1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MÔN HỌC NHẬP MÔN LOGIC HỌC TIỂU LUẬN CUỐI KỲ ĐỀ TÀI LOGIC VÀ CÁC LỖI LOGIC TRONG ĐỜI SỐNG

44 68 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 381,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (0)
  • 2. Mục đích nghiên cứu (6)
  • 3. Phương pháp nghiên cứu (7)
  • 4. Bố cục (7)
  • CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM LOGIC VÀ CÁC QUY LUẬT CỦA LOGIC 1. Khái niệm logic học (7)
    • 1.1. Khái niệm (7)
    • 1.2. Đặc điểm của logic học (8)
      • 1.2.1 Cấu trúc của logic học (8)
      • 1.2.2 Các quy tắc, quy luật của logic hình thức (9)
    • 2. Quan hệ giữa logic hình thức và logic biện chứng (9)
      • 2.1 Quy luật đồng nhất trong tư duy (10)
        • 2.1.1 Nội dung (10)
        • 2.1.2 Yêu cầu (11)
      • 2.2 Quy luật cấm mâu thuẫn (0)
        • 2.2.1. Nội dung (11)
        • 2.2.2 Yêu cầu (12)
      • 2.3 Quy luật bài chung (12)
        • 2.3.2 Yêu cầu (0)
      • 2.4 Quy luật lý do đầy đủ (13)
        • 2.4.1 Nội dung (13)
        • 2.4.2 Yêu cầu (13)
      • 3.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến (13)
      • 3.2 Nguyên lý về sự phát triển (14)
  • CHƯƠNG 2: LỖI LOGIC TRONG ĐỜI SỐNG VÀ NHỮNG BIỂU 1. Tám lỗi logic hình thức và biểu hiện.....................................................9HIỆN 2. Sáu lỗi logic và biểu hiện (14)
    • 3. Một số lỗi logic khác (20)
  • CHƯƠNG 3: NHỮNG VÍ DỤ CỤ THỂ VỀ LỖI LOGIC TRONG ĐỜI 1. Ví dụ về tám lỗi logic hình thức............................................................19SỐNG 2. Ví dụ về sáu lỗi logic biện chứng (24)
  • CHƯƠNG 4: CÁC LỖI PHI LOGIC TRONG TRANH LUẬN TẠO THÀNH NGỤY BIỆN 1. Ngụy biện dựa vào uy tín cá nhân (30)
    • 2. Ngụy biện dựa vào đám đông, dựa vào dư luận (31)
    • 3. Ngụy biện dựa vào sức mạnh (32)
    • 4. Ngụy biện bằng cách đánh vào tình cảm (0)
    • 5. Ngụy biện đánh tráo luận đề (33)
    • 6. Ngụy biện ngẫu nhiên (33)
    • 7. Ngụy biện đen - trắng (34)
    • 8. Ngụy biện bằng cách dựa vào nhân quả sai (34)
    • 9. Dựa vào sự kém cỏi (35)
    • 10. Lập luận vòng quanh (35)
    • 11. Khái quát hóa vội vã (35)
    • 12. Câu hỏi phúc hợp (0)
    • 13. Ngụy biện bằng cách sử dụng những phương pháp suy luận có tính xác suất (36)
    • 14. Ngụy biện bằng cách diễn đạt mập mờ (37)
  • CHƯƠNG 5: CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỂ RÈN LUYỆN TRÍ THÔNG MINH, TƯ DUY LOGIC ĐÚNG ĐẮN 1. Cải thiện trí nhớ (39)
    • 2. Rèn luyện đến mức nhuần nhuyễn (39)
    • 3. Ham học hỏi một cách có chọn lọc (40)
    • 4. Không ngại trải nghiệm (0)
    • 6. Đừng ngại đặt câu hỏi (0)
    • 7. Hướng dẫn người khác (0)
    • 8. Học thêm một ngoại ngữ (0)
    • 9. Hãy đọc thật nhiều (0)
    • 10. Rèn luyện kỹ năng viết (0)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (7)

Nội dung

Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề trên nên chúng em đã quyết định chọn đề tài: “Logic và các lỗi logic trong đời sống” để mọi người có thể nhận ra các lỗi sai về logic, đồng thời

Mục đích nghiên cứu

Với mục tiêu làm rõ nội dung, tầm quan trọng của logic và các lỗi logic và các lỗi logic thường gặp trong đời sống hiện nay:

+ Tổng quan về các lỗi logic thường gặp, phân tích, đưa ra ví dụ cụ thể.+ Đưa ra phương pháp giúp rèn luyện tư duy logic đúng đắn.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được các yêu cầu được đặt ra với tiểu luận, việc nghiên cứu đề tài được tiến hành dựa trên: a Phương pháp thu thập ,phân tích tài liệu thông qua các sách tham khảo, các bài báo khoa học để làm rõ mục tiêu nghiên cứu; b Phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch sử để nghiên cứu một cách tổng quát tìm ra được bản chất vốn có của các vấn đề cần tìm hiểu c Phương pháp so sánh, đối chiếu thông tin với các hoạt động thực tiễn d Hệ thống và sắp xếp các tài liệu theo chủ đề và đơn vị kiến thức để nội dung của bài tiểu luận dễ nhận biết và nghiên cứu.

Bố cục

Bài tiểu luận được trình bày theo 04 phần:

KHÁI NIỆM LOGIC VÀ CÁC QUY LUẬT CỦA LOGIC 1 Khái niệm logic học

Khái niệm

Quan niệm truyền thống: Logic học là khoa học về những quy luật và hình thức cấu tạo của tư duy chính xác.

Quan niệm hiện nay: Logic học là khoa học về sự suy luận ( Le Larousse illustré 1993) Logic học là khoa học về cách thức suy luận đúng đắn ( Bansaia Xovietscaia Encyclopedia, 1976).

Quan niệm chung: Logic học là khoa học về tư duy, nghiên cứu những quy luật; Hình thức của tư duy, bảo đảm cho tư duy đạt đến chân lý.

Đặc điểm của logic học

1.2.1 Cấu trúc của logic học

Hình thức tư tưởng: Gắn liền hình thức của tư tưởng với nội dung, nghiên cứu hình thức của tư tưởng

Các quy tắc, quy luật: Phản ánh những mối liên hệ khách quan.

Nghiên cứu những tư tưởng, khái niệm: Phản ánh sự vật trong trạng thái vận động, trong sự biến đổi và trong các mối liên hệ

Hình thức tư tưởng: Tách hình thức của tư tưởng ra khỏi nội dung, nghiên cứu hình thức của tư tưởng

Các quy tắc, quy luật: Phản ánh những mối liên hệ khách quan

Nghiên cứu những tư tưởng, khái niệm: Phản ánh sự vật trong trạng thái tĩnh, trong sự ổn định tương đối.

Trong logic hình thức, ba quy luật căn bản đóng vai trò nền tảng để đảm bảo tính nhất quán của các mệnh đề: quy luật đồng nhất (A là A) xác nhận sự tự định danh của mỗi mệnh đề; quy luật bài trung (A hoặc không A) khẳng định mọi mệnh đề phải ở một trong hai trạng thái đúng hoặc sai; quy luật phi mâu thuẫn (không thể đúng cả A và không A cùng lúc) ngăn chặn mệnh đề đồng thời đúng với hai trạng thái đối lập Những quy tắc này là nền tảng của suy luận logic hình thức, hỗ trợ phân tích và chứng minh mệnh đề một cách có hệ thống và hiệu quả cho người học logic.

A hoặc không A) Luật suy lý cơ bản là tam đoạn luận, dưới dạng thu gọn là modus ponens, nói rằng nếu A và A - B đều đúng, thì B đúng Các quy luật bài trung và phi mâu thuẫn khẳng định rằng logic hình thức là logic hai giá trị, và trong logic đó mỗi phán đoán chỉ có thể nhận một trong hai giá trị đó ( đúng hay sai ) Khi xét cấu trúc chủ từ - tân từ của các phán đoán, ta được logic tân từ và các quy luật về mối quan hệ giữa các loại phán đoán phổ biến, đặc thù, đơn nhất Thí dụ, quy luật nếu không phải mọi vật đều có thuộc tính A thì ắt có một vật thuộc tính không A cho ta khẳng định một phán đoán tồn tại ( đặc thù ) từ việc phủ định một phán phổ biến.

