1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự ở việt nam hiện nay

115 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Linh
Người hướng dẫn PGS.TS. Chu Hồng Thanh
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 885,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia về vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự ..... Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hàn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ MỸ LINH

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƢ TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN ĐƢỢC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG

TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ MỸ LINH

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN ĐƯỢC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG

TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Pháp luật về quyền con người

Mã số : 8380101.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Chu Hồng Thanh

HÀ NỘI - 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực trong luận văn này

Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 2021

Người cam đoan

Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu công tác thực tiễn, được sự hướng dẫn, giảng dạy của Quý thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan cùng với sự đóng góp của bạn bè, tôi đã hoàn thành Luận văn Thạc sĩ Luật học Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:

Ban giám hiệu cùng Quý thầy cô Trường Đại học quốc gia Hà Nội, các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Giảng viên đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường

Cảm ơn Khoa Luật, Trường Đại học quốc gia Hà Nội thực hiện quản lý đào tạo, cung cấp thông tin cần thiết về quy chế đào tạo cũng như chương trình đào tạo một cách kịp thời, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành Luận văn này đúng tiến độ

Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập

Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Chu Hồng Thanh

đã luôn tận tình, sát sao hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn./

Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 2021

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN ĐƯỢC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 11

1.1 Khái quát chung về quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 11

1.1.1 Khái niệm suy đoán vô tội 11

1.1.2 Nội dung của quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 17

1.1.3 Phạm vi áp dụng quyền được suy đoán vô tội 26

1.1.4 Ý nghĩa của quyền được suy đoán vô tội 28

1.2 Luật sư và vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 30

1.2.1 Luật sư và vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự 30

1.2.2 Vai trò của luật sư trong việc bảo về quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 31

1.2.3 Mối quan hệ giữa vai trò của luật sư và các chủ thể khác trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 35

1.3 Quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia về vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 36

1.3.1 Quy định của pháp luật quốc tế 36

1.3.2 Quy định của pháp luật một số quốc gia 39

Chương 2 - QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN ĐƯỢC SUY ĐOÁN VÔ TỘI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN 48

2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 48

Trang 6

2.1.1 Quy định về vị trí, vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự 48

2.1.2 Quy định về vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 53

2.2 Thực tiễn thực hiện vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 58

2.2.1 Khái quát chung về tình hình tổ chức và hoạt động hành nghề của đội ngũ luật sư ở Việt Nam hiện nay 58

2.2.2 Kết quả đạt được trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự của luật sư 63

2.2.3 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự của luật sư 65

2.3 Những đặc điểm, yêu cầu về vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 72

Chương 3 - PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN ĐƯỢC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 77

3.1 Dự báo tình hình thực hiện quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự và phương hướng về nâng cao vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 77

3.1.1 Dự báo tình hình thực hiện quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 77

3.1.2 Phương hướng về nâng cao vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 81

3.2 Các giải pháp nâng cao vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 84

3.2.1 Các giải pháp về hoàn thiện pháp luật 84

3.2.2 Các giải pháp về tổ chức và hoạt động 91

KẾT LUẬN LUẬN VĂN 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT : Cơ quan điều tra

HĐXX : Hội đồng xét xử SĐVT : Suy đoán vô tội TAND : Tòa án nhân dân

TTHS : Tố tụng hình sự TTHSVN : Tố tụng hình sự Việt Nam

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Hoạt động tố tụng hình sự (TTHS) là một hoạt động của Nhà nước có liên quan chặt chẽ tới quyền con người Trong hoạt động TTHS các biện pháp cưỡng chế Nhà nước được áp dụng phổ biến nhất; là hoạt động đụng chạm trực tiếp tới các quyền tự do, dân chủ, các quyền và lợi ích hợp pháp của con người, đặc biệt là quyền con người của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo

có nguy cơ dễ bị xâm hại Vì vậy, việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong TTHS là một trong những mục tiêu rất quan trọng được cộng đồng quốc tế và mỗi quốc gia đều quan tâm

Để đạt được mục tiêu trên, các văn kiện quan trọng của Liên Hợp quốc

đã quy định các quyền, nguyên tắc và điều kiện cần thiết để bảo vệ quyền con người trong TTHS Trong đó suy đoán vô tội (SĐVT) được ghi nhận là quyền con người, quyền cơ bản của mọi cá nhân và là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế Điều 11 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền của Liên Hợp

quốc quy định: “Mọi người bị buộc tội có hành vi phạm tội được coi là vô tội

cho đến khi sự phạm tội của người đó được xác định một cách hợp pháp trong một vụ xét xử công khai, trong đó có những sự bảo đảm cần thiết cho việc bào chữa của người đó” Khoản 2 Điều 14 Công ước quốc tế về các

quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định: “Người bị buộc là phạm một

tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo pháp luật” Những quy định này là kết quả của một quá

trình đấu tranh giữa các trường phái khác nhau trong việc tìm kiếm các biện pháp bảo đảm tính khoa học, khách quan, toàn diện quá trình TTHS

Ở nước ta, quyền được SĐVT, nguyên tắc SĐVT đã được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 và văn bản pháp luật khác Điều 31 Hiến pháp

năm 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi

Trang 9

2

được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã

có hiệu lực”; Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”; Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội” Tất cả những quy định trên, đều chứa đựng những nội dung cơ bản nhất

của quyền được SĐVT được các văn bản pháp lý quốc tế thừa nhận và được

cụ thể hóa bằng nhiều quy định trong pháp luật tố tụng hình sự của nước ta

Việc Hiến pháp năm 2013, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ghi nhận

về mặt pháp lý những nội dung chủ yếu của quyền được SĐVT, thể hiện bước tiến bộ về kỹ thuật lập pháp theo hướng kế thừa những giá trị pháp lý tiên tiến của nhân loại, bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội trong TTHS Thực tiễn áp dụng những quy định đó trên thực tế đã minh chứng sự đúng đắn của sự ghi nhận và thực hiện quyền được SĐVT; người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã được bảo đảm những quyền

và lợi ích hợp pháp của mình với tư cách là người chưa bị coi là có tội

Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay, việc nhận thức và thực hiện quyền được SĐVT chưa thống nhất, còn nhiều tồn tại, mâu thuẫn, vẫn có không ít chủ thể tiến hành tố tụng hoặc những người có thẩm quyền khác hiểu sai lệch, thiên theo hướng buộc tội, coi người

bị buộc tội là người có tội Thực tế còn cho thấy, việc thực hiện quyền được SĐVT chưa được tuân thủ thực hiện một cách triệt để và nhất quán Dưới góc

độ khoa học pháp lý về quyền con người, còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ về mặt lý luận cũng như việc bảo đảm và thúc đẩy quyền được SĐVT trong TTHS và trong các lĩnh vực pháp luật khác

