DIỄN TIẾN CHÍNH SÁCH KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁPTỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ NHẤT VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM 1919-1939 Nguyễn Thị Hà Lớp D14LSVN01,
Trang 1DIỄN TIẾN CHÍNH SÁCH KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP
TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ NHẤT VÀ NHỮNG TÁC
ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM (1919-1939)
Nguyễn Thị Hà
Lớp D14LSVN01, Khoa Sử Trường Đại học Thủ Dầu Một
TÓM TẮT
Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời cận đại là giai đoạn lịch sử vô cùng quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam Bài viết phân tích sâu những thay đổi trong chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) Trên cơ sở đó, bài viết xem xét những tác động của chính sách này đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa giáo dục ở Việt Nam Cuối cùng, bài viết khẳng định việc nghiên cứu về diễn tiến, nội dung và tác động của chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp nhằm để góp phần nhìn nhận đúng những mặt tích cực thời thuộc địa, cũng là để hiểu rõ hơn xuất phát điểm kinh tế
- xã hội của chúng ta dưới thời Pháp thuộc; từ đó có sự chọn lọc và kế thừa thích đáng trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng tới mục tiêu phát triển bền vững hiện nay
Từ khóa: Pháp thuộc, chính sách khai thác thuộc địa, kinh tế, xã hội
Trang 21 Đặt vấn đề
Cơ cấu kinh tế - xã hội là nền tảng và cơ sở tồn tại của một quốc gia trong các giai đoạn lịch sử đã qua Đối với Việt Nam cơ cấu kinh tế - xã hội thời kỳ Pháp thuộc
là giai đoạn lịch sử có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó phản ánh đặc điểm cũng như tính chất của xã hội Việt Nam, một xã hội nữa thuộc địa nửa phong kiến dưới thời thực dân Pháp Nghiên cứu về đề tài này nhằm lý giải vì sao thời kỳ cận đại xã hội Việt Nam lại mang bản chất đó Đồng thời lý giải những tác động trong công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp đến xã hội Việt Nam làm xuất hiện những trào lưu tư tưởng mới, những con đường giải phóng dân tộc mang nhiều khuynh hướng khác nhau Và đánh giá được
sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản Pháp đối với xã hội Việt Nam với một cách nhìn khách quan nhất
Bên cạnh đó, sự chuyển biến không ngừng của nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay để bắt kịp, hòa nhập vào nền kinh tế hiện đại của thế giới, đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần xúc tiến nghiên cứu về những chuyển biến – xã hội thời kỳ thuộc địa thông qua đó, đưa ra những đánh giá, nhận xét và phát huy những thanh tựu vằ khắc phục những hạn chế trong phát triển kinh tế cũng như xã hội trong sự nghiệp phát triển đất nước ngày nay
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về cơ cấu kinh tế -xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc, hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước Đến nay nguồn tài liệu các nhà nghiên cứu nước ngoài, đặc biệt là các nhà nghiên cứu người Pháp về vấn
đề này thì Việt Nam hoàn toàn chưa tiếp cận được nhiều, chủ yếu là các công trình
nghiên cứu của các sử gia trong nước Đối với vấn đề “Diễn tiến chính sách khai thác
thuộc địa của Pháp từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất và những tác động kinh tế - xã hội Việt Nam(1919-1939)” đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới nhưng còn
chung chung về giai đoạn cận đại, chưa thật sự sâu sắc để làm sang tỏ vấn đề nghiên cứu giai đoạn 1919-1939
2
Trang 3Nghiên cứu về những biến đổi kinh tế - xã hội Việt Nam thời cận đại, tác giả
Nguyễn Văn Khánh với công trình Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa
1958-1945, Nxb Hà Nội, Đại học quốc gia, 2006 đã đề cập những chính sách trong
chương trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và tác động của quá trình đó đến kinh tế - xã hội Việt Nam thời cận đại Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Ngọc trong
cuốn Tiến Trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục cũng đã có chương viết về chuyển biến kinh tế - xã hội Việt Nam thời cận đại, tác giả Đinh Xuân Lâm trong cuốn Đại
cương lịch sử Việt,Nxb Giáo dục Việt Nam, 2014 cũng có phần đề cập đến vấn đề này.
