Nhũng bò Lai Sind đạt tiêu chuẩn phối giống khối lượng cơ thể trên 280kg, không bệnh tật có thể dùng làm bò cái nền và cho phối với đực của những giống chuyên sữa, chuyên thịt cao sản, t
Trang 3L Ờ I NHÀ XUẤT BẢN
Hiện nay cả nuớc ta có khoảng 30.000 con bò sữa, phân
bố chủ yếu tại 5 vùng chăn nuôi trọng điểm là M ộc Châu (Sơn La), Hà N ội và các vùng phụ cận, TP Hồ Chí Minh và các tỉnh xung quanh, Lăm Đồng và m ột số-tỉnh duyên hải miền Trung, sản xuất ra ừên 40.000 tấn sữa tum cho tiêu dùng và chế biến Mặc dù sau 10 năm, từ 1990 đến nay, tổng đần bò sữa của nước ta đã tăng lên gấp 3 lần (năm 1990, có 11.000 con bò sữa) và sản lượng sữa cũng tăng lên 2,6 lần, nhưng lượng sữa sản xuất ưong nước mới chỉ đáp ứng được 10% nhu cầu tiêu dùng Hàng năm chúng ta vẫn phải nhập khẩu 90% lượng sữa từ nước ngoài Neu chúng ta đạt được mục tiêu theo đề án của Bộ Nông nghiệp và PTN T là tăng dàn bò sữa lên 305.000 con và sản xuất ra 565.500 tấn sữa tuơi vào năm 2010 thì chúng ta cũng m ới chỉ đáp ứng được 45% nhu cầu sữa tiêu dùng ừong nước.
Chăn nuôi bò sữa là m ột ngành sản xuất hàng hóa L ọi thế của chăn nuôi bò sữa là giúp khai thác tối ưu đồng bãi chăn thả; chuyển hóa các sản phẩm nông nghiệp và các phụ phẩm chế biến nông - công nghiệp, có giá trị hằng hóa thấp thành sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và giá írị hàng hóa cao Ngoài ra, chăn nuôi bò sữa sử dụng nhiều lao động sống, tạo thêm công ăn việc làm ở nông thôn, đồng thời tăng thu nhập
Trang 4cho người chăn nuôi, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp - nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, chăn nuôi bò sũa cần vốn đầu tơ ban đầu tương đối lớn và đặc biệt, đòi hỏi phải có hiểu biết và trình
k ỹ thuật khai thác sữa cũng như các biện pháp phòng, trị m ột
số bệnh p h ổ biến va nan giải nhất ở bò sữa Chúng tôi h y vọng cuốn sách nhỏ này sẽ giúp ích cho các cán bộ nghiên cứu, cân bộ làm công tấc phát triển chăn nuôi, giảng viên và sinh viên cấc trường Đại học nông nghiệp và người chăn nuôi
Trang 5ChuüTig 1
CÁC GIỐNG BÒ VÀ PHƯƠNG PHÁP CHỌN BÒ NUÔI LẤY SỮA
gốc như bò Zebu Ân Độ (Bos Indicus) Bò có sắc lông vàng, đậm nhạt tuỳ từng quần thể, từng vùng nên đuợc gọi chung là
“bò Vàng” Cũng có thể gọi tên theo vùng tập trung, tuy có ít
nhiều sai khác về tầm vóc và sắc lông như bò Thanh Hoá, bò Lạng Sơn, bò Phú Yên, bò Bà R ia -
Do nó có tầm vóc nhỏ bé nên còn quen gọi là “bò cóc”,
hay bò ta
Bò Vàng Việt Nam có nhiều đặc tính quý nhtr khoẻ mạnh,
nhanh nhẹn, thích nghi lâu đời với điều kiện khí hậu nhiệt
đới; chịu đựng được các đièu kiện kham khô vè thiếu thốn
Trang 6thức ăn; sức chống chịu bệnh tật tốt Nhược điểm lớn nhất của bò ta là tầm vóc nhỏ bé, khối lượng thấp, chậm thành thục tính dục (khoảng 2,5 - 3 tuổi mới phối giống lứa đầu), năng suất sữa và thịt đều rất thấp Khối lượng bình quân toàn đàn khoảng 140 - 200kg Cơ thể thấp, mình ngắn và lép Kích thước các chiều: cao vây: 95 - 110 cm, dài thân chéo:
113 - 120 cm, vòng ngực: 135 - 140 cm Kích thước của đực giống so với kích thước của cái sinh sản không có sự chênh lệch lớn Chu kỳ cho sữa khoảng 6 - 7 thảng, vói sản lượng từ
300 - 400kg/chu kỳ Lượng sữa này chỉ đủ cho con bú Bò Vàng Việt Nam cũng không phải là giống bò cho thịt, tỷ lệ thịt xẻ thấp, khoảng 42-45%
Để tạo ra con lai có tầm vóc lớn hơn và sức sản xuất tốt hơn, đã từ lâu chúng ta dùng bò đực giống Zebu cho phối với
bò cái địa phương Đặc biệt, thời gian gần đây, nhờ triển khai chương trình “Zebu hoấ “ (với việc sử dụng tinh bò đục Red Sindhi hoặc Sahiwal), chúng ta đã tạo được đàn bò lai lớn và chất lượng tốt
2 Mứt só giống bò sữa nhập nội
2.1 Bồ lang trắng đen (Holstein Friesian - HF)
Holstein Friesian là giống bò sữa nổi tiếng nhất thế giới, được tạo ra ở tỉnh Fulixon, phía bắc Hà Lan từ thế kỷ thứ XIV và không ngừng được cải thiện vè phẩm chất, năng suất Đến thé kỷ thứ XV, bò Holstein Friesian được bán ra khỏi
nước và từ đó nó có mặt ở hầu khắp các nơi trên thế giới.
Trang 7Bò Holstein Friesian có mầu lông lang trắng đen, một số
có mầu lang trắng đỏ Các điểm trắng đặc trưng là: điểm trắng ở trán, vệt trắng ở vai kéo xuống bụng và bốn chân, đuôi trắng
Holstein Friesian là giống bò có khả năng cho sữa cao, đồng thời có khả năng cải tạo các giống bò khác theo hướng sữa Chính vì vậy, các nước thường dùng bò Holstein Friesian thuần để lai tạo vói bò địa phương, tạo ra giống bò sữa lang trắng đen của nước mình và mang những tên khác nhau: bò Lang trắng đen Mỹ, Anh, Pháp, Cuba, Canada, Trung Quốc,
Bò lang trắng đen thành thục sớm, 1 5 - 2 0 tháng tuổi có thể cho phối giống Là giống bò có khối lượng cơ thể lớn: bê
sơ sinh cân nặng 35 - 45kg; bò cái trưởng thành cân nặng 450
- 750kg; bò đực giống có thể nặng từ 750kg đến 1100kg Bò cái Holstein Friesian có kiểu hình đặc trưng của gióng bò sữa: thân hình tam giác, phần sau sâu hơn phần truớc, thân
bò hẹp dần vè phía trước, giống như cái nêm cối Đầu dài, thanh nhẹ, trán phẳng, sừng thanh và cong, c ổ dài cân đối,
da cổ có nhiều nép gấp, không có yếm Bốn chân thẳng, dài, khoẻ, cự ly chân rộng Bầu vú phát triển to, tĩnh mạch vú nổi
rô, da mỏng, đàn hồi tốt, lông mịn sản lượng sữa bình quân
5000 - 6000kg/chu kỳ vắt sữa 300 ngày Con cao nhất có thể đạt ưên 18.000kg/chu kỳ Nhìn chung, tỷ lệ mỡ sữa của
giống bò Holstein Friesian thấp, bình quân 3,42%
Trang 8Hầu hết các nuớc có ngành chăn nuôi bò sữa phát triển đèu nuôi bò giống Holstein Friesian Bởi vì giống này chẳng những cho năng suất sữa cao mà còn có khả năng cho thịt lớn Bê đực nuôi thịt công nghiệp đạt trọng lượng 400 - 450kg lúc 15 tháng tuổi, tỷ lệ thịt xẻ 50 - 55%.
