụng kịp thời cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các NHTM trong những tháng đầu năm 2008, nhất là đối với NHTM cổ phần quy mô nhỏ chuyển đổi mô hình từ nông thôn lên; an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo, củng cố lòng tin của các nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng. Khắc phục được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn giữa các NHTM bằng cách đẩy lãi suất lên cao Cùng với diễn biến lạm phát có xu hướng giảm, kinh tế vĩ mô ổn định và hoạt động của các NHTM đảm bảo khả năng thanh toán, làm cho thị trường tiền tệ và lãi suất trong những tháng đầu năm 2009 tương đối ổn định.

Hai là, cơ chế truyền dẫn của các biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu lực và hiệu quả hơn đối với hoạt động kinh doanh của NHTM và lãi suất thị trường, thể hiện là lãi suất thị trường liên ngân hàng đã biến động xoay quanh các mức lãi suất chủ đạo của NHNN; lãi suất huy động và cho vay của các NHTM biến động theo cung - cầu vốn và tăng, giảm theo sự thay đổi của các mức lãi suất điều hành của NHNN, đã tác động làm cho thu hẹp hoặc mở rộng tín dụng Năm 2008 và những tháng đầu năm

2009, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng phù hợp với chủ trương thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ một cách thận trọng.

Ba là, việc điều hành linh hoạt lãi suất cơ bản, vừa là công cụ điều tiết thị trường, vừa là động thái phát tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của NHNN là “thắt chặt” hay “nới lỏng” tiền tệ, đã và đang trở thành một chỉ số kinh tế quan trọng trên thị trường tài chính, tiền tệ, được các doanh nghiệp, người dân, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các NHTM quan tâm, theo dõi, dự báo và có phản ứng khá nhanh nhạy, tích cực về hoạt động đầu tư, tiết kiệm và tiêu dùng Kết quả này cú ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện được vai trò và những tác động tích cực của chính sách tiền tệ đối với việc kiềm chế lạm phát và điều tiết kinh tế vĩ mô.

Bốn là, cơ chế điều hành lãi suất cơ bản phù hợp với quy định của Luật NHNN và Bộ luật Dân sự, mục tiêu của chính sách tiền tệ hiện nay và các năm tới đây là kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức cao và bền vững.

Đề xuất ý kiến và giải pháp

Ngày đăng: 12/09/2022, 08:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w