1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng dâm phân biệt tội cưỡng dâm với tội hiếp dâm

22 43 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 45,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm Hành vi khách quan của tội phạm này được quy định là hành vi dùng mọi thủ đoạn giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người phạm v

Trang 1

Muc Lục

MỞ ĐẦU

Các tội xâm phạm tình dục xuất hiện rất sớm và nhận được sự quan tâm,nghiên cứu khá rộng rãi trên nhiều khía cạnh và dưới các góc độ khác nhau Cáctội về xâm phạm tình dục luôn là một vấn đề nhạy cảm, dễ gây bức xúc đối vớinhân dân và được các nhà nghiên cứu xã hội cũng như nghiên cứu pháp luậthình sự trên thế giới quan tâm Trong tội phạm này thì tội hiếp dâm và tội cưỡngdâm là 2 trong số các tội xâm phạm về nhân phẩm, danh dự của con người vàgây bức xúc cho xã hội nhiều nhất Những tội này gây ảnh hưởng nghiêm trọngtới thuần phong mỹ tục của nước ta đồng thời gây hoang mang cho dư luận, vìvậy việc tìm hiểu hai tội danh này là vô cùng quan trọng để xác định được tính

Trang 2

chất vụ án cũng như phân biệt được sự khác nhau giữa hai tội này để từ đó cócác hình phạt nghiêm minh có thể răn đe cũng như trừng trị thích đáng đối vớingười phạm tội, đảm bảo việc tuân thủ pháp luật hình sự Do đó để tìm hiểu sựkhác nhau giữa hai tội danh này cũng như tìm hiểu sâu hơn về tội cưỡng dâm đểgóp phần nhỏ vào việc đấu tranh phòng trống loại tội phạm này thì em đã lựachọn đề tài “ Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng dâm? Phân biệt tộicưỡng dâm với tội hiếp dâm?”.

Trong thời gian ngắn, phạm vi chủ đề rộng và kiến thức của cá nhân cònhạn hẹp nên bài viết không thể tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được

sự quan tâm, góp ý, giảng giải từ các giảng viên để em hoàn thiện chủ đề nàyhơn

Từ quy định này ta có thể hiểu cưỡng dâm là hành vi dùng mọi thủ đoạn

để lợi dụng người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong trạng thái quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi tình dục khác với mình

Trang 3

2 Các dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng dâm

Theo khoa học hình sự Việt nam, xét về mặt cấu trúc, tội phạm được cấu thành bởi bốn yếu tố cơ bản sau : khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm của thể trong luật hình sự Cấu thành tội phạm đươc coi là khái niệm pháp lý, là sự mô tả khái quát loại tội phạm nhất định Việc nghiên cấu các dấu hiệu pháp lý có cấu thành tội cưỡng dâm có ý nghĩa trong việc làm sáng tỏ bản chất của tội này, cho phép xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đồng thời cho phép phân biệt giữa tội phạm này và tội phạm khác, từ đó là cơ sở pháp lý cho việc định tội và truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như làm tiền để cho việc áp dụng pháp luật

a Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm này được quy định là hành vi dùng mọi thủ đoạn giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người phạm vội Trong đó, hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác là kết quả của hành vi phạm tội Tại khoản 1 và 2 Điều 3 của nghị quyết số 06/2019/NQ-

HĐTP quy định về khái niệm “Giao cấu” là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh

dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, với bất kỳ mức độ xâm nhập nào thêm vào đógiao cấu với người dưới 10 tuổi được xác định là đã thực hiện không phụ thuộc vào việc đã xâm nhập hay chưa xâm nhập Tiếp đó “Hành vi quan hệ tình dục khác” là hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân,

lưỡi ), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, bao gồm một trong các hành

vi sau đây:

a) Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác;

Trang 4

b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi ), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác

Theo khoản 2, 4,5 Điều 3 Nghị 06/2019/NQ-HĐTP Quy định như sau :

2 Bộ phận sinh dục bao gồm bộ phận sinh dục nam và bộ phận sinh dục

nữ Bộ phận sinh dục nam là dương vật; bộ phận sinh dục nữ bao gồm âm hộ,

âm đạo

3 Bộ phận nhạy cảm bao gồm bìu, mu, hậu môn, háng, đùi, mông, vú.

4 Bộ phận khác trên cơ thể là bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể không phải

là bộ phận sinh dục và bộ phận nhạy cảm (ví dụ: tay, chân, miệng, lưỡi, mũi, gáy, cổ, bụng )

