Từ việc nhận thức sự cần thiết của dự toán ngân sách và xem xét những yếu tố nào sẽ tác động đến dự toán ngân sách trong bối cảnh hiện nay, tác giả đã chọn đề tài : “Các nhân tố ảnh hưởn
Lý do thực hiện đề tài
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi hoạt động cũng đều có mục tiêu cần hướng đến, để đạt được mục tiêu đó doanh nghiệp cần thực hiện thông qua các kế hoạch ngắn hạn và kế hoạch dài hạn Để thực hiện các mục tiêu và kế hoạch đã đặt ra, cần thiết phải có nguồn lực, nghĩa là doanh nghiệp phải lập dự toán Dự toán là một công cụ, một phương tiện để thiết lập mối quan hệ phù hợp giữa các mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn của doanh nghiệp Có thể nói việc lập dự toán là một nội dung quan trọng trong công tác tài chính cũng như sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp Để có thể vững vàng và nâng cao năng lực cạnh tranh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có kế hoạch sản xuất và kế hoạch chi tiêu tài chính phù hợp Việc lập dự toán là công cụ quản lý khoa học nhằm làm hiểu rõ ưu điểm, nhược điểm, cắt giảm chi phí, tận dụng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp
Dự toán ngân sách là một kế hoạch chi tiết, việc cụ thể hóa kế hoạch chiến lược trong từng kỳ hoạt động trong ngắn hạn Mục đích chủ yếu của dự toán ngân sách là hỗ trợ nhà quản trị trong việc hoạch định và kiểm soát các hoạt động tại đơn vị Dự toán ngân sách buộc các nhà quản trị phải hoạch định để xử lý trước các vấn đề có thể xảy ra, giúp cho việc kiểm soát các hoạt động của đơn vị vì nó yêu cầu các nhân viên thực hiện những gì đã đề ra Dự toán giúp cho các nhà quản trị giải thích những khoản chênh lệch giữa thực tế so với dự toán, khuyến khích các nhà quản trị các cấp và nhân viên trong đơn vị cố gắng để thực hiện các chỉ tiêu dự toán đã đề ra
Dự toán ngân sách là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị và là công cụ hữu hiệu đang được các doanh nghiệp áp dụng để kiểm soát ngân sách, theo dõi kế hoạch nhằm tăng lợi nhuận tối ưu Bên cạnh đó, xây dựng dự toán ngân sách là một công việc quan trọng trong việc lập kế hoạch đối với hoạt động kinh tế bao gồm cả doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và cả cá nhân Đây là một công cụ quản lý của doanh nghiệp, giúp đơn vị xác định các mục tiêu, các chiến lược, xác định doanh hợp lý mà còn giúp doanh nghiệp xác định các cơ hội và mối đe dọa tiềm ẩn có thể xảy đến trước khi nó trở nên quá muộn, và cũng như có thể tìm ra giải pháp để giải quyết hoặc ngăn ngừa trước khi xảy ra Ngoài ra, xây dựng dự toán ngân sách cũng là một công cụ có vai trò quan trọng trong việc phối hợp nỗ lực của các thành viên trong doanh nghiệp để đạt mục tiêu chung của tổ chức
Theo Horngren (2002) cho rằng ngân sách là một tập hợp các kế hoạch liên kết với nhau để mô tả định lượng các hoạt động dự kiến trong tương lai của một đơn vị Theo Hansen và Mowen (2004) cho rằng để thu được lợi ích từ việc lập kế hoạch và thực hiện dự toán thì các tổ chức lợi nhuận và phi lợi nhuận đều thực hiện việc lập dự toán Theo Blocher và cộng sự (2010) cho rằng việc lập dự toán ngân sách là giúp cho việc thực hiện kế hoạch và kiểm tra hoạt động kinh doanh, để từ đó mà người quản lý đạt được mục tiêu của đơn vị đã đặt ra
Dự toán ngân sách đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho những nhà quản lý thực hiện các chức năng quản lý của đơn vị, cung cấp thông tin giúp dự tính các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai để chuẩn bị cho các giải pháp đối phó kịp thời và điều phối giúp phối hợp và thúc đẩy hoạt động của các bộ phận hướng đến việc thực hiện mục tiêu chung của đơn vị được tốt hơn Dự toán ngân sách là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý ngân sách, chất lượng của dự toán ảnh hưởng rất lớn đến các khâu tiếp theo là thực hiện dự toán và quyết toán ngân sách Do đó, để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thì các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước đều phải chú trọng và chủ động xây dựng dự toán ngân sách kịp thời, đúng quy định sát với thực tiễn hoạt động của cơ quan, đơn vị mình Nguồn kinh phí từ Ngân sách Nhà nước (NSNN) đóng vai trò rất quan trọng để duy trì bộ máy quản lý Nhà nước, là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô, nhằm ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy tăng trường kinh tế
Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước là khâu tài chính tập trung quan trọng nhất, là kế hoạch tài chính cơ bản, tổng hợp của Nhà nước, là công cụ trong việc điều tiết kinh tế vĩ mô, định hướng phát triển xã hội Có thể thấy vai trò của ngân sách nhà nước vô cùng quan trọng trong việc điều tiết và quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội vì vậy, cần phải có sự cân bằng trong thu chi ngân sách, việc dự toán ngân sách tỏ ra vô cùng cần thiết Một nước có nguồn ngân sách ổn định, rõ ràng sẽ đảm bảo và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Việc lập dự toán ngân sách sẽ thể hiện được tổng hòa quan điểm, đường lối, chiến lược và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước, thiết lập kỷ luật tài khóa về thu chi và cân đối ngân sách Dự toán ngân sách là một nghiệp vụ quan trọng không chỉ với nhà nước mà còn với toàn bộ cá nhân, tổ chức kinh doanh trong việc quản trị, thiết lập chiến lược kinh doanh Đối với Sở GTVT tỉnh Bình Dương là đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh Bình Dương, thì việc lập dự toán ngân sách giúp cho những nhà quản lý của đơn vị và là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý ngân sách, chất lượng của dự toán ngân sách ảnh hưởng rất lớn đến các khâu tiếp theo là thực hiện dự toán và quyết toán ngân sách
Từ việc nhận thức sự cần thiết của dự toán ngân sách và xem xét những yếu tố nào sẽ tác động đến dự toán ngân sách trong bối cảnh hiện nay, tác giả đã chọn đề tài : “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ngân sách tại Sở
Giao thông vận tải tỉnh Bình Dương” nhằm hướng đến mục tiêu giúp xây dựng hệ thống báo cáo dự toán ngân sách phù hợp với tình hình thực tiễn của đơn vị, phản ánh đúng tiềm năng, là công cụ hữu ích cho việc nâng cao chất lượng quản lý điều hành các hoạt động trong giai đoạn hiện nay.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Đề tài đưa ra nhằm mục tiêu đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ngân sách tại Sở GTVT tỉnh Bình Dương
- Mục tiêu cụ thể: Nghiên cứu này nhằm đáp ứng các mục tiêu cụ thể như sau:
+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ngân sách tại Sở GTVT tỉnh Bình Dương
+ Đánh giá, đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ngân sách tại Sở GTVT tỉnh Bình Dương
+ Đề xuất những giải pháp trong việc lập dự toán ngân sách.
Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi 1: Các nhân tố nào ảnh hưởng đến việc lập dự toán ngân sách tại
Sở GTVT tỉnh Bình Dương
- Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến lập dự toán ngân sách tại Sở GTVT tỉnh Bình Dương
- Câu hỏi 3: Cần làm gì để nâng cao việc lập dự toán ngân sách tại Sở GTVT tỉnh Bình Dương.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp: phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng
- Nghiên cứu định tính: Xây dựng thang đo bằng cách khảo sát và đánh giá sơ bộ thang đo của các biến nghiên cứu, phân tích lý thuyết các nghiên cứu trong nước và ngoài nước đến dự toán ngân sách
- Nghiên cứu định lượng: Xây dựng bảng khảo sát câu hỏi với năm biến độc lập (Phong cách lãnh đạo; quy trình lập dự toán; trình độ nhân lực tham gia dự toán; chế độ chính sách nhà nước; công tác kế toán) và biến phụ thuộc (công tác dự toán ngân sách tại Sở GTVT tỉnh Bình Dương), sử dụng thang đo Likert 05 mức độ, đối tượng khảo sát là cấp lãnh đạo và nhân viên các đơn vị trực thuộc Sở GTVT tỉnh Bình Dương, kích thước mẫu là 150 Sử dụng phần mềm SPSS chạy mô hình hồi quy đa biến; kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha; phân tích nhân tố khám phá EFA.