Để phất triển chăn nuôi bò sữa trong nước, ngay từ những năm 1960 - 1970, chúng ta đã nhập bò lang trắng đen của Trung Quốc, Cuba và phát triển chúng bằng nhân thuần và lai chúng với bò Lai Sind
Kết quả nghiên cứu nhiều năm cho thấy, bò Holstein Friesian thuần chỉ thích nghi với những vùng có khí hậu mát
mẻ, nhiệt độ bình quân cả năm dưới 21°c, như cao nguyên Mộc Châu (Son La), Đức Trọng (Lâm Đồng) Những vùng khác, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, không thích hợp với chúng Chính vì vậy, để có giống bò sữa nuôi được rộng rãi ở nhiều vùng khắc nhau của đất nước, đáp ứng nhu cầu sản xuất sữa, chúng ta đã tiến hành nghiên cứu, lai tạo bò Holstein Friesian thuần với bò Vàng Việt Nam đã được “Zebu hoá”
2,2 Bò Jersey
Bò Jersey được tạo ra ở đảo Jersey nước Anh, từ gần ba trăm năm trước Nó là kết quả tạp giao giữa giống bò Bretagne (Pháp) và bò địa phuơng, về sau có tăng thêm máu
bò Normandie (Pháp) Từ năm 1970 nó đã trở thành giống bò sữa nổi tiếng thế giới
Bò Jersey có thân hình nhô (khối lượng bê sơ sinh: 25 - 30kg; bò cái trưởng thành cân nặng 300 - 350kg; bò đực: 550
Trang 9- 700kg), mầu lông xâm hoặc vàng xám, có con lông xám sậm hoặc đen nâu, đôi khi có đốm trắng ở chân Đầu thanh, mặt cong, mắt lồi, sừng nhỏ và có mầu ngà, cổ thanh và dài, yếm lớn nhưng mỏng Mình bò Jersey dài, bụng to, lông ngắn và thưa Da mỏng, hông rộng Bốn chân mảnh, khoảng cách giữa hai chân rộng, móng bé, đuôi nhỏ Bầu vú lớn, phát triển cả vè phía trước và phía sau, mặt dưới vú rộng và bằng phẳng, bốn vú cách xa nhau, tĩnh mạch vú to, dài và gấp khúc, kéo dài lên đến nách trước Bò có tính tình hiền lành, không phá phách và cũng không kén ăn.
Bò cái Jersey thành thục sớm, 1 6 - 1 8 tháng tuổi có thể phối giống lần đầu Khả năng sinh sản của bò cũng rất tốt, có thể đẻ mỗi năm một lứa Đây là giống bò chuyên dụng sữa,
có chu kỳ tiết sữa kéo dài, nhiều con có thể khai thác đến 12
- 14 tháng Năng suất sữa trung bình 3.500kg/chu kỳ tiết sữa
300 ngày Đặc biệt tỷ lệ mỡ sữa rất cao: 5,5 - 6,0% Mỡ sữa mầu vàng, hạt mỡ to, thích hợp cho việc chế biến bơ Chính
vì vậy, nó thường được sử dụng trong công tác lai tạo để nâng cao tỷ lệ mỡ sữa cho các giống bò sữa khác
Tuy được tạo ra ở vùng có khí hậu ôn hoà, nhưng bò Jersey thích nghi tốt với khí hậu nước ta và ít bệnh tật
2 3 Bồ nâu Thụy S ĩ (Brown Swiss)
Bò nâu Thụy Sĩ được tạo ra tậỉ vùng núi Alpes (Thụy Sĩ),
do nhân thuần từ bò địa phương theo hướng kiêm dụng sữa -
thịt Nó có khả năng thích nghi vói vùng núi cao, có sức chịu
Trang 10đựng tốt, chịu nóng khá hơn bò Holstein Friesian và dễ thích nghi vói nhiều vùng khí hậu khác nhau
Bò nâu Thụy Sĩ có những đặc điểm sau: tầm vóc lớn, thân dài, bụng to vừa phải, ngực nở, sâu, rộng, đầu ngắn, trán dài
và rộng, mồm rộng, sừng ngắn, cong, gốc sừng mầu ngà Nói chung, lông mầu nâu, một số ít có mầu xám đậm hay nâu sáng Ở mõm, quanh mũi và mắt hơi trắng sảng, phía lưng từ
u vai đến gốc đuôi có vệt lông sáng Bốn chân chắc chắn, khoẻ, tư thế vững vàng, móng đen
Bò nâu Thụy Sĩ là giống bò kiêm dụng sữa -thịt, có khả năng tăng trọng nhanh, phẩm chất thịt ngon, v è khối lượng,
bê sơ sinh cân nặng 31 - 37kg, bò cái trưởng thành nặng 650
- 700kg, bò đục có thể nặng tới 800- 950kg
Nếu được nuôi dưỡng đầy đủ, bò nâu Thụy Sĩ có năng suất sữa tương đương bò Jersey Tuy nhiên, thời gian cho sữa ngắn hơn và tỷ lệ mỡ sữa thấp hơn bò Jersey Năng suất sữa một chu kỳ bình quân đạt 3.500 - 4.000kg; tỷ lệ mỡ sữa 3,5 - 4,0%
Trong thời gian qua, chúng ta có nhập một số tinh đông lạnh dưới dạng viên và cọng dạ của giống Jersey và nâu Thụy Sĩ thuần từ Cuba và Ân Độ và phối cho bò Lai Sind, tạo ra con lai F l, một số ít F2 Tuy nhiên, do năng suất sữa kém xa bò lai vói Holstein Friesian, hơn nữa, mầu lông không hợp thị hiếu người chăn nuôi, nên việc lai tạo chỉ dừng lại ở đó và không phát triển thêm
Trang 113 Bò lai huứng sữa
3.1 Bò L ai Sind
Vào những năm 1923 - 1924, một số bò Red Sindhi được nhập vào nước ta Quá trình lai hấp phụ tự nhiên và nhân tạo từ đó đến nay giữa bò Vàng Việt Nam và bò Red Sindhi tạo thành quần thể bò Lai Sind, với tỷ lệ máu Red Sindhi rất khác nhau và ngày một tăng Bò Lai Sind càng có nhiều tỷ lệ máu bò Red Sindhi, thì khả năng cho thịt càng tốt hơn, sức cầy kéo khoẻ hơn và khả năng cho sữa cũng cao hơn
Hiện nay đàn bò Lai Sind chiếm 30 - 40% tổng số đàn bò nội và được phân bố ở hầu khắp các tỉnh trong toàn quốc, đặc biệt là ở Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Long An, Phan Rang, Hà Nam Ninh, Hải Dương, Hưng Yên
Bò cái Lai Sind đã khắc phục được những nhược điểm của bò Vàng, tập trung được những đặc tính quý của cả hai giống bò Vàng và bò Red Sindhi Bò Lai Sind có nhiều đặc điểm gần giống như bò Red Sindhi: đầu hẹp, trán gồ, lông mầu cánh dán, tai to cụp xuống, yếm và rốn rất phát triển, u vai cao và nổi rõ, chân cao, mình ngắn, ngực sâu, mông dốc, bầu vú khá phát triển, âm hộ có nhiều nếp nhăn, đa số đuôi dài và đoạn chót đuôi không