5 Dụng cụ tình dục là những dụng cụ được sản xuất chuyên dùng cho

hoạt động tình dục (ví dụ: dương vật giả, âm hộ giả, âm đạo giả ) hoặc những

đồ vật khác nhưng được sử dụng cho hoạt động tình dục

Nạn nhân ( đối tượng tác động) của hành vi khách quan là người bị lệ thuộc hoặc là người đang ở trong tình trạng quẫn bách Căn cứ vào khoản 11 củaĐiều 3 Nghị quyết 06/2019/NQ – HĐTP thì ta hiểu người đang ở trong tình trạng quẫn bách là người đang ở trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, tự mình không thể hoặc khó có thể khắc phục được mà đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của người khác

Căn cứ vào khoản 10 của Điều 3 Nghị quyết 06/2019/ NQ – HĐTP thì người lệ thuộc là trường hợp người bị hại bị lệ thuộc vào người phạm tội về vật chất (ví dụ: người bị hại được người phạm tội nuôi dưỡng, chu cấp chi phí sinh hoạt hàng ngày ) hoặc lệ thuộc về tinh thần, công việc, giáo dục, tín ngưỡng (vídụ: người bị hại là người lao động làm thuê cho người phạm tội; người bị hại là học sinh trong lớp do người phạm tội là giáo viên chủ nhiệm hoặc giáo viên bộ môn )

Trang 5

Theo đó hành vi ép buộc ở tội phạm này được hiểu là lợi dụng quan hệ lệ thuộc hoặc hoàn cảnh quẫn bách của nạn nhân để khống chế tư tưởng và buộc

họ phải miễn cưỡng theo ý mình có các hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục Người phạm tội có thể lợi dụng quan hệ lệ thuộc, lợi dụng uy thể của mình dọa sẽ gây thiệt hại cho người lệ thuộc nếu như không chịu giao cấu hoặc không chịu thực hiện các hành vi quan hệ tình dục Tuy nhiên thì hành vi đe dọa

ở tội cưỡng dâm chưa đến mức làm người bị đe dọa tê liệt ý chí, không dám kháng cự như ở tội hiếp dâm Người bị đe dọa chỉ bị khống chế tư tưởng nên họ vẫn có khả năng phản kháng nhưng họ đã phải miễn cưỡng chịu giao cấu hoặc chịu thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác Người phạm tội cưỡng dâm dùng rất nhiều thủ đoạn khác nhau như : lừa phỉnh, mua chuộc, dụ dỗ, đe doạ hoặc bằng tình cảm, bằng tiền bạc, có khi chỉ là một lời hứa… tức là người phạm tội không từ một thủ đoạn nào miễn là thực hiện được ý đồ giao cấu với người bị hại hoặc lợi dụng người bị hại đang ở trong tình trạng quẫn bách để họ phải miễn cưỡng giao cấu với mình

Người phạm tội cưỡng dâm cũng có thể lợi dụng quan hệ lệ thuộc, lợi dụng uy thể của mình hoặc lợi dụng nạn nhân đang trong tình trạng quẫn bách hứa hẹn mang lại quyền lợi nào đó cho họ nếu họ chấp nhận việc giao cấu hoặc chấp nhận thực hiện hành vi quan hệ tình dục đó Vì vậy, sự hứa hẹn này phải cótính chất là sự khống chế tư tưởng buộc họ phải miễn cưỡng chấp nhận việc giaocấu hoặc chấp nhận thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác Những trường hợp hứa hẹn khác không thuộc phạm vi của tội này

Ngoài ra thì nạn nhân là người từ đủ 16 tuổi trở lên nếu như nạn như từ đủ

13 tuổi đến dưới dưới 16 tuổi sẽ quy định theo Điều 144 của BLHS 2015 của tộinày và tội cưỡng dâm hoàn thành khi mà xảy ra hành vi giao cấu hoặc các hành

vi tình dục khác được thực hiện đối với nạn nhân

b Dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm

Trong trường hợp này lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý, họ biết hành vi này là hành vi trái pháp luật thế những vẫn cố ý thực hiện và mong muốn cho hậu quả xảy ra Người phạm tội biết rõ nạn nhân là người lệ thuộc mình hoặc