Ý nghĩa nghiên cứu
Nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở lý thuyết liên quan đến dự toán ngân sách, đồng thời nghiên cứu cũng góp phần tìm ra các nhân tố, xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến việc lập dự toán ngân sách tại Sở GTVT tỉnh Bình Dương Kết quả nghiên cứu giúp việc xây dựng dự toán ngân sách trở nên khoa học và sát với thực tiễn hơn, nhằm đảm bảo tất cả các thông tin trên báo cáo dự toán ngân sách là phù hợp với thực tế, phản ánh đúng nhu cầu của đơn vị, để từ đó có căn cứ đề xuất các kiến nghị giúp cho đơn vị xây dựng cơ chế quản lý tài chính thuận tiện và hiệu quả thông qua việc lập dự toán ngân sách, thiết lập được căn cứ để đánh giá trách nhiệm quản lý của đơn vị, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách của đơn vị đúng mục tiêu của dự toán Nghiên cứu cũng là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho các tác giả hoặc nhà nghiên cứu khi thực hiện các nghiên cứu tiếp theo liên quan đến đề tài này.
Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao gồm 5 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách.
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Các nghiên cứu nước ngoài
Chương 1 giới thiệu một cách khái quát các nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài trên thế giới cũng như ở Việt nam, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau về công tác lập dự toán ngân sách Chương này, tác giả sẽ thực hiện việc phân tích, đánh giá các nghiên cứu đã thực hiện có liên quan đến đề tài nghiên cứu, qua đó xác định khoảng trống nghiên cứu và đưa ra các định hướng nghiên cứu sau:
Nghiên cứu của Silva, L.M.D, Jayamaha, A (2012) “Budget Process and organisational performance of apparel Industry in Sri Lanka” Journal of
Emerging Trends in Economics and Management Sciences (JETEMS) 3(4): 356-
36 Theo báo cáo này quy trình ngân sách là một phần của hệ thống kiểm soát quản lý của tổ chức, quá trình này khuyến khích các nhà quản lý lập kế hoạch, xem xét các bên có liên quan, cung cấp thông tin để cải thiện việc ra quyết định, tăng cường giao tiếp và phối hợp giữa các bộ phận và để đánh giá Bài báo này nhằm đánh giá quy trình ngân sách của ngành may mặc ở Sri Lanka (BPA) và xem liệu quy trình ngân sách có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của ngành đó hay không Quy trình ngân sách của ngành may mặc được đánh giá bằng cách sử dụng các biến số như lập kế hoạch, điều phối, kiểm soát, truyền thông và đánh giá Hoạt động của ngành may mặc ở Sri Lanka được kiểm tra bằng cách sử dụng tỷ lệ hoàn vốn trên tài sản, dựa trên dữ liệu trích xuất từ báo cáo tài chính của ngành may mặc, hệ số tương quan và phân tích hồi quy cho thấy quy trình ngân sách có mối liên hệ đáng kể với hoạt động tổ chức của ngành may mặc ở Sri Lanka Điều này xác nhận rằng các công ty may mặc hiệu quả duy trì quy trình ngân sách hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức
Nghiên cứu của Talebnia và cộng sự (2012), mô hình lập dự toán trên kết quả hoạt động (PBB) là một nghiên cứu điển hình về việc thực hiện chính sách đổi mới (PBB) tại Iran xét trên 3 giai đoạn: hoạch định chính sách (12 biến quan sát), thực hiện (6 biến quan sát) và giám sát (5 biến quan sát) Talebnia và cộng sự (2012) đã tiến hành nghiên cứu từ kinh nghiệm thực hiện của Úc, New Zealand, Đan Mạch,
Ba Lan, sau đó tiến hành phỏng vấn chuyên gia và phát phiếu điều tra Kết quả tổng hợp có 23 nhân tố được phân nhóm vào 3 giai đoạn: hoạch định chính sách, thực hiện và kiểm soát Kết quả điều tra các nhân tố có tác động đến giai đoạn thực hiện PBB gồm: thiết lập hệ thống pháp luật; xây dựng chuẩn mực kế toán và kế toán dồn tích; tăng cường tính linh hoạt cho các nhà quản lý; khả năng nguồn lực kinh tế; sự hỗ trợ thông qua hệ thống khen thưởng và trừng phạt; thay đổi văn hóa; các vấn đề về đào tạo Các nghiên cứu này đã góp phần cung cấp thêm nhiều cơ sở chứng minh cho sự tác động của nhân tố sự hỗ trợ của tổ chức, thẩm quyền áp dụng và khả năng áp dụng của thể chế về việc áp dụng PBB, đồng thời đưa ra các nhận định rằng các yếu tố quản lý có tác động khá quan trọng vào việc sử dụng thông tin kết quả hoạt động phục vụ cho việc lập dự toán, và việc lập dự toán phải được định hình bởi những nhà quản lý Do đó, chỉ khi các đơn vị được quản lý dựa trên thông tin về kết quả hoạt động thì họ sẽ lập dự toán phân bổ nguồn lực theo kết quả hoạt động là điều kiện tiên quyết và là công cụ để thực hiện PBB
Nghiên cứu của Beatrice Njeru Warue and Thuo Vivian Wanjira (2013)
“Asseessing budgeting process in small and medium enterprises in Nairobi’s central business district: A case of Hospitality in dustry” International Journal of
Information Technology anh Business Management 29 th September 2013 Vol.17 No.1 Nghiên cứu này đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lập ngân sách giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SEMs) trong ngành khách sạn ở khu trung tâm thương mại của Nairobi (CBD) Nghiên cứu sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng để thu thập dữ liệu, các tác giả đã gửi phiếu khảo sát với các câu hỏi liên quan đến các biến nghiên cứu theo dạng thang đo Likert 5 mức độ, dữ liệu được phân tích bằng cách sử dụng phân tích dữ liệu bảng, đồng thời xác định kích thước mẫu chính xác của nghiên cứu gồm 526 doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành khách sạn ở khu vực trung tâm Từ kết quả nghiên cứu trên đã góp phần vào quá trình lập ngân sách và hiệu quả quản lý chung của các DNNVV Đồng thời, nghiên cứu này đưa ra một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả của quá trình lập dự toán ngân sách có liên quan đến sự tham gia của người lao động ở các cấp ngân được cải thiện liên tục, ưu tiên công nghệ thông tin vì có đóng góp nhiều vào quy trình ngân sách Kết quả nghiên cứu về các nhân tố và mức độ tác động của các nhân tố đến quy trình lập dự toán ngân sách bao gồm: Quy mô; hệ thống kế toán vi tính hóa; sự tham gia của người lao động; kỹ năng và quyền hạn của người quản lý; cơ cấu sở hữu
Nghiên cứu của Okpanachi Joshu, N Moahammed (2013), “Budget target seeting and efftive performance measurement in Nigerian hospitality industry”
