1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số NHẬN xét về CÁCH PHIÊN âm từ VIỆT BẰNG CHỮ hán TRONG AN NAM QUỐC DỊCH NGỮ TRONG tứ DI QUẢNG ký – QUA VIỆC SO SÁNH với AN NAM DỊCH NGỮ

12 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số Nhận xét về Cách Phiên Âm Từ Việt Bằng Chữ Hán Trong An Nam Quốc Dịch Ngữ Trong Tứ Di Quảng Ký – Qua Việc So Sánh Với An Nam Dịch Ngữ
Tác giả Shimizu Masaaki
Trường học Trung tâm Nghiên cứu Ngôn ngữ Quốc tế, Đại học Osaka
Chuyên ngành Ngôn ngữ học, Lịch sử ngôn ngữ
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 313,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài này, chúng tôi phân tích nh ững điểm khác nhau về cách phiên âm gi ữa 2 văn b n từ góc độ ngữ âm học lịch sử rồi nêu lên một số đặc điểm riêng c ủa ANQDN để xem xét lại vị trí

Trang 1

M ỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CÁCH PHIÊN ÂM TỪ VIỆT BẰNG CHỮ HÁN

TRONG AN NAM QU ỐC DỊCH NGỮ TRONG TỨ DI QUẢNG KÝ

– QUA VI ỆC SO SÁNH VỚI AN NAM DỊCH NGỮ

SHIMIZU Masaaki Trung tâm Nghiên c ứu Ngôn ngữ Quốc tế, Đại học Osaka, Nhật B n

1 M đầu

T ừ khi H Maspéro (1912) đề cập đến An Nam Dịch Ngữ như là một tài

li ệu tiếng Việt cổ quan trọng nhất trong ngữ âm học lịch sử tiếng Việt cho đến

nay, E Gaspardone (1953), Tr ần Kinh Hoà (1969), J Davidson (1975), và

V ương Lộc (1997) đã giới thiệu các loại văn b n và cách phiên âm từ Việt bằng

ch ữ Hán trong tài liệu này Theo Trần Kinh Hoà, các loại văn b n được chia làm

hai h ệ: những b n thuộc hệ b n Awanokuni Bunko 阿 波 國 文 庫

1

có tên là An

Nam D ịch Ngữ 安 南 譯 語 (ANDN) và m ột b n trong Tứ Di Quảng Ký 四 夷 廣

記 có tên g ọi riêng là An Nam Quốc Dịch Ngữ 安 南 國 譯 語 (ANQDN) Các

lo ại văn b n được sử dụng trong các công trình trên là như sau:

B ng 1 B n được sử dụng trong các công trình

Trong m ột số công trình rất quan trọng về vấn đề ngữ âm lịch sử tiếng

Vi ệt, Michel Ferlus đã đề cập đến Hoa Di Dịch Ngữ như là một tài liệu có thể

cho bi ết tình hình trung gian giữa Proto Việt và tiếng Việt Trung Đại (thế kỷ17)

(1982, 1992) Trong đó, tác gi đã căn cứ vào luận điểm của Davidson (1975) để

quy ra h ệ thống ngữ âm thế kỷ 15-16, nên đó là một tình hình ngữ âm ph n ánh

trong ANQDN

Theo Tr ần Kinh Hoà và Vương Lộc, sự khác biệt giữa ANDN và

ANQDN có th ể tóm lược như sau:

1 Có 10 m ục từ chỉ có trong ANDN, có 5 mục từ chỉ có trong ANQDN

2 Trong nhi ều trường hợp ANDN tạo ra nhiều đơn vị không có trong

ti ếng Việt hoặc không đúng với trật tự cú pháp tiếng Việt, còn ANQDN lại sửa

được nhiều trường hợp đó, mặc dù chưa sửa được hết hoàn toàn

3 So v ới ANDN, việc dùng chữ Hán để ghi âm tiếng Việt trong

ANQDN th ường không được nhất quán lắm

4 Trong ANQDN có m ột số trường hợp dịch một từ Hán bằng c từ Hán

Vi ệt lẫn từ thuần Việt ghi song song với nhau

1

Tên kho sách c ủa họ Hachisuka đời Edo Nhật Hiện nay một phần kho sách được lưu trữ tại thư

vi ện tỉnh Tokushima

H ội th o Quốc tế Việt Nam học lần III

T ừ 04 đến 07 năm 2008

Trang 2

Theo Tr ần Kinh Hoà, Davidson và Vương Lộc, cách phiên âm trong ANQDN chính xác và xác đáng hơn trong ANDN, thậm chí có trường hợp tác

gi c ủa ANQDN sửa lại phần sai sót trong ANDN2

Trong bài này, chúng tôi phân tích nh ững điểm khác nhau về cách phiên

âm gi ữa 2 văn b n từ góc độ ngữ âm học lịch sử rồi nêu lên một số đặc điểm riêng c ủa ANQDN để xem xét lại vị trí của nó trong quá trình biến đổi phụ âm đầu trong tiếng Việt3

2 Ph ương pháp

Trong khi phân tích cách phiên âm t ừ Việt bằng chữ Hán trong ANDN

ho ặc ANQDN, hầu như tất c các tác gi lấy hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Minh, t ức hệ thống ngữ âm ph n ánh trong cuốn Trung Nguyên Âm Vận 中 原 音

韵 , làm đối tượng so sánh với âm tiếng Việt được ghi bằng chữ Hán Tuy nhiên, theo Furuya (2006), hi ện nay trong giới Hán ngữ học có khá nhiều chuyên gia cho r ằng tiếng Hán được làm chuẩn vào đời Minh và đầu đời Thanh là tiếng Nam

Kinh 南 京 , ch ứ không ph i tiếng Hán miền bắc, chẳng hạn như Bắc Phương

Quan Tho ại 北 方 官 話 , nh ư nhiều người trước đây tin tư ng một cách vô căn cứ

M ặt khác, những người tham gia vào việc biên soạn Hoa Di Dịch Ngữ không hẳn

t ất c đều là người xuất xứ thủ đô, thậm chí có trường hợp người b n xứ của ngôn ng ữ đó cũng tham gia4

Vì lý do nh ư vậy, trong bài này chúng tôi lấy hệ

th ống ngữ âm tiếng Hán Trung đại, tức hệ thống ph n ánh trong Thiết Vận 切 韵 , làm đối tượng so sánh vì đó là một hệ thống chi tiết nhất làm nền cơ s quan

tr ọng khi so sánh với bất cứ phương ngữ tiếng Hán nào hoặc ngôn ngữ nào dùng

t ừ gốc Hán Kết qu phân tích theo phương pháp này cũng sẽ giúp cho chúng tôi

kh o sát v ề tính phương ngữ của tiếng Hán làm cơ s phiên âm từ Việt

Tr ước tiên, chúng tôi so sánh cách phiên âm các âm vị phụ âm cuối tắc trong hai b n Lý do là t ừ thời kỳ thành lập cách đọc Hán Việt qua thời kỳ sáng tác ch ữ Nôm cho đến thế kỷ 17, những âm vị này tiếp tục giữ lại vị trí riêng trong h ệ thống và rất ít trường hợp đổi sang âm vị khác (Nguy n Tài Cẩn 1985, Mineya 1972), nên vi ệc xem xét cách phiên âm chúng sẽ giúp cho chúng tôi nắm được những điểm khác nhau về phương pháp phiên âm từ tiếng Việt Chúng tôi

c ũng phân tích những trường hợp phiên âm tổ hợp phụ âm đầu và song âm tiết trong hai b n, vì th ực trạng của hai đặc điểm ngữ âm này trong thời kỳ thành lập hai b n đó có thể biết được thông qua những tài liệu nội địa Việt Nam được ghi

b ằng chữ Nôm5

2

Tr ần Kinh Hoà, Sđd, tr.53-54; Davidson, Sđd, tr.301; Vương Lộc, Sđd, tr.6

3

Trong bài này, chúng tôi sử dụng hai b n ANDN: b n chụp nh b n Awanokuni Bunko lưu trữ tại

thư viện khoa ngữ văn Đại học Kyoto và b n sao lục trong Annankiryakuko安南紀略藳 , trong Q1