1.2.2 Các quy tắc, quy luật của logic hình thức

Quan hệ giữa logic hình thức và logic biện chứng

Logic hình thức là trường hợp riêng của logic biện chứng. Ăngghen đã so sánh quan hệ giữa logic hình thức với logic biện chứng như là quan hệ giữa toán học sơ cấp với toán học cao cấp Sự khác nhau giữa toán học cao cấp (toán học về biến số) với toán học sơ cấp (toán học về hằng số) ở điểm cơ bản là: không có cái cố định bất biến Có thể thấy logic hình thức là khoa học tư duy xây dựng trên cơ sở của tính đồng nhất trừu tượng của những phạm trù cố định, còn logic biện chứng là khoa học tư duy xây dựng trên cơ sở tính đồng nhất cụ thể của các phạm trù biến đổi. Đối tượng

Logic học nghiên cứu các hình thức logic của tư duy, vạch ra những qui tắc, qui luật của quá trình tư duy Qua đó khẳng định tính đúng đắn của tư duy Tuân theo các qui tắc, qui luật là điều kiện cần để đạt tới chân lý trong quá trình phản ánh hiện thực.

Phương pháp cơ bản mà người ta sử dụng trong logic học là phương pháp phân tích và hình thức hóa.

Phương pháp hình thức hóa là phương pháp đặc thù của logic hình thức, là phương pháp áp dụng các kí hiệu ngôn ngữ nhân tạo để mã hóa cấu trúc của tư tưởng trong sự trừu tượng nội dung cũng như giá trị chân thực hay giả dối, kết quá ta thu được được lược đồ logic về nội dung.

Ngoài phương pháp trên, chúng ta còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp so sánh, phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa… thậm chí sử dụng cả những phương pháp của bản thân môn logic như diễn dịch, quy nạp…

Nghiên cứu các hình thức của tư duy: khái niệm, phán đoán, suy luận… Nghiên cứu các quy luật của tư duy: quy luật đồng nhất, quy luật phi mâu thuẫn, quy luật bài trung, quy luật lý do đầy đủ.

Nghiên cứu các công cụ logic, phương pháp logic, giới hạn của logic hình thức… Ý nghĩa của logic học

Logic, cùng với ngôn ngữ, giúp con người nhận thức về bản thân và thế giới một cách chính xác và nâng cao nhận thức tự nhiên đúng đắn hơn, từ đó chuyển hóa tư duy logic tự phát thành tư duy logic tự giác Nó trang bị các phương pháp nghiên cứu khoa học như suy diễn, quy nạp, phân tích, tổng hợp, giả thuyết và chứng minh, qua đó tăng khả năng nhận thức và khám phá của con người đối với thế giới Logic có ý nghĩa đặc biệt đối với các lĩnh vực toán học, điều khiển học, ngôn ngữ học và luật học.

Vai trò của logic trong đời sống

Sống trong xã hội, mỗi người không tồn tại một cách cô lập mà luôn muốn có mối quan hệ với nhau và quan hệ với tự nhiên Cùng với ngôn ngữ, logic giúp con người hiểu biết và nhận thức tự nhiên đúng đắn hơn Trải qua quá trình lao động, tư duy logic của con người được hình thành trước khi có khoa học về logic Tuy nhiên tư duy logic được hình thành bằng cách như vậy là tự duy logic tự phát Tư duy logic tự phát gây trở ngại cho việc nhận thức khoa học, nó dễ mắc phải sai lầm trong quá trình trao đổi tư tưởng với nhau, nhất là những vấn đề phức tạp Logic học giúp chuyển lối tư duy logic tự phát thành tư duy logic tự giác đem lại lợi ích: Lập luận chặt chẽ,có căn cứ; trình bày các quan điểm, tư tưởng một cách rõ ràng, chính xác, mạch lạc hơn Phát hiện được những lỗi logic trong quá trình lập luận, trình bày quan điểm, tư tưởng của người khác Vạch ra các thủ thuật ngụy biện của đối phương.

Những quy luật của logic hình thức cổ điển

2.1 Quy luật đồng nhất trong tư duy

Trong một quá trình tư duy, mỗi tư tưởng về đối tượng phải được xác định rõ ràng và giữ nguyên ý nghĩa của chúng.

Công thức: A → A, diễn đạt: A là A hay A ≡ A

Phản ánh tính xác định về chất, ổn định tương đối về lượng của các SVHT trong một không gian, thời gian và mối quan hệ xác định ⇒ Thực chất: Mỗi suy nghĩ phải luôn đồng nhất với chính nó.

Lưu ý: Sai lầm trong suy luận là do đồng nhất các khái niệm có nội hàm và ngoại diên khác nhau

Ví dụ: Ông nói gà, bà nói vịt

2.1.2 Yêu cầu Đối tượng trong quá trình tư duy phải rõ ràng, nhất quán, không nhầm lẫn. Không được đánh tráo khái niệm ( dùng mánh khóe để thay khái niệm này bằng khái niệm khác).

Tư duy thao tác phải đồng nhất với tư duy nguyên mẫu Nhắc lại tư tưởng của chính mình hay người khác phải chính xác, không được tùy tiện thêm bớt, không làm thay đổi sai lệch.

Trong cùng một sự vật hiện tượng được xét trong cùng một thời gian, cùng một mối quan hệ thì hai phán đoán đối lập hoặc mâu thuẫn nhau không thể cùng chân thực.

Ví dụ: Đây là cuộc chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa Công thức: 7 (a ∩ 7a).

Diễn đạt: Không thể vừa là a vừa không phải a

Tuy nhiên, không phải các mệnh đề không hợp đều mâu thuẫn logic:+ Khẳng định dấu hiệu nào đó thuộc về đối tượng, đồng thời phủ định dấu hiệu khác thuộc về đối tượng ấy trong cùng một không gian, thời gian và các mối quan hệ xác định.

+ Hai phán đoán: một phủ định, một khẳng định về một dấu hiệu nào đó của hai đối tượng cùng tên giống nhau.

+ Khẳng định thuộc tính của một đối tượng nào đó và lại phủ định chính thuộc tính ấy nhưng ở thời gian khác.

+ Đối tượng được xét trong các mối quan hệ khác nhau

Không được có mâu thuẫn trực tiếp trong lập luận khi khẳng định một đối tượng và đồng thời lại phủ định ngay chính nó Không được có mâu thuẫn gián tiếp trong tư duy: tức là khẳng định đối tượng nhưng lại bị phủ nhận hệ quả tất yếu suy ra từ nó.

Hai phán đoán mâu thuẫn nhau nhưng không thể cùng giả dối, một trong hai phán đoán là chân thực.

+ Diễn đạt: Hoặc là A hoặc không phải A

Chỉ ra tính đối xứng của các tư tưởng: với cùng một đối tượng được xác định về chất hoặc có hoặc không có một thuộc tính nào đó, luôn tồn tại hai khả năng và không có trường hợp thứ ba Điều này cho thấy sự nhị phân trong cách tư duy và đánh giá một đối tượng, khi nó hoặc có thuộc tính hay không có thuộc tính, và trạng thái trung lập không thể xảy ra Việc nhận diện tính đối xứng giúp bảo đảm tính nhất quán trong luận giải và tối ưu hóa diễn đạt, đồng thời cung cấp cơ sở cho nội dung có tính SEO cao nhờ sử dụng các từ khóa liên quan như tính đối xứng, đối tượng, chất, thuộc tính, hai khả năng, trường hợp thứ ba.

Trong cùng một không gian và thời gian, mối quan hệ xác định giữa hai quan điểm Khi có hai tư tưởng đối lập về một SVHT, ta sẽ có hai trường hợp duy nhất: tư tưởng này đúng và tư tưởng kia sai, hoặc ngược lại; không có khả năng thứ ba Do đó, sự đối lập giữa hai quan điểm khẳng định một sự thật duy nhất về SVHT trong bối cảnh này.