Journal of Finance & Economics 1 (3), 39-50 Bài báo này đã đánh giá vai trò của việc thiết lập mục tiêu ngân sách trong việc thực hiện hiệu quả đo lường trong ngành khách sạn Nigeria Đối tượng nghiên cứu khảo sát bao gồm tất cả các cán bộ quản lý, kế toán, tài vụ và tài chính, nhân sự và các chủ khách sạn khác của các khách sạn nằm ở bang Kaduna Cỡ mẫu bao gồm 50 người trả lời được rút ra từ 10 khách sạn được chọn sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện, theo đó chỉ những khách sạn có các nhà quản lý sẵn sàng tham gia vào nghiên cứu đã được chọn Phương pháp chính của dữ liệu được sử dụng cho nghiên cứu này là quản lý bảng câu hỏi Tổng cộng có 50 bảng câu hỏi đã được phân phát cho những người trả lời, và thu được 46 câu trả lời Bài báo nhận thấy rằng việc thiết lập mục tiêu ngân sách trong ngành khách sạn ở bang Kaduna không được rõ ràng và tập trung, tromg khi ngân sách thiết lập mục tiêu là một công cụ hữu hiệu để đánh giá hiệu quả hoạt động của các cá nhân và đơn vị trong ngành công nghiệp khách sạn Do đó, được khuyến nghị rằng ban quản lý khách sạn nên thực hiện những nổ lực cần thiết để tăng cường quá trình xây dựng ngân sách của họ, và thiết lập mục tiêu đặt ra có thể đạt được
Nghiên cứu của Isaac, L., Lawal, M., Okoli, T (2015) “A Systematic Review of Budgeting and Budgetary Control in Government Owned Organizations”
Research Juornal of Finance and Accounting Vol 6(6):1-11 Nghiên cứu này là thực hiện đánh giá một cách có hệ thống về ngân sách và kiểm soát ngân sách trong các tổ chức thuộc sở hữu của Chính phủ Việc phân tích và giải thích dữ liệu thu được từ cả dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp được xem xét để trả lời các câu hỏi thích hợp được nêu ra trong nghiên cứu này Từ tất cả các vấn đề được nêu ra và được xem xét trong nghiên cứu này, có thể suy ra rằng đối tượng lập ngân sách và kiểm soát ngân sách là một vấn đề quan trọng trong việc tạo ra ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến bất kỳ các tổ chức (đặc biệt là trong các doanh nghiệp thuộc sỡ hữu của Chính phủ) Kết quả phân tích cho thấy: (i) Hầu hết những người được hỏi đều đồng ý rằng ngân sách là phương tiện hữu hiệu để lập kế hoạch hoạt động kinh doanh trong bấy kỳ tổ chức (dù là tư nhân hay công cộng); (ii) Người ta phát hiện ra rằng hiệu suất thực tế của một tổ chức có mối tương quan trực tiếp với ngân sách được lập trong một kỳ kế toán nhất định; (iii) Có sự đồng thuận chung rằng kiểm soát ngân sách hỗ trợ quản lý trong việc ra quyết định đúng đắn và tạo cơ sở cho các hoạt động của tổ chức có hiệu lực và hiệu quả; (iv) Các biện pháp kiểm soát việc thực hiện ngân sách đóng vai trò là một kiểm tra liên quan đến hoạt động của tổ chức; (v) Có một ý kiến thống nhất không kém rằng việc chuẩn bị ngân sách hỗ trợ trong việc kiểm soát chi phí hiệu quả, đặc biệt là trong các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Chính phủ; (vi) Chuẩn bị ngân sách và dự phòng ngân sách phản ánh mô hình tổ chức làm việc; (vii) Lập kế hoạch không đầy đủ bởi các ủy ban ngân ách và cán bộ ngân sách (tùy thuộc vào loại hình tổ chức) chịu trách nhiệm chính về sự chênh lệch và chênh lệch trong hiệu suất ngân sách; (viii) Lập ngân sách và kiểm soát ngân sách là một công cụ thực sự ràng buộc các nhà quản lý và chiến lược quản lý để suy nghĩ và lập kế hoạch đầy đủ cho tương lai của tổ chức; (ix) Một quy trình ngân sách là tốt là để phân bổ nguồn lực cho các bộ phận đó của tổ chức được sử dụng một cách hiệu quả; (x) Điều kiện cần và đủ để thực hiện hiệu quả ngân sách và đạt được ngân sách kiểm soát là một việc thực hiện có mục đích và sự trung thành của tất cả các cán bộ có trách nhiệm
Nghiên cứu của Zweni, A.G (2017) “Factors affecting management of budgets at a deparment in the Western Cape government, South Africa” Doctoral dissertation, Cape Peninsula University of Technology Theo nghiên cứu này ngân sách là công cụ chiến lược tất yếu được sử dụng trong việc lập kế hoạch phân phối hiệu quả của bất kỳ tổ chức nào Để xác định mức độ tham gia của các nhà quản lý ngân sách trong việc phát triển các quy trình ngân sách thì nghiên cứu này đánh giá tác động của đào tạo đối với các quy trình lập ngân sách và mức độ có thể thực hiện, đồng thời xác định các yếu tố hỗ trợ cũng như những hạn chế mà nhà quản lý gặp phải trong việc sử dụng ngân sách Nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi khảo sát là công cụ để thu thập dữ liệu đã được phân tích bằng bảng tính excel và các phát hiện đã được giải thích Các phát hiện cho thấy các yếu tố khiến các nhà quản lý thực hiện không hiệu quả việc quản lý ngân sách trong bộ phận, từ đó đưa ra các khuyến nghị liên quan để quản lý ngân sách hiệu quả hơn
Nghiên cứu của Mwasi, R.M (2017) “Factors Affecting Budget Preparation
A Case Study of USIU-Africa” Doctoral dissertation, United States International
University-Africa Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng, khảo sát ở khu vực công Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuẩn bị ngân sách và nó được hướng dẫn bởi các mục tiêu nghiên cứu sau đây Để xác định các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến việc chuẩn bị ngân sách, xác định các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến việc chuẩn bị ngân sách của tổ chức, điều tra những thách thức trong việc chuẩn bị ngân sách và xác định những gì có thể được thực hiện để tăng cường chuẩn bị ngân sách Nghiên cứu sử dụng một cuộc khảo sát mô tả và dân số do cán bộ nghiên cứu của Đại học Quốc tế Châu Phi Hoa Kỳ có trụ sở tại tất cả các khoa Do đó, nghiên cứu tập trung vào khoảng 38 phòng ban có kiến thức về chuẩn bị ngân sách, tuy nhiên chỉ có 30 người trả lời với tỷ lệ phản hồi là 79% Dữ liệu được thu thập thông qua việc quản lý bảng câu hỏi cho những người có liên quan, dữ liệu đầu tiên được nhập và mã hóa trong excel trước khi xuất sang SPSS để phân tích, kết quả được trình bày dưới dạng hình và bảng Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến việc lập dự toán ngân sách gồm: điều kiện kinh tế; lạm phát; biến động nhu cầu thị trường; công nghệ; chính sách tài trợ và các yếu tố bên trong tổ chức như: sự sẵn có của nguồn tài chính; năng lực của nguồn nhân lực; yếu tố quản lý; sự tham gia của cả nhân viên và các bên liên quan khác; lập kế hoạch phù hợp; theo dõi và đánh giá động lực của nhân viên có ảnh hưởng đến lập dự toán ngân sách của tổ chức.