Trang 10

3

Việc đảm bảo quyền được SĐVT được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau trong đó có vai trò quan trọng của Luật sư Với tư cách là chủ thể tham gia tố tụng, để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác, hoạt động nghề nghiệp của Luật sư, các

tổ chức hành nghề Luật sư đã góp phần bảo vệ quyền con người, bảo đảm quyền của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo Đã có nhiều vụ án Luật sư tìm ra được chứng cứ gỡ tội cho thân chủ của mình, làm thay đổi tội danh theo hướng có lợi cho bị cáo, thậm chí tuyên vô tội theo quy định của pháp luật Vì vậy, Luật sư đóng góp vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện các quyền của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, trong đó có quyền

được suy đoán vô tội, góp phần “không làm oan người ngay, để lọt kẻ gian”

Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, nhận thức về vị trí, vai trò của luật sư trong TTHS nói chung và trong hoạt động bảo đảm quyền được SĐVT nói riêng còn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu Ở nhiều nơi, nhiều thời điểm các cơ quan tiến hành tố tụng còn có những hoạt động cản trở, gây khó khăn cho hoạt động bào chữa của luật sư Bên cạnh đó, nhiều luật sư cũng như tổ chức hành nghề luật sư còn chưa nhận thức được vị trí, tầm quan trọng của mình trong hoạt động bảo vệ quyền con người trong đó có quyền được SĐVT

Chính vì những lý do trên, học viên lựa chọn nghiên cứu đề tài “Vai trò

của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình

sự Việt Nam hiện nay”; với hy vọng có cái nhìn toàn diện, nhận thức đúng

đắn về quyền được suy đoán vô tội và phát huy được vai trò của người Luật sư

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quyền được suy đoán vô tội hay Nguyên tắc suy đoán vô tội là một vấn

đề khá nhạy cảm, gây nhiều tranh cãi trong khoa học pháp lý tố tụng hình sự, cho nên đã được nhiều nhà luật học ở trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu Cụ thể như:

Trang 11

4

Phạm vi nước ngoài: Một số công trình nghiên cứu của các tác giả như:

TS.Davit Hammơ có công trình “Suy đoán vô tội và nghĩa vụ trái ngược; một

văn bản cân bằng”, (Trường Đại học Tổng hợp Queensland, Australia, 2007);

tác giả Jonathan Yardley có công trình “Nghĩa vụ chứng minh”, (Washington Post, 2008); TS Marie Vannostrand có công trình “Thực tiễn pháp lý và thực

tiễn dựa trên cơ sở của chứng cứ”, (Trung tâm Nghiên cứu tội phạm và tư

pháp, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, Washington, 2007);

Phạm vi trong nước: Đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu được nhiều nhà luật học đề cập ở những mức độ và dưới các góc độ khác nhau Cụ

thể: PGS.TS Nguyễn Thái Phúc có công trình “Nguyên tắc suy đoán vô tội”,

(Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/2006, Hà Nội, 2006); tác giả Đào Trí

Úc có các công trình “Cải cách tư pháp hình sự và vấn đề phòng chống oan

sai”, (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4(204), 2005), “Hệ thống những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015” trong “Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015”,

Nxb Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội, 2016; tác giả Nguyễn Ngọc Chí với

công trình “Nguyên tắc suy đoán vô tội, bảo đảm tranh tụng trong xét xử

trong Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi): Bước tiến vượt bậc về quyền con người;

Đối với nội dung nghiên cứu về hoạt động, vai trò của luật sư, có một

số đề tài luận văn thạc sĩ có liên quan như: “Luật sư và bảo vệ quyền con

người trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Lê Đăng Tùng, “Địa vị pháp lý của luật sư trong tố tụng hình sự Việt Nam thực tế tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Hữu Lai, “Vai trò của luật sư trong phòng, chống oan, sai trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn

Tĩnh Vì vậy, việc nghiên cứu nội dung vai trò của Luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam là không trùng lặp với bất cứ đề tài nào trước đây

Trang 12

5

Nhìn chung, đã có rất nhiều nghiên cứu về quyền được suy đoán vô tội trong TTHS Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đưa vào áp dụng từ tháng 7 năm 2016 đã được hơn 05 năm - một thời gian chưa dài đối với một Bộ luật Tuy nhiên, trước bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập và phát triển, quyền con người ngày càng mở rộng, hành vi vi phạm quyền con người ngày càng

đa dạng, do đó pháp luật cần hoàn thiện Chính vì vậy, Luận văn này sẽ là tài liệu có giá trị tham khảo giúp các nhà làm luật có cái nhìn đầy đủ hơn về vấn

đề này, góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật về quyền được suy đoán vô tội, việc bảo đảm và thúc đẩy quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao vai trò của luật sư trong hoạt động bảo vệ quyền con người nói chung và quyền được suy đoán vô tội nói riêng trong tố tụng hình sự

- Làm sáng tỏ vị trí, vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam;

- Nghiên cứu, so sánh những quy định của pháp luật tố tụng hình sự của nước ta về vị trí, vai trò của luật sư trong bảo vệ quyền được suy đoán vô tội

Trang 13

6

với những quy định tương ứng trong pháp luật quốc tế, pháp luật tố tụng hình

sự của một số nước trên thế giới;

- Nghiên cứu đánh giá thực tiễn vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong giải quyết các vụ án hình sự Qua đó chỉ ra được các quy định chưa thống nhất, phù hợp, những nguyên nhân dẫn đến việc khó khăn khi thực hiện vai trò của luật sư trong bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong giải quyết các vụ án hình sự

- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện và thúc đẩy vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong giải quyết các vụ án hình sự

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn

về vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền được suy đoán vô tội; hoạt động của luật sư trong việc bảo vệ thực hiện quyền được suy đoán vô tội trong TTHS

Luận văn nghiên cứu đề tài này dưới góc độ quyền được suy đoán vô tội trong pháp luật quốc tế và dưới góc độ luật tố tụng hình sự Việt Nam; thực tiễn hoạt động của luật sư trong phạm vi toàn quốc trong lĩnh vực này trong 5 năm từ năm 2016 đến năm 2020

5 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu làm sáng tỏ quyền được suy đoán vô tội dưới góc độ nhân quyền quốc tế;

- Nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm, nội dung quyền được suy đoán vô tội và ý nghĩa của quyền này trong hệ thống pháp luật nhân quyền quốc tế, luật tố tụng hình sự Việt Nam;

Trang 14

sự Việt Nam;

- Phân tích, làm rõ việc thực hiện quyền được suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn thực hiện quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự;

- Phân tích, làm rõ vai trò, trách nhiệm của luật sư trong việc bảo vệ thực hiện quyền được suy đoán vô tội;

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật

tố tụng hình sự về suy đoán vô tội và hệ thống những giải pháp bảo vệ và thúc đẩy thực hiện quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thiện luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch của chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm nghiên cứu vấn đề trong trạng thái biến đổi không ngừng và trong mối quan hệ tổng thể tác động qua lại giữa vấn đề nghiên cứu và các vấn đề khác Đồng thời xem xét vấn đề nghiên cứu trong quá trình từ hình thành đến phát triển qua các giai đoạn khác nhau