Hai phán đoán mâu thuẫn đó gọi là phủ định lẫn nhau Các cặp phán đoán mâu thuẫn lẫn nhau:

+ S này là P và S này không là P + Tất cả S là P và một số S không là P + Không S nào là P và một số S là P

LỖI LOGIC TRONG ĐỜI SỐNG VÀ NHỮNG BIỂU 1 Tám lỗi logic hình thức và biểu hiện 9HIỆN 2 Sáu lỗi logic và biểu hiện

Một số lỗi logic khác

1 Sự chuyển hóa từ sự vật này sang sự vật khác qua những khâu trung gian mà các yếu tố cũ mới đan xen, chuyển hóa dẫn lẫn nhau Khâu trung gian là tất yếu trong quá trình nhảy vọt về chất Nhảy vọt là kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng, là sự gián đoạn trong quá trình vận động liên tục của sự vật, nhưng không cắt đứt mối liên hệ tự nhiên giữa sự vật cũ và sự vật mới Cho nên nhảy vọt bao giờ hóa chất cũ thành chất mới trên cơ sở đã tích lũy đủ lượng, còn khâu trung gian lại là trạng thái tồn tại của sự vật đang trong quá trình nhảy vọt.

2 Đặc điểm của quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập khi nó đã trở nên chín muồi là ở sự chuyển hóa từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia. Để thực hiện được sự chuyển hóa, các mặt đối lập không thể tồn tại tách rời nhau, mà phải“dùng hợp” với nhau trong những hình thức nhất định Khâu trung gian được coi là những thực thể mang mâu thuẫn, trong đó sự dung hợp của các mặt đối lập là những tiền đề, những điều kiện khách quan để chúng đấu tranh và chuyển hóa lẫn nhau.Quan điểm sai lầm là không thấy được tác động qua lại giữa các mặt, khuynh hướng mâu thuẫn, vừa bao hàm sự hài hòa lẫn xung đột, cả sự đấu tranh lẫn sự hợp tác Do Vậy, trong khi tiến hành giải quyết mâu thuẫn nên tìm cách can thiệp tiêu cực, vứt bỏ giản đơn một trong các mặt đối lập của mâu thuẫn

3 Trong logic hình thức không nhìn thấy mối quan hệ chi phối lẫn nhau, tách bạch rạch ròi nguyên nhân quả mà không tính tới kết quả lại có thể tác động trở lại nguyên nhân làm cho không thể phân định rạch ròi nguyên nhân (Nguỵ biện: con gà và quả trứng)

4 Nhầm lẫn đã xem đấu tranh các mặt đối lập là đi lên, phát triển - thực ra là vận động Vận động là sự biến đổi nói chung, là sự tác động qua lại giữa các khách thể vật chất và tinh thần, có thể tạo ra các chiều hướng đi lên hoặc đi xuống, tiến tới hoặc thụt lùi của sự vật Còn phát triển là sự biến đổi hợp quy luật, hướng tới và không qua trở lại của các khách thể, là sự vận động từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ cái đến cái mới Sự kết hợp các mặt đối lập – cũng có thể là cách thức có ý thức, có chủ đích của con người nhằm đạt được mục đích, lợi ích thực tiễn của mình Trong Thực tế thể hiện qua các hình thức như thỏa hiệp, hợp tác hay liên minh tạm thời.

5 Nhầm lẫn đơn giản hóa mâu thuẫn chuyển hóa lẫn nhau, nghĩa là coi vị trí của mặt này chuyển thành vị trí của mặt kia và ngược lại Thực tế, đúng là trong hiện thực có những sự chuyển hóa như sáng - tối, nóng - lạnh, thống trị - bị trị có thể chuyển hóa cho nhau Nhưng đó là một dạng của sự chuyển hóa Nếu nhận thức chỉ dừng ở I dụng chuyển hóa giữa các mặt đối lập thì chỉ là biện chứng tuần hoàn Dạng chuyển hóa cơ bản là chuyển từ quan hệ này sang quan hệ khác, là kết thúc của mâu thuẫn này và mở đầu của quan hệ khác, chuyển hóa lẫn nhau hoặc chuyển hóa thành hình thức cao hơn Thực ra, nếu con người không biết điều hòa lợi ích của mình thì những mâu thuẫn không đối kháng đều có thể chuyển thành mâu thuẫn đối kháng.

6 Về cách thức giải quyết mâu thuẫn – coi chỉ giải quyết được bằng con đường đấu tranh chứ không phải là điều hòa mâu thuẫn, không chấp nhận mâu thuẫn là khách quan, là phổ biến và có thể tồn tại lâu dài Thực tế nhiều trường hợp đấu tranh vẫn không giải quyết được mâu thuẫn như nô lệ - chủ nô, nông dân – phong kiến nhưng chỉ có mâu thuẫn đối kháng mới giải quyết lẫn nhau là tiêu diệt nhau, còn mâu thuẫn hai vợ chồng không thể giải quyết như vậy Hai bên chỉ có thể giải quyết bằng cách tìm ra điểm chung của nhau, củng cố điểm chung đó và khắc phục những khác biệt đưa đến ly tán Sự đấu tranh là biểu hiện của chủ nghĩa cực đoan Về phương diện xã hội, tư tưởng này chỉ đưa đến sự hỗn loạn, vì như thế đấu tranh chỉ đi tìm đấu tranh,chưa hết đấu tranh này đến đấu tranh khác Một số trường hợp nhất định ta có thể lựa chọn các hình thức như đấu tranh nghị trường, hợp pháp kết hợp đấu tranh vũ trang.

7 Về tính chất của mâu thuẫn, không chấp thuận tính điều hòa mâu thuẫn: khi các mặt mâu thuẫn có sự đối lập phát triển chưa đến đỉnh cao thì cường điệu sự đấu tranh sự tiêu diệt nhau chính là thủ tiêu sự tồn tại của chính sự vật Mâu thuẫn giải quyết trong quá trình chuyển hóa dần dần, kéo dài và tạo điều kiện tiền đề để giải quyết mâu thuẫn.

8 Các quan điểm về mâu thuẫn đối kháng: Với mâu thuẫn đối kháng thì dùng bạo lực tức là thủ tiêu sự thống nhất còn mâu thuẫn không đối kháng thì dùng củng cố sự thống nhất.Mâu thuẫn đối kháng là địa vị của các mặt đối lập có tính chất bùng nổ thành xung đột bên ngoài; vì vậy cách giải quyết loại mâu thuẫn chủ yếu là thông qua hình thức xung đột bên ngoài Mâu thuẫn không đối kháng thì không bao hàm nhân tố phải bùng nổ thành xung đột bên ngoài

Trong một chỉnh thể và môi trường xác định, mâu thuẫn đối kháng được xem là xung đột giữa các khuynh hướng và lực lượng mà sự đấu tranh của chúng tất yếu dẫn đến phá vỡ sự thống nhất và làm cho chỉnh thể chuyển biến về chất sang một trạng thái khác; ngược lại, mâu thuẫn không đối kháng lại củng cố và tăng cường sự thống nhất, chỉ gây thay đổi về lượng và khiến chỉnh thể trở nên ổn định hơn Hai mặt của mâu thuẫn tồn tại song song và ở một mối quan hệ tương đối với hệ thống các mâu thuẫn của chỉnh thể Về quy luật vận động của mâu thuẫn đối kháng, cần xác định rõ ràng rằng không phải lúc nào cũng xảy ra xung đột bạo lực; có thể chỉ là một khả năng, phụ thuộc vào các điều kiện làm cho khả năng đó trở thành hiện thực, và bạo lực cách mạng chỉ xuất hiện khi các điều kiện ấy được quy định trong hệ thống.

Sự vận động của mâu thuẫn đối kháng có thể dẫn đến tự giải quyết bằng hình thức hòa bình hay bạo lực, tuỳ thuộc vào tính chất của mâu thuẫn và sự tác động của cả hệ thống các mâu thuẫn của chinh thể cùng môi trường của nó Mâu thuẫn không đối kháng thì bao giờ cũng diễn ra dưới hình thức hòa bình, nếu xảy ra đấu tranh dưới hình thức bạo lực, thì do đã có sự tác động của những yếu tố thuộc chỉnh thể hay môi trường, mà mâu thuẫn trở thành đối kháng, đồng thời xuất hiện những điều kiện làm cho mâu thuẫn đối kháng phát triển dẫn đến bạo lực.