Các nghiên cứu trong nước
Hồ Xuân Hữu (2009), “Hoàn thiện dự toán ngân sách tại Công ty cổ phần bánh kẹo Phạm Nguyên” Tác giả đi vào phương pháp mô tả lại quy trình lập dự toán và các báo cáo dự toán tại Công ty cổ phần bánh kẹo Phạm Nguyên Từ đó, đánh giá ưu nhược điểm thực trạng công tác lập dự toán còn tồn tại và đề xuất cácgiải pháp hoàn thiện quy trình lập dự toán tại Công ty như: cơ cấu tổ chức và quy trình quản lý, loại dự toán và mô hình dự toán, quy trình dự toán, phương pháp dự báo
Chu Hoàng Minh (2015), “Các yếu tố ảnh hưởng tới dự toán ngân sách của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh” Thông qua việc tìm hiểu tài liệu và thảo luận nhóm, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến dự toán ngân sách của các DNNVV bao gồm
8 yếu tố: (1) Quản lý cấp cao của doanh nghiệp, (2) Nguồn nhân lực thực hiện dự toán ngân sách, (3) Cơ sở vật chất, (4) Chế độ chính sách pháp lý của Nhà nước, (5)Tổ chức công tác kế toán tại doanh nghiệp, (6) Quy trình thực hiện dự toán tại doanh nghiệp, (7) Hợp tác truyền thông trong quá trình dự toán và (8) Kiểm soát quá trình dự toán Sau quá trình thực hiện nghiên cứu, đề tài đã hoàn thành các mục tiêu đề ra: khái quát các khái niệm, lý thuyết và các nghiên cứu về dự toán ngân sách Tiến hành khảo sát, phân tích, xây dựng mô hình nghiên cứu, xác định và đánh giá được các nhân tố tác động đến dự toán ngân sách (DTNS) của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Tp Hồ Chí Minh Các yếu tố đều có tác động dương lên dự toán ngân sách của các DNNVV tại Tp Hồ Chí Minh Trong đó, Ban Quản lý cấp cao (= 0.347) là nhân tố tác động lớn nhất, tiếp đến là kiểm soát quá trình dự toán (= 0.3), nguồn nhân lực thực hiện dự toán (= 0.251), quy trình dự toán (= 0.237), thông tin môi trường của doanh nghiệp (= 0.179), tổ chức kế toán (= 0.153), tiếp đến là cơ sở vật chất (= 0.151) và cuối cùng là hợp tác truyền thông (= 0.149) Tuy nhiên, luận văn vẫn còn một vài hạn chế: tác giả sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện để chọn mẫu khảo sát phục vụ cho nghiên cứu này, đây là phương pháp chọn mẫu phi xác suất Phương pháp này chỉ chọn các đối tượng mà tác giả có thể tiếp cận được dễ dàng, điều này đã làm hạn chế cho nghiên cứu vì kết quả nghiên cứu không tổng quát hóa cho đám đông Hạn chế thứ hai: Do thời gian nghiên cứu có giới hạn nên tác giả chỉ khảo sát ý kiến của 200 chính xác ảnh hưởng của các nhân tố đến dự toán ngân sách của DNNVV tại khu vực Tp Hồ Chí Minh Hạn chế thứ ba: Tác giả mới chỉ xét tổng quát tác động của các nhân tố tới DTNS của DN mà chưa đi sâu vào phân tích tác động của DTNS tới hiệu quả của các DNNVV (như hiệu quả tài chính, hiệu quả quản trị, hiệu quả ngân sách của doanh nghiệp) Đồng quan điểm là Nghiên cứu của Trần Quang Hoàng (2016) “Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác lập dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn TP Hồ Chí Minh”, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác lập dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn TP Hồ Chí Minh bao gồm: (1) Kế hoạch chiến lược, (2) Nhận thức và yêu cầu của nhà quản lý, (3) Trình độ năng lực lập dự toán, (4) Cơ sở vật chất, (5) Công tác kế toán, (6) Quy trình dự toán, (7) Chế độ chính sách nhà nước Bằng phương pháp định lượng nghiên cứu giải quyết hai mục tiêu xác định các nhân tố và mức độ tác động đến công tác lập dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn TP Hồ Chí Minh Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu lựa chọn phạm vi bao gồm các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp trong đó nghiên cứu định tính nhằm nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến lập dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và nghiên cứu định lượng đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến lập dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứucho thấy nhân tố nhận thức và yêu cầu của nhà quản lý ảnh hưởng mạnh nhất đến công tác dự toán ngân sách với Beta = 0,514; nhân tố Kế hoạch chiến lược ảnh hưởng mạnh thứ hai với hệ số Beta
= 0.23; nhân tố trình độ năng lực lập dự toán ảnh hưởng mạnh thứ ba với hệ số Beta = 0.168; nhân tố tiếp theo cơ sở vật chất ảnh hưởng thứ tư với hệ số Beta 0.117; nhân tố quy trình dự toán ảnh hưởng thứ năm với hệ số Beta = 0.052 và nhân tố công tác kế toán ảnh hưởng thấp nhất với hệ số Beta = 0,033 ảnh hưởng tới công tác lập báo cáo dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn TP.HCM
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Liêm (2018) “Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp thương mại ở Tp Hồ Chí Minh”
Nghiên cứu này trình bày tổng quan những nghiên cứu liên quan trên thế giới và ở Việt Nam làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu Tiếp đó, tác giả nêu những nội dung liên quan đến cơ sở lý thuyết về dự toán ngân sách và các mô hình dự toán ngân sách và các lý thuyết nền Tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu và các nhân tố tác động đến công tác dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp thương mại
Tp Hồ Chí Minh, đánh giá mức độ tác động của từng nhân tố thông qua kết quả kiểm định các thang đo các biến trong mô hình nghiên cứu Kết quả hồi quy cho thấy 5 nhân tố: cơ cấu sở hữu, phong cách lãnh đạo, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán, quy mô công ty và tham gia dự toán ngân sách của người lao động đều có ảnh hưởng cùng chiều đến công tác dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp thương mại Tp Hồ Chí Minh Từ đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp thương mại Tp Hồ Chí Minh
Nghiên cứu của Phan Mỹ Duyên (2018) “Tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc: vai trò của sự hợp lý trong dự toán, sự cam kết với mục tiêu dự toán và sự phản hồi dự toán” Nghiên cứu này kiểm định tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc thông qua sự hợp lý trong dự toán và sự cam kết với mục tiêu dự toán; sự tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc thông qua sự phản hồi dự toán của các nhà quản trị ở các doanh nghiệp tại Việt Nam Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu đã được kiểm định bằng phần mềm Smart PLS3 với 270 phản hồi phù hợp từ các nhà quản trị cấp cơ sở và nhà quản trị cấp trung có ít nhất 2 năm kinh nghiệm trong lập dự toán ngân sách và đang làm việc trong các doanh nghiệp tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Sự tham gia vào dự toán ngân sách có tác động dương đến sự hợp lý trong dự toán; (2) Sự hợp lý trong dự toán có tác động dương đến sự cam kết với mục tiêu dự toán; (3) Sự cam kết với mục tiêu dự toán có tác động dương đến kết quả công việc; (4) Sự tham gia vào dự toán ngân sách có tác động dương đến sự phản hồi dự toán; (5) Sự phản hồi dự toán hầu như không có tác động đến kết quả công việc Kết quả nghiên cứu đem lại một số hàm ý lý thuyết và hàm ý thực tiễn cho các nhà quản trị của các doanh nghiệp tại Việt Nam với mục tiêu chung là nâng cao kết quả công việc và hiệu suất quản lý của nhà quản trị trong điều kiện môi trường kinh doanh khắc nghiệt
Nghiên cứu của Đinh Nguyễn Trần Quang và Nguyễn Phong Nguyên (2018),
“Tác động của sự hợp lý trong dự toán ngân sách đến kết quả công việc của nhà quản trị ở các doanh nghiệp Việt Nam” Tạp chí nghiên cứu kinh tế và kinh doanh
Châu Á, năm thứ 29 (8), tháng 8/2018, trang 36-53 Nghiên cứu này kiểm định tác động của sự cảm nhận về sự hợp lý trong dự toán ngân sách và sự tham gia vào dự toán ngân sách đến kết quả công việc của các nhà quản trị ở các doanh nghiệp tại Việt Nam Mô hình và giả thuyết nghiên cứu đã được kiểm định bằng Smart PLS3 với 337 mẫu khảo sát từ các nhà quản trị cấp trung và cấp cơ sở làm việc tại các doanh nghiệp tại Việt Nam Kết quả cho thấy: (1) Cảm nhận về sự hợp lý (trong phân phối và trong quy trình) dự toán ngân sách có tác động dương đến mức độ tham gia của các nhà quản trị cấp trung và cấp cơ sở vào dự toán ngân sách; và (2) Mức độ tham gia vào dự toán ngân sách càng gia tăng dẫn đến sự gia tăng trong kết quả công việc Kết quả nghiên cứu đem lại một số hàm ý lý thuyết và hàm ý quản lý cho các doanh nghiệp Việt Nam trong môi trường tham gia vào dự toán ngân sách
Nghiên cứu của Ngô Thụy Vân Anh (2019) “Các nhân tố tác động đến lập dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Long An” Qua nghiên cứu này đề tài đã trình bày những tổng quan nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam liên quan đến công tác lập dự toán ngân sách, các nhân tố áp dụng ảnh hưởng đến công tác lập dự toán ngân sách làm cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến công tác lập dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Long An Bằng việc sử dụng nghiên cứu hỗn hợp, trong đó nghiên cứu định tính kết hợp nghiên cứu định lượng, nghiên cứu xác định có 6 nhân tố: Trình độ nhân lực tham gia dự toán; cơ sở vật chất; tổ chức công tác kế toán; quy trình dự toán; chế độ chính sách nhà nước Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa đều có ảnh hưởng đến công tác lập dự toán ngân sách trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An Kết quả nghiên cứu đề tài này đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác lập dự toán ngân sách trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Long An, liên quan đến từ nhân tố cũng như theo các mức độ tác động từ cao xuống thấp của các nhân tố
Nghiên cứu của Trần Thị Điềm Lam (2019), “Các nhân tố ảnh hưởng đến chậm tiến độ, vượt dự toán của các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp” Nghiên cứu đã chỉ ra những yếu tố dẫn đến chậm tiến độ, vượt dự toán như: (i) nhóm các yếu tố liên quan đến chủ đầu tư; (ii) nhóm các yếu tố liên quan đến nhà thầu; (iii) nhóm yếu tố tác động ngoại vi; (iv); nhóm yếu tố liên quan đến tư vấn; (v) nhóm yếu tố pháp lý thiếu ổn định trong đó cho thấy các yếu tố tác động theo thứ tự từ mạnh đến yếu là: Yếu tố năng lực kém trong quản lý dự án của chủ đầu tư; yếu tố năng lực kém trong thực hiện dự án của nhà thầu hoặc tư vấn; yếu tố khó khăn tài chính tài chính của các bên; yếu tố ngoại vi Tác giả đã kiểm định thực tiễn thông qua hai dự án tại tỉnh Đồng Tháp Kết quả cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến vượt dự toán và chậm tiến độ dự án đầu tư công là phù hợp với thực tiễn các dự án đầu tư công tại tỉnh Đồng Tháp
Nghiên cứu của Nguyễn Phong Nguyên, Trần Mai Đông, Phạm Quang Huy
(2020), khi áp dụng mô hình PBB vào quản trị nhà nước sẽ giúp cho kế toán khu vực công có được những điểm thuận lợi như sau: (i) Việc phân phối kết quả của ngân sách nhà nước chặt chẽ làm cho công tác chỉnh lý quyết toán sẽ được giảm bớt khối lượng công việc của kế toán; (ii) Kế toán sẽ có cơ sở tổng hợp trong đơn vị của mình cũng như phạm vi giữa các bộ ngành về mức ngân sách phân bổ theo trình tự ưu tiên nhất định; (iii) Gia tăng sự minh bạch và trách nhiệm của những người đứng đầu trong đơn vị bởi do số liệu từ ngân sách được kiểm tra một cách dễ dàng hơn phương thức truyền thống; (iv) Mức ngân sách phân bổ theo chương trình hành động sẽ giúp cho các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ công được nâng cao chất lượng hơn những sản phẩm truyền thống; (v) Mô hình PBB có thể giúp cho công tác kế toán xử lý công việc một cách trôi chảy hơn, giúp điều chỉnh nhanh chóng nếu có những điều kiện mới xuất hiện về các chính sách chung của nhà nước.