Trang 6

biết họ là người đang trong tình trạng quẫn bách Người phạm tội cũng biết hành

vi của mình là hành vi lợi dụng quan hệ lệ thuộc hoặc hành vi lợi dụng tình trạng quẫn bách của nạn nhân để buộc họ phải miễn cưỡng cho giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác

Mặt khác theo quy định tại điều 143 BLHS 2105 thì ta có thể nhận thấy rằng tội cưỡng dâm có cấu thành hình thức

c Chủ thể

Chủ thể là người đủ tuổi và đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy nhiên, pháp luật không mô tả dấu hiệu đặc biệt về giới tính của chủ thể ở tội cưỡng dâm nên theo đó chủ thể của tội này có thể là nam hoặc nữ, tuy nhiên trên thực

tế xét xử thì người phạm tội là nữ giới rất ít gặp hầu như vẫn là nam giới Theo Điều 12 BLHS thì chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự là người từ đủ 14 tuổi trở lên khi hành vi phạm tội thuộc khoản 2 của điều này hoặc là người từ đủ 16 tuổi trở lên khi hành vi phạm tội thuộc khoản 1 của điều này

d Khách thể

Tội cưỡng dâm xâm phạm tính mạng sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người Hành vi phạm tội xâm hại đến quan hệ xã hội được bảo vệ là quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự của con người Mặt khác, hành vi này còn xâm hại đến sự phát triển bình thường về mặt tâm sinh lý của người chưa thành niên, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội

3 Hình phạt

Hình phạt thể hiện đường lối xử lý, răn đe, giáo dục của pháp luật đối với tội phạm Với tội cưỡng dâm mà nạn nhân từ đủ 16 trở lên , tại điều 143 của BLHS 2015 quy định 4 khung hình phạt khác nhau được áp dụng cho tội này vớimức hình phạt thấp nhất là 01 năm tù và hình phạt cao nhất là 18 năm tù, ngoài

ra còn có thêm 2 hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 của điều này

Mặt khác, đối tội cưỡng dâm mà nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì sẽ áp dụng hình phạt theo quy định tại điều 144 của Bộ luật này Quy định 4

Trang 7

khung hình phạt với mức phạt tù thấp nhất là 5 năm và cao nhất là tù chung thânngoài ra còn có hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 4 của Điều này.

2.1.Hình phạt tại Điều 143

a Khung hình phạt tại khoản 1

Tại khoản 1 Điều 143 quy định người phạm tội bị phạt tù từ 01 đến 05 năm Đây là khung hình phạt cơ bản của tội cưỡng dâm và thuộc loại tội phạm nghiêm trọng theo Điều 9 của BLHS 2015

b Khung hình phạt tại khoản 2

Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.Khung này được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong những tình tiết định khung tăng nặng sau :

a) Nhiều người cưỡng dâm một người

Tại khoản 4 Điều 4 của Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP quy định về nhiều

người cưỡng dâm một người như sau “ Nhiều người cưỡng dâm một người quy

định tại điểm a khoản 2 Điều 143 và điểm a khoản 3 Điều 144 của Bộ luật Hình

sự là trường hợp 02 người trở lên cưỡng dâm 01 người Cũng được coi

là “nhiều người cưỡng dâm một người” nếu có từ 02 người trở lên cùng bàn

bạc, thống nhất sẽ thay nhau cưỡng dâm 01 người, nhưng vì lý do ngoài ý muốn mới có 01 người thực hiện được hành vi cưỡng dâm”

Đây là trường hợp đồng phạm cưỡng dâm trong đó có nhiều người có hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác đối với người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng cuỗn bách Trong một vụ đồng phạm, nếu có từ hai người trở lên cùng giao cấu hoặc có hành vi tình dục khác đối với các nạn nhân này thì áp dụng tình tiết nhiều người cưỡng dâm một người Tuy nhiên thì nếu như có 2 người trở lên bàn bạc, thống nhất sẽ thay nhau thực hiện hành vi cưỡng dâm một người những mới chỉ có một người thực hiện được hành vi cưỡng dâm do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của những người phạm tội thì được coi là nhiều người hiếp dâm một người

Mặt khác nếu như có 2 người trở lên bàn bạc thống nhất với nhau tổ chức,giúp sức cho một người trong số họ cưỡng dâm một người và khi thực hiện tội