Ngoài ra trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa thời cận đại có công trình Nền giáo dục
Pháp –Việt của tác giả Phan Trọng Báu, Nxb khoa học xã hội, 2015 đã làm rõ sự
chuyển biến về mặt giáo dục cũng như văn hóa Việt Nam giai đoạn này
Ngoài ra còn các bài báo, tạp chí, các sách chuyên khảo về vấn đề kinh tế, các
tầng lớp giai cấp trong xã hội như: Tạp chí Nhận diện di sản kinh tế Việt Nam thời
thuộc địa ở Nam Kỳ (Lê Hữu Phước), Trí thức Việt Nam trong tiến trình lịch sử
(Nguyễn Văn Khánh), Giai cấp công nhân Việt Nam của cố GS Trần Văn Giàu,… Bên cạnh đó để làm sang tỏ phần nào đề tài tôi tham khảo cuốn Hồi ký Xứ Đông Dương của
Paul Doumer được dịch bởi dịch giả Nguyễn Xuân Khánh, xuất bản năm 2016, cuốn sách cũng đã đề cập đến vấn đề có liên quan đến công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Việt Nam Tuy nguồn tài liệu nêu trên chưa thật sự phong phú nhưng giúp tôi làm sang tỏ phần nào đề tài
3 Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp
3.1 Bối cảnh lịch sử
- Tình hình thế giới:
Vào những năm cuối của thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc Cùng với sự phát triển đó nhu cầu về thị trường, nguyên liệu ngày càng tăng Điều đó
đã dẫn tới các cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân phương Tây đến các quốc gia phong kiến phương Đông
Trang 4Năm 1917, Cách mạng Tháng 10 Nga thành công đã đưa đến sự ra đời của nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới, lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho phong trào cách mạng thế giới trong đó có tác động đến Việt Nam
Đồng thời, tháng 3/1919, Quốc tế cộng sản III được thành lập Cùng với sự ra đời của hàng loạt các đảng cộng sản, đảng cộng sản Pháp 1920, Đảng cộng sản Trung Quốc 1921 đã tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh cách mạng ở các nước thuộc địa của Pháp Điều này đã tác động đến phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ trên thế giới từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất
- Tình hình nước Pháp:
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp tuy là nước thắng trận song nền kinh tế nước Pháp bị tàn phá nặng nề, thiệt hại hơn 200 tỉ Fran, hơn 1,4 triệu người thiệt mạng
Cơ sở hạ tầng về nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải bị tàn phá nghiêm trọng, thương nghiệp bi đình trệ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Không chỉ thế đồng Frang bị mất giá, có thể nói rằng trước chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp là chủ
nợ của thế giới thì sau chiến tranh Pháp trở thành con nợ lớn nhất thế giới, nhất là nợ của Mỹ (năm 1920 nợ đến 300 tỉ Frang) Các vấn đề lạm phát gia tang, nạn thât nghiệp, các phong trào trỗi dậy đấu tranh chống chính phủ,…
- Tình hình ở Việt Nam:
Những năm đầu của thế kỷ XX với sự tác động mạnh mẽ của công cuộc xâm lược và chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp đã làm cho kinh
tế -xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến, đặc biệt là sự ra đời của các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Mâu thuẫn xã hội Việt Nam bị đẩy lên cao làm cho xuất hiện hàng loạt các phong trào yêu nước chống Pháp theo nhiều xu hướng, và cũng chính yếu tố
đó đã làm cản trở quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
Như vậy trước những sự chuyển biến của tình hình thế giới cũng như tình hình nước Pháp và nội tại của Việt Nam Tình hình đó đã thôi thúc chính quyền Pháp điều chỉnh chính sách khai thác thuộc địa ở Việt Nam Nhằm nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi nền kinh tế và khôi phục vị thế của Pháp trên trường quốc
4
Trang 5tế Với sự điều chỉnh chính sách khai thác thuộc địa của Pháp tiếp tục tác động dẫn đến