Nhận xét và xác định khoảng trống nghiên cứu
Bảng 1.1 Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu trước:
Kết quả nghiên cứu Tác giả
Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác dự toán ngân sách tại các DN Thương mại ở Thành phố Hồ Chí
Xác định được 5 nhân tố: cơ cấu sở hữu; phong cách lãnh đạo; ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán; quy mô công ty và tham gia dự toán ngân sách của người lao động
Các yếu tố ảnh hưởng tới
Dự toán ngân sách của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
Xác định được 8 nhân tố: Ban Quản lý cấp cao;
Kiểm soát quá trình dự toán;
Nguồn nhân lực thực hiện dự toán;
Quy trình dự toán, Thông tin môi trường của doanh nghiệp; Tổ chức kế toán; Cơ sở vật chất; cuối
Chu Hoàng Minh (2015) và Zweni, A.G (2017) cùng là hợp tác truyền thông
Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác lập dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn
Xác định được 6 nhân tố: nhận thức và yêu cầu của nhà quản lý;
Kế hoạch chiến lược; Trình độ năng lực lập dự toán; Cơ sở vật chất; Quy trình dự toán và nhân tố công tác kế toán
Các nhân tố tác động đến công tác lập dự toán ngân sách tại các DNNVV trên địa bàn tỉnh Long An
Xác định được 6 nhân tố: Tổ chức công tác kế toán;
Trình độ nhân lực tham gia dự toán;
Quy trình dự toán; Chế độ chính sách nhà nước; Cơ sở vật chất và cuối cùng là nhân tố Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Xác định được 6 nhân tố: nhận
Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác lập dự toán ngân sách tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn
TP.HCM thức và yêu cầu của nhà quản lý;
Kế hoạch chiến lược; Trình độ năng lực lập dự toán; Cơ sở vật chất; Quy trình dự toán và nhân tố công tác kế toán
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Từ việc tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước về lập dự toán ngân sách, các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến lập dự toán ngân sách có thể nhận thấy đề tài này đã nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả, nhà nghiên cứu
Từ kết quả các nghiên cứu trước đã cung cấp hệ thống cơ sở lý thuyết và các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ngân sách.Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến đề tài chủ yếu là dùng phương pháp nghiên cứu định tính, ít các nghiên cứu định lượng trong khu vực công Thêm vào đó, nghiên cứu này chọn phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, một mặt, góp phần xác định các nhân tố tác động đến dự toán ngân sách tại các đơn vị phù hợp với đặc điểm của
Sở GTVT tỉnh Bình Dương mặt khác, phương pháp này cũng cho kết quả tin cậy, về việc xác định được nhân tố nào, và mức độ ảnh hưởng của nhân tố ấy như thế nào, mạnh hay yếu đến lập dự toán ngân sách tại Sở GTVT tỉnh Bình Dương
Chương này, tác giả đã trình bảy tổng quan các nghiên cứu nước ngoài và trong nước, từ đó làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu và giúp cho người đọc có những thông tin về các công trình nghiên cứu của các tác giả khác đối với vấn đề này Từ các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng lập dự toán ngân sách được nhiều tác giả lựa chọn nghiên cứu, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào lựa chọn tại
Sở GTVT tỉnh Bình Dương làm đối tượng khảo sát hay nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ngân sách Chương này là căn cứ quan trọng để tác giả tiếp tục nghiên cứu cho các chương tiếp theo, từ đó góp phần đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Cơ sở lý thuyết về dự toán ngân sách
2.1.1 Khái niệm về dự toán ngân sách
Dự toán ngân sách là những tính toán, những dự kiến, phối hợp một cách chi tiết về nguồn lực, cách thức huy động vốn và sử dụng nguồn lực để thực hiện khối lượng, công việc nhất định trong khoảng thời gian nhất định và được hiểu bằng một hệ thống về các chỉ tiêu về số lượng và giá trị, với mục đích hướng đến thể hiện rõ ràng về chi tiết nguồn tài chính và nguồn tiền (Huỳnh Lợi 2012)
Dự toán ngân sách là những kế hoạch chi tiết, là sự phối hợp của việc sử dụng các nguồn lực để thực hiện các kế hoạch đã được đề ra (Zweni, A.G (2017)
Dự toán ngân sách (Budget) là một kế hoạch cho các hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp, thường thể hiện dưới dạng những dữ liệu tài chính Dự toán ngân sách là một bản kế hoạch thể hiện dưới hình thức tiền tệ được chuẩn bị trước cho thời gian sắp tới, thường là một năm (Stephen Brookson, 2004) Quá trình hoạch định và kiểm soát bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau: Xác định mục tiêu của doanh nghiệp, nhận diện các chiến lược đánh giá và lựa chọn chiến lược, thực thi chiến lược, quan sát kết quả và điều chỉnh hoạt động hướng về mục tiêu ban đầu Trong quá trình thực thi chiến lược, nhà quản trị phải cụ thể hóa các mục tiêu cho từng giai đoạn cụ thể thành những chỉ tiêu có thể đo lường được Công cụ lượng hóa các mục tiêu quản trị cho từng giai đoạn thực hiện chiến lược được gọi là dự toán ngân sách Theo khái niệm này, dự toán có 3 loại: Dự toán vốn, dự toán linh hoạt và dự toán chủ đạo (Trần Đình Phụng, 2009)
Dự toán là một bảng kế hoạch chi tiết, trong đó mô tả việc sử dụng các nguồn lực tài chính và kinh doanh của một kỳ nào đó trong tương lai Hệ thống dự toán của một đơn vị không dựa trên việc ghi chép các nghiệp vụ thực tế đã phát sinh Trái lại, hệ thống dự toán chủ yếu dựa trên cơ sở các dự báo của từng bộ phận, của từng cá nhân phụ trách từng bộ phận từ đó xác định trách nhiệm của mỗi bộ phận nhằm phục vụ tốt cho quá trình tổ chức và hoạch định
Như vậy dự toán ngân sách là việc sử dụng vốn và cách tính toán toàn diện mục tiêu kinh tế, tài chính mà đơn vị cần phải đạt được trong kỳ hoạt động, nguồn lực khác để thực hiện các mục tiêu của đơn vị mình Dự toán là công cụ của một nhà quản lý, được sử dụng trong việc lập kế hoạch, kiểm soát và đánh giá hoạt động của đơn vị
2.1.2 Phân loại dự toán ngân sách
2.1.2.1 Phân loại theo thời gian
Theo thời gian, dự toán ngân sách gồm hai loại: dự toán ngân sách ngắn hạn và dự toán ngân sách dài hạn:
- Dự toán ngân sách ngắn hạn: Dự toán ngân sách ngắn hạn còn được gọi là dự toán ngân sách hoạt động, dự toán này thường được lập trong một năm tài chính hoặc được chia ra hàng quí và hàng tháng, có liên quan đến các hoạt động thường xuyên của đơn vị, dự toán này được lập mỗi năm trước khi kết thúc niên độ kế toán nhằm đưa ra những kế hoạch của đơn vị trong năm kế tiếp