Kết luận: Sự phát triển của mâu thuẫn đối kháng không phải lúc nào và ở đâu cũng dẫn đến xung đột bằng bạo lực Nó còn tùy thuộc vào những điều kiện khác

NHỮNG VÍ DỤ CỤ THỂ VỀ LỖI LOGIC TRONG ĐỜI 1 Ví dụ về tám lỗi logic hình thức 19SỐNG 2 Ví dụ về sáu lỗi logic biện chứng

1 Ví dụ về 8 lỗi logic hình thức

Lỗi 1: “ Mãi mãi là không thay đổi “

Nhận thức của chúng ta thường cố gắng giữ nguyên một đặc tính của sự vật ở trạng thái hiện tại và áp dụng cho mọi ngữ cảnh, dù thực tế luôn có sự biến đổi theo thời gian Logic hình thức không xem xét sự thay đổi liên tục của thế giới, của kết quả và của cách tư duy chúng ta, nên dễ phạm các lỗi nhận thức; ví dụ, khi cho rằng “đó là đế quốc thực dân và sẽ mãi như vậy”, ta đang bỏ qua sự chuyển động của lịch sử và chính sách quốc gia Nhận định cố hữu như vậy không phù hợp với nhiều tình huống, đặc biệt với những hiện tượng có tính động, có thể vận động đa dạng, dễ dẫn đến kết luận sai khi phán đoán nhanh Lấy ví dụ kinh tế Trung Quốc năm 1983 bị coi là nền kinh tế tập trung quan liêu và khó thay đổi, nhưng chỉ sau bốn năm, năm 1987, Trung Quốc đã chuyển sang kinh tế thị trường tự do chiếm khoảng 70%; vì thế, khẳng định “mãi mãi không thay đổi” thể hiện tư duy bảo thủ và tự cho mình là tiên tri của mọi thời đại.

Lỗi 2: Nhìn nhận một quá trình lâu dài như một sự kiện nhất định

Quan điểm của chúng ta về các đối tượng dựa trên một chuỗi sự kiện diễn ra liên tiếp, chứ không phải trên toàn bộ quá trình; quá trình được xem như một chuỗi sự kiện liên tục và mỗi sự kiện là một thay đổi nhỏ Chúng ta xem một sự kiện như một phần của quá trình ngắn hay chỉ là một khoảnh khắc trong nhận thức Vì vậy trong ngôn ngữ, chúng ta thường dùng danh từ được hình thành từ động từ để chỉ một sự kiện; lỗi nhận thức nảy sinh khi ta dừng thời gian và cho rằng tư duy với các sự vật là cố định Lằn ranh xác định của một sự kiện chính là nó tự thân tồn tại Ví dụ, chỉ diễn ra một sự kiện là một cuộc hội thảo bàn về phòng chống tội phạm có thể khiến nhiều người cảm thấy chúng ta đang theo đuổi một quá trình tích cực chống tội phạm lâu dài.

Lỗi 3 : Giải quyết vấn đề bằng định nghĩa lại nó.

Một dạng của suy nghĩ đánh tráo khái niệm nghĩa là thay đổi nội dung khái niệm trong khi giữ nguyên tên gọi Con người sử dụng và phụ thuộc vào những từ ngữ trừu tượng do mình sinh ra Một từ đơn giản chưa chắc đã là dễ hiểu, nhất là nó thay đổi theo tình huống sử dụng, định nghĩa nó Chúng ta có thể làm biến mất vấn đề, đảo ngược vấn đề khi phân loại lại nó vào trong một phạm trù khá, lĩnh vực kiến thức,môi trường văn hóa khác Logic hình thức hàm ý là không được thay đổi các khái niệm theo định nghĩa lại, phân loại lại chúng khi đang tiến hành quá trình tư duy Điều Này không tất yếu làm thay đổi điều kiện Hiểu sai những thuộc tính cơ bản của khái niệm hay mức độ hiểu biết thiếu sâu sắc khái niệm cũng thường dẫn đến thay đổi khái niệm và là nguyên nhân nảy sinh lỗi loại 3 này Ví dụ, suy luận “Vật chất luôn vận động Cái ghế này là vật chất sao chẳng thấy di chuyển gì ?” Khái niệm Vật chất, vận động trong triết học đã bị đánh tráo thành khái niệm vật chất, vận động của đời thường Khi thay đổi khái niệm như vậy, chúng ta đã vượt khỏi ranh giới vận dụng đúng đắn nguyên lý của Logic hình thức Một ví dụ khác, trong quan hệ giữa Trung Quốc - Đài Loan, việc Trung Quốc luôn coi Đài Loan là một bộ phận không thể tách rời của mình Định nghĩa này xuất phát từ quan điểm coi Đài Loan, Trung Quốc là 2 đối tượng của khác nhau của tư duy thành một đối tượng, đã từ lâu không cho phép bàn luận, thay đổi tình hình, quan hệ quốc tế đối với Đài Loan.

Lỗi 4: Phân tích tính độc lập.

Chúng ta chọn tách sự việc, sự vật ra khỏi tồn tại và phân tách hoàn toàn một bộ phận khỏi sự tương tác với môi trường, cho rằng nó độc lập trong khi mỗi thành phần lại phụ thuộc lẫn nhau và có quan hệ với những yếu tố khác Lỗi tư duy này bắt nguồn từ việc cho rằng ta riêng biệt, phân biệt rõ ràng với người khác và quên đi các mối quan hệ, phụ thuộc lẫn nhau Lý thuyết Logic Hình thức coi chính ta là ta, không phải là một ai khác, trong khi quy luật cơ bản xác định hoạt động của một người hay một tổ chức không xem xét đến những ảnh hưởng sâu xa đến người khác, tới các tổ chức khác.

Trong nhiều mối quan hệ, nhiều lúc một cá nhân hay tổ chức hoạt động mà không quan tâm đến ảnh hưởng của nó đối với những đối tác khác Như việc thay đổi chính sách thuế ở các nước, tăng cường mua sắm thiết bị ở một phân xưởng Nguồn gốc lỗi là người nghĩa đã tự mình coi như độc lập, không thấy hết những mối quan hệ tinh tế lẫn nhau.

Lỗi 5 : Cô lập vấn đề.

Lưu tâm tới vấn đề như một sự việc riêng lẽ, rời rạc trong ngữ cảnh rộng của nó.Lỗi Có xu hướng lưu tâm tới vấn đề 1 cách rời rạc, độc lập trong những hoàn cảnh rộng lớn hơn Nó là kết quả của việc dùng sai quy luật cấm mâu thuẫn Nếu một vấn đề là duy nhất thì không được cùng lúc nối nó với nhiều ngữ cảnh rộng rãi Một cách đúng đắn sự phân tích đúng đắn là khảo sát tương tác hệ thống đang hoạt động với những hệ thống lớn hơn mà nó chỉ là một thành phần Chúng ta cũng thường xuyên tách riêng một vấn đề nào đó và coi những vấn đề khác là không có liên quan Đó cũng yêu cầu tâm trí của người do hạn chế của trí não Lỗi này có thể ẩn dụ như "lỗi đường hầm" Vấn đề B là lý lẽ chính để hướng đến mục đích A mong ước B dẫn dắt tới C C thì dẫn dắt tới D Và như vậy ta dễ coi rằng D chính cách chủ yếu để đạt được C, B và tức là A mong muốn Thực ra nếu chúng ta hướng tâm trí và vị trí bên ngoài thế giới của A, B, C, D có thể để lộ ra những mối quan hệ khác quan trong không kém, không thuộc đường dẫn A-B-C-D mà chúng ta đã chọn lựa ra.

Lỗi 6: Lỗi kết quả duy nhất.

Một kết quả chỉ tạo ra từ 1 nguyên nhân tương ứng Lỗi này cho rằng mỗi vấn đề hay hoạt động chỉ đem lại một và chỉ một kết quả duy nhất Bẫy này sử dụng nhầm lẫn quy luật loại trừ lẫn nhau, ước định coi một cái bất kỳ không thể vừa là thế này lại vừa là thế kia Chúng ta phải hiểu đúng nguyên lý này là tại một thời điểm duy nhất xác định Nó có thể không đúng nếu ta xem xét các kết quả ở những thời điểm khác nhau.Kết quả cũng có thể thay đổi khi những người quan sát có những lợi ích khác nhau khi nhìn nhận kết quả ấy Ví dụ, các bộ trưởng các nước OPEC đã tin tưởng rằng việc tăng giá dầu ở những năm 1970 sẽ không gây hậu quả xấu nào với nền kinh tế thế giới Nó cũng giúp cho mỗi nước thu thêm được những lợi tức đáng kể Nhưng kết quả là sau vài tháng nhu cầu dầu lửa giảm, họ cũng tự cắt giảm sản lượng của mình và các nước chẳng có thêm một chút lợi nhuận nào từ việc bán dầu mỏ Ví dụ tương tự có thể kể ra như diệt chim sẻ ở Trung Quốc, khai thác chặt phá rừng quá mức ở các nước.Bản chất của lỗi này có thể nói ngắn gọn là: “Bản chất mọi vấn đề không thể chỉ đơn giản là một thứ Ý tưởng cần được xem xét đến trong một hệ thống vấn đề liên quan lẫn nhau”

Lỗi 7: Loại trừ phương án khả thi.