có xương
Trang 12Bò Lai Sind cân nặng 280 - 320kg (con cái) và 450 - 500kg (con đực) Khối lượng sơ sinh của bê: 18 - 25kg Sản lượng sữa bình quân đạt khoảng 800 - 1200kg/chu kỳ vắt sữa
240 ngày Cá biệt có những con cho đến 2000kg sữa trong một chu kỳ Ngày cao nhất có thể đạt 8 - 10kg sữa Tỷ lệ mỡ sữa rất cao: 5,5 - 6,0%
Tuy năng suất sữa không cao, nhưng do dễ nuôi, chịu đựng được kham khổ, ít bệnh tật, nên phần lớn bà con bắt đầu nghề chăn nuôi bò sữa từ bò Lai Sind
Nhũng bò Lai Sind đạt tiêu chuẩn phối giống (khối lượng
cơ thể trên 280kg, không bệnh tật) có thể dùng làm bò cái nền và cho phối với đực của những giống chuyên sữa, chuyên thịt cao sản, tạo ra con lai có khả năng cho sữa, cho thịt cao hơn, lại dễ nuôi và sinh sản tốt
Bò lai đòi 1 (F l) có 1/2 máu Holstein Friesian, được tạo
ra bằng cách lai giữa bò đực Holstein Friesian vói bò cái Lai Sind Hầu hết bò lai F1 có mầu lông đen, nếu có vết lang trắng thì rất nhỏ, ở duới bụng, bốn chân, khấu đuôi và trên tràn
Bê sơ sinh có khối lượng 20 - 25kg Bò cái trưởng thành nặng 350 - 420kg; bò đực trưởng thành nặng 500 - 550kg Sản lượng sữa đạt 2500 - 3000kg/chu kỳ Ngày cao nhất có thể đạt 15 - 20kg Tỷ lệ mỡ sữa 3,6 - 4,2% Thời gian cho sữa
có thể kéo dài trên 300 ngày
Trang 13Bò lai F1 động dục lần đầu bình quân lúc 17 tháng tuổi,
cố khi sớm hơn, chỉ 13 -1 4 tháng Tuổi đẻ lứa đầu bình quân lúc 27 tháng Bò lai F1 mắn đẻ Khoảng cách giữa hai lứa đè
là 13 -1 4 tháng
Bò lai F1 chịu đựng tương đối tốt điều kiện nồng (30 - 35°C), ít bệnh tật Do có nhiều ưu điểm, ở những vùng mới chăn nuôi bò sữa, bò F1 được xem như đàn bò chủ lực
Bò lai F2 được tạo ra bằng cách lai bò đực giống Holstein Friesian (nhẩy trực tiếp hoặc thụ tinh nhân tạo) vói bò cái lai F1 (bò lai F2 có 3/4 máu Holstein Friesian), về ngoại hình,
bò lai F2 gần giống vói bò Holstein Friesian thuần, vói mầu lông lang trắng đen
Bê lai sơ sinh F2 cân nặng 30 - 35 Kg Bò đực trưởng thành cân nặng 600 - 700kg Bò cái nặng trung bình 400 - 450kg
Trong điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, bò lai F2 cho năng suất sữa cao hơn bò F l Trong một chu kỳ vắt sữa 300 ngày, năng suất có thể đạt 3.000 - 3 500kg hoặc cao hơn Tỷ
lệ mỡ sữa từ 3,2% đến 3,8%
Trong điều kiện nóng và ẩm (nhiệt độ trên 30°C), bò lai F2 tỏ ra kém chịu đựng hon so với bò F1
Trang 14Hình 1: Bò lai Fl (ỉ.ãi Sind * Holstein Friesian)
Hình 2: Bò lai F2 (Lai 11 * Holstein Friesian)
Trang 15Bảng 1: M ột số chỉ tiêu kinh tế k ỹ thuật của cấc nhóm giống
bò nuôi tại TP H ẻ Chí Minh (Theo Đinh Văn Cải và CS.-1997)
V àng Lai Sind
F1 1/2H F
F2 3/4 H F
Khối lư ợng bê s ơ sinh (kg) 18-24 18-25 2 5 -3 0 3 0 -3 5
Các kết quả nghiên cứu và thực tế chỉ ra rằng, ở nước ta, trừ một số vùng như Mộc Châu (Sơn La), Đức Trọng (Lâm Đồng) có khí hậu mát mẻ, còn những nơi khác, do khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm, nhiệt độ bình quân hàng năm trên 21°c,
Trang 16nên tốt nhất là nuôi bò Lai Sind, bò lai F1 (1/2 máu HF), F2
(3/4 máu HF) để lấy sữa Tức là nên khống chế tỷ lệ máu bò
Holstein Friesian ở múc dưới 75% Bởi vì bò sữa có tỷ lệ máu Holstein Friesian càng cao (bò F3, F4 - 7/8 và 15/16 máu bò HF, bò Holstein Friesian thuần) thì càng kém chịu đựng được điêu kiện nóng ẩm và kham khổ do thiếu thốn
thức ăn Khi nhiệt độ lên trên 34°c bò có tỷ lệ máu Holstein
Friesian cao thường thở dốc, xù lông, năng suất sữa giảm Mặt khác, tỷ lệ nhiễm bệnh tăng, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng đường máu và bệnh tụ huyết trùng
Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta không thể nuôi
‘tược bò sữa có tỷ lệ máu Holstein Friesian cao Những gia đình có nhiều kinh nghiệm chăn nuôi, có các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và chuồng trại thật tốt vẫn hoàn toàn có thể nuôi được loại bò này
Dù nuôi loại bò nào, việc chọn một con bò sữa tốt là rất quan trọng Có thể sử dụng một hoặc tốt nhất là kết hợp những chỉ tiêu sau đây để chọn bò sữa tốt:
1 Chọn bồ theo đặc điểm ngoại hình, thể chất
Phương phấp này dựa trên cơ sở quan sát con bò, tốt nhất
là quan sát nó đang-gậm cỏ trên bãi chăn hoặc đang đi lại trên sân
Bò sữa tốt là loại có cơ thể “hình cái nêm thân sau phát triển hơn thân trước, đầu thanh, nhẹ, mồm to, mũi to, cổ dài vừa phải, sườn nở, ngục sâu, hông rộng Cấc đầu xương nhìn
Trang 17rõ Vai, lưng và hông không võng và rộng dần về phía xương chậu, mông phẳng, rộng và dài Bốn chân khoẻ, chân sau thấp hơn chân trước, không chụm khoeo Bầu vú cân đối, phât triển nhưng không chảy, bốn núm vú dài, to vừa phải và đều đặn Tĩnh mạch vú to, dài, có nhiều nếp gấp khúc Sau khi vắt sữa, sờ vào vú thấy mèm mại, chứng tỏ vú thuộc