- Dự toán ngân sách dài hạn: Dự toán ngân sách dài hạn còn được gọi là dự toán ngân sách vốn là dự toán liên quan đến mua sắm tài sản, nguồn tài chính cho đầu tư Đặc điểm cơ bản của loại dự toán này có mức độ rủi ro tương đối cao, thời gian đưa vốn vào hoạt động đến khi thu hồi vốn tương đối dài
2.1.2.2 Phân loại theo chức năng
Theo chức năng, dự toán chia thành hai loại: dự toán hoạt động và dự toán tài chính:
- Dự toán hoạt động: là dự toán phản ánh thu nhập và chi phí về tất cả các giai đoạn hoạt động trong một kỳ thời gian cụ thể gồm các dự toán sau: dự toán tiêu thụ, dự toán sản xuất, dự toán chi phí bán hàng, dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp, dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung, dự toán chi phí tài chính, dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Dự toán tài chính: là dự toán phản ánh tình hình tài chính theo kế hoạch đã được lập có liên quan đến tiền tệ, vốn đầu tư, bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ Dự toán vốn đầu tư trình bày dự toán mua sắm các tài sản dài hạn và vốn cần thiết cho hoạt động của đơn vị trong những năm tiếp theo Dự toán bảng cân đối kế toán, dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là các dự toán tổng hợp số liệu của đơn vị
2.1.2.3 Phân loại theo phương pháp lập
Theo phương pháp lập, dự toán được phân thành: dự toán linh hoạt và dự toán cố định, cụ thể như sau:
- Dự toán ngân sách linh hoạt: là dự toán để xác định doanh thu và chi phí ở nhiều mức độ khác nhau, dự toán linh hoạt được lập theo mối quan hệ với quá trình hoạt động, giúp xác định ngân sách ở từng mức độ và phạm vi hoạt động khác nhau, dự toán linh hoạt sẽ giúp các nhà quản lý có nhiều thông tin hơn để ứng phó với tình hình của đơn vị Dự toán linh hoạt được lập ở ba mức độ khác nhau: mức độ hoạt động bình thường, mức độ hoạt động khả quan nhất, mức độ hoạt động bất lợi nhất Ưu điểm của dự toán này là có thể thích ứng với sự thay đổi của hoạt động đơn vị, mở rộng phạm vi dự toán, dùng để xem xét tình hình thực hiện trong thực tế
- Dự toán ngân sách cố định: là dự toán ngân sách được lập theo mức độ hoạt động nhất định của đơn vị mà không xét tới mức độ này có thể bị biến động trong kỳ dự toán Dự toán ngân sách cố định được lập tương đối đơn giản, tính toán cân đối ít, dự toán này thường phù hợp với các đơn vị sản xuất theo đơn đặt hàng, tình hình sản xuất kinh doanh ổn định
2.1.3 Vai trò, mục đích, chức năng của ngân sách
Dự toán ngân sách đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định và kiểm tra hoạt động kinh doanh, giúp cho những nhà quản lý đạt được mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận Vai trò được thể hiện như sau:
- Lập kế hoạch: dự toán ngân sách đóng vai trò hoạch định ra mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho từng cá nhân, từng bộ phận, kế hoạch thu chi trong dự toán ngân sách chính là mục tiêu hoạt động của đơn vị
- Tổ chức điều hành: trong tổ chức điều hành dự toán ngân sách đóng vai trò điều phối và thúc đẩy hoạt động của các bộ phận hướng tới mục tiêu chung của đơn vị
- Kiểm tra: giúp cho các nhà quản lý phát hiện những sai sót, khuyết điểm nhằm kịp thời điều chỉnh, là cơ sở để giám sát hoạt động của tổ chức trong từng thời kỳ nhất định
Lý thuyết nền
2.2.1 Lý thuyết phong cách lãnh đạo
Những năm 1970 các lý thuyết về hành vi lãnh đạo hiệu quả chiếm ưu thế
Ví dụ lý thuyết về sự trao đổi giữa phong cách lãnh đạo và nhân viên LMX (Leader-Member Exchange Theory) (Graen và Cashman 1975, lý thuyết về quyết định quy chuẩn (Vroom và yetton 1093) Thông qua những giải thích của các tác giả, các lý thuyết này đã giúp người đọc hiểu cách thức của một nhà lãnh đạo có thể ảnh hưởng đến người khác thông qua sự tiên phong đối đầu với những khó khăn, bằng những hành động cụ thể giúp những nhân viên cấp dưới có thể noi theo, cùng thực hiện nghiêm túc các quy định Họ luôn thể hiện những mong đợi cao của cấp dưới trong việc thực hiện nhiệm vụ và thể hiện sự tin tưởng vào cấp dưới, khuyến khích cấp dưới với mục đích cuối cùng mọi người sẽ cố gắng gặt hái được nhiều thành công hơn so với mục tiêu đặt ra
❖ Phong cách lãnh đạo lôi cuốn
Thuyết lãnh đạo lôi cuốn được nghiên cứu đầu tiên của Weber (1947) đã mô tả những đặc điểm tính cách người dưới quyền mong muốn ở cấp trên Weber cho rằng những người lãnh đạo dạng này họ “không dựa trên quyền lực vị trí hoặc truyền thống mà dựa trên nhận thức của người dưới quyền về người lãnh đạo là người được phú cho những phẩm chất đặc biệt” (Nguyễn, 2007:169) Trong những năm gần đây, các nghiên cứu đã sửa đổi và mở rộng lý thuyết này để mô tả lãnh đạo có sức lôi cuốn trong các tổ chức (Conger (1989), Conger và Kanungo (1987), House, 1977, Shamir, House và cộng sự, (1993)) The House (1977) and Shamir, House và cộng sự, (1993) cho rằng người lãnh đạo lôi cuốn luôn gắn liền những mục tiêu công việc với tầm nhìn, sứ mạng của tổ chức Họ luôn truyền tải những kỳ vọng kết quả công việc cao cũng như thể hiện sự tự tin rằng cấp dưới có thể hoàn thành nhiệm vụ Conger và Kanungo (1987) đưa ra thuyết của họ dựa trên những giả định như sức lôi cuốn phụ thuộc vào một số các yếu tố mang tính quy nhìn, hy sinh vì lợi ích của người dưới quyền, sử dụng những chiến lược độc đáo, đánh giá đúng tình huống, tỉnh ngộ người dưới quyền, tự tin trong giao tiếp, thông tin và sử dụng quyền lực cá nhân (Nguyễn, 2007) Tuy nhiên, (Bass (1985), Bass
1996) và đa số các học giả đều cho rằng lãnh đạo tạo sự thay đổi là rộng hơn, là bao trùm cả lãnh đạo lôi cuốn Vì người lãnh đạo lôi cuốn tạo sự hấp dẫn với những người cấp dưới bằng hành vi chuẩn mực, phẩm chất tốt đẹp nhưng đây chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ Nhà lãnh đạo tạo sự thay đổi không chỉ lôi cuốn người khác mà còn có sức ảnh hưởng tới những người dưới quyền, hướng họ đến mục tiêu chung của tập thể (Nguyễn, 2007)
❖ Thuyết lãnh đạo tạo ra sự trao đổi