sự chuyển biến kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 1919-1939
3.2 Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp
a. Chính sách về chính trị
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất thực dân Pháp tiến hành một số cải cách về chính trị nhằm đối phó với những biến động có thể xẩy ra ở thuộc địa và hỗ trợ đắc lực cho chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai Mà mục tiêu của các cuộc cải cách
“nhỏ giọt” đó không gì hơn ngoài việc nới rộng nền tảng xã hội của chế độ thuộc địa
Mà những tên đứng đầu thực hiện lần lượt các cải cách đó là các viên toàn quyền Pháp từ A Xa rô, M Lông đến A, Varen Do đó các các viện dân biểu Bắc Kỳ, Trung Kỳ được thành lập, các phòng thương mại và canh nông của những thành phố lớn được mở rộng cho người Việt tham gia, lập các ngạch công chức tương đương cho người Pháp và người Việt có bằng cấp ngang nhau Mục tiêu của chúng thực hiện những cải cách đó không phải mong muốn đem lại điều kiện sống tốt hơn cho nhân dân
ta mà chúng nhằm xoa dịu các cuộc đấu tranh, xoa dịu sự công phẫn của người Việt đối với chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Đông Dương
Trong khu vực nông thôn, thực dân Pháp tiến hành “cải lương hương chính”
nhằm từng bước can thiệp trực tiếp vào công cuộc nội bộ của làng xã, loại bỏ dần tính chất tự trị của nó Trên nguyên tắc, công cuộc “cải lương hương chính” vẫn chấp nhận
cơ chế quản lý làng xã cổ truyền, nhưng chừng mực nào đó thực dân Pháp cũng đã can thiệp trực tiếp vào công việc làng xã bằng cách kiểm soát nhân sự, tài chính của bộ máy làng xã ở Việt Nam
Bên cạnh đó thực dân Pháp thực hiện nới rộng một số quyền lợi chính trị cho các tầng lớp trên, như : địa chủ, tư sản,… những kẻ có hữu sản, giàu có, sẵn sàng thỏa hiệp với thực dân Pháp, nhằm tạo sự ổn định chính trị để thu hút vốn đầu tư vào Đông Dương nhằm thực hiện hiệu quả chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai
b. Chính sách về kinh tế
Trang 6Về mục tiêu: giống như cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, vẫn theo đuổi ý
đồ nham hiểm, bòn rút thuộc địa để làm giàu cho chính quốc nhưng không tạo cho thuộc địa có cơ hội phát triển
Điểm nổi bật của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp được tiến hành trên quy mô lớn so với trước chiến tranh Vị trí; các lĩnh vực đầu tư có sự thay đổi, nếu như trước chiến tranh Pháp chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực khai khoáng thì trong cuộc khai thác lần hai thì vị trí đó thuộc về lĩnh vực kinh tế nông nghiệp Nông nghiệp được tư bản Pháp chú trọng đầu tư Đặc biệt là các đồn điền cao su
Trong thời điểm này nổi bật lên vai trò của ngân hàng Đông Dương trong hoạt động kinh tế cũng như sự đầu tư của tư bản Pháp ở Việt Nam Có thể nói ở giai đoạn này ngân hàng Đông Dương chi phối, can thiệp sâu vào lĩnh vực kinh tế cũng như xã hội ở Việt Nam và nắm vai trò chủ đạo và chi phối toàn bộ nền kinh tế thuộc địa về phát hành tiền, thương mại đầu tư,…
Nếu như trước chiến tranh thực dân Pháp chủ yếu thực hiện chính sách khai thác, vơ vét các nguồn lợi kinh tế để xuất khẩu thì trong giai đoạn 1919-1939, Pháp đã chuyển dần sang chính sách đầu tư khai thác Đặc biệt là mở rộng đầu tư khai thác và thiết bị kỹ thuật
Bảng 1: Tình hình đầu tư của Thực dân Pháp qua các thời kỳ1
1 Nguyễn Văn Khánh (2006), Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858-1945), Nxb Hà Nội, Đại học
quốc gia.
6
Trang 7
Sự thay đổi các chính sách về kinh tế trong chương trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 của Pháp đã có tác động và ảnh hưởng quan trọng làm biến đổi cơ cấu và trình độ phát triển của các ngành kinh tế truyền thống ở Việt Nam
c. Chính sách về văn hóa - giáo dục