Chúng ta đang hướng tới giới hạn của cách nghĩ và lựa chọn, khi thường chỉ chọn giữa hai hay nhiều phương án, và lý luận hình thức cho thấy có những cảnh ngộ tư duy buộc ta phải loại trừ lẫn nhau và không chấp nhận sự pha trộn giải pháp; ví dụ kinh điển và thực nghiệm trong khoa học từ thế kỷ 19 cho thấy ánh sáng mang bản chất hạt và một số thí nghiệm lại làm lộ rõ bản chất sóng của nó, song các nhà khoa học lại vẫn cố coi một trong hai dạng là đúng mà từ chối sự lưỡng tính của ánh sáng; một sai lầm tinh tế tương tự xảy ra trong triết học khi chúng ta cố phân biệt hai phạm trù “tinh thần” với “vật chất” và xác định phạm trù nào nắm giữ một sự kiện hay hiện tượng, hoặc mối quan hệ của nó với phạm trù kia; trong thực tế chính trị thế giới, chúng ta gặp không ít lỗi tương tự, như quan điểm của Tổng thống Mỹ W Bush rằng thế giới chỉ có hai lực lượng: một phía đúng đại diện cho tiến bộ và một phía ủng hộ khủng bố, từ đó dẫn tới trật tự thế giới chia thành hai phe — hoặc đứng về phía chúng ta hoặc đứng về phía khủng bố — một dạng lỗi loại trừ lẫn nhau.

Lỗi 8: Lý do đầy đủ.

Con người thường có thói quen tư duy miên man và dễ xa rời, lệch lạc nhiều so với thực tế Hoặc là thiếu những căn cứ thực tiễn được xem xét, thu thập chính xác; thiếu những lý thuyết tin cậy đến thời điểm hiện tại và xem xét những lý thuyết đó một cách khách quan, suy luận đúng đắn, có phản biện Hoặc là kết quả suy luận không được kiểm chứng, đối chiếu lại với thực tế.

2 Ví dụ về sáu lỗi logic biện chứng:

Mọi suy luận đúng đắn đến đâu mà thiếu căn cứ vào thực tế là đều ổn và càng dẫn đến đi chệch thực tế ngày một nhiều Điều này còn đúng cả khi quan sát thực tế không khách quan, tiếp nhận phán đoán chưa có cơ sở của người khác qua truyền thông như một dạng trung gian của thực tế Loại lỗi tư duy này được các nhà quảng cáo, tuyên truyền ở rất nhiều nước vận dụng Bên cạnh logic hình thức, logic phản biện cần cho chúng ta để áp dụng nó chính xác và chấp nhận những hận chế của nó Cảnh quan suy nghĩ biện chứng cũng có thể làm cho chúng ta mắc những lỗi tiềm tàng Nó chứa đựng những phép ẩn dụ mạnh dẫn dắt tư duy của ta gần như loại trừ đi những khả năng khác.

Lỗi 1: Trong bất kỳ tình huống nào, tài nguyên, nguồn lực càng lớn thì càng có lợi.

Lỗi này giả thiết rằng bất cứ việc gì cũng có thể giải quyết được nếu sử dụng thật nhiều tài nguyên.

Ví dụ như ở mức doanh nghiệp, giải thích nguyên nhân chậm, kém phát triển của doanh nghiệp là do thiếu vốn, ở mức quốc gia các siêu cường quốc chạy đua vũ trang và coi vũ khí càng nhiều thì càng có lợi, đảm bảo được sự an toàn cho

Lỗi 2: Dùng vũ lực có thể thúc đẩy sự phát triển.

Chúng ta tin chắc rằng để giải quyết tình trạng mâu thuẫn trong một thời gian ngắn bắt buộc phải dùng đến vũ lực.

Sử dụng sức mạnh để chiến thắng các trở ngại, thay đổi tình trạng của những người khác hoặc tự mình Bằng cách nào đó gây những ảnh hưởng hoặc bắt buộc những người khác, dùng vũ lực chiến thắng nếu người khác phản ứng lại Ví dụ, đó là dạng quan hệ đối ngoại “Cây gậy-củ cà rốt” trên trường quốc tế Hệ quả cho thấy là những kết quả bất ngờ, tàn khốc, khó dự báo Hiệu ứng quân sự chính trị, kinh tế thê thảm Vũ lực không phải không bao giờ được sử dụng nhưng cũng không phải luôn là giải pháp duy nhất.

Lỗi 3: Mâu thuẫn thay đổi mọi cái theo cách hiệu quả.

Nếu cho rằng nguồn gốc mọi trạng thái, thời điểm đều chứa đựng những mâu thuẫn và chính mâu thuẫn điều khiển, sản sinh nên những thay đổi thì những gì cần làm là bằng mọi cách khuấy động để giải quyết những hận thù tinh thần. Văn học dân gian khuyên chúng ta “Mâu thuẫn làm trong sạch không khí” Chính mâu thuẫn trở thành trung tâm của sự tranh giành, đấu đá quyền lực Thái độ, chính sách đối với kinh tế tư nhân trước kia… không đàn áp để các nguồn lực phát triển cũng là sự bảo trì, duy trì mâu thuẫn.

Lỗi 4: Đối kháng là tất yếu.

Kể cả có giải quyết được mâu thuẫn hay không thì mâu thuẫn vẫn luôn luôn tồn tại và tiếp tục vận động Nhiều học thuyết cho rằng giữa những dân tộc luôn có xung đột vì mối quan tâm, lợi ích, tư tưởng mỗi nơi mỗi khác Từ đó làm cơ sở chứng minh sự tương tác giữa các nền văn minh là sự đương đầu, đối chọi và xung đột Kết quả của mâu thuẫn là những hình ảnh xuyên suốt lịch sử: Chúa trời - quỷ xa tăng, tội lỗi - hạnh phúc, chính nghĩa - phi nghĩa,

Lỗi 5: Không có một giới hạn nào.

“Luôn luôn có ngày mai” - sự biến đổi vô hạn định ngụ ý luôn có thời gian để giải quyết các vấn đề Giả thuyết về việc không ngừng tăng cường lực lượng và can thiệp là có thể thực hiện được mọi mưu đồ như trường hợp Mỹ can thiệp vào Việt Nam, các khái niệm như Dự trữ năng lượng, Quỹ an ninh xã hội, Kết hợp với logic hình thức, lỗi này có thể trở thành: phân loại vô hạn, không xác định và sắp đặt hợp lý trong thời gian chấp nhận.

Lỗi 6: Kẻ thắng, người thua.

CÁC LỖI PHI LOGIC TRONG TRANH LUẬN TẠO THÀNH NGỤY BIỆN 1 Ngụy biện dựa vào uy tín cá nhân

Ngụy biện dựa vào đám đông, dựa vào dư luận

Ngụy biện dặ vào đám đông thường xảy ra ở những cuộc tranh luận trước đám đông người Nhà ngụy biện sử dụng khả năng hùng biện của mình, lợi dụng truyền thống, tình cảm, quyền lợi, thói quen, … của đám đông để tranh thủ cảm tình và sự ủng hộ của đám đông đó, tạo áp lực buộc những người tranh luận với ông ta phải chấp nhận quan điểm của ông ta Trong kiểu ngụy biện dựa vào dư luận, thay cho việc đưa ra luận cứ và chứng minh luận điểm, người nói lại cho rằng luận điểm là đúng vì có nhiều người công nhận Đây là lập luận ngụy biện, vì nhiều người cho là đúng chưa đảm bảo tính đúng đắn của luận điểm; ngược lại, nhiều người cho là sai cũng không có nghĩa là luận điểm chắc chắn sai.

Ví dụ 3: Không phải vì rất nhiều người coi rằng ông X phạm tội giết người nên đúng là ông ta giết người.

Ví dụ 4: Hồi đầu thế kỷ XX, khi nhà bác học Eistein đưa ra thuyết tương đối , nhiều nhà vật lý học cho rằng nó sai Và ta đã thấy rằng không phải vì vậy mà thuyết tương đối sai, ngược lại, tính đúng đắn của nó đã được lịch sử vật học kiểm chứng.