Bass và các cộng sự (Bass 1985, Bass 1996) cho rằng lãnh đạo có sự trao đổi chủ yếu dựa vào hành vi của nhà lãnh đạo để tạo sự ra sự ảnh hưởng đến những người phía dưới Những người cấp dưới không chỉ tin tưởng, kính trọng người lãnh đạo mà còn ngưỡng mộ, trung thành và coi họ như một biểu tượng tinh thần Quá trình ảnh hưởng cơ bản được mô tả dưới hình thức thúc đẩy các cấp dưới bằng cách làm cho họ nhận thức được tầm quan trọng của các kết quả công việc và thúc đẩy họ đạt được lợi ích cho bản thân cũng như lợi ích của tổ chức Lãnh đạo có sự trao đổi (transformational leadership) được phân biệt với vai trò lãnh đạo nghiệp vụ (transactional leadership), bao gồm quá trình trao đổi nhằm thúc đẩy sự tuân thủ của người dưới quyền với yêu cầu lãnh đạo và các quy tắc tổ chức Lãnh đạo tạo ra sự trao đổi nhấn mạnh đến cảm xúc và giá trị, thu hút, hành vi tượng trưng và vai trò của người lãnh đạo trong việc tạo ra các sự kiện có ý nghĩa cho người dưới quyền (Yukl, 2002: 241) Các nhà lãnh đạo trao đổi có khả năng truyền cảm hứng những người theo họ, để giải quyết và đáp ứng nhu cầu của cấp dưới Thông qua quan tâm nhân viên, kích thích sự sáng tạo, tạo động lực thúc đẩy, lãnh đạo có sự trao đổi sẽ thay đổi hành vi của họ để ảnh hướng đến người dưới 21 quyền, tạo không khí thỏa mái để họ được tự do phát biểu, họ sẽ tự hào và trung thành với nhà lãnh đạo Lãnh đạo nghiệp vụ sử dụng phần thưởng hay hình phạt kỷ luật đối với cấp dưới dựa trên kết quả công việc của cấp dưới sẽ đối với họ Lãnh đạo nghiệp vụ bao gồm hành vi khen thưởng ngẫu nhiên, quản lý thụ động và bị động đối với trường hợp bất thường Ví dụ các nhà lãnh đạo chính trị, đạt được điều này bằng cách tạo việc làm và đầu tư chi phí đặc biệt để đổi lấy những phiếu bầu, trong khi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp sử dụng công ăn việc làm, lương và chức vụ để thưởng cho những đóng góp và thành tích của nhân viên (Yukl, 2002: 241)
Khi vận dụng lý thuyết phong cách lãnh đạo vào hoạt động xây dựng dự toán ngân sách, có một số đề xuất cho rằng một số cấp trên thúc đẩy sự tham gia của nhân viên để thể hiện khả năng lãnh đạo của họ Nhà lãnh đạo giỏi luôn biết lắng nghe, gần gũi, hòa đồng với nhân viên Họ luôn nỗ lực xây dựng, duy trì mối quan hệ với cấp dưới bằng sự tin tưởng, sự tôn trọng và hỗ trợ lẫn nhau Như đã nêu ở trên, việc khuyến khích cấp dưới tham gia vào dự toán ngân sách như là một phần của cách tiếp cận với nhà lãnh đạo, tăng cường giao tiếp cởi mở và có ý nghĩa quan trọng với cả hai phía Khi nhà lãnh đạo xây dựng được môi trường làm việc thân thiện, tôn trọng ý kiến của nhân viên để nhân viên thấy rằng họ có sự ảnh hưởng nhất định với các mục tiêu chung của đơn vị thì họ sẽ bắt đầu có ý kiến đề xuất, bày tỏ quan điểm cũng như đưa ra các giải pháp để giải quyết vấn đề phát sinh trong công việc
Lý thuyết này được vận dụng nhằm giải thích sự tác động của nhân tố nhà lãnh đạo ảnh hưởng đến công toán lập dự toán ngân sách của các đơn vị
Theo lý thuyết đại diện cho rằng việc tham gia vào dự toán ngân sách cho phép nhân viên đưa một số thông tin, hiểu biết của mình cho cả hai bên: thứ nhất, kết hợp thông tin này vào ngân sách mang lại các mục tiêu ngân sách thực tế hơn và giúp phân bổ các nguồn lực hiệu quả hơn, như vậy sẽ tăng hiệu quả công việc hơn mong đợi và cải thiện việc chia sẽ rủi ro Và thứ hai, do có sự cam kết dựa trên ngân sách, ngân sách này sau đó hỗ trợ cao hơn từ nhân viên từ đó sẽ làm tăng hiệu quả công việc (Heinle và công sự, 2014) Tương tự, Shields và Young (1993) cũng cho rằng một trong những lợi ích chính của việc tham gia vào dự toán ngân sách là tạo điều kiện cho việc chia sẽ thông tin Chia sẽ thông tin có thể tăng lên hiệu suất cá nhân bằng nhiều cách gồm: (1) cấp trên có thể giúp nhân viên phát hỗ trợ ngân sách đầy đủ (Nouri & Parker, 1998) Đầy đủ về ngân sách là mức độ cá nhân nhận thức rằng các nguồn ngân sách để đáp ứng yêu cầu công việc Khi nhân viên tin rằng tổ chức sẽ hỗ trợ họ với ngân sách đầy đủ, điều này sẽ làm tăng mối quan hệ với nhân viên và tổ chức, nhân viên sẽ cam kết cao hơn với tổ chức Cam kết của tổ chức cao hơn, có thể dẫn đến hiệu suất cao hơn (Maiga 2005)
Lý thuyết này được đưa vào nghiên cứu nhằm giải thích cho biến trình độ nhân lực tham gia dự toán ngân sách của người lao động ảnh hưởng đến công tác lập dự toán.
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ngân sách
Theo Kyj và Parker (2008), các nhà quản lý cấp cao thường có tầm nhìn rộng nhưng không quen với từng chi tiết nhỏ, và ngược lại các nhà quản lý cấp cơ sở tuy nắm vững chi tiết nhưng không có tầm nhìn bao quát tất cả các khía cạnh Thái độ của nhà quản lý cấp cao có tác động lớn đến hiệu quả dự toán, còn nhà quản lý cấp cơ sở thì có nhận thức nhạy bén trong việc đặt ra mục tiêu cụ thể Vì vậy sự phối hợp giữa nhà quản lý cấp cao và nhà quản lý cơ sở đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng dự toán hiệu quản, để dự toán đạt hiệu quả nhà quản lý cấp cao phải xác định được các mục tiêu hợp lý mà tổ chức cần đạt được, đồng thời cố gắng diễn tả một cách chính xác những mục tiêu đó cho những người có trách nhiệm thực hiện hiểu những gì họ làm
Trong tài liệu về kế toán của Ansari (1976), ông cho rằng phong cách lãnh đạo có thể ảnh hưởng đến việc cách thức xây dựng ngân sách Ritchie và Miles
(1970), lập luận rằng lãnh đạo tin tưởng và hỗ trợ là một điều kiện tiên quyết để khuyến khích sự tham gia có hiệu quả từ cấp dưới, và Zand (1972) cũng đưa ra nhận xét tương tự Trong một nghiên cứu khác của Kohlmeyer III, Mahenthiran và cộng sự, (2014) cũng kết luận phong cách lãnh đạo ảnh hưởng đến sự tham gia ngân sách, bởi vì cả hai biến này đều liên quan đến sự cam kết thông qua nhận thức công bằng
Theo Nguyễn Thị Liêm (2018), sự tham gia ngân sách là một cách thể hiện sự công bằng trong tổ chức, tăng cường niềm tin của nhân viên về quy trình dự toán được công bằng, nhân viên có cơ hội được đưa ra ý kiến của mình, nghĩa là họ luôn được tôn trọng, họ được xem là thành viên của tổ chức Khi nhân viên nhận được sự khuyến khích, động viên tham gia vào dự tóan ngân sách của cấp trên, họ sẽ càng tin tưởng và có cam kết cao hơn với tổ chức
Từ những phân tích trên cho thấy phong cách lãnh đạo có ảnh hưởng đến lập dự toán ngân sách của đơn vị
2.3.2 Quy trình lập dự toán
Theo tác giả Kazeem Olabode Faleti và Darrell Myrich (2012), trong nghiên cứu “The nigerian Buggeting Process: A Framework for Incresing Employment Performance” thì quy trình ngân sách thông thường và sự tham gia vào quá trình thiết lập ngân sách của các thành viên trong tổ chức ảnh hưởng đến công tác lập dự toán của doanh nghiệp
Thêm vào đó các nghiên cứu tại Việt Nam về nhân tố ảnh hưởng đến công tác lập dự toán ngân sách của doanh nghiệp của các tác giả như: Hồ Xuân Hữu
(2014), Chu Hoàng Minh (2015) một lần nữa khẳng định quy trình dự toán có tác động đến công tác lập dự toán
Quy trình dự toán có ảnh hưởng đáng kể đến công tác lập dự toán và hiệu quả báo cáo dự toán trong các doanh nghiệp