- Phương pháp phân tích: được sử dụng chủ yếu trong việc phân tích các khác niệm, đặc điểm, nội dung quyền được suy đoán vô tội; các quy định của pháp luật về quyền được suy đoán vô tội trong pháp luật nhân quyền quốc

tế, pháp luật các quốc gia khác và trong pháp luật Việt Nam;

Trang 15

8

- Phương pháp tổng hợp: được sử dụng chủ yếu trong việc tổng hợp các

số liệu trong các báo cáo, thống kê của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên quan đến việc thực hiện quyền, nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình

sự Phương pháp này còn được sử dụng để có được các nhận xét, đánh giá trình bày trong luận văn

- Phương pháp thống kê: phương pháp này sử dụng nhằm thu thập, thống kê và xử lý các số liệu Số liệu thu thập được trong các báo cáo, quá trình khảo sát thực tiễn việc thực hiện quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

- Phương pháp so sánh: áp dụng trong việc so sánh các quy định của pháp luật tố tụng hình sự của nước ta về quyền được suy đoán vô tội với những quy định tương ứng trong pháp luật nhân quyền quốc tế và pháp luật tố tụng hình sự của một số quốc gia trên thế giới Trên cơ sở đó rút ra được những điểm tương thích, những điểm mới, tiến bộ, những điểm còn bất cập, hạn chế

Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Các phương pháp được sử dụng một cách linh hoạt để đảm bảo hiệu quả và tính thuyết phục của việc nghiên cứu

6 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Như đã phân tích tại Mục 2 trên đây, đã có không ít công trình nghiên cứu về vai trò của Luật sư trong việc bảo vệ quyền con người của các bị can,

bị cáo, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu theo hướng bảo vệ một nội dung cụ thể của quyền con người trước pháp luật là quyền được suy đoán vô

tội trong tố tụng hình sự Luận văn “Vai trò của luật sư trong việc bảo vệ

quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay” là

công trình nghiên cứu đầu tiên về nội dung này, xem xét dưới góc độ bảo vệ quyền con người

Trang 16

9

Luận văn hi vọng sẽ là công trình nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về quyền được suy đoán vô tội và vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam Những tính mới

vệ, thúc đẩy việc thực hiện quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự

ở Việt Nam hiện nay

5 Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự; góp phần nâng cao nhận thức về việc thực hiện quyền được suy đoán vô tội, nguyên tắc suy đoán vô tội của nhân dân nói chung, cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng; phát huy vai trò của đội ngũ luật sư hiện nay

6 Góp phần làm sáng tỏ luận cứ khoa học cho việc đổi mới tổ chức, bộ máy, bố trí cán bộ tại các cơ quan tư pháp hình sự, góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay

Ngoài ra, luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để giảng dạy, học tập cho các cơ sở đào tạo luật, cũng như trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên trách về hợp tác quốc tế thuộc ngành Tư pháp, Tòa án, Viện kiểm sát, Công an; trong hoạt động thực tiễn, những người hoạt động nhân quyền và các chủ thể khác có quan tâm

Trang 17

10

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về vai trò của luật sư trong việc bảo

vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự

Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội và thực tiễn thực hiện

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao vai trò của luật sư

trong việc bảo vệ quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự

Trang 18

11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN ĐƯỢC SUY ĐOÁN VÔ TỘI

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Khái quát chung về quyền được suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự

1.1.1 Khái niệm suy đoán vô tội

Trong tiếng Anh, thuật ngữ “Suy đoán vô tội” trong các tài liệu khoa học đã được dịch từ thuật ngữ “presumption of innocence” hay từ cụm từ “the

right to be presumed innocent” trong các văn kiện quốc tế về quyền con

người Điển hình như, Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người 1948 có nêu

“Everyone charged with a penal offence has the right to be presumed innocent until proved guilty” (khoản 1, Điều 11) Tương tự, Công ước quốc tế

về quyền dân sự và chính trị 1966 nêu “Everyone charged with a criminal

offence shall have the right to be presumed innocent until proved guilty”

(khoản 2 Điều 14) [15]

Từ điển tiếng Anh Longman nêu rõ trong lĩnh vực luật, “presume” được hiểu là “chấp nhận một điều gì đó là đúng cho đến khi nó được chứng

minh là không đúng” Đây chính là khái niệm của giả định, giả thiết trong

tiếng Việt Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “giả định” là “đưa ra một khả năng

như có thật” Như vậy, “the right to be presumed innocent” được hiểu là

quyền được giả định vô tội, theo đó, người bị cáo buộc thực hiện một tội phạm được coi (được giả định) là không có tội cho đến khi cơ quan công tố thuyết phục được toà án rằng bị cáo đã phạm tội Quyền này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải coi (giả định) bị can, bị cáo (người bị cáo buộc) không phạm tội, mặc dù cơ quan chức năng có thể tin (suy đoán) rằng bị can,

bị cáo phạm tội

Trang 19

12

Suy đoán vô tội đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật quốc

tế, điển hình như: Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế năm 1966 của Liên hợp quốc về các quyền dân sự, chính trị; và trong Luật tố tụng hình sự phần lớn các quốc gia trên thế giới Suy đoán vô tội là kết quả của cuộc đấu tranh không khoan nhượng của nhân dân, của dân chủ chống lại nền độc tài phong kiến và được xem như là giá trị tinh thần của nhân loại hiện diện trong pháp luật của thế giới văn minh Suy đoán vô tội ra đời cùng với sự ra đời của nhà nước tư sản nhằm đề cao quyền con người cũng như bảo đảm tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên cơ sở nhận thức “Nhà nước không khi nào được coi con người là phương tiện để đạt mục đích, mà ngược lại phải coi con người là mục đích cần đạt tới” và do vậy nhà nước phải có nghĩa vụ bảo đảm các quyền tự do, bình đẳng của con người bằng cách xây dựng một “hành lang pháp lý” ngăn ngừa việc lạm dụng quyền lực nhà nước của các nhân viên công quyền xâm hại quyền con người và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức

Trong luận văn này, tác giả xem xét thuật ngữ “suy đoán vô tội” ở hai khía cạnh là: “Nguyên tắc suy đoán vô tội” và “Chế định suy đoán vô tội”

* Nguyên tắc suy đoán vô tội: SĐVT được pháp luật quốc tế và pháp

luật của hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam thừa nhận là một nguyên tắc cơ bản của TTHS; được coi là một trong những cơ sở của tự do, công lý

và hòa bình của nhân loại [17]

Với tư cách là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật tố tụng hình sự vừa có những nguyên tắc riêng của mình vừa mang những đặc điểm chung của nguyên tắc pháp luật nói chung Nguyên tắc của luật tố tụng hình sự được hiểu là tập hợp những quan điểm, tư tưởng trong việc chỉ đạo hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự Trong

Trang 20

và hoạt động của dụng cụ, thiết bị Theo Từ điển tiếng Việt, nguyên tắc được hiểu là: “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” Dưới góc độ pháp luật, nhiều tác giả đã đưa ra định nghĩa: “nguyên tắc

là những tư tưởng chủ đạo, cơ bản mang tính xuất phát điểm, cấu thành một

bộ phận quan trọng nhất của pháp luật, phản ánh quy luật và cấu trúc của một hình thái kinh - xã hội nhất định và liên hệ mật thiết với bản chất của kiểu pháp luật tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội đó” [29, tr.15]