“dạng tuyến”, các nang tuyến phát triển, chứ không phải
“dạng thịt”, nhiều mô liên kết (khi sờ vào thấy rắn)
2 Chọn bò theo sản lượng sữa
Trong điều kiện chăn nuôi hiện nay ở nước ta, do chưa có các dụng cụ để kiểm tra các chỉ tiêu chất lượng sữa như tỷ lệ
mỡ sữa, tỷ lệ đạm, đường trong sữa nên chủ yếu chỉ dựa
vào sản lượng sữa Tuy nhiên, đa số bò của ta lại chua được theo dõi cá thể và hầu như không có sổ sách theo dõi năng suất sữa Vì vậy, không thể biết chính xác sản lượng sữa của
cà chu kỳ, cũng như thời gian tiết sữa mỗi chu kỳ
Đê ước tính sản lượng sữa của một con bò nào đó, ta phải nám được nó thuộc giống nào, đang đẻ lứa thứ mấy và đang dio sữa tháng thứ mấy Ở bò, năng suất sữa lớn nhất thu được khi bò cho sữa lứa thứ ba Bò tơ đẻ lứa 1 chỉ cho năng suất
ñ a bằng 75% năng suất sữa của bò cái trưởng thành Ở bò đẻ
ũ a thứ hai, năng suất sữa bằng 85% năng suất sữa của bò cái lóa thứ ba Khi bò mới đẻ, lượng sữa tiết ra còn ít Lượng sữa
ún g dần và đạt cục đại vào tuần thứ 8 - thứ 10 sau khi đẻ Idiính xác hơn Jà năng suất sữa dạt pực đại vào cuối
Trang 18k h o ầ g l/5 đầu tiên của thời gian tiết sữa) sau đó năng suằ sữa
giảm dần Năng suất sữa giảm một cáchđều đặn, vói một hệ số
ổn định khoảng 90%, túc là năng suất sữa của một tuần nào đó
sẽ bằng 90% năng suất sữa sản xuất ra ở tuần trước đó
Dựa vào tỷ lệ phần trăm sản lượng sữa từng tháng so với tổng sản lượng sữa cả chu kỳ (bảng 2) và trên cơ sở lượng sữa thực tế vắt được vào một ngày nào đó tại thòi điểm theo dõi, ta có thể ước lượng được tương đối chính xác sản lượng của con bò sữa đó
Bảng 2: Tỷ lệ phần ưăm sản lượng sữà từng tháng so với tổng sản lượng sữa cả chu k ỳ của ba nhóm giống bò
(Theo Đinh Văn Cài và CS.-1997)
Tháng 4
Tháng 5
Tháng 6
Tháng 7
Tháng 8
Tháng 9
Tháng
10 Cộng
L.s 14,0 17,0 15,0 14,0 11,0 8,8 7,7 6,5 6,0 - 100 F1
Sản lượng sữa = 15kgx30ngày _
Trang 19Nếu là bò Lai Sind, đang tiết sữa thảng 5 và vào ngày theo dõi ta vắt được 6kg, sản lượng sữa cả chu kỳ của con bò này
là:
Sản lượng sữa 6kgx30ngày ,
= - — - = 1.636kg(kg/chu kỳ 300 ngày) 11,0%
Cũng có thể ta gặp trường họp hai con bò với các chỉ tiêu tuyển chọn tuơng đuơng nhau nhưng năng suất sữa và tỷ lệ
mỡ sữa khác nhau, ta phải áp dụng công thúc quy đổi của Gaines để đưa về cùng tỷ lệ mỡ sữa:
Kg sữa với 4% chất béo =kg sữa vói T% chất béo X (0,4 + 0,15 X T)
Ví dụ: bò sữa A sản xuất ra 12kg sữa với 3,5% chất bèo
và bò sữa B chỉ sản xuất ra 10kg sữa nhưng vói 4,0% chất béo Ta phải quy đổi 12kg sữa sản xuất ra vói 3,5% chất béo
thành sữa với 4% chất béo:
12kg X (0,4 -f 0,15 X 3,5) = 1 l,lk g sữa với 4% chất béo
Như vậy bò sữa A “tốt” hơn bò sữa B
3 Chọn bò dụa vào khả năng sinh trưởng, phát triển của nó
Trong quá trình sinh trưởng, phát triển, những con bò
bệnh tật và còi cọc thì khi lớn lên sẽ không thể là nhũng con
bò tốt Chính vì vậy, khi chọn bò nuôi lấy sữa ta phải chọn
những con lớn nhanh, khoẻ mạnh Khối lượng cơ thể của bò
phải phù hợp với từng độ tuổi và vói giống tương ứng (xem
Trang 20số liệu bảng 1) Bằng quan sát, ta có thể biết được tình trạng phát triển cơ thể và thậm chí có thể ước lượng được khối lượng của nó Tuy nhiên, để xác định chính xấc khối lượng
cơ thể của bò thì phải có cân đại gia súc Trong trường hợp không có cân đại gia súc, có thể dùng thước đo và tính ra khối lượng (với sai số 5%) theo công thức sau đây:
Khối lượng (kg) = 90 X (VN)2 X DTC
Trong đó:
VN = vòng ngực: chu vi mặt cắt đằng sau khớp bả vai (m)DTC = dài thân chéo: chiều dài từ mỏm xương bả vai đến điểm tận cùng của xương ngồi (tính bằng m)
4 Chọn bò căn cứ vào lý lịch (gia phả)
Tức là dựa vào các tính năng sản xuất của ông, bà, bố, mẹ Điều này chỉ có thể tiến hành được một khi có sự ghi chép đầy đủ, chính xác lý lịch, năng suất và chất lượng sữa của từng con, qua từng thế hệ
5 Chọn bò theo tính tình và khả năng vắt sữa
Nên chọn những con bò hiền lành, dễ gần Đối với những con bò đã đẻ, ngoài tính tình hiền lành ra, cần chú ý chọn những con dễ vắt sữa, sữa xuống nhanh
Tuy nhiên, trong quá trình lụa chọn bò, ta phải cân nhắc giữa các chỉ tiêu Có thể có những con bò khối lượng cơ thể thấp, ngoại hình không được đẹp lắm, nhưng sản lượng sữa cao thì cũng nên chọn Ngược lại, có những con ngoại hình
Trang 21đẹp, nhưng cho ít sữa hoặc tính tình dữ dằn thì cũng không nên lựa chọn
III CÔNG TÁC GIỐNG BÒ SỮA VÀ ĐỊNH HƯỚNG
PH Ố I GIỐNG
Ở nước ta, từ trước đến nay, công tác quản lý giống bò sữa
bị buông lỏng Đàn bò sữa không hề có lý lịch gốc, liên tục
di chuyển từ vùng này sang vùng khác Những nguồn tinh
đua vào để phối giống cho đàn bò này cũng rất đa dạng và
cũng không được kiểm soát Chính vì vậy, hiện nay rất khó
xác định được p h ần cấp giống của đàn bò sữa.