Ngụy biện dựa vào sức mạnh

- Trong kiểu ngụy biện này, nhà ngụy biện sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để ép người khác tin vào và chấp nhận luận điểm của mình Ở đây, sức mạnh chứ không phải là tính chân lý của luận điểm bắt người khác phải tin theo

Ví dụ 5: Một giám đốc ra lệnh cho kế toán phải chi một khoản tiền sai nguyên tắc Người kế toán phản đối, nói rằng làm như vậy là trái nguyên tắc tài chính Khi đó, vị giám đốc nói: “Cứ làm như tôi nói, chắc chắn sẽ đúng Nếu anh không làm, tôi sẽ cho anh biết… “ Ở đây, cụm từ “tôi sẽ cho anh biết…” hàm ý đe dọa.

4 Ngụy biện bằng cách đánh ào tình cảm:

Trong kiểu ngụy biện này, thay vì đưa ra các luận cứ và lập luận để chứng tỏ quan điểm của mình đúng, người nói bỏ qua lý trí Thay vào đó, họ tìm cách tác động vào tâm lý và tình cảm của người nghe, nhằm gợi lên lòng thông cảm hoặc thương hại để được thừa nhận là đúng.

Ví dụ 6: Một người bị cáo buộc phạm tội ăn cắp Ra trước tòa, anh ta kêu oan Thay vì đưa ra các chứng cứ để chứng minh rằng mình vô tội, anh ta lại đi kể lể về tình cảnh gia đình khó khăn, nghèo đói, nhân thân tốt, để hy vọng hội đồng xét xử thông cảm mà kết luận anh ta vô tội.

5 Ngụy biện đánh tráo luận đề: Đây là kiểu ngụy biện rất phổ biến Trong kiểu ngụy biện này, trước hết nhà ngụy biện thay thế luận đề ban đầu bằng một luận đề mới trong quá trình tranh luận Luận đề mới này không tương đương với luận đề ban đầu Sau đó ông ta chứng minh luận đề mới một cách rất chặt chẽ và cuối cùng tuyên bố là mình đã chứng minh được luận đề ban đầu Vì hai luận đề là không tương đương với nhau nên tính chất ngụy biện lộ rõ Để thực hiện kiểu ngụy biện này, nhà ngụy biện hay sử dụng hiện tượng ngôn ngữ đồng âm khác nghĩa, một từ có nhiều nghĩa…; hoặc đem đồng nhất cái bộ phận với cái toàn thể, đồng nhất cái toàn thể với cái bộ phận; hoặc diễn tả mơ hồ để muốn hiểu theo cách nào cũng được.

Ví dụ 7: Người ta đi chứng minh rằng cái bánh không thể biến mất được như sau: Cái bánh là vật chất, mà vật chất thì không biến mất, vậy cái bánh không biến mất Trong suy luận này người ta thay luận đề ban đầu bằng luận đề “ vật chất không biến mất”, rồi dựa vào triết học để chứng minh luận đề thứ hai này Tuy nhiên đây là suy luận ngụy biện, vì hai luận đề này không tương đương với nhau, bởi lẽ từ “vật chất” được hiểu với hai nghĩa khác nhau.

Trong loại ngụy biện này một sự kiện ngẫu nhiên xảy ra được nhà ngụy biện coi là có tính chất quy luật.

Ví dụ 8: Một người lập luận rằng khi làm những việc quan trọng trong đời như cưới xin, làm nhà, lập công ty kinh doanh, ta phải chọn ngày lành, nếu không thì sẽ không thành công, hoặc không hạnh phúc Cặp chàng trai và cô gái nọ

- anh ta nêu ví dụ - yêu nhau thắm thiết, được gia đình và bạn bè ủng hộ Họ tổ chức cưới vào một ngày lẻ theo âm lịch, một ngày không tốt Và chỉ một năm sau họ đã chia tay nhau Sự trùng lặp giữa việc cưới vào ngày lẻ và sự tan vỡ hạnh phúc của gia đình trẻ nói đến trong ví dụ này chỉ là một điều ngẫu nhiên, nhưng lại được nhà ngụy biện coi là có tính phổ biến, tất yếu, có tính quy luật.

Ngụy biện đen - trắng xảy ra khi trong lập luận chỉ nhìn thấy và nêu lên các khả năng đối lập nhau, các thái cực, từ đây cho rằng không phải là cực này thì là cực kia, loại bỏ tất cả các khả năng khác.

Ví dụ 9 cho thấy có người cho rằng khi răng nanh của trẻ mọc lệch ra ngoài (răng khểnh) nên nhổ bỏ vì khó vệ sinh và dễ sâu răng, và họ chỉ nêu hai lựa chọn cực đoan: để nguyên hay nhổ bỏ Tuy nhiên thực tế còn có một giải pháp thứ ba là chỉnh nha cho trẻ nhỏ để răng mọc đúng và thẩm mỹ được bảo tồn, đồng thời giảm khó khăn chăm sóc răng miệng và nguy cơ sâu răng.

8 Ngụy biện bằng cách dựa vào nhân quả sai

Ngụy biện bằng cách sử dụng lập luận trong đó quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng được hiểu sai có nhiều phân loại.

(a) Đánh đồng nguyên nhân với nguyên cớ trong loại ngụy biện này nhà ngụy biện cố tình lấy nguyên cớ thay cho nguyên nhân để biện minh cho hành động của mình, hay để thuyết phục người khác Nguyên nhân thật sự của việc các chính quyền Mỹ và Anh tiến hành chiến tranh với Iraq là các nguồn lợi dầu mỏ to lớn ở quốc gia này, nhưng họ lại nói rằng nguyên nhân là chính quyền Saddam Husein phát triển và cất giữ nhiều loại vũ khí hủy diệt hàng loạt Thật ra đó chỉ là cái cớ mà thôi.

(b) Trong mối quan hệ nhân quả thì nguyên nhân bao giờ cũng xảy ra trước kết quả, tuy nhiên như vậy không có nghĩa là một hiện tượng, sự kiện xảy ra trước bao giờ cũng là nguyên nhân của một hiện tượng, sự kiện xảy ra sau Ngụy biện sau cái đó vậy là do cái đó là kiểu ngụy biện trong đó khi thấy hai sự kiện, hiện tượng A và B xảy ra lần lượt theo thời gian cho rằng A là nguyên nhân của B.

Ví dụ 10: Một người hy vọng làm giàu bằng cách mua vé số Anh ta đã mua khác nhiều vé xổ số, nhưng chưa trúng giải nào cả Anh ta bèn lên chùa cúng vái, cầu xin Đức Phật cho anh ta trúng xổ số Vài ngày sau anh ta trúng giải đặc biệt nhờ mua vé số Anh ta kết luận rằng nhờ cầu xin Đức Phật nên trúng giải Ở đây việc lên chùa xin là sự kiện xảy ra trước, nó không phải là nguyên nhân của sự kiện trúng vé xổ số xảy ra sau đó.

9 Dựa vào sự kém cỏi Đây là kiểu ngụy biện trong đó người ngụy biện căn cứ vào việc ai đó không chứng minh được một mệnh đề (hoặc lý thuyết, giả thuyết, ) hoặc không tìm thấy được một đối tượng nào đó để khẳng định rằng mệnh đề sai, hoặc đối tượng đó không tồn tại.

Ví dụ 11: Có thể khẳng định rằng không thể có sinh vật trí tuệ nào khác trong vũ trụ ngoài loài người, vì nếu có thì khoa học đã phát hiện ra các sinh vật đó rồi Đây là khẳng định sai lầm, vì ngay cả khoa học ở thời đại chúng ta cũng còn có rất nhiều hạn chế, nên có thể các sinh vật có trí tuệ khác tồn tại, nhưng vì sự hạn chế, sự kém cỏi của mình mà khoa học hiện nay không phát hiện ra được.

Ngụy biện đánh tráo luận đề

Đây là một kiểu ngụy biện rất phổ biến trong lý luận: trong tranh luận, kẻ ngụy biện sẽ thay thế luận đề ban đầu bằng một luận đề mới, và luận đề này không tương đương với luận đề gốc Sau đó họ trình bày một cách rất chặt chẽ luận đề mới và tuyên bố đã chứng minh được luận đề ban đầu Vì hai luận đề không tương đương với nhau nên tính chất ngụy biện được phơi bày rõ Để thực hiện kiểu ngụy biện này, kẻ phạm lỗi thường lợi dụng hiện tượng ngôn ngữ đồng âm khác nghĩa, hoặc đem đồng nhất phần với toàn thể và ngược lại, hoặc diễn đạt mờ nhạt để cho cách hiểu tùy ý.