Thuật ngữ “suy đoán” bắt nguồn từ tiếng Latinh “praesumption”, được hiểu là sự khẳng định một vấn đề nào đó được cho là đúng cho đến khi nó chưa bị bác bỏ Suy đoán vô tội là một phép suy đoán lô-gíc thể hiện quan điểm pháp lý khách quan Quan điểm pháp lý đó chính là: Nhà nước, xã hội luôn coi một người là công dân với đầy đủ các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân do pháp luât quy định cho đến khi người đó chưa bị Tòa án kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật Một người bị khởi tố với tư cách là bị can, và bị đưa ra xét xử với tư cách là bị cáo, cho đến khi chưa có bản án của Tòa án kết tội đã có hiệu lực pháp luật thì vị trí của người đó trong xã hội vẫn không phải là người phạm tội Người này có thể được Tòa án tuyên là không phạm tội

Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa người bị buộc tội nói chung, bị can, bị cáo nói riêng và Nhà nước phát sinh từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi của người đó có dấu hiệu của tội phạm Chủ thể của

Trang 21

14

mối quan hệ này bao gồm: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

và người tham gia tố tụng Phần lớn các trường hợp, cơ quan tiến hành tố tụng xác định có dấu hiệu của tội phạm là có cơ sở Tuy nhiên, điều này không loại trừ một số ít các trường hợp do có nhiều lý do chủ quan, khách quan khác nhau mà cơ quan tiến hành tố tụng đã xác định không đúng dấu hiệu của tội phạm dẫn đến tình trạng oan, sai trong tố tụng hình sự

Hiện nay vẫn tồn tại một số quan điểm cho rằng liệu suy đoán vô tội có thể được coi là một nguyên tắc của luật tố tụng hình sự hay không? Về vấn đề này, tác giả cho rằng suy đoán vô tội thực sự là một nguyên tắc, bên cạnh các nguyên tắc khác trong tố tụng hình sự Đối với các quan điểm cực đoan không thừa nhận nguyên tắc suy đoán vô tội thiên về quan điểm suy đoán có tội, theo đó nếu không có lỗi của cá nhân trong những sự việc cụ thể thì không có các hoạt động điều tra, truy tố và xét xử Người bị truy cứu trách nhiệm hình

sự có lỗi, bởi lẽ nếu họ không có lỗi thì không bị truy cứu trách nhiệm hình

sự Bị can bị “suy đoán có tội”, cho nên pháp luật cần quy định cho bị can có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình tương tự các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ chứng minh tội phạm Quan điểm “suy đoán có tội” này đi ngược lại và không đáp ứng được yêu cầu bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, không bảo đảm được nguyên tắc nhân đạo bảo vệ những người yếu thế trong tố tụng hình sự và không ràng buộc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng là phải xác minh sự thật khách quan của vụ án

Tác giả ủng hộ quan điểm, suy đoán vô tội là một nguyên tắc trong tố tụng hình sự, bởi những lý do sau:

Thứ nhất, xuất phát từ đặc thù của hoạt động tố tụng hình sự Khác với

những lĩnh vực hoạt động khác của con người - nơi mà hoạt động nhận thức

có thể kết thúc bằng một kết quả nhận thức mới hoặc có thể chưa đem lại kết quả - hoạt động tố tụng hình sự không thể kết thúc vụ án mà vấn đề có tội hay

Trang 22

Thứ hai, nguyên tắc suy đoán vô tội cần thiết để tạo ra sự cân bằng hợp

lý giữa lợi ích chung của xã hội và các quyền tự do cá nhân của con người Sự cân bằng sẽ được thiết lập giữa quyền của bị cáo không bị xét xử oan, sai và lợi ích của xã hội trong việc thực thi pháp luật Việc kết án oan, sai dẫn đến hình phạt bất công, bôi nhọ danh dự của bị cáo; trong nhiều trường hợp, cuộc sống cá nhân và con đường công danh của bị cáo sẽ bị tan nát Đương nhiên,

xã hội cần tránh được sự bất công đó

Thứ ba, nguyên tắc suy đoán vô tội cần thiết để bảo vệ những người

yếu thế trong tố tụng hình sự Bởi lẽ, tố tụng hình sự là một lĩnh vực khó khăn, phức tạp và nhạy cảm, liên quan đến các quyền thiết thực nhất của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như các quyền: quyền sống, quyền tự do thân thể, quyền tự do đi lại, quyền tự do cư trú, … Việc tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử để xác định sự thật khách quan của vụ án với yêu cầu nhanh chóng và không bỏ lọt tội phạm cũng như việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn: bắt, tạm giữ, tạm giam sẽ tạo nguy cơ lớn trong việc xâm hại các quyền tự do cá nhân của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Bên cạnh đó, do sự tác động trực tiếp hay gián tiếp của các yếu tố khách quan, chủ quan nên các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng thường dễ mang tính không khách quan, toàn diện và đầy đủ Do sự tác động chi phối từ bên ngoài vào hoạt động tố tụng, một bộ phận những người tiến hành tố tụng bị hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, về năng lực công tác nên trong việc thực hiện chức năng, thẩm quyền của mình đã ra các quyết định thiếu chính xác, không đúng pháp luật Ngoài ra, một số người tiến hành tố tụng do tha hoá về phẩm

Trang 23

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái quát nhận thức về nguyên

tắc suy đoán vô tội như sau: Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng

hình sự là những tư tưởng chủ đạo, cơ bản mang tính xuất phát điểm, bảo đảm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không bị coi là có tội khi lỗi của họ chưa được cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật

* Chế định suy đoán vô tội:

Suy đoán vô tội không chỉ là nguyên tắc cơ bản trong TTHS mà SĐVT còn lại một trong những chế định quan trọng của Luật TTHS Pháp luật là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Hệ thống các quy phạm pháp luật được phân thành nhiều hệ thống nhỏ, mỗi hệ thống điều chỉnh các quan hệ xã hội trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội và được gọi là “một ngành luật” Với tư cách là một ngành luật độc lập, Luật TTHS là tổng thể các quy phạm pháp luật có quan hệ chặt chẽ với nhau cùng điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tố tụng từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử cho đến thi hành án Hệ thống quy phạm pháp luật này gồm các chế định pháp lý, các quy phạm pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội cùng loại

Với tư cách là một chế định của Luật TTHS, SĐVT bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật TTHS có liên quan Trước hết, SĐVT có mối liên hệ với các nguyên tắc cơ bản khác trong TTHS, đặc biệt là với nguyên tắc bảo