Nhìn chung, tầm vóc đàn bò sữa của ta khá to, thích họp vói chăn nuôi lấy sữa và cho việc lai tạọ, nhân giống Nhưng
ngoại hình của bò sữa không đẹp Đặc biệt, ngoại hình bầu
vú xấu, lép nhỏ, không cân đối giữa các khoang vú Nhiều
con có các núm vú rất sát nhau, ngắn, nhỏ hoặc phồng to Chúng ta cũng chưa bao giờ tiến hành kiểm tra năng suất sữa
của đàn bò, đặc biệt là trong khu vực chăn nuôi gia đình Tất
că những con bò, mặc dù có thể có các khuyết tật ngoại hình và/hoặc năng suất sữa thấp vẫn được lai tạo, nhân giống, mà không hè bị loại thải
Đàn bò sữa của ta hiện nay nhièu con thuộc loại F2, F3
hoặc thậm chí có cả F4 Trên nền bò sữa đang có, nhiều noi
dủ sử dụng tinh bò Holstein Friesian thuần chủng để phối
giông Việc phối giống không định hướng này sẽ làm tăng
dần tỷ lệ máu giống sữa qua các thế hệ và số gia súc này
Trang 22ngày càng trở nên "khó tính " và không thích hợp với những , điều kiện chăn nuôi hiện tại.
Chính vì vậy, chúng ta nên sớm đưa công tấc quản lý giống bò sữa vào nền nếp, vói việc thống kê, nhận dạng, phân loại lại đàn bò; lập sổ giống; tiến tới kiểm tra năng suất,: loại thải dần những con “ xấu “, năng suất thấp Đồng thời quản lý chặt chẽ việc nhập tinh bò sữa vào nước ta, nhập tinh phải có định hướng và mục tiêu cụ thể
Cần có định hướng phối giống, nhân giống Nhũng vùng như Mộc Châu, Lâm Đồng có thể nhân giống Holstein Friesian thuần Những noi khấc chỉ nên tạo và nuôi bò sữa lai Holstein Friesian, vói tỷ lệ máu Holstein Friesian từ 50% đến 75%, theo các sơ đồ sau đây (Phùng Quốc Quảng - 1999; Đinh Văn Cải và cs - 1997):
1 Dùng tinh Holstein Friesian phối cho bò Lai Sind (đã qua chọn lọc) để tăng nhanh đàn FI (1/2HF), đục lai FI (1/2HF) được nuôi trong các cơ sở giống chọn lọc và sử dụng làm đực giống:
Nuôi lấy sữa <- 9F1 (1/2HF) crFl (1/2HF) -> Nuôi làm giống
2 Đối với bò cái lai-F1 1/2 máu bò Holstein Friesian có thể tiếp tục lai với đực HF tạo ra cái lai 3/4, dùng để nuôi lấy sữa; đực lai 3/4 được nuôi trong các cơ sở giống và chọn lọc dùng làm đực giống:
Trang 239 F1 (1/2HF) X ơ HF
u
3 Dùng bò đục lai F1 (1/2HF) phối cho bò câi lai F2 (3/4HF):
u
4 Dùng bố cái lai F2 (3/4HF) cho phối với bò đục lai F2 (3/4HF) ta được bò lai F2 (3/4) đòi 2 và cứ tiếp tục như vậy
sẽ có đời 3 :
u
5 Dùng bò cái lai F2 (5/8HF) cho phối với bò đục lai F2 (5/8HF) ta được bò lai F2 (5/8) đòi 2 và cứ tiếp tụ c như vậy
Trang 24Đối với đàn bò lai F3 boịc F4, có thê áp dụng một số
công thúc lai sau đây:
• Dùng bò đực (tinh) jgiổng Jersey hoặc giống Brown Swiss phối cho bò cái lai F3, F4, tạo ra con lai ba mấu,
dễ thích nghi hom so với lai thêm máu bò Holstein Friesian, đồng thời tăng tỷ lệ mỡ sữa.
• Dùng bò đực (tinh) giống Zebu (Red Sindhi hoặc Sahiwal) phối ngược lại cho bò cái lai F3, F4, tạo ra con lai có 7/16, 15/32 máu bò Holstein Friesian, dễ nuôi hom
mà năng suất sữa vẫn đảm bảo
• Dùng bò đực (tinh) F l, ví dụ: bò đực giống AFS (là giống bò sữa nhiệt đới do Australia chọn tạo và cố định 50% máu bò Holstein Friesian; giống bò này có nhiều đặc tính quý: năng suất sữa cao, sức chóng chịu tốt) phối cho bò cái lai F3, F4, để tạo ra bò lai có 11/16 - 23/32 mâu bò Holstein Friesian (thấp hom so vói con lai F2 3/4 HF)
Trang 25Chương 2
TIÊU HOÁ THỨC ĂN Ở BÒ SỮA
VÀ KỸ THUẬT NUÔI DƯỠNG
I ĐẶC ĐIỂM TIÊU HOÁ Ở DẠ DAY BÒ SỮA
1 Dạ cỏ và khu hệ vi sinh vật dạ cỏ • • • •
1.1 Dạ cỏ
Khác với ngựa, lợn, chó và người, bò sữa thuộc loài nhai lại Dạ dầy bò chia làm bốn ngăn: dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách (ba ngăn này gọi chung là dạ dầy trứơc) và dạ múi khế (gọi là
dạ day thực, có các tuyến tiêu hoá như các loài động vật dạ dầy đon) Dạ cỏ có dung tích rất lớn, khoảng 100 lít và chiếm tới 80% dung tích của toàn bộ dạ dầy
5
Hình 3 S ơ đồ dạ dầy kép của bò sữa
1 - Dạ cỏ, 2- Đoạn cuối thực quản, 3 - Rãnh thực quản,
4 - Dạ tổ ong, 5 - Dạ lá sách, 6 - Dạ múi khế
Trang 26Dạ cỏ là trung tâm tiêu hoá quan trọng bậc nhất của loài nhai lại Quá trình tiêu hoả trong dạ cỏ quyết định đến năng suất thịt, sữa của gia súc
Dạ cỏ không tiết dịch tiêu hoấ và axít chlohydric mà ở đây diễn ra quá trình tiêu hoá nhờ lên men vi sinh vật Người
ta ví dạ cỏ như một thùng lên men lớn Những vi sinh vật sống trong dạ cỏ là nhũng vi sinh vật có lợi, không gây độc hại cho gia súc Chúng được cảm nhiêm từ bên ngoài vào (qua thúc ăn, nước uống và truyền từ gia súc trưởng thành sang bê con) Vi sinh vật sống và phát triển mạnh được trong
dạ cỏ là nhờ tại đây có các điều kiện thích hợp như:
- Nhiệt độ luôn được duy trì ở 38 - 42°c
- Tuyến mang tai liên tục tiết nước bọt, bảo đảm cho chất chứa dạ cỏ được thấm ướt và giữ cho pH ổn định (pH trong
dạ cỏ = 6,5 - 7,1, thích hợp cho vi sinh vật hoạt động)
- Sự hình thành các chất khí như C 0 2, mêtan, nitơ, hydro
và sunfua hydro tạo nên môi trường yếm khí (hàm lượng oxygen dưới 1 %)
- Dạ cỏ vận động yếu, thưc ăn được đưa vào liên tục vàdừng lại lâu, làm cho vi sinh vật có điều kiện tốt để khai thác,
Trong dạ cỏ, vi sinh vật sinh sôi, nảy nở và phát triển rất mạnh Trong một ngày đêm (24 giờ) chúng có thể sinh sản được 4 -5 thế hệ số lượng vi sinh vật dạ cỏ rất lớn, ước tính trong 1 ml dung dịch dạ cỏ có từ 25 đến 50 tỷ vi khuẩn và từ