Ví dụ 7: Người ta đi chứng minh rằng cái bánh không thể biến mất được như sau: Cái bánh là vật chất, mà vật chất thì không biến mất, vậy cái bánh không biến mất Trong suy luận này người ta thay luận đề ban đầu bằng luận đề “ vật chất không biến mất”, rồi dựa vào triết học để chứng minh luận đề thứ hai này Tuy nhiên đây là suy luận ngụy biện, vì hai luận đề này không tương đương với nhau,bởi lẽ từ “vật chất” được hiểu với hai nghĩa khác nhau.

Ngụy biện ngẫu nhiên

Trong loại ngụy biện này một sự kiện ngẫu nhiên xảy ra được nhà ngụy biện coi là có tính chất quy luật.

Ví dụ 8: Một người lập luận rằng khi làm những việc quan trọng trong đời như cưới xin, làm nhà, lập công ty kinh doanh, ta phải chọn ngày lành, nếu không thì sẽ không thành công, hoặc không hạnh phúc Cặp chàng trai và cô gái nọ

Ví dụ được nêu ra về một đôi yêu nhau thắm thiết, được gia đình và bạn bè ủng hộ; họ cưới vào một ngày lẻ theo âm lịch, một ngày được cho là không tốt; chỉ sau một năm họ đã chia tay nhau; sự trùng lặp giữa việc cưới vào ngày lẻ và sự tan vỡ hạnh phúc của gia đình trẻ trong ví dụ này chỉ là ngẫu nhiên, nhưng nhà ngụy biện cho rằng hiện tượng đó mang tính phổ biến, tất yếu và có tính quy luật.

Ngụy biện đen - trắng

Ngụy biện đen - trắng xảy ra khi trong lập luận chỉ nhìn thấy và nêu lên các khả năng đối lập nhau, các thái cực, từ đây cho rằng không phải là cực này thì là cực kia, loại bỏ tất cả các khả năng khác.

Ví dụ 9: Có người khẳng định rằng khi răng nanh của trẻ con mọc chênh ra bên ngoài (răng khểnh) thì nên nhổ bỏ, vì nếu để nguyên như vậy thì “cái duyên” do nó mang lại không bù được sự khó khăn khi làm vệ sinh răng miệng, và vì thế mà dễ bị sâu răng trong lập luận này người nói chỉ nêu lên hai thái cực: hoặc để nguyên răng mọc lệch như vậy, hoặc nhổ bỏ răng đó Trong khi đó thì trên thực tế còn có khả năng thứ ba, đó là tiến hành chỉnh nha cho trẻ nhỏ, để răng mọc đúng.

Ngụy biện bằng cách dựa vào nhân quả sai

Ngụy biện bằng cách sử dụng lập luận trong đó quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng được hiểu sai có nhiều phân loại.

Đó là một loại ngụy biện nhằm đồng nhất nguyên nhân với nguyên cớ: cố tình dùng nguyên cớ thay cho nguyên nhân để biện minh cho hành động hoặc thuyết phục người khác Trong chiến tranh Iraq, nguyên nhân thật sự của các chính quyền Mỹ và Anh là nguồn lợi dầu mỏ to lớn ở quốc gia này; tuy nhiên, họ lại nói rằng Saddam Hussein đã phát triển và cất giữ vũ khí hủy diệt hàng loạt, và điều đó chỉ là một cái cớ để biện minh cho sự can thiệp quân sự.

(b) Trong mối quan hệ nhân quả thì nguyên nhân bao giờ cũng xảy ra trước kết quả, tuy nhiên như vậy không có nghĩa là một hiện tượng, sự kiện xảy ra trước bao giờ cũng là nguyên nhân của một hiện tượng, sự kiện xảy ra sau Ngụy biện sau cái đó vậy là do cái đó là kiểu ngụy biện trong đó khi thấy hai sự kiện, hiện tượng A và B xảy ra lần lượt theo thời gian cho rằng A là nguyên nhân của B.

Ví dụ 10: Một người hy vọng làm giàu bằng cách mua vé số Anh ta đã mua khác nhiều vé xổ số, nhưng chưa trúng giải nào cả Anh ta bèn lên chùa cúng vái, cầu xin Đức Phật cho anh ta trúng xổ số Vài ngày sau anh ta trúng giải đặc biệt nhờ mua vé số Anh ta kết luận rằng nhờ cầu xin Đức Phật nên trúng giải Ở đây việc lên chùa xin là sự kiện xảy ra trước, nó không phải là nguyên nhân của sự kiện trúng vé xổ số xảy ra sau đó.

Dựa vào sự kém cỏi

Đây là kiểu ngụy biện trong đó người ngụy biện căn cứ vào việc ai đó không chứng minh được một mệnh đề (hoặc lý thuyết, giả thuyết, ) hoặc không tìm thấy được một đối tượng nào đó để khẳng định rằng mệnh đề sai, hoặc đối tượng đó không tồn tại.

Ví dụ 11 cho thấy khẳng định rằng không có sinh vật trí tuệ nào khác trong vũ trụ ngoài loài người là sai lầm Dù khoa học đã phát hiện nhiều hiện tượng, nhưng chúng ta vẫn còn rất nhiều hạn chế và lỗ hổng trong hiểu biết, nên có thể tồn tại các sinh vật có trí tuệ khác mà hiện nay chưa được phát hiện Việc cho rằng khoa học đã khám phá hết mọi sự thật là phi lý, bởi sự giới hạn của khoa học ở thời đại hiện tại có thể khiến chúng ta bỏ lỡ những bằng chứng về sự sống trí tuệ ngoài hành tinh.

Lập luận vòng quanh

Loại ngụy biện này xảy ra khi người ta vi phạm quy tắc đối với luận cứ trong chứng minh Cụ thể ở đây là các luận cứ không được chứng minh độc lập với luận đề.

Khái quát hóa vội vã

Đây là kiểu ngụy biện xảy ra khi người ta sử dụng suy luận quy nạp trong lập luận, trong đó người ta đi đến kết luận tổng quát sau khi khảo sát rất ít trường hợp riêng.

Ví dụ 12 cho thấy sau bảy phiên giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, giá cổ phiếu của các công ty niêm yết liên tục tăng đến mức trần Điều này dẫn tới suy luận rằng giá cổ phiếu của tất cả các công ty niêm yết ở Trung tâm này sẽ luôn tăng đến mức trần Tuy nhiên, kết luận như vậy không đáng tin cậy vì suy luận quy nạp chỉ cho một xác suất đúng chứ không đảm bảo chắc chắn, và xác suất đúng của kết luận sẽ rất thấp khi số lượng trường hợp riêng được khảo sát còn ít Trong ví dụ này, số trường hợp được xem xét chỉ là bảy, quá nhỏ để rút ra một kết luận mang tính phổ quát.

Loại ngụy biện này xảy ra khi người ta đưa ra một câu hỏi bên trong đó chứa hai câu hỏi, và một câu trả lời duy nhất được coi là câu trả lời cho cả hai câu hỏi.

Ví dụ 13 Hỏi: “Anh có hay chơi thể thao và đọc tiểu thuyết kiếm hiệp không?” Câu trả lời “có” được coi là câu trả lời cho cả hai câu hỏi “Anh có hay chơi thể thao không?” và “Anh có hay đọc tiểu thuyết kiếm hiệp không?” Câu trả lời “không” cũng được diễn giải tương tự.

Ví dụ 14 Hỏi: “Có phải anh không thích anh ta và hay nói xấu anh ta không?”. Nhà ngụy biện có thể kết hợp các câu hỏi vào trong một câu hỏi một cách rất tinh vi, và nhiều khi người trả lời không biết là mình đã trả lời cho nhiều câu hỏi cùng một lúc Điều này sẽ bị nhà ngụy biện lợi dụng vào mục đích của mình.

13 Ngụy biện bằng cách sử dụng những phương pháp suy luận có tính xác suất

Trong những suy luận kiểu này, nhà ngụy biện sử dụng các phương pháp suy luận cho kết quả đúng với một xác suất nhất định (ví dụ như suy luận tương tự, suy luận quy nạp), nhưng lại coi các kết luận đó như là những điều khẳng định chắc chắn.