Toàn t ập Kondo Shosai 近藤正斎全集 do Kokushokankokai国書刊行会 ch ủ biên năm 1905, và

một b n ANQDN trong Huyền Lãm Đường tùng thư 玄覧堂叢書 l ưu trữ tại Toyo Bunko, Tokyo

4 Xem T ứ Dịch Quán Tắc 四譯館則 và Q.109 Đại Minh Hội Điển 大明會典 , phần đề cập đến Hội Đồng Quán 會同館và Các Qu ốc Thông Sự 各國通

5 Xem Shimizu (2006)

Trang 3

B ng 2 Đối ứng Nhập Thanh và phụ âm cuối tắc tiếng Việt trong ANDN

Nhập

Thanh điệu

chữ Hán dùng

phiên âm

Bình Thượng Khứ

/-t/ 1(2) 3+1? 2(3)+1? 0 11(20) 15(22)

nặng

(Xin lược bỏ)

( ): t ổng số ?: số trường hợp tái lập từ vựng chưa chắc chắn

B ng 3 Đối ứng Nhập Thanh và phụ âm cuối tắc tiếng Việt trong ANQDN

Nhập

Thanh điệu

chữ Hán dùng

phiên âm

Bình Thượng Khứ

/-p/ /-t/ /-k/

/-t/ 3 4+1? 3(5)+2? 2 12(17) 18(28)+1?

nặng

(Xin lược bỏ)

Sau khi n ắm được một số đặc trưng ngữ âm ph n ánh trong ANQDN, chúng tôi d ựa vào kết qu nghiên cứu của Ferlus (1982 và 1992) về quá trình

bi ến đổi phụ âm đầu mà kh o sát thêm về vị trí của nó trong quá trình biến đổi

ph ụ âm đầu từ giai đoạn proto Việt đến giai đoạn hiện đại

3 V ề phương pháp phiên âm từ Việt bằng chữ Hán trong ANDN và ANQDN 3-1 Cách phiên âm ph ụ âm cuối tắc

Trong b ng 2 và 3, chúng tôi nêu lên t ần số xuất hiện những trường hợp

Trang 4

ghi t ừ Việt có phụ âm cuối tắc và ghi từ Việt bằng chữ Hán nhập thanh 入 聲 , t ức