200 ngàn đến 500 ngàn động vật nguyên sinh
Trang 27Chủng loại vi sinh vật dạ cỏ rất phong phú và thuộc vè 3 nhóm chính sau đây:
ăn, một số ít khác trú ngụ ở các nếp gấp biểu mô hoặc bám vào cơ thể protozoa
Vi khuẩn có vai trò quan trọng trong tiêu hoá xenluloza
và hemixenluloza, tiêu biểu là các loài: Bacteroides succinogenes, Ruminobacter parvium, Ruminococcus flave- faciens, Ruminococcus albus, Butyrivibrio fibrisolvens và một số loài Clostridia spp
Các vi khuẩn còn tham gia phân giải bột đường (Streptococcus bovis, Selenomonas, Clostridium butyricum, Bifidobacteria bifidus, Peptostreptococcus provostii ); phân giải protein và các sản phẩm protein (chủ yếu là các vi khuẩn gram +); sử dụng các axit sinh ra trong quấ trình tiêu hoá ở dạ cỏ như axit lactic, axit acetic, axit butyric, axit propionic ); các vi khuẩn tổng hợp vitamin B I2
1.2.2 Các động vật nguyên sinh (protozoa):
Protozoa có số lượng ít hơn vi khuẩn Khi trong khẩu phần có nhiều tinh bột, đường số lượng protozoa tăng lên
1.2 Khu hệ vi sinh vật dạ cỏ
Trang 28Protozoa tiêu hoá tinh bột và đường là chính, nhưng một vài loài có khả năng phân giải xenluloza Protozoa ăn và tiêu hoâ
cả vi khuẩn, tổng họp thành đạm của cơ thể chúng, có giá trị sinh học cao
Protozoa được chia thành hai nhóm chính: Entodineo- morphs và Holatrich Khi trong khẩu phần của bò sữa có nhiều xơ cùng tinh bột thì nhóm thứ nhất phát triển mạnh, nhưng khi khẩu có nhiều xơ và được bổ sung ri mật hoặc cỏ non thì nhóm thứ hai phát triển mạnh
Trong nhóm nguyên sinh động vật, quan trọng nhất là các loài sau đây: Entodinium, Diplođinium, Dasotricha, Isotricha, Ophryoscolex
Nấm là vi sinh vật đầu tiên xâm nhập và tiêu hoá thành tế bào thục vật và làm cho cấu trúc này bị giảm độ bền vũng, góp phần làm tăng sự phá vỡ thức ăn khi nhai lại và cho phép các vi khuẩn bám vào các cấu trúc tế bào, tiếp tục tiêu hoá xenluloza
Trang 29ĐỘNG VẬT ĂN TẠP Ruột già
Trang 30* Giúp bò sữa có thể tiêu hoá được chất xơ và các thức ăn
thô Chúng biến đôi xơ (chủ yếu là xenluloza) và các chất bột đường thành các axít hữu cơ (các axít béo bay hơi) nhtr axít acetic, axít propionic, axít butyric Các axít này nhành chóng được hấp thu qua thành dạ cỏ và cung cấp cho bò sữa 60 - 80% nhu cầu năng lượng
* Các vi sinh vật tổng họp nên các chất dinh dưỡng cho
bò sữa trong mối quan hệ cộng sinh Chúng tông hợp tất cả các vitamin nhóm B, vitamin K và tất cả các axít amin thiết yếu Thậm chí chúng có khả năng sử dụng những họp chất nitơ phi protein như urê, những chất chứa nitơ khác và tạo thành những chất dinh dưỡng có giá trị sinh học cao
Giữa các loài vi sinh vật có quan hệ cộng sinh và có sự phân chia chúc năng hết súc chặt chẽ Sản phẩm phân giải các chất trong thức ăn của một loài này lại là chất dinh dưỡng cho một loài khác Chính vì vậy, nếu một nhóm vi sinh vật nào đó không có được những điều kiện thích hợp để phát triển (ví dụ khẩu phần mất cân đối các chất dinh dưỡng) thì chúng sẽ bị chết dần đi Điêu đó dẫn tới sự thay đôi thành phần của nhiều nhóm vi sinh vật khác Kết quả là các quá trình tiêu hoá thức ăn bị rối loạn và chắc chắn ảnh hưởng xấu đến tình trạng sức khoẻ cũng như năng suất của bò sữa
Như vậy, thực chất nuôi dưỡng bò sữa là nuôi dưỡng các khu hệ vi sinh vật dạ cỏ, là cung cấp và tạo cho chúng những điều kiện tối ưu để phát triển và sinh sôi, nảy nở
Các vi sinh vật ữong dạ cỏ có hai chức năng quan tíọng:
Trang 312 Tiêu hoá các chất trong dạ dầy bò sữa
Các chất chứa trong dạ cỏ luôn luôn ở trong; trạng thái bị khuấy động với một nhịp độ ổn định vào khoảng 2.500 nhịp
co bóp mỗi ngày Hệ thống nhu động này giúp cho các chất chứa trong dạ cỏ được thấm ướt và di chuyển dần tói các túi tiếp theo khác của dạ dầy
Khoảng từ 5 đến 15 phút sau bữa ăn, bắt đầu quá trình nhai lại: một miếng thức ăn có khối lượng khoảng từ 600 đếnlOOOg được ợ lên để nhai lại Cùng với miếng thức ăn ợ lên, một lượng khí cũng được giải phóng qua miệng và mũi Nhai lại là quá trình tiếp tục nghiền mịn thức ăn, với từ 40 đến 60 chuyển động của hàm dưới trong khoảng 1 phút Sau
đó miếng thúc ăn được nuốt trở lại Mỗi ngày con bò cần chừng 8 giờ để nhai lại, trong đó có tính cả các đợt nghỉ ngoi xen kẽ Thòi gian nhai lại tuỳ thuộc vào loại thức ăn và phương thức chế biến chúng Thức ăn tinh được nhai trong khoảng thòi gian ngắn, nhưng thức ăn thô và cỏ thì được nhai lâu hơn Thông thường, bò sữa cần 30 phút để nhai cỏ khô,
và gần 60 phút để nhai rơm rạ Trong khi đó, nó chỉ tốn từ 5 đến 10 phút để nhai thức ăn tinh và 20 phút đối với thức ăn ủ chua từ cây ngô Đê cho bò sữa nhai lại được tốt, cần bảo đảm cho chúng ở trong trạng thái hoàn toàn yên tĩnh Bất kỳ
một hành động gây xáo trộn nào, đều có thể làm gián đoạn quá trình nhai lại
Các phần tử thức ăn to dầy đèu được nghiền nhỏ gần hết, thành các phần tử mịn Sự phân giải vi sinh vật trong thời
Trang 32gian thức ăn lưu lại ở dạ cỏ làm giảm độ bền của thành tế bào
và giải phóng các phần tử thức ăn Điều đó trợ giúp đắc lực cho việc nhai lại và làm nhuyễn thức ăn Sự nhai, làm thấm ướt và làm nhuyễn mịn thức ăn giữ vai trò quan trọng trong quá trình phân giải các phần tử thức ăn trong thời gian chúng lưu tồn trong dạ cỏ Nhờ việc làm giảm kích thước, tăng mật