Về mặt giáo dục: vào những năm đầu của thế kỷ XX, thực dân Pháp ra sức xây
dựng một nền giáo dục mới đồng thời tìm cách thủ tiêu vai trò của nền giáo dục cũ
“Cho đến năm 1919 với việc bãi bỏ kỳ thi Hội, nền giáo dục nho học hoàn toàn chấm
dứt, qua đó thủ tiêu vai trò của các sĩ phu phong kiến.” Đặc biệt thực hiện cuộc cải
cách giáo dục lần thứ hai do Albert Sarraut đã ra nghị định ban hành “Học chính tổng
quy” (Règlement général de L’Instruction publique) để cải cách hệ thống giáo dục bản
xứ Như vậy để thực hiện chương trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 Thực dân pháp đã xóa bỏ vai trò của nền giáo dục Hán học ở Việt Nam thay vào đó, Pháp đưa ra một số chủ trương mới trong lĩnh vực giáo dục, thay đổi chương trình đào tạo tư tương giáo dục thực dân và mở hệ thống trường Pháp – Việt thay cho tư tưởng giáo dục cũ và hệ thống trường Hán học
Về mặt văn hóa: cùng với những chính sách thay đổi trong giáo dục thì thực
dân Pháp thực hiện những chính sách về mặt văn hóa, sử dụng văn hóa như một thứ vũ
khí để quảng bá cho tư tưởng “Pháp – Việt đuề huề”, “Pháp- Nam hợp tác”, tạo ra bầu
không khí chính trị ổn định phục vụ có lợi cho sự thu hút vồn đầu tư vào Đông Dương Đồng thời chúng sử dụng báo chí làm cơ quan ngôn luận, tuyên truyền cho chính sách thống trị của chủ nghĩa thực dân, tuyên truyền quảng bá các quan niệm sống của phương Tây, du nhập lối sống xa hoa trụy lạc của chủ nghĩa tư bản vào thành thị, tuyên truyền đề cao văn hóa Pháp Ngoài ra Pháp còn cho in ấn , xuất bản các loại sách triết học, văn học phản động, thơ đồi trụy, gieo rắc tư tưởng mị dân,…bên cạnh đó thực dân Pháp còn khuyến khích bọn phản động xuất bản các sách, báo phản động Còn đẩy
mạnh công tác tuyên truyền, lôi kéo các tầng lớp tri thức trên “thực dân Pháp cho lập
hội khai trí tiến đức (1919), một mặt nhằm lôi kéo các tầng lớp trí thức thượng lưu,
Trang 8một mặt để ngăn chặn sự thức tỉnh trong tầng lớp con cái chúng.”2 Qua đó cho chúng
ta thấy được những thủ đoạn vô cùng thâm độc của thực dân Pháp đối với thuộc địa mà tiêu biểu là Việt Nam
4 Chuyển biến kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn từ 1919 – 1939
4.1 Lĩnh vực kinh tế
a Đối với lĩnh vực kinh tế truyền thống
- Nông nghiệp:
Nông nghiệp là lĩnh vực được thực dân Pháp chú trọng đầu tư mạnh nhất trong
công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai “năm 1924, số vốn đầu tư vào nông nghiệp là
52 triệu Frang, thì năm 1927 đã lên tới 400 triệu Frăng, chủ yếu vào khu vực trồng và khai thác cao su” 3 Với số vốn khổng lồ đó và được sự hẫu thuẫn đắc lực của chính sách cướp đoạt ruộng đất, hàng trăm đồn điền rộng tới vài nghìn ha đã xuất hiện Diện
tích đất canh tác tăng lên đáng kể, cả về diện tích trồng lúa và đồn điền“nếu năm 1900,
diện tích đồn điền mới là 322.000ha thì đến năm 1930, đã lên tới 1025.600 ha” 4 Đồng thời cơ cấu cây trồng có sự chuyển biến mạnh mẽ, có nhiều đổi mới và phong phú hơn, thực dân Pháp đã cho du nhập vào Việt Nam những giống cây trồng mới (lúa Thái Lan, giống cam, quýt Bắc Phi, khoai tây, các loại rau ôn đới như su hào, bắp cải, cà rốt, hành tây, các loại cây công nghiệp lâu năm, ) tạo ra sự đa dạng trong sản phẩm nông nghiệp Bên cạnh đổi mới các loại giống cây trồng thì nông cụ mới cũng bắt đầu xuất hiện như: cuốc, xẻng, xà beng phục vụ cho việc khai phá đất ở các đồn điền Ngoài ra
để phát triển nông nghiệp vì mục tiêu vơ vét kiếm lời thì Pháp thành lập các viện nghiên cứu nhằm hỗ trợ nghiên cứu và phát triển nông nghiệp (Viện khảo sát nông lâm Đông Dương, Túc mễ cục Đông Dương)
- Thủ công nghiệp:
2Bùi Minh Hiên, Lịch sử giáo dục Việt Nam, Nxb Đại học sư phạm, trang 64.
3 Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, trang 247.