có ph ụ âm cuối tắc trong hai b n Trước hết, chúng tôi thấy rất rõ rằng tác gi

c ủa hai b n đều có xu hướng sử dụng chữ Hán nhập thanh khi phiên âm những

t ừ Việt có phụ âm cuối tắc, có nghĩa là phương ngữ tiếng Hán mà tác gi dựa vào

để phiên âm từ Việt có thể vẫn giữ lại phụ âm cuối tắc, hoặc tác gi dựa vào trí

th ức về âm vận học truyền thống tiếng Hán mà tiến hành việc phiên âm

N ếu so sánh tần số trường hợp dùng chữ Hán không nhập thanh để phiên

âm t ừ Việt có phụ âm cuối tắc hoặc ngược lại dùng chữ Hán nhập thanh để phiên

âm t ừ Việt không có phụ âm cuối tắc, thì ANQDN có tần số cao hơn ANDN, một

s ố ví dụ về trường hợp sau B ng 4

B ng 4 M ột số trường hợp phiên âm từ Việt không có phụ âm cuối tắc

T ừ Hán ANDN (dùng chữ Hán

phi nh ập thanh) Phiên âm

ANQDN (dùng ch ữ

Hán nh ập thanh) Phiên âm

擺thu ộc vận mẫu 佳

溜thu ộc vận mẫu 尤

哀thu ộc vận mẫu 咍 thu ộc vận mẫu 麻

頓thu ộc vận mẫu 魂

雷thu ộc vận mẫu 灰

播thu ộc vận mẫu 戈

b y

l ựu nghe

n ửa

tín

tr ời

v ỗ

thu ộc vận mẫu 陌

六thu ộc vận mẫu 屋

兀thu ộc vận mẫu 没

兀thu ộc vận mẫu 没

迪thu ộc vận mẫu 錫

北thu ộc vận mẫu 徳

別thu ộc vận mẫu 薛

b y

l ựu nghe

n ửa tín

tr ời

v ỗ

Tuy nhiên ngay c trong ANQDN, tr ường hợp dùng chữ Hán nhập thanh

mà ghi ph ụ âm cuối tắc tiếng Việt vẫn có tần số đáng kể, nên chúng tôi tạm kết

lu ận rằng ý thức của tác gi về âm vận học tiếng Hán truyền thống trong ANQDN t ương đối thấp hơn ANDN

B ng 5 Cách dùng ch ữ Hán phiên âm số từ 1 ~ 10 trong hai b n

Chữ Nôm trong Phật Thuyết6

T ừ hiện đại đối ứng một hai ba b ốn n ăm sáu B y

進 tám chín m ười

6

Một bộ gi i âm kinh phật Phật thuyết Đại báo Phụ mẫu Ân trọng kinh (Hoàng Thị Ngọ 1999,

Shimizu, S đd)

Trang 5

Nĩi v ề ý thức đối với truyền thống, thì tác gi của ANDN cĩ phần dựa vào cách dùng ch ữ Hán trong chữ Nơm Việt Nam mà phiên âm từ Việt như thấy trong tr ường hợp số từ từ một đến mười trong B ng 5

Tác gi ANQDN bi ểu hiện thái độ c i cách và tự do so với tác gi ANDN, t ức ít bị nh hư ng b i hệ thống âm vị học tiếng Hán truyền thống, đồng

th ời hầu như khơng bị nh hư ng b i cách dùng chữ Hán để phiên âm tiếng Việt

Vi ệt Nam, tức là chữ Nơm gi tá

3-2 Cách phiên âm t ổ hợp phụ âm và song âm tiết

Chúng tơi xem ti ếp cách phiên âm từ Việt cĩ tổ hợp phụ âm đầu hoặc song âm ti ết Thơng qua việc kh o sát vấn đề này, chúng tơi thấy một phương châm biên so ạn khác của tác gi ANQDN B ng 6 và 7 gồm cĩ các trường hợp dùng m ột chữ Hán để ghi tổ hợp phụ âm đầu trong ANDN và ANQDN:

B ng 6 Cách phiên âm t ổ hợp phụ âm trong ANDN

Tổ hợp phụ

âm đầu được

tái lập

Chữ Hán dùng để phiên âm / Tên thanh mẫu tiếng Hán Trung Đại (Âm hiện đại [Chữ Hán dịch nghĩa] < âm trong Từ điển Việt Bồ La)

* kHr- 亢 溪 (sáng [ 暁 ] < sáng); 空 溪 (sơng [ 河 ] < so ũ)

* pr- 牌 並 (say [ 酔 ] < say)

* C r- 蔞 來 (sâu [ 深 ] < sâu)

* tl- 達 定 (tr [ 還 ] < bl ); 欄 来 (tr ăm [ ] < tlăm)

弄 来 (tráng [ 鍍 ]); 連 来 (trên [ ] < tlên); 鸞 来 (trịn [ 円 ] < tlịn); 竜 来

(trong [ 清 ] < tlã); 弄 来 (trong [ 昼 ] (- ngày), [ 胸 ] (- lịng) < tlã); 勒 来

(tr ước [ 前 ] < tl ước)