Ví dụ 15 Người ta chứng minh mọi số tự nhiên đều nhỏ hơn 100 như sau:

1, 2, 3, …, 98, 99 đều là các số tự nhiên Vậy mọi số tự nhiên đều nhỏ hơn 100.

14 Ngụy biện bằng cách diễn đạt mập mờ

Trong trường hợp này, nhà ngụy biện cố tình hành văn một cách mập mờ để sau đó giải thích theo ý mình.

Ví dụ 16 Gánh xiếc Barnum đề nghị Xem Lôi – chuyên gia về Toán đố vui của Mỹ ở cuối thế kỉ XIX đưa ra cho một bài toán đố Ai giải được sẽ được thưởng Bài toán như sau: “Một con chó và một con mèo chạy thi 100 phút lượt đi và lượt về Con chó chạy mỗi bước 3 phút, con mèo chạy mỗi bước 2 phút, nhưng nó nhảy được 3 bước thì đối thủ của nó mới nhảy được 2 bước Con nào về trước?” Vì quãng đường cả đi lẫn về là 200 phút, nên mèo phải nhảy đúng 100 bước Chó nhảy mỗi bước 3 phút, vậy nó phải nhảy 34 bước ở lượt đi (nếu nhảy 33 bước thì mới được 33*3 = 99 phút) và 34 bước ở lượt về Như vậy, chó phải nhảy tổng cộng 68 bước Mèo nhảy 3 bước thì chó mới nhảy được 2 bước, vậy mèo nhảy được 100 bước thì chó mới nhảy được 100 * (2/3) = 66,667 (bước) < 68 (bước). Như vậy, mèo về đích trước Nhưng Bacnum lại trả lời rằng chó thắng cuộc, vì, ông ta giải thích rằng câu “nó nhảy được 3 bước thì đối thủ của nó mới nhảy được

Khái niệm '2 bước' ám chỉ rằng khi chó nhảy được 2 bước thì mèo mới nhảy được 3 bước, cho thấy cách so sánh trình tự và mức độ giữa hai loài động vật Từ 'nó' ở đây được hiểu là 'chó', nhằm làm rõ chủ thể của câu Đây là trích dẫn từ Phan Thanh Quang trong Giai thoại toán học, tập một, NXB Giáo dục, 1995, trang 7.

* 6 lỗi chính trong quá trình nhận thức:

Những rối nhiễu tâm lý thường xuất phát khi cách chúng ta nhận định thế giới và cuộc sống theo hướng tiêu cực, đồng thời có những sai lệch trong xử lý thông tin khiến chúng ta hiểu sai ý nghĩa thực sự của các tình huống hàng ngày; nhận diện các lỗi tư duy nhận thức là rất cần thiết Theo Beck, có 6 lỗi chính: a) Suy luận tùy tiện, rút ra kết luận khi không có bằng chứng đầy đủ hoặc khi bằng chứng còn mâu thuẫn; ví dụ có trẻ tin rằng mình bị mẹ mắng vì bị mẹ ghét bỏ hoặc tin rằng vì họ quyết định không nhận mình mà mình không được gọi điện; b) Khái quát hóa thái quá, rút ra kết luận chung từ một bằng chứng ngẫu nhiên duy nhất; ví dụ tin rằng sau thất bại đầu tiên sẽ không bao giờ thành công và cả lớp xem thường mình; c) Chú ý vào chi tiết, tập trung quá mức vào một chi tiết và bỏ qua bối cảnh; ví dụ khi chào một người bạn mà họ không đáp lại, nghĩ ngay rằng người ấy ghét bỏ mình; d) Tự vận vào mình, gán ghép một sự kiện cho bản thân dù không liên quan; ví dụ bước vào đám đông và cho rằng mọi người đang cười nhạo mình; e) Suy nghĩ tuyệt đối hóa (tư duy lưỡng phân), nhìn sự việc ở hai cực hoặc tin mọi thứ chỉ có màu đen hoặc hồng; ví dụ cho rằng mình là kẻ bần cùng sau khi mất ví; f) Quan trọng hóa hoặc coi thường, tức là đánh giá sự việc quá mức hoặc xem nhẹ nó; ví dụ tin mình là kẻ dốt văn sau khi được trả một bài kiểm tra có nhiều lỗi chính tả.

Ngụy biện bằng cách sử dụng những phương pháp suy luận có tính xác suất

Trong những suy luận kiểu này, nhà ngụy biện sử dụng các phương pháp suy luận cho kết quả đúng với một xác suất nhất định (ví dụ như suy luận tương tự, suy luận quy nạp), nhưng lại coi các kết luận đó như là những điều khẳng định chắc chắn.

Ví dụ 15 Người ta chứng minh mọi số tự nhiên đều nhỏ hơn 100 như sau:

1, 2, 3, …, 98, 99 đều là các số tự nhiên Vậy mọi số tự nhiên đều nhỏ hơn100.

Ngụy biện bằng cách diễn đạt mập mờ

Trong trường hợp này, nhà ngụy biện cố tình hành văn một cách mập mờ để sau đó giải thích theo ý mình.

Ví dụ 16 Gánh xiếc Barnum đề nghị Xem Lôi – chuyên gia về Toán đố vui của Mỹ ở cuối thế kỉ XIX đưa ra cho một bài toán đố Ai giải được sẽ được thưởng Bài toán như sau: “Một con chó và một con mèo chạy thi 100 phút lượt đi và lượt về Con chó chạy mỗi bước 3 phút, con mèo chạy mỗi bước 2 phút, nhưng nó nhảy được 3 bước thì đối thủ của nó mới nhảy được 2 bước Con nào về trước?” Vì quãng đường cả đi lẫn về là 200 phút, nên mèo phải nhảy đúng 100 bước Chó nhảy mỗi bước 3 phút, vậy nó phải nhảy 34 bước ở lượt đi (nếu nhảy 33 bước thì mới được 33*3 = 99 phút) và 34 bước ở lượt về Như vậy, chó phải nhảy tổng cộng 68 bước Mèo nhảy 3 bước thì chó mới nhảy được 2 bước, vậy mèo nhảy được 100 bước thì chó mới nhảy được 100 * (2/3) = 66,667 (bước) < 68 (bước). Như vậy, mèo về đích trước Nhưng Bacnum lại trả lời rằng chó thắng cuộc, vì, ông ta giải thích rằng câu “nó nhảy được 3 bước thì đối thủ của nó mới nhảy được

2 bước” có nghĩa là chó nhảy được 2 bước thì mèo mới nhảy được 3 bước Từ “nó” ở đây được hiểu là “chó”! (Theo Phan Thanh Quang, “Giai thoại toán học”, tập một, NXB Giáo dục, 1995, tr.7)

* 6 lỗi chính trong quá trình nhận thức:

Rối nhiễu tâm lý thường nảy sinh khi chúng ta nhận thức tiêu cực về thế giới và cuộc sống, do những sai lệch trong xử lý thông tin khiến chúng ta hiểu sai ý nghĩa của các tình huống hàng ngày; theo Beck, có 6 lỗi tư duy chủ yếu là suy luận tùy tiện (rút ra kết luận thiếu bằng chứng hoặc khi bằng chứng còn mâu thuẫn); khái quát hóa thái quá (rút ra kết luận chung từ một bằng chứng ngẫu nhiên duy nhất, dễ gặp trong trầm cảm); chú ý vào chi tiết (tập trung quá mức vào một chi tiết và bỏ qua bối cảnh, khiến ta nghĩ người khác ghét bỏ mình khi thực tế họ đang bận nghĩ); tự vận vào mình (cho rằng bản thân đang bị người khác chế nhạo khi thấy đám đông cười); suy nghĩ tuyệt đối hóa hay tư duy lưỡng phân (cách nghĩ tất cả hoặc không có gì, đen hoặc trắng); và quan trọng hóa hoặc coi thường (đánh giá quá cao hoặc quá xem thường sự việc, ví dụ cho rằng mình dốt văn sau khi làm một bài kiểm tra có nhiều lỗi).

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỂ RÈN LUYỆN TRÍ THÔNG MINH, TƯ DUY LOGIC ĐÚNG ĐẮN 1 Cải thiện trí nhớ

Ngày đăng: 11/09/2022, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w