4 Nguyễn Văn Khánh (2006), Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858-1945), Nxb Hà Nội,
Đại học quốc gia, trang 86
8
Trang 9Với chính sách khai thác thuộc địa trong chương trình hai của Pháp, cùng với sự chuyên biến về nông nghiệp thì thủ công nghiệp cũng có nhiều chuyển biến đáng kể và tiến bộ hơn Chính quyền Pháp đã có sự quan tâm hơn đối với các ngành thủ công truyền thống của nước ta Thợ thủ công được thành lập các hội đoàn thể bảo vệ các quyền lợi riêng của mình Với nhu cầu ngày càng tang, đặc biệt là sự mở rộng của các
đô thị đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của thủ công nghiệp truyền thống Ngoài các ngành thủ công truyền thống lâu đời, giai đoạn này đã bắt đầu xuất hiện them một số ngành nghề mới Các nghề thủ công tiêu biểu thời kỳ này có sức phát triển vượt trội như: nghề dệt, nghề gốm sứ, nghề chế biến thực phẩm cùng với sự gia tăng các nghề thủ công và đội ngủ thợ thủ công thì kỹ thuật và công cụ sản xuất được cải tiến góp phần nâng cao năng suất lao động thúc đẩy sự ra đời của các xưởng thủ công có quy
mô lớn
b Lĩnh vực kinh tế hiện đại
- Về công nghiệp:
Vẫn được chú trọng đầu tư phát triển, Pháp thực hiện chính sách chung hạn chế phát triển các ngành cạnh tranh với công nghiệp chính quốc, chủ yếu chú trọng đầu tư vào các ngành công nghiệp nhẹ, khai khoáng, công nghiệp chế biến Đặc biệt trong công nghiệp khai thác mỏ đầu tư các trang thiết máy móc và mở rộng quy mô khai thác
Có thể thấy rằng sau chương chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai, cơ cấu một nền công nghiệp được xác lập và hoàn chỉnh với hai bộ phận chính là công nghiệp mỏ và công nghiệp chế biến Các ngành công nghiệp nặng không được đầu tư phát triển tuy nhiên thì sự phát triển của các ngành công nghiệp trên cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền công nghiệp dân tộc Việt Nam, đưa nước ta sớm tiếp cận với nền khoa học – kỹ thuật của phương Tây
- Giao thông vận tải:
Nhìn chung, so với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất thì giai đoạn này vốn đầu tư vào ngành giao thông vận tải có giảm sút, chủ yếu hoàn thiện hệ thống đường sắt xuyên Việt, và mở thêm một số tuyến phụ từ Krongpha đi Đà Lạt dài 43km, từ Sài
Trang 10Gòn đi Lộc Ninh dài 59km Bên cạnh đó xây dựng hệ thống đường bộ liên tỉnh, huyện Đồng thời, hệ thống giao thông đường thủy nhất là xây dựng các cảng biển, cảng song như: Hải Phòng, Hòn Gai – Cẩm Phả, cảng Bến Thủy, Đà Nẵng, phục vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa
Điểmm mới trong ngành giao thông vận tải ở giai đoạn này có chú trọng tăng
cường cho ngành hàng không “ngày 11/5/1919, Toàn quyền Đông Dương ban hành
nghị định về việc kiện toàn bộ máy tổ chức chỉ huy ngành hàng không quân sự và dân
sự, đồng thời tăng cường kỹ thuật cho hai phi hành đoàn được thành lập vào năm
1917 (trong đó, Phi đoàn 2 hoạt động ở Nam Kỳ gồm căn cứ sân bay Phú Thọ và căn
cứ thủy phi cơ Nhà Bè) Ngày 15/7/1938, tuyến bay quốc tế đầu tiên (Sài Gòn – Bativia) được khai thông Đến trước Chiến tranh thế giới thứ hai, từ Nam Kỳ ñã có thêm tuyến bay Sài Gòn – Singapore – Indonésia do Hàng không Hà Lan khai thác” 5
Sự xuất hiện hàng không đó là một bước tiến của ngành giao thong vận tải, góp phần
mở rộng mạng lưới giao thông ở Việt Nam thời kỳ này Đặt tiền đề tạo điều kiện cho nền kinh tế hàng hóa phát triển
- Về ngoại thương:
Do tác động của chính sách tăng cường đầu tư khai thác thuộc địa nên các hoạt
động ngoại thương có chiều hướng tăng tiến khá mạnh Tuy nhiên, các công ty thương mại của tư bản Pháp và tư sản mại bản thuộc địa vẫn nắm giữ và ra sức củng cố địa vị độc quyền, cả ngoại thương lẫn nội thương Thực dân Pháp dùng hàng rào thuế quan để bảo hộ cho hàng hóa chính quốc, các nhà tư sản Việt Nam chỉ đóng vai trò thầu khoán, đóng vai trò trung gian trong thị trường Việt Nam Đặc trưng của nền thương mại thuộc địa được phản ánh rõ nét qua cơ cấu xuất – nhập khẩu; sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là mặt hàng nguyên liệu, nông sản phẩm (gạo, ngô và các sản phẩm ngư nghiệp; các sản phẩm khai mỏ) Nhập khẩu chủ yếu là những mặt hàng công nghiệp, kỹ thuật,
5 Lê Hữu Phước, Nhận diện di sản kinh tế ở Nam kỳ, Tạp chí phát triển KH $CN, tập 16, số X3-2013,
trang 145.
10