* bl- 拝 幫 (trái [ 菓 , 茘枝 ] (- ngành), [ 柑子 ] (-t ử) < blái); 来 来 ( trai [ 奴婢 ] (tơi

- tơi gái) < blai); 勒 来 (trai [ 姪児 ] (cháu -) < blai); 頼 来 (trái [ 棗児 ] (-

l ặc) < blái); 蔞 来 (tr ầu [ 蔞 ] < blàu); 雷 来 (tr ời [ ] < blời)

* kl- 共 群 (trống [ 皷 ] < tlĩũ)

B ng 7 Cách phiên âm t ổ hợp phụ âm trong ANQDN

Tổ hợp phụ

âm đầu được

tái lập

Chữ Hán dùng để phiên âm / Tên thanh mẫu tiếng Hán Trung Đại (Âm hiện đại [Chữ Hán dịch nghĩa] < âm trong Từ điển Việt Bồ La)

* kHr- 亢 溪 (sáng [ 暁 ] < sáng); 客 溪 (s ắt [ 鉄 ] 7 < s ắt); 考 溪 (sau [ 後 ] < sau);

空 溪 (sơng [ 河 ] < so ũ); 空 溪 (s ống [ 生 ] < sĩ ũ)

* pr- 包 幫 (sáu [ 六 ] < sẳ); 牌 並 (say [ 酔 ] < say)

* C r- 蔞 来 (sâu [ 深 ] < sâu); 竜 来 (sơng [ 江 ] < soũ)

7 Trong Ph ật Thuyết cũng thấy một trường hợp dịch từ thiết 鐵 b ằng 可列 (Shimizu 1996) Đây

c ũng là một chứng cớ để tái lập * kHr- vào thế kỷ 15

Trang 6

* tl- 達 定 (tr [ 還 ] < bl ); 登 端 (trên [ ] < tlên); 連 来 (trên [ ] < tlên); 朗

来 (trịn [ 円 ] < tlịn); 吝 来 (trịn [ 円 ] < tlịn); 鸞 来 (trịn [ 円 ] < tlịn);

竜 来 (trong [ 清 ] < tlã); 弄 来 (trong [ 昼 ] (- ngày) < tlã)

* bl- 拝 幫 (trái [ 菓 , 竜眼 ] (- nhãn), [ 茘枝 ] (- v i), [ 栗子 ] (l ật -), [ 柑 ] (- cam),

[ 榴 ] (- th ạch lựu) < blái); 頼 来 (trái [ 棗児 ] (- táo) < blái); 蔞 来 (tr ầu [ 還 ] (- cau) < blàu); 北 幫 (tr ời [ ] < blời); 雷 来 (tr ời [ , 日 ] < bl ời)

* kl- 共 群 (trống [ 皷 ] < tlĩũ)

* kHl- 敺 溪 (trâu [ 牛 ] (bị -) < tlâu)

T ất c những trường hợp trong 2 b ng trên đều chỉ ghi một trong hai yếu

t ố trong tổ hợp phụ âm đầu tiếng Việt

Cĩ m ột số trường hợp như sơng, trên, và trịn, thì trong ANDN chỉ dùng

m ột loại chữ để phiên âm một hình vị, cịn trong ANQDN tác gi dùng nhiều loại

ch ữ để ghi cùng một hình vị Đĩ là một trong những xu hướng chung giữa hai

b n nh ư Vương Lộc (1997) cĩ nĩi đây, quan trọng hơn là những trường hợp tác gi dùng 2 mã ch ữ để ghi tổ hợp phụ âm hoặc song âm tiết B ng 8 gồm 3

tr ường hợp như vậy:

B ng 8 T ổ hợp phụ âm và song âm tiếng ghi bằng 2 mã chữ

Ch ữ Hán dịch

Âm trong

黄牛

牛叫

革蔞 岡

8

革蔞

革蔞 高

trâu

vàng trâu

trâu kêu

tlâu

跛 敺

跛 罔

跛 改

bị trâu

bị vàng

bị g ọi

大石

石路

石榴

王(玉)石

宝石

喇大

戞 喇大

喇大 党

喇大 溜

物 喇大

憂 喇大

đá

c đá

đá đường

đá lựu

ngọc đá

dấu đá

là đá

刺大

喇大 戞

党 刺大 達

拝 十六

欲 食

刺 達

đá

đá c

đường đá đắt

trái th ạch lựu

ng ọc thạch

đá? Đắt

Trong tr ường hợp này cĩ hai cách phiên âm từ Việt hồn tồn khác nhau

gi ữa hai b n Một hình vị cĩ tổ hợp phụ âm đầu được ghi bằng hai mã chữ thì trong ANDN cĩ hai tr ường hợp: 革蔞 trâu và 托爛 trán 革( ki ến 見 m ẫu) và 蔞 (lai

來 m ẫu) cho phép chúng tơi tái lập *kl-, cịn (th ấu 透 m ẫu) và 爛 (lai 來 m ẫu) cho phép tái l ập *tl-, như thấy trong Từ điển VBL9

Đối với hai trường hợp này, tác gi

8

Ch ữ này ph i được sửa là chữ 罔 , vì chẳng hạn mơn Thanh Sắc 聲色 cĩ ph ần chữ 黄 được dịch

b ằng 罔 (vàng)

9

Alexandre de Rhodes, T ừ điển Việt-Bồ-La, Rome, 1651

Trang 7

Hi ện đại ∫ Î t tH c s k

: : : : : : :

: : : : : : :

( p) (t) (t) (sh-ss-ch'-ch) (ch) (ts'-ch'-sh) (k) :Ferlus1982 : : : : : : :

: : : : : : :

: : : : : : :

: : : : : : :

h ữu thanh hoá B D } } æ æ ƒ

: : : : : XV-XVIe B D } æ ƒ

( p) (t) ( sh-ch'-j) ( ch) ( k) : : : : : XVIIe B D } æ ƒ

((b-(b e( ) (d-d e( ) (r) (gi) (g-gh)

Hi ện đại v z z z ƒ

(v) (d) (r) (gi) (g)

Hình 1 Quá trình xát hoá ph ụ âm đầu (Ferlus 1982, 1992)

ANDN dùng t ừ khác để dịch nghĩa chữ Hán hoặc chỉ ghi âm Hán Việt của chữ Hán đó Còn trường hợp ghi từ song âm tiết trong ANDN là 喇大 Đó là một từ Rhodes đã ghi bằng là đá trong TĐ VBL, và dịch gi Phật thuyết cũng ghi bằng 2 mã

Trang 8

ch ữ Nôm “ 羅 打 ”, đúng là một từ tương đương với từ lata3

ti ếng Rục10

Đối với

tr ường hợp này, trong ANQDN cũng có 3 lần ghi bằng hai mã chữ 刺大 và 喇大 ,

nh ưng có một lần ghi bằng một mã chữ 刺 v ốn biểu thị yếu tố thứ nhất trong song âm

ti ết Điều này có thể chứng tỏ rằng tác gi ANQDN đã tham kh o cách phiên âm trong ANDN, r ồi cố tìm cách nào đó để dịch một hình vị từ Hán bằng một mã chữ theo một

ph ương pháp phổ biến trong ANQDN

Tóm l ại, tác gi của ANDN nếu có trường hợp có yếu tố nhận thức được như

m ột âm tiết thì dùng một mã chữ ghi âm tiết đó, có khi đó là yếu tố thứ nhất trong tổ

h ợp phụ âm đầu hoặc song âm tiết Ngược lại, tác gi ANQDN thì có một phương châm hoàn toàn khác là phiên âm m ột hình vị bằng một mã chữ như cấu trúc âm tiết tiếng Hán th ời ấy, và nếu khó áp dụng phương châm này thì dùng từ khác hoặc chỉ ghi cách đọc Hán Việt của chữ Hán dịch nghĩa11