độ và sự giải phóng dần dần các thành phần dinh dưỡng, các phần tử thức ăn có nhièu khả năng tách ra khỏi cấu trúc xơ hơn và chìm sâu xuống phần dưới túi bụng dạ cỏ Và từ đây, chúng được đẩy tới dạ tổ ong và sau đó tới lỗ thông giữa dạ
tổ ong và dạ lá sách Việc vơi dần lượng chất chứa trong dạ
cỏ, tạo điều kiện cho bò sữa tiếp tục thu nhận thức ăn và tiêu hoá các phần thức ăn mới
2.1 Tiêu hoá các h ydrat carbon ở dạ cỏ
2.1.1 Tiêu hoấ các chất xơ:
Trong thành phần chất xơ của thực vật có: xenluloza, hemixenluloza, lignin và những họp chất khác thường đi kèm xenluloza Xenluloza và hemixenluloza là thành phần chính của thành tế bào thực vật Chúng liên kết với lignin tạo thành các polime bền vững về lý học và hoá học Trong các chất này thì xenluloza có giấ trị dinh dưỡng chủ yếu, hàm lượng xenluloza trong thức ăn thực vật tương đối cao Cho nên, khí nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến tiêu hoá chất xơ thì người ta thường nói đến sự tiêu hoấ thành phần chủ yếu của nó, đó là xenluloza Hàm lượng chất xơ trong thức ăn thực vật biến động từ 20 đến 45%, tuỳ theo loại, ví dụ, trong
Trang 33thức ăn xanh chiếm 16 - 20%; trong thức ăn ủ tưoi: 22 - 28%; trong cỏ khô và rơm: 28 - 46%
Chất xơ có ý nghĩa sinh lý quan trọng đối với loài nhai lại
vì không những nó là nguồn cung cấp năng lượng, dinh dưỡng, mà còn là nhân tố bảo đảm sự vận động bình thường của dạ dầy trước và tạo khuôn phân trong một già Kết quả phân giải chất xơ tạo thành các axít béo bay hơi, các axít này được hấp thu vào máu, được cơ thể loài nhai lại sử dụng làm nguồn năng lượng và dùng làm chất tiền thân chủ yếu của những thành phần cấu tạo nên sữa Trong một ngày đêm ở dạ
cỏ của bò, lượng axít béo bay hoi được tạo thành có giá trị năng lượng khoảng từ 10.000 đến 15.000 kcal
Khi chất xơ vào dạ cỏ, đòi hỏi phải có một thòi gian nhất định để xử lý như nghiền nát khi nhai lại, ngâm mềm và nhiễm các vi sinh vật, trước khi được lên men, phân giải Khoảng 6 giờ sau khi ăn, quá trình phân giải chất xơ diễn ra mạnh nhất (Hale và cs do N.v Kurilov trích dẫn -1979)
về mặt hoá học, xenluloza là polisacarít, không có tính chất của monosacarít Quá trình phân giải xenluloza diễn ra qua ba bước:
- Xenluloza được phân giải thành các polisacarít ít phức tạp hơn Cấc polisacarít này không thể hoà tan nhưng dễ lên men Quá trình này có thể đựơc gọi là khử trùng hợp, dưới lác động của enzym depolimeraza
Trang 34- Dưới tác dụng của glucozidaza, polisacarít bị phân giải thành oligosacarít và xenlobioza
- Cuối cùng, xenlobioza bị phân giải thành ß glucoza Glucoza lên men tiếp tục theo con đường bình thường thành các axít béo bay hoi
Trong thực tế, sự phàn giải chất xơ không thể xem như biệt lập đối với các quá trình phân giải cấc chất dinh dưỡng khác Bởi vì, vi sinh vật dạ cỏ thực hiện sự phân giải cơ chất này đòi hỏi các chất dinh dưỡng khác cần thiết cho sự sinh trưởng và sinh sản của bản thân chúng Thay đổi tương quan chất xơ, protein, gluxít dễ tiêu, nguyên tố vi lượng và chất khoáng, mỡ và vitamin trong khẩu phần có thể kích thích hoặc ức chế các quá trình tiêu hoá ở dạ cỏ, cũng như mức độ sử dụng chất xơ của bò sữa
Ví dụ: khi thêm đường dễ tan (tinh bột) vào khẩu phần thì tiêu hoá xenluloza trong dạ cỏ giảm Sở dĩ như vậy là vì loại vi sinh vật có khả năng sử dụng đường tăng lên; vi sinh vật này ức chế sự phát triển của vi sinh vật phân giải xenluloza
Một trong những nhân tố quan trọng khác ảnh hưởng xấu đến sự tiêu hoá xenluloza là mức độ lignin hoá của các loại cây thức ăn Cây thúc ăn càng già thì hàm lượng lignin càng tăng và vì vậy, tỷ lệ tiêu hoả xenluloza càng giảm Lignin có liên hệ cấu trúc với xenluloza trong cảc loại cây thúc ăn và là vách ngăn cách tác động của vi sinh vật dạ cỏ đến xenluloza
Trang 35Chính vì vậy, trong thực tế, bất kỳ một tác động nào như nghiền, thái thức ăn thô, xử lý bằng kiềm hoặc axít, bảo quản hoặc ủ turn đều làm cho chúng dễ bị tác động của enzym, và kết quả là nâng cao tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng, trong
đó có sự tiêu hoá chất xơ
2 ỉ.2 Tiêu hoả tinh bột và các loại đường ở dạ cỏ:
Tinh bột là polisacarít dự trữ điển hình của thực vật Nó được tích luỹ ở dạng hạt trong câc cây thân củ, rễ củ và trong các loại hạt ngũ cốc (hàm lượng tinh bột trong ngô chiếm 72%, trong lúa chiếm 80%) Tinh bột gồm hai thành phần chính: amiloza - chất trùng hợp tạo thành từ những mạch thẳng bao gồm từ 200 đến 300 đơn vị glucoza và amilopectin
- có mạch cấu trúc kép với trọng lượng phân tử lớn hơn amiloza Tỷ lệ của hai thành phần này trong tinh bột tuỳ thuộc vào tùng loại cây Tuy nhiên, trong đa số trường hợp
thì amiloza chiếm từ 20 đến 28% và amilopectin chiếm 80 - 72%
Trong dạ cỏ, tinh bột được phân giải dễ dàng hon nhiều so với chất xơ Nguồn gốc và trạng thái lý học của tinh bột có
ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ phân giải Tinh bột ngô được
phân giải nhanh hon nhiều so với tinh bột khoai tây Tốc độ
riêu hoá tinh bột khoai tây tăng lên khi nghiền nhỏ hoặc nấu
dán làm cho hạt bị phân huỷ và vi sinh vật dễ tấn công, sử
dọng.