Một quy trình làm việc rõ ràng sẽ giúp nhân viên lập dự toán năm rõ công việc và phốp hợp với các thành viên khác, đồng thời giúp nhân viên lập dự toán chủ động, có kế hoạch làm việc cụ thể, tránh được áp lực công việc hay bị quá tải công việc vào cuối tháng, cuối năm và với quy trình dự toán tốt nó là công cụ truyền đạt thông tin cho các cấp quản lý thực hiện tốt dự toán của bộ phận mình nhằm hướng đến đạt được mục tiêu chung của tổ chức Ngoài ra với quy trình dự toán tốt nó làm cho dự toán ngân sách trở thành công cụ quản lý hiệu quả trong việc hoạch định và kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp
2.3.3 Chế độ chính sách nhà nước
Chế độ chính sách nhà nước có ảnh hưởng đáng kể đến công tác lập dự toán và hiệu quả báo cáo dự toán tại các doanh nghiệp (DN) Tổ chức công tác kế toán chính của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định Chính vì thế, khi có sự thay đổi trong chế độ kế toán, chính sách thuế, điều chỉnh giá, lạm phát, quy định môi trường sẽ làm ảnh hưởng đến việc tổ chức công tác dự toán; cũng như tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, các số liệu quá khứ như doanh thu, lợi nhuận, chi phí, số lượng lao động, nguồn vốn kinh doanh, các yếu tố về đối thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà cung cấp, cũng là cơ sở để xem xét Do đó, các DN phải luôn tập hợp các thông tin, các nhân viên lập dự toán phải xem xét tác động của các yếu tố trên để điều chỉnh các chỉ tiêu dự toán trong báo cáo dự toán của năm tiếp theo cho phù hợp
2.3.4 Trình độ nhân lực tham gia dự toán
Con người là nhân tố đóng vai trò quan trọng trong việc lập dự toán ngân sách Nhà quản trị sử dụng các kỹ thuật để lập dự toán nhưng cũng phải quan tâm đến yếu tố con người Dự toán ngân sách là do con người lập ra và có vai trò tạo sự phối hợp giữa các bộ phận trong các đơn vị nhằm hướng đến mục tiêu chung (Đoàn Ngọc Quế và cộng sự) Một dự toán thành công là dự toán có được sự ủng hộ và chấp thuận của các nhà quản trị các cấp, đặc biệt là nhà quản trị cấp cao nếu nhà quản trị cấp cao thiếu quan tâm đến việc lập dự toán ngân sách hoặc chỉ xem dự toán ngân sách mang tính hình thức thì nhà quản trị cấp thấp hơn cũng sẽ không nhiệt tình trong việc xây dựng và thực hiện dự toán ngân sách Tuy nhiên, nhà quản trị cấp cao không nên gây áp lực căng thẳng cho nhân viên trong quá trình xây dựng và thực hiện dự toán vì điều này có thể dẫn đến tình trạng căng thẳng, hoài nghi hay chống đối từ phía các nhân viên, thay vì cùng nhau hợp tác để đạt được mục tiêu chung của đơn vị Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng mục tiêu trên dự toán ngân sách phải mang tính vừa sức, điều này nhằm tạo động lực cho nhân viên thực hiện mục tiêu mà dự toán ngân sách đã đề ra Nếu mục tiêu từ dự toán quá cao, nhân viên sẽ buông xuôi khi biết rằng mục tiêu đó khó đạt được Ngược lại, nếu mục tiêu quá thấp nhân viên sẽ không có động lực để phấn đấu (Đoàn Ngọc Quế và cộng sự)
Tóm lại, nhà quản trị khi xây dựng và thực hiện dự toán ngân sách không nên quá tập trung vào các kỹ thuật tính toán mà con phải xem xét đến nhân tố con người Con người tham gia dự toán là các nhà quản lý các cấp và nhân viên kế toán phải có trình độ am hiểu về kế toán quản trị nói chung và công tác dự toán ngân sách nói riêng để tiến hành lập và triển khai dự toán được hiệu quả Vì nếu xây dựng tốt, dự toán ngân sách sẽ là công cụ đắc lực của các nhà quản trị trong việc hoạch định, đánh giá kết quả và kiểm soát trách nhiệm của các nhà quản lý trong đơn vị
Theo tác giả Dusan Bnovic (2005), Trần Quang Hoàng (2016) thì công tác kế toán trong đơn vị là một trong những nhân tố tác động đến công tác lập dự toán ngân sách và hiệu quả báo cáo dự toán tại các DN Do đó trong nghiên cứu của mình tác giả tiếp tục kế thừa nhân tố này nhằm đánh giá mức độ tác động của nó đến công tác lập dự toán ngân sách tại Sở GTVT tỉnh Bình Dương
Công tác kế toán là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả của báo cáo dự toán, nó giúp cho DN phát huy được vai trò của nhân viên lập dự toán, thể hiện trách nhiệm và sự phối hợp thực hiện giữa các nhân viên, giảm thiểu được những yếu kém của nhân viên, giảm chi phí, nâng cao chất lượng của báo cáo dự toán.
Mô hình nghiên cứu đề xuất
Để đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ngân sách tại Sở GTVT tỉnh Bình Dương, tác giả chủ yếu dựa trên kết quả của những nghiên cứu trước liên quan đến đề tài, các lý thuyết nền nhằm giải thích liệu nhân tố nào tác động đến việc lập dự toán ngân sách tại Sở GTVT tỉnh Bình Dương
+ Với nhân tố phong cách lãnh đạo: kế thừa theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Liêm (2018) và lý thuyết phong cách lãnh đạo
+ Với nhân tố quy trình lập dự toán: kế thừa theo kết quả nghiên cứu của tác giả Chu Hoàng Minh (2015) và Zweni, A.G (2017)
+ Với nhân tố chế độ chính sách nhà nước: kế thừa theo nghiên cứu của Trần Quang Hoàng (2016)
+ Với nhân tố trình độ nhân lực tham gia dự toán: kế thừa theo kết quả nghiên cứu của Ngô Thụy Vân Anh (2019)
+ Với nhân tố công tác kế toán: kế thừa theo nghiên cứu của Trần Quang Hoàng (2016)
Bảng 2.1: Căn cứ xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất
STT Nhân tố Căn cứ đề xuất
1 Phong cách lãnh đạo Nguyễn Thị Liêm (2018)
2 Quy trình lập dự toán Chu Hoàng Minh (2015) và Zweni, A.G (2017)
3 Chế độ chính sách nhà nước
4 Trình độ nhân lực tham gia dự toán
5 Công tác kế toán Trần Quang Hoàng (2016)
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Mô hình nghiên cứu đề xuất được thể hiện như sau:
Sơ đồ 2.5: Mô hình nghiên cứu đề xuất
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Quy trình lập dự toán
Chế độ chính sách nhà nước
Trình độ nhân lực tham gia dự toán
Công tác lập dự toán ngân sách tại Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Dương
Trong chương 2 tác giả nêu lên những nội dung liên quan đến cơ sở lý thuyết về dự toán ngân sách gồm : Khái niệm, phân loại, vai trò, chức năng, quy trình lập dự toán và các mô hình dự toán, tác giả trình bày những lý thuyết nền nhằm giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến lập dự toán Tác giả cũng trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ngân sách ở các đơn vị và xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất, theo đó các yếu tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ngân sách tại các đơn vị Sở GTVT tỉnh Bình Dương gồm : Phong cách lãnh đạo ; quy trình lập dự toán ; chế độ chính sách nhà nước ; trình độ nhân lực tham gia dự toán ; công tác kế toán
Chương 3 tiếp theo sẽ trình bày về phương pháp nghiên cứu của đề tài.