4 V ị trí của ANQDN trong quá trình biến đổi phụ âm đầu

Trên c ơ s tìm hiểu hai văn b n một cách sơ lược như trên, chúng tôi

ti ếp tục phân tích đặc trưng ngữ âm cách phiên âm trong ANQDN Trong khi đó,

m ột trong những công trình nghiên cứu quan trọng nhất về ngữ âm lịch sử tiếng

Vi ệt đề cập đến ANDN hoặc ANQDN là của Ferlus (1982 và 1992) Trong đó, tác gi đặt tình hình ngữ âm ph n ánh trong ANQDN vào quá trình biến đổi ngữ

âm ph ụ âm đầu tiếng Việt Dựa vào hai công trình này, quá trình xát hoá phụ âm

t ắc có thể minh hoạ như Hình 1

Ferlus đã dựa vào kết qu của Davidson (1975) mà kh o sát về tình hình giai đoạn Hoa Di Dịch Ngữ Chúng tôi cũng đối chiếu lại hệ thống phụ âm đầu

ti ếng Việt trong ANQDN với hệ thống ngữ âm tiếng Hán Trung đại, thì kết qu

nh ư Phụ lục 2

C ăn cứ vào kết qu đó với việc phân tích cách dùng chữ Hán trong yếu

t ố biểu âm chữ Nôm trong Phật Thuyết, chúng tôi xin bổ sung thêm một giai

đoạn trước ANQDN như Hình 2

5 K ết luận

Trong ti ểu luận này, chúng tôi phân tích hai loại văn b n phiên âm từ Việt bằng

ch ữ Hán được biên soạn vào đời Minh Trung Quốc, tức An Nam Dịch Ngữ và An Nam

Qu ốc Dịch Ngữ Thông qua việc so sánh tình hình ngữ âm được ph n ánh trong hai b n,

chúng tôi t ạm kết luận như sau:

1) Tác gi c ủa ANDN có xu hướng bị nh hư ng b i cách dùng chữ Hán phiên

10 Xem Nguy n Văn Lợi (1993)

11

Tr ường hợp dùng 2 mã chữ 麻兀 để dịch chữ 馬 (mã) trong ANQDN có v ẻ là ngoại lệ duy nhất

Vì trong tiếng Việt cổ có từ bà ngựa (thấy trong抑斎遺集巻之七 , 国音詩集 , 首尾吟 , ch ẳng hạn), tương đương với từ m ´ N´$/ trong ti ếng maleng brô (Ferlus 1997) Tuy nhiên những mục khác dịch chữ 馬 trong ANQDN, thì ch ữ 麻 khi nào c ũng được dùng để phiên âm cách đọc Hán Việt của chữ 馬 , còn

ch ữ 兀 được dùng để ghi từ ngựa, nên đây là một trong những trường hợp tác gi ANQDN ghi âm

t ừ Hán Việt và từ thuần Việt tương đương với nhau, như Trần Kinh Hoà phân tích (tr.54)

Trang 9

Hi ện đại ∫ Î t tH c s k

: : : : : : :

: : : : : : : ANDN ∫ Î s /t ˛/t˛ c ˛/tS k

( 幫並 ) ( 端定 ) ( 心生書 / ( 心生書章船 / ( 精章知從 ) ( 書 / 清昌 ) ( 見 )

端定透 ) 透定端知澄 )

: : : : : : :

PT ∫ Î s ˛/t˛ c ˛/tS k

(b-ph) ( đ) (t) (s-th) (ch-tr-gi) (x-s-th-ch) (k) : Shimizu 1996 : : : : : : :

: : : : : : :

: : : : : : :