Trang 24

17

đảm quyền bào chữa và bảo đảm tranh tụng trong xét xử Bởi lẽ nếu không được SĐVT thì người bị buộc tôi đã bị coi là có tội ngay từ khi bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra hay truy tố và quyền bào chữa, quyền tranh tụng trước Toà án chỉ còn là hư quyền Hiến pháp 2013 đã ghi nhận nhiều nguyên tắc mới của TTHS, trong đó có nguyên tắc SĐVT (Điều 31, Điều 102, …) BLTTHS năm 2015 cũng đã có nhiều quy định nhằm bảo đảm quyền được SĐVT được thực thi trên thực tế như: trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc

về các cơ quan tiến hành tố tụng; Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội (Điều 13, 15) Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo quyền quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa CQĐT, VKS, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền tự bào chữa của họ (Điều 16); … Các quyền này được cụ thể hoá trong các quy định khác của BLTTHS cụ thể như: quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng; trình tự, thủ tục thu thập, cung cấp, đánh giá chứng cứ; khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự

từ các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, …

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng một số nguyên tắc trong Hiến pháp

và các quy định trong BLTTHS 2015 có liên quan chặt chẽ với nguyên tắc SĐVT và chúng tạo thành một chế định quan trọng - chế định SĐVT nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa người bị buộc tội, người tiến hành tố tụng và các chủ thể khác trong quá trình tố tụng Chế định SĐVT bao gồm các quy phạm pháp luật TTHS và đồng thời là điều kiện cần thiết để bảo đảm tính khả thi của việc thực hiện quyền được SĐVT trên thực tế

1.1.2 Nội dung của quyền đƣợc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự

Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Người bị buộc tội được coi là không

có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” Từ quy định trên thì người bị buộc

Trang 25

Nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN cùng với việc cải cách tư pháp ở nước ta trong giai đoạn mới, Hiến pháp năm 2013 đã thừa nhận các quyền con người bên cạnh các quyền

cơ bản của công dân Bên cạnh đó, Hiền pháp năm 2013 đã bổ sung nhiều nguyên tắc hiến định mới Điều 31 Hiến pháp quy định [33]:

1 Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực

2 Người bị buộc tội phải được Toà án xét xử kịp thời, …, công bằng, công khai, …;

3 Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm

4 Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam … có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa

5 Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại… Vấn đề đặt ra: Cần xác định nội hàm của quyền được SĐVT trong Hiến pháp năm 2013 và các nội dung (yêu cầu) cụ thể của quyền được SĐVT được thể hiện trong BLTTHS với tư cách là một quyền quan trọng trong Luật TTHS Việt Nam Đây là vấn đề có nhiều quan điểm khác nhau

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Nội hàm của quyền được suy đoán vô

tội trong Hiến pháp năm 2013 bao hàm cả 5 khoản được quy định tại Điều 31

Trang 26

19

Quan điểm thứ hai cho rằng: Nội dung của quyền được SĐVT trong

Hiến pháp năm 2013 bao gồm: Quyền được đưa ra xét xử đối với người bị tình nghi phạm tội cũng đồng nghĩa với trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh hành vi phạm tội của người đó theo một trình

tự luật định và nhanh chóng đưa ra xét xử đảm bảo đúng thời hạn; việc tuyên

án phải công khai

Quan điểm thứ ba cho rằng: Nội hàm của quyền được SĐVT chỉ bao

gồm nội dung quy định tại Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013, cụ thể:

“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” Các nội dung, quy định còn lại tại Điều 31 Hiến pháp không thuộc nội hàm của quyền được SĐVT mà thuộc nội hàm của các quyền khác trong Luật TTHS, bao gồm: quyền được xét xử công bằng, công khai; quyền bào chữa; pháp chế XHCN; …

Tác giả đồng tình với quan điểm thứ ba nêu trên khi nói đến nội hàm của quyền được SĐVT

Quyền con người, quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013 nói chung và quyền được SĐVT nói riêng là những tư tưởng chỉ đạo, cơ sở pháp lý mang tính định hướng cho hoạt động lập pháp nói chung

và xây dựng Bộ luật TTHS nói riêng Mặt khác, việc cụ thể hoá nội dung của các quyền hiến định này trong Bộ luật TTHS sẽ là căn cứ pháp lý để hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHS nói chung và các quy định về quyền được SĐVT nói riêng Như tác giả đã đề cập ở trên, nội hàm của quyền được SĐVT trong Hiến pháp năm 2013 quy định tại Khoản 1 Điều 31 Điều này đòi hỏi phải xác định đúng, đầy đủ các nội dung của quyền được SĐVT được thể hiện trong Bộ luật TTHS với tư cách là một nguyên tắc, một quyền cơ bản của luật TTHS Việt Nam

Trang 27

20

Từ những phân tích ở trên, nội dung của quyền được SĐVT trong TTHS bao gồm các nội dung sau:

Nội dung thứ nhất, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được suy đoán vô

tội cho đến khi có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật

Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được suy đoán vô tội là một suy đoán pháp lý, một giả thiết được pháp luật quy định và được coi là đúng cho đến khi xuất hiện những tình tiết, sự kiện nhất định Trong trường hợp này, giả thiết do pháp luật đặt ra: người bị buộc tội là người không có tội Đây là chân

lý cho đến khi có sự kiện - Bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Khi chưa xảy ra sự kiện này thì khi đó giả thiết trên vẫn còn tồn tại, được thừa nhận là đúng Như vậy, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không đồng nghĩa với người có tội hay người phạm tội Vấn đề xác định người bị buộc có tội hay không, tại thời điểm khởi tố bị can chưa giải quyết được Bản án của Toà án

đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý quan trọng xác nhận một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm

- là “có tội” Nói một cách khác, đây là hậu quả pháp lý thể hiện một trong những nội dung quan trọng của trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải gánh chịu Trách nhiệm hình sự bắt đầu khi bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, không phải từ thời điểm có quyết định khởi tố bị can và đồng thời pháp luật cũng không quy định khi khởi tố bị can thì phải chứng minh đầy đủ lỗi của bị can mà chỉ quy định căn cứ khởi tố bị can là khi có đủ căn cứ xác định mối quan hệ của người bị khởi tố với các hành vi có dấu hiệu tội phạm xảy ra

Tố tụng hình sự là hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi tội phạm xảy ra; nó được pháp luật tố tụng hình sự quy định và mang tính hệ thống Các giai đoạn tố tụng hình sự khác nhau, diễn ra liên tục, kế tiếp nhau Các giai đoạn tố tụng

Trang 28

21

hình sự có tính độc lập tương đối, tuy nhiên giữa các giai đoạn có mối quan

hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành hoạt động tố tụng hình sự chung, thống nhất, trong đó giai đoạn trước là tiền đề cho việc thực hiện giai đoạn sau; giai đoạn sau có tác dụng bổ sung, kiểm tra giai đoạn trước đó

Để làm sáng tỏ bản chất của vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp cưỡng chế nhằm thu thập và ghi nhận chứng cứ Bao gồm: khám người, khám chỗ ở, địa điểm, thu giữ thư tín, bưu điện, bưu phẩm; biện pháp cưỡng chế như: áp giải bị can, bị cáo; các biện pháp ngăn chặn như: bắt người trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, bắt bị can, bị cáo để tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm;… Các biện pháp mà các cơ quan tiến hành

tố tụng có thể áp dụng trong quá trình chứng minh nói trên đều được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự

Người bị buộc tội có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự như đã nêu ở trên, nhưng cần phân biệt với người có tội là người phải chịu trách nhiệm hình sự ở những điểm sau:

Thứ hai, chủ thể áp dụng trách nhiệm hình sự là Toà án, bởi lẽ, cơ sở

của trách nhiệm hình sự là “chỉ người nào phạm một tội được Bộ luật hình sự quy định thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Còn chủ thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự có thể là cơ quan, người có thẩm quyền

Thứ ba, mục đích của việc áp dụng trách nhiệm hình sự không chỉ

trừng trị người phạm tội mà còn nhằm mục đích giáo dục người đó trở thành

Trang 29

22

người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống Còn các biện pháp cưỡng chế hình sự nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án

Thứ tư, căn cứ áp dụng trách nhiệm hình sự là tính chất và mức độ

nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Trong khi đó, căn cứ để áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như việc để bảo đảm thi hành án

Nội dung thứ hai, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan

tiến hành tố tụng, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội

Cơ sở lý luận của nội dung trên đã được hình thành trong Luật La Mã

cổ đại: trách nhiệm chứng minh thuộc về người khẳng định chứ không thuộc

về người phủ định Các cơ quan tiến hành tố tụng khẳng định một người phạm tội thì phải có trách nhiệm chứng minh Người bị buộc tội là người phủ định mình không có tội, không có trách nhiệm chứng minh Các cơ quan tiến hành tố tụng trên cơ sở chức năng, quyền hạn, trách nhiệm của mình có nghĩa

vụ chứng minh tội phạm Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, trong trường hợp nếu không chứng minh được tội phạm thì phải coi người bị buộc tội không phạm tội

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, quyền được suy đoán vô tội còn thể hiện ở nội dung: người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo có quyền chứ không buộc phải chứng minh sự vô tội của mình

Để thực hiện quyền chứng minh bản thân vô tội, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể sử dụng những quyền năng của mình được luật tố tụng hình sự quy

Trang 30

23

định, cụ thể như quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, quyền được đưa ra chứng cứ và yêu cầu, quyền được tranh tụng bình đẳng tại Toà án… Đây là những quyền mà pháp luật hình sự quy định cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng là phải bảo đảm cho người bị buộc tội được thực hiện những quyền đó của mình Việc tạo điều kiện thuận lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chứng minh mình vô tội không chỉ bảo đảm quyền lợi của người bị buộc tội mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật khách quan của vụ án, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm cũng như không làm oan người vô tội

Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội còn có nghĩa là trong mọi trường hợp, họ kông có khả năng, điều kiện chứng minh bản thân mình vô tội thì đây không phải là trách nhiệm của họ mà là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng Nếu buộc người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải chứng minh mình vô tội sẽ dẫn đến việc các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ chú ý tới việc chứng minh tội phạm, chú ý những chứng cứ buộc tội mà bỏ qua nhiệm vụ thu thập những chứng cứ

gỡ tội, bỏ qua nhiệm vụ quan trọng trong tố tụng hình sự là không làm oan người vô tội

Việc người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh về việc mình không có tội, có nghĩa: 1) họ không bị buộc phải đưa ra lời khai hoặc phải nêu về những chứng cứ mà họ có; 2) việc họ nhận tội không được coi là chứng cứ và có thể được sử dụng làm căn cứ để buộc tội, chỉ khi được khẳng định bằng hệ thống những chứng cứ trong vụ án; 3) việc từ chối không tham gia vào việc chứng minh không dẫn đến những hậu quả tiêu cực đối với việc thừa nhận một phần lỗi của mình, cũng như đối với việc xác định biện pháp trách nhiệm hình sự

Trang 31

24

Nội dung thứ ba: mọi nghi ngờ về lỗi của người bị tạm giữ, bị can, bị

cáo nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định thì phải được giải thích theo hướng có lợi cho họ

Nghi ngờ là trạng thái tâm lý thiếu tự tin, lưỡng lự không nhất quán về

sự đúng đắn hay không đúng đắn của một tình huống, giả thiết nào đó Nguồn gốc của việc nghi ngờ là sự thiếu thông tin, phán ảnh chưa đầy đủ, chưa toàn diện, chính xác, khách quan về bản chất của sự vật, hiện tượng Có thể nói, nghi ngờ là một dạng của tình huống nhận thức chưa đầy đủ

Trong hoạt động nhận thức, nghi ngờ có tác dụng buộc chủ thể hoạt động nhận thức phải thận trọng với những kết luận quá sớm, còn mang tính vội vã khi thông tin chưa đầy đủ, chưa xác thực, đồng thời nó còn là động lực cho hoạt động nhận thức tiếp theo để bổ sung cho những thông tin còn thiếu

Trong các giai đoạn tố tụng điều tra, truy tố, xét xử thường xảy ra nhiều tình huống thông tin, chứng cứ về các sự kiện, tình tiết cụ thể của vụ án liên quan đến lỗi của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có mâu thuẫn nên không thể kết luận, khẳng định một cách dứt khoát về tình tiết, sự kiến đó Những nghi ngờ này tồn tại, nhưng trong quá trình chứng minh, các cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm làm rõ Mọi sự nghi ngờ, cũng như các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự và các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức của những người tiến hành tố tụng Vì vậy cần phải nhận thức đúng đắn về chúng Nếu những người tiến hành tố tụng nhận thức không đúng, chủ quan, suy diễn

về lỗi của người bị buộc tội thì những tài liệu phản ánh nhận thức của họ sẽ không có thuộc tính khách quan, không được công nhận là chứng cứ Điều này đòi hỏi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án khi giải quyết vụ án hình

sự phải xuất phát từ thực tế của vụ án để nhận thức chúng, không lấy ý chí chủ quan để áp đặt, phải tôn trọng sự thật khách quan, tránh thái độ chủ quan,

Trang 32

25

nóng vội, phiến diện, định kiến, không trung thực Mọi sự nghi ngờ về lỗi của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải được làm rõ bằng các chứng cứ để xác định sự thật của vụ án hình sự và phải được các cơ quan tiến hành tố tụng xác minh, làm rõ theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định

Nội dung thứ tư: Bản án kết tội của Toà án không được dựa trên những

giả định

Bản án hình sự là văn bản pháp lý thể hiện kết quả hoạt động áp dụng pháp luật về xét xử vụ án hình sự của Toà án Bản án hình sự chứa đựng nội dung rất quan trọng của hoạt động xét xử Bán án kết tội của Toà án đúng pháp luật, công bằng là tiền đề, điều kiện để đạt được các mục đích của hình phạt, có khả năng cải tạo và giáo dục người bị kết án trở thành người có ích cho xã hội, phòng ngừa tội phạm Ngược lại, nếu Bản án kết tội không đúng pháp luật, không công bằng thì tất yếu sẽ không có khả năng đạt được các mục đích đó Bản án kết tội không đúng pháp luật, không công bằng được hiểu là Bản án tuyên một người phạm tội không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt quá nhẹ hoặc là quá nặng