Trang 36Dưới tác dụng của enzym vi sinh vật trong dạ cỏ, tinh bột được thuỷ phân dần dần tạo thành các dextrin phức tạp khác nhau, từ các dextrin tiếp tục hình thành mantoza, sau đó là glucoza, các axit béo bay hoi và không bay hoi Quá trình phân giải tinh bột và những polisacarit khấc trong dạ cỏ tạo thành một số đường (các gluxit hoà tan) Các loại đường này cũng chứa trong các loại thức ăn thực vật và có thể chiếm tói 30% Đường bị chuyển hoá tích cực ở dạ cỏ bởi cấc vi khuẩn
và các động vật nguyên sinh Chuyển hoá đường và tinh bột
là một quá trình phức tạp, có kèm theo sự sinh trưởng của nhiều vi sinh vật dạ cỏ Chúng có vai trò to lớn là dùng làm
cơ chất cho quần thể vi sinh vật dạ cỏ Chính vì vậy, việc sử dụng chúng trong khẩu phần thức ăn bò sữa là nhân tố quan trọng duy trì tình trạng tốt của khu hệ vi sinh vật Kết quả là vừa bảo đảm súc khoẻ vật nuôi, vừa bảo đảm năng suất cao
*
* *Giữa động vật dạ dầy đơn và động vật dạ dầy kép có một sự khác biệt quan trọng trong quá trình tiêu hoá các hydrat carbon: ở động vật dạ dầy đơn, glucoza là sản phẩm cuối cùng của quá trình phân giải, được cơ thể hấp thu vào máu, trong khi đó, ở động vật dạ dầy kép, glucoza
lắ sản phẩm trung gian và còn tiếp tục được phân giải đến những sản phẩm cuối cùng là các axit béo bay hơi (xem hình 5):
Trang 37XENLUL02A TINH BỘT SACCAROZA
AãJ Butyric Axit Valeric
Hình 5 - Quá trình tiêu hoá hydrat carbon trong dạ cỏ
Các sản phẩm chủ yếu của quá trình tiêu hoâ các hydrat
thấp (axit acetic, axit propionic, axit butyric) và một số axit
béo bay hoi bậc cao Lượng axit béo bay hoi này rất lớn
sũa được nuôi dưỡng đúng đắn, mỗi ngày tạo ra 2,8kg các
Trang 38axít béo bay hoi và 400 g vi sinh vật Trong số các axit béo bay hoi thì l,6kg là axít acetic; 0,6kg là axít propionic; 0,45kg là axít butyric và 0,15kg là các loại axít bậc cao
Tại các vùng ôn đới, với nhiệt độ môi trường biến động từ
15 - 18°c, một con bò sữa được nuôi dưỡng hợp lý mỗi ngày
có thể sản xuất ra 3kg các axít béo bay hoi và 500 g vi sinh vật (Paul Pozy-1998) Điều này giải thích tại sao sản lượng sữa ở môi trường nhiệt đới lại luôn luôn thấp hơn so với sản lượng sữa ở các vùng ôn đới Tuy nhiên, nồng độ chung của axit béo bay hơi, và số lượng của từng loại còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như thành'phần của khẩu phần, thời gian
đã qua sau khi cho bò ăn Thông thường, axit acetic chiếm
50 - 70% tổng lượng axit béo bay hơi trong dạ cỏ và có nhiều nhất khi ăn cỏ khô Khi cho bò ăn khẩu phần giầu tinh bột và đường sẽ tạo ra nhiều axit propionic Còn khi trong khẩu phần giàu protein thì sự tạo thành axit butyric tăng lên, còn axit acetic và propionic, giảm xuống Theo tài liệu của Balch (N.V.Kurilov và cs trích dẫn -1979) thì trong một ngày đêm, lượng axit béo bay hơi trong dạ cỏ của bò sữa có thể đạt tới 4,5kg
Các sản phẩm của quá trình lên men hydrat carbon trong
dạ cỏ được sử dụng khác nhau:
* Axít acetic (CH3-CO O H) được bò sữa sử dụng để sản xuất ra các loại mỡ: là nguyên liệu để hình thành mỡ sữa, ngoài ra, nó được huy động để hình thành mô mỡ và được chuyển hoá dưới dạng năng lượng dự trữ
Trang 39* Axit propionic (CH3-CH2-COOH) được chuyển đến gan, tại đây nó được chuyển hoá thành đường glucoza Từ gan nó
sẽ được huy động đưa vào mấu, nhằm bảo đảm sự ổn định nồng độ glucoza huyết Đường glucoza còn được bò sữa sử dụng để hình thành đường lactoza trong sữa
* Axít butyric (CH3-CH2-CH2-COOH) là nguồn cung cấp năng lượng cho khu hệ vi sinh vật trong dạ cỏ, nhưng cũng chỉ được sử dụng sau khi chính bò sữa đã hấp thu loại axít béo bay hoi này Nó cũng có thể được chuyển hoá dễ dàng thành xeton, gây độc hại cho bò sữa
* Các axít bậc cao là các axit có mạch dài trên C4, được
sử dụng như là nguồn thức ăn cho các vi sinh vật, chúng được
sử dụng như một thành phần để cấu tạo nên các chất phức hợp của cơ thể vi sinh vật mà bò sữa sẽ sử dụng sau này, thông qua quá trình tiêu hoá các vi sinh vật
Hoạt động của vi khuẩn trên cơ chất xenluloza và các loại tinh bột thường kèm theo việc giải phóng ra khối lượng khổng lồ các thể khí, chủ yếu là C 0 2 và CH4 (métan) Các thể khí này không được bò sữa lợi dụng, mà chúng đều được thải
ra ngoài cơ thể Bò sữa thải khí thông qua quá trình thải cưỡng bức và được thực hiện hoàn chỉnh song song vói quá trình ợ các miếng thức ăn từ dạ cỏ lên miệng để nhai lại Theo tính toán, hàng ngày một con bò sữa có thể loại thải tới khoảng 300 lít khí métan và một lượng nào đó khí carbonic
Trang 402.2 Tiêu hoá các chất chúa nitơ và sự tổng họp protein
ở dạ cỏ
ở dạ cỏ có quá trình phân giải protit thực vật và động vật thành peptit, axit amin và amoniac, đồng thời có quá trĩnh tổng hợp protít vi sinh vật có giá trị sinh học cao Vai trò chủ yếu của dạ cỏ trong quá trình tiêu hoá các chất chứa nitơ là
sự biến dạng hoặc bổ sung thành phần axit amin chứa trong protít, cũng như biến đổi số lượng nitơ cung cấp cho bò sữaProtít thực vật có một phần hoà tan nhưng có cả một phần tưong đối khó hoà tan Hàm lượng protein thô (hỗn hợp nitơ protít và phi protít) trong các thức ăn thực vật biến động từ 4% đến 30% Trong đó nitơ phi protít chiếm 10 -30% nitơ tổng số Nitơ phi protít của thức ăn bao gồm các axit amin tự
do, axit nucleic, các gốc purin, pirimidin, peptít, urê, nitrat và amoniac Thực vật càng già thì lượng nitơ tổng số và nitơ phi protít càng giảm
Trong khẩu phần loài nhai lại thường có cả những loại thức ăn giầu protít khác như bã đậu, khô dầu, bột cá, hạt ngũcốc Hàm lượng protít và giá trị của chúng trong nhũngthức ăn này biến động rất lớn
Quá trình tiêu hoá protít trong dạ cỏ diễn ra như sau:
Ban đầu các vi sinh vật tấn công, phân giải protít của thức
ăn thành các axit amin Các axit amin được các nhóm vi sinh