: : : : : : :

h ữu thanh hoá B D } } æ æ ƒ

PT B D } æ ƒ

(b-ph) ( đ-d) (t) (ch-tr-d) (k-kh) : : : : : ANDN B D(/¯) } æ ƒ

( 幫並 ) ( 端定精 / 日影 ) ( 日生 ) ( 見章 ) ( 見 )

: : : : :

T Đ VBL B D } æ ƒ

( ( b-(b e( ) (d-d e( ) (r) (gi) (g)

Hi ện đại v z z z ƒ

(v) (d) (r) (gi) (g) Hình 2 Quá trình bi ến đổi phụ âm đầu (Ferlus 1982, 1992, Shimizu 1996)

Trang 10

âm t ừ Việt nội địa Việt Nam, tức là chữ Nôm gi tá, đồng thời cũng bị nh hư ng b i

h ệ thống âm vận tiếng Hán Trung đại, tức hệ thống ngữ âm ph n ánh trong Thiết vận,

khi ti ến hành việc phiên âm từ Việt bằng chữ Hán

2) Tác gi c ủa ANQDN có tư tư ng tiến bộ và tự do hơn, ít chịu nh hư ng của truy ền thống trong khi phiên âm từ Việt

Vì lý do trên, chúng tôi d ựa vào tình hình ngữ âm ph n ánh trong ANQDN mà xem xét l ại vị trí của nó trong quá trình biến đổi phụ âm đầu từ Proto Việt đến hiện đại trên c ơ s hai công trình của Ferlus (1982 và 1997) Đồng thời, chúng tôi cũng đề cập đến hệ thống ngữ âm được ph n ánh trong cấu tạo chữ Nôm vào thế kỷ 15 để xem xét

t ừng giai đoạn: Proto Việt → Tk.15 (Ph ật Thuyết) → Tk.16 (ANQDN) → Tk.17 (T Đ VBL) → hi ện đại

TÀI LI U THAM KH O

[1] Davidson, J H., A new version of the Chinese-Vietnamese vocabulary of the Ming

dnasty – I BSOAS XXXVIII-2, 1975, pp.296-315

[2] Davidson, J H., A new version of the Chinese-Vietnamese vocabulary of the Ming

dnasty – II BSOAS XXXVIII-3, 1975, pp.586-608

[3] Ferlus, M., Spirantisation de obstruantes mediales et formation du systeme

consonantique du vietnamien CLAO XI-1, 1982, pp.83-106

[4] Ferlus, M., Histoire agrégée de l’évolution des consonnes initiales du vietnamien et

du sino-vietnamien MKS 20, 1992, pp.111-125

[5] Ferlus, M., Le maleng brô et le vietnamien MKS 27, 1997, pp.55-66

[6] Furuya Akihiro, 官 話 と 南 京 に つ い て の (Ghi nh ớ về hai từ Quan

Tho ại và Nam Kinh), Kaihen, 25, Đại học Waseda, 2006, pp.119-123

[7] Gaspardon, E., Le lexique annamite des Ming JA CCXLI, 1953, pp.335-397

[8] Hoàng Th ị Ngọ, Chữ Nôm và tiếng Việt qua b n gi i âm Phật Thuyết Đại Báo Phụ

M ẫu Ân Trọng Kinh, Nhà xuất b n Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1999

[9] Maspéro, H., Etudes sur la phonétique historique de la langue annamite BEFEO

12-1, 1912, pp.1-127

[10] Mineya Toru, 越南漢字音の研究 (Nghiên c ứu về cách đọc Hán Việt): Toyo Bunko Ronso s ố 53, Toyo Bunko, Tokyo, 1972

[11] Mori Hiromichi, 古代の音韻と日本書紀の成立 (Ng ữ âm xưa và sự thành lập

Nh ật Bản Thư Kỷ), Taishukan Shoten, Tokyo, 1991

[12] Nguy n Tài C ẩn, Một số vấn đề về chữ Nôm Nhà xuất b n đại học và trung học

chuyên nghi ệp, Hà Nội, 1985

Ngày đăng: 09/09/2022, 09:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w