Trang 8

phạm cũng chỉ có một người trực tiếp thực hiện hành vi cưỡng dâm thì sẽ không

bị coi là nhiều người cưỡng dâm một người

b) Phạm tội từ 2 lần trở lên

Theo khoản 2 Điều 4 của Nghị định số 06/2019/NQ-HĐTP quy định về phạm tội 2 lần trở lên là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội từ 2 lần trở lên nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Như vậy đây là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội 2 lần trở lên mà những lần đó chưa bị xử lý về hình sự, chưa hết thời hiệu truy cứuTNHS, được đưa ra truy tố, xét xử cùng một lúc Trường hợp phạm tội 2 lần trở lên mà người phạm tội cùng với những người đồng phạm khác tội theo một kế hoạch thống nhất trước, thỏa mãn dấu hiệu “ phạm tội có tổ chức “, thì cùng với việc bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt tại điểm b khoản 2 Điều 143 BLHS người phạm tội còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “ phạm tội có tổ chức” theo điểm a khoản 1 Điều 52 BLHS 2015

c) Đối với 2 người trở lên

Hiện nay cũng chưa có văn bản nào định nghĩa về việc “Phạm tội đối với

2 người trở lên” nhưng qua một số văn bản, nghị định hướng dẫn như thông qua những văn bản có liên quan thì ta hiểu phạm tội đối với 2 người trở lên là trườnghợp người phạm tội thực hiện hành vi cưỡng dâm từ hai nạn nhân trở lên và những lần phạm tội đó đều chưa bị xử lý hình sự, chưa hết thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa được đưa ra truy tố, xét xử cùng một lúc

Trường hợp phạm tội đối với 2 người trở lên thực hiện 2 lần trở lên thìngười phạm tội phải bị áp dụng cả hai tình tiết tăng nặng là “ phạm tội 2 lần trởlên” và “ Đối với 2 người trở lên” theo điểm b,c khoản 2 của Điều 143 BLHS2015

d) Có tính chất loạn luân

Tình tiết cưỡng dâm có tính chất loạn luân được áp dụng khi giữa ngườiphạm tội va nạn nhân có quan hệ cùng dòng máu về trực hệ hoặc có quan hệ

Trang 9

được quy định tại Khoản 1 điều 4 của Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP Việcquy định tình tiết này trong khung tăng nặng là cần thiết Bởi lẽ, về mặt xã hộithì hành vi quan hệ sinh lý giữa những người này là hành vi đi ngược lại đạođức, luân lý, truyền thống, là biểu hiện của sự suy đồi nghiêm trọng về đạo đứcnên bị xã hội kịch liệt lên án Đồng thời hành vi cưỡng dâm còn gây ảnh hưởngđến danh dự, tinh thần của nạn nhân nói chung và trẻ em nói riêng.

Trong trường hợp này, người phạm tội sẽ không bị xử lý thêm về tội loạnluân theo điều 184 BLHS 2015

đ) Làm nạn nhân có thai

Đây là trường hợp phạm tội mà việc cưỡng dâm là nguyên nhân làm nạnnhân có thai, không phụ thuộc vào việc người phạm tội phong muốn hay khôngmong muốn việc có thai với nạn nhân

Tình tiết này đòi hỏi việc nạn nhân mang thai phải là kết quả của việc giaocấu giữa nạn nhân với người phạm tội, tức la có mối quan hệ nhân quả giữahành vi giao cấu và hậu quả nạn nhân có thai Nếu nạn nhân tuy bị cưỡng dâmnhưng việc nạn nhân mang thai đó là kết quả của việc giao cấu với người khácthì người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự về tình tiết này Theo bộluật Tố Tụng hình sự 2015

e) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần

và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%

Căn cứ để áp dụng tình tiết tăng nặng là kết quả giám định thương tật củanạn nhân do Hội đồng giám định pháp y kết luận nếu có kết quả tỷ lệ tổn thương

cơ thể từ 31% đến 60% thì người phạm tội phải chịu tình tiết tăng nặng này

g) Tái phạm nguy hiểm

Tại Khoản 2 Điều 53 của BLHS 2015 quy định về tái phạm như sau :

Trang 10

“2 Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội

Trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tộiphạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích hoặc đã tái phạm,chưa được xóa án tính mà lại thực hiện hành vi phạm tội cưỡng dâm được quyđịnh tại khoản 3 Điều 143 BLHS, thì phải áp dụng khoản 3 Điều 143 BLHS đểtruy cứu TNHS đối với người phạm tội, đồng thời áp dụng tình tiết tăng nặngTNHS “ tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS đểquyết định hình phạt đối với người phạm tội

c Khung hình phạt khoản 3

Đây là cấu thành hình phạt tăng nặng thứ 2 mà người phạm tội phải chịumức phạt tù từ 10 đến 18 năm tù Tại khoản 3 Điều 143 BLHS 2015 quy địnhcác trường hợp phải chịu mức phạt tù này như sau :

Trang 11

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

Đây là trường hợp người phạm tội bị nhiễm HIV và nhận thức rõ HIV củamình có thể lây truyền qua đường giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác nhưng vẫn thực hiện hành vi cưỡng dâm thì phải chịu phạm tội về tình tiết này

Trong trường hợp này thì người phạm tội không bị xử lý thêm về tội lây truyền HIV cho người khác theo quy định tại Điều 148 BLHS nữa

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát

Đây là trường hợp phạm tội mà việc phạm tội là nguyên nhân làm nạn nhân chết hoặc tự sát Tuy nhiên, người phạm tội không cố ý gấy ra hậu quả làm nạn nhân chết hoặc làm nạn nhân tự sát

Ngoài ra, người bị cưỡng dâm cũng có trường hợp vì nhiều lý do khác nhau nên đã tự sát Tuy nhiên khi xác định do bị cưỡng dâm mà nạn nhân tự sát thì người phạm tội mới bị coi là làm nạn nhân tự sát Thực tiễn xét xử, có những trường hợp nạn nhân tự sát là do những lý do trực tiếp khác chứ không phải do

bị cưỡng dâm, bị chồng con, gia đình ruồng bỏ, khinh bỉ, ngược đãi, thậm chí cónhững hành vi xúc phạm đến nhân phẩm của nạn nhân, làm cho nạn nhân chán đời tự sát, nhưng nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc gia đình nạn nhân ruồng bỏ

là do bị cưỡng dâm thì người phạm tội cưỡng dâm vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về trường hợp làm nạn nhân tự sát

Thêm vào đó, người phạm tội cưỡng dâm làm nạn nhân tự sát, không nhấtthiết nạn nhân phải chết mà chỉ cần nạn nhân có hành vi tự sát là người phạm tộiphải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 3 Điều 143 Nếu nguyên

Ngày đăng: 09/09/2022, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP “HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH TẠI CÁC ĐIỀU 141,142,143,144,145, 146, 147 CỦA BỘ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH TẠI CÁC ĐIỀU 141,142,143,144,145,146,147 CỦA BỘ
Tác giả: Hội đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2019
5. TS. Phạm Mạnh Hùng – TS. Lại Viết Quang, Giáo trình luật hình sự tập 1 ( phần các tội phạm ), trường đại học Kiểm Sát Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự tập 1 ( phần các tội phạm )
Tác giả: TS. Phạm Mạnh Hùng, TS. Lại Viết Quang
Nhà XB: trường đại học Kiểm Sát Hà Nội
6. Nghị Quyết số 02/2003/NQ-HĐTP “ HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Năm: 2003
7. Hoàng Ngọc Bích, Luận Văn thạc sỹ luật học “ các tội phạm tình dục theo quy định luật hình sự Việt Nam và một số nước trên thế giới”, trường đại học luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội phạm tình dục theo quy định luật hình sự Việt Nam và một số nước trên thế giới
Tác giả: Hoàng Ngọc Bích
Nhà XB: Trường đại học Luật Hà Nội
8. Cao Hữu Sáng, Luận văn thạc sỹ luật học “ Các tội hiếp dâm theo quy định của bộ luật hình sự Việt Nam”, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội hiếp dâm theo quy định của bộ luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Cao Hữu Sáng
Nhà XB: Đại học quốc gia Hà Nội
9. Trịnh Văn Toàn, Tóm tắt luận văn thạc sỹ luật học “ các tội phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam”, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt luận văn thạc sỹ luật học “ các tội phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam”
Tác giả: Trịnh Văn Toàn
Nhà XB: Đại học quốc gia Hà Nội

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w