Một nội dung khác có liên quan đến quyền được SĐVT đó là “Quyền

im lặng” của người bị buộc tội Tác giả cho rằng, “quyền im lặng” của người

bị buộc tội là sự cụ thể hoá nội dung của quyền được SĐVT và cần thể hiện trong các quy định cụ thể của Bộ luật TTHS về quyền và nghĩa vụ của người

bị buộc tội Tuy nhiên, đây là một vấn đề nhạy cảm và đang được dư luận, xã hội đặc biệt quan tâm với nhiều luồng ý kiến khác nhau Nhiều người ủng hộ việc ghi nhận rõ quyền quyền này trong Bộ luật TTHS nhưng cũng nhiều quan điểm không đồng ý vấn đề này Tác giả đồng tình với đa số quan điểm cho rằng nội dung quy định trong Bộ luật TTHS năm 2015 về quyền của

Trang 33

26

người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo: “Được tự do trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội” (các điều 58 - 61 BLHS 2015) đã thể hiện đầy đủ quyền của người bị buộc tội Thực chất, đó chính là “quyền im lặng” Việc quy định như vậy là rõ ràng, minh bạch, giúp bị can, bị cáo thấy rõ quyền của mình, người tiến hành tố tụng thấy được trách nhiệm của mình; bên cạnh đó khắc phục được tình trạng ép cung, mớm cung, dùng nhục hình, … đồng thời tránh được sự lạm dụng việc hiểu không đúng quyền trên thực tiễn

1.1.3 Phạm vi áp dụng quyền đƣợc suy đoán vô tội

Để xác định một người là có tội phải có đồng thời hai điều kiện: 1) Người bị buộc tội đã được chứng minh tội phạm theo trình tự luật định; 2) Có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Nếu thiếu một trong hai điều kiện này thì người bị buộc tội không được coi là có tội Như vậy, quyền được suy đoán vô tội của người bị buộc tội luôn gắn liền và tồn tại song song với sự buộc tội Đây là cơ sở để xác định phạm vi áp dụng quyền được SĐVT

về không gian, thời gian, chủ thể và đối tượng áp dụng Cụ thể:

* Phạm vi áp dụng quyền được SĐVT về không gian: Phạm vi về

không gian trả lời cho câu hỏi: Quyền được SĐVT được áp dụng đối với lĩnh vực nào của tư pháp (hình sự hay phi hình sự)? Tác giả cho rằng, SĐVT liên quan đến vấn đề xác định một người có tội hay không có tội Do đó, quyền được SĐVT chỉ có thể được áp dụng đối với lĩnh vực tư pháp duy nhất là TTHS, còn các lĩnh vực tư pháp phi hình sự (dân sự, hành chính, kinh tế) chỉ giải quyết các vi phạm, tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, … không liên quan đến vấn đề có tội hay không có tội nên không thể áp dụng quyền được SĐVT

* Phạm vi áp dụng quyền được SĐVT về thời gian: Phạm vi về thời

gian trả lời cho câu hỏi: Quyền được SĐVT được áp dụng đối với các giai

Trang 34

27

đoạn nào của quá trình TTHS? SĐVT được áp dụng đối với tất cả các giai đoạn của quá trình TTHS và trong một số trường hợp, quyền được SĐVT còn được áp dụng đối với cả giai đoạn tiền tố tụng trong trường hợp bắt giữ người

bị tình nghi và cả khi bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trong trường hợp bản án kết tội bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm,

Quá trình TTHS bao gồm các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử

và thi hành án Khi một người bị khởi tố với tư cách là bị can có nghĩa họ chính thức bị buộc tội Vì vậy, từ thời điểm này và trong các giai đoạn tiếp theo cho đến khi bản án kết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật với tư cách là

bị can, bị cáo, họ luôn có quyền được SĐVT Người bị tình nghi bị bắt, bị tạm giữ, mặc dù chưa có văn bản tố tụng chính thức buộc tội nhưng việc áp dụng một, một số biện pháp cưỡng chế đã hạn chế một số quyền, lợi ích hợp pháp của người bị bắt, bị tạm giữ thì ở mức độ nhất định đã thể hiện sự buộc tội Vì vậy, pháp luật cũng coi người bị tình nghi là người bị buộc tội và từ thời điểm

bị bắt, bị tạm giữ họ đương nhiên có quyền được SĐVT và các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm coi họ là người không có tội trong suốt quá trình TTHS cho đến khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Toà án Theo quy định của Bộ luật TTHS, Bản án đã có hiệu lực pháp luật có thể bị kháng nghị và được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Trong trường hợp này, người bị kết án vẫn được áp dụng quyền được SĐVT, bởi lẽ

từ thời điểm có quyết định kháng nghị Bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật thì tính hợp pháp và có căn cứ của Bản án này bị nghi ngờ, việc chứng minh tội phạm được xem xét lại

Trang 35

28

thông, … Khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật thì các chủ thể trên đều phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm và đối xử với người bị buộc tội như người không có tội

SĐVT là quyền con người và cũng là quyền cơ bản của công dân một khi người đó bị buộc tội SĐVT là bắt buộc không chỉ đối với chủ thể tiến hành tố tụng và áp dụng đối với cả các chủ thể khác Các hình thức thể hiện

về sự cố ý buộc tội đối với người bị buộc tội của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trước khi có bản án kết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật đều là vi phạm quyền được SĐVT Uỷ ban quốc tế về nhân quyền của Liên hợp quốc

đã cảnh báo sự vi phạm của các cơ quan hữu trách trong việc không thực hiện việc hạn chế theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Công ước quốc tế năm 1966:

“…Mọi cơ quan chức năng có nghĩa vụ hạn chế phán quyết trước về kết quả của phiên toà”

* Phạm vi đối tượng có quyền được SĐVT: Ai có quyền được suy

đoán vô tội? Đối tượng có quyền được SĐVT không bị giới hạn bởi sự buộc tội, bất kỳ người nào Sự buộc tội có thể xuất hiện cả ở giai đoạn tiền tố tụng (đối với trường hợp bắt, tạm giữ người bị tình nghi) và cả trong giai đoạn tố tụng: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và cho đến khi có bản án kết tội của Toà

án có hiệu lực pháp luật Quyền được SĐVT được áp dụng đối với “người bị buộc tội” bao gồm: người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét

xử Ngoài ra, trong trường hợp Bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật nhưng

bị kháng nghị giám đốc thẩm (tái thẩm) thì người bị kết án lại được áp dụng quyền được SĐVT bởi lẽ việc chứng minh tội phạm sẽ được xem xét lại tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm

1.1.4 Ý nghĩa của quyền đƣợc suy đoán vô tội

Quyền được SĐVT được ghi nhận trong pháp luật quốc tế, pháp luật của các quốc gia đã thừa nhận và thể hiện SĐVT, đây là một trong những

Trang 36

29

thành tựu vĩ đại của văn minh nhân loại trong việc bảo vệ quyền con người trong TTHS, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong khoa học pháp lý TTHS và trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm Quyền được SĐVT có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng được thể hiện ở các phương diện sau:

Về chính trị: Quyền được SĐVT là một trong những quyền cơ bản của

con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế năm 1966 và được áp dụng rộng rãi trong hệ thống pháp luật TTHS của các quốc gia Quyền được SĐVT xác lập, củng cố, duy trì và bảo vệ quyền tự do, bình đẳng của con người, của công dân trong nhà nước pháp quyền Quyền được SĐVT bảo đảm an toàn pháp lý cho mỗi cá nhân trong mối quan hệ với nhà nước và xác định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc bảo vệ quyền con người, bảo đảm tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Về lập pháp: Quyền được SĐVT được cụ thể hóa tại Tuyên ngôn quốc

tế về nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế năm 1966 của Liên Hợp Quốc Với tư cách là tư tưởng chủ đạo và là định hướng cơ bản, quan trọng trong pháp luật TTHS, SĐVT có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động xây dựng, hoàn thiện các chế định, các quy phạm của luật TTHS nói riêng và hoạt động lập pháp trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói chung

Về mặt thực tiễn: Quyền được SĐVT có ý nghĩa trong việc định hướng

và chỉ đạo hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng TTHS

là một lĩnh vực khó khăn, phức tạp và nhạy cảm Trong TTHS, quyền con người dễ bị xâm phạm nhất từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng Do đó, việc nắm vững quy định về SĐVT sẽ giúp cho người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng tránh được sự xâm phạm quyền được SĐVT Bên cạnh đó, đây cũng là cơ sở để có được định hướng cơ bản, khoa học trong việc phát hiện, xử lý tội phạm thể hiện trước mỗi vụ án cụ thể cần phải có thái độ, hành

Trang 37

30

động khách quan, thận trọng Việc áp dụng đúng quyền được SĐVT trong hoạt động TTHS đảm bảo sự công bằng trong xã hội, củng cố niềm tin của công dân đối với nhà nước pháp quyền

Đối với công dân: Trước một hệ thống pháp luật tố TTHS vô cùng đồ

sộ và không ít những quy phạm pháp luật chưa rõ ràng, khó hiểu, còn có sự chồng chéo thì không thể đòi hỏi công dân phải hiểu biết tường tận, nắm rõ được từng quy phạm pháp luật Để tự bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, tự do của mình đòi hỏi mỗi người dân cần nắm được các quyền mà pháp luật quy định Đây cũng là ý nghĩa mà quyền được SĐVT mang lại đối với mỗi công dân trong lĩnh vực TTHS

Về mặt khoa học: Việc nghiên cứu về SĐVT trong TTHS đều tìm thấy

những tri thức về trình độ phát triển kinh tế, chế độ chính trị và mức độ văn minh Đồng thời việc nghiên cứu sẽ chỉ ra được sự phù hợp giữa các lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội và pháp luật Trên cơ sở đó giúp hoàn thiện thể chế kinh tế - chính trị đảm bảo sự phù hợp Mặt khác, việc nghiên cứu quyền được SĐVT còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, hoàn thiện và phát triển các quy định, chế định, các quyền và nguyên tắc khác trong TTHS

1.2 Luật sƣ và vai trò của luật sƣ trong việc bảo vệ quyền đƣợc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự

1.2.1 Luật sƣ và vai trò của luật sƣ trong tố tụng hình sự

Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật Luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (gọi chung là khách hàng) Bằng hoạt động nghề nghiệp của mình, Luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

Trang 38

31

Trong TTHS, luật sư tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố tham gia vào quá trình giải quyết vụ án Pháp luật tố tụng hình sự quy định về tư cách người bào chữa với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án hình sự là khác nhau Mặc dù vậy, luật sư tham gia

tố tụng với tư cách nào, ở giai đoạn nào đều có ý nghĩa trong việc bảo vệ công

lý, bảo đảm các hoạt động tố tụng được tiến hành một cách khách quan, đúng pháp luật, bảo đảm quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Luật sư là một nghề nghiệp dựa trên sự hiểu biết pháp luật, tư duy và áp dụng pháp luật; là nghề được hình thành và phát triển song song cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật Sự ra đời, phát triển của nghề luật sư nhằm giúp các đương sự bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình theo quy định của pháp luật

Tuy đồng thời cùng thực hiện nhiều chức năng khác nhau, nhưng tựu chung lại nghề luật sư là một nghề mang tính xã hội, là công cụ hữu hiệu góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội Cá nhân mỗi người có hàng trăm mối quan hệ mà cuộc sống thường ngày sẽ làm nảy sinh những mâu thuẫn, xung đột lẫn nhau Luật sư là người am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm trong hoạt động tư vấn pháp luật sẽ hỗ trợ người dân về mặt pháp lý một cách hiệu quả nhất Thực tế cho thấy hoạt động của luật sư đã đóng góp một phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người, quyền của những người bị buộc tội trong các vụ án hình sự

1.2.2 Vai trò của luật sƣ trong việc bảo về quyền đƣợc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự

Tố tụng hình sự là cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của các

cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức xã hội để giải quyết vụ án

Trang 39

32

hình sự theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định Tố tụng hình sự là tổng hợp các hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, hoạt động truy tố của Viện kiểm sát, hoạt động xét xử của Tòa án và hoạt động thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án

Vai trò của luật sư trong việc bảo về quyền được suy đoán vô tội trong

tố tụng hình sự được hiểu là tác dụng, chức năng của luật sư khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ án, góp phần bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Với tư cách là người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố hoặc với tư cách người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, trong mỗi giai đoạn của hoạt động tố tụng, luật sư có chức năng, vị trí, vai trò và ý nghĩa riêng

* Giai đoạn điều tra: Giai đoạn điều tra là giai đoạn có tính quyết định

trong quá trình tố tụng, bởi lẽ trong giai đoạn điều tra, nếu thiếu thận trọng thì khoảng cách, ranh giới giữa không phạm tội với phạm tội, giữa lỗi và tội rất mong manh Đặc điểm trong giai đoạn điều tra:

- Cơ quan điều tra, cán bộ điều tra là người nắm quyền chủ động trong hoạt động điều tra, dễ áp đặt đối với người bị buộc tội, đối tượng bị “tình nghi phạm tội”; thường không khách quan, không toàn diện và thường thiên về hướng “quy tội, buộc tội”;

- Người bị tình nghi phạm tội là người chưa đủ chứng cứ, chứng minh người đó có phạm tội hay không mà CQĐT đang phải làm rõ Đây là những người bị động, bị yếu thế, đang có tâm lý hoang mang, dao động, không ổn định lúc lấy lời khai, dễ rơi vào trường hợp lời khai không thống nhất

- Luật sư là người có vai trò quan trọng đối với người bị tình nghi phạm tội, là người được tiếp cận bị can với tư cách người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Luật sư có trách nhiệm trong việc giải thích

Trang 40

33

các quy định pháp luật, quyền được pháp luật bảo đảm, chuẩn bị tâm lý cho bị can, từ đó giúp họ bình tĩnh, bảo đảm tâm lý vững vàng trong quá trình điều tra thông qua việc khai báo trung thực, khách quan, toàn diện, đúng quy định của pháp luật

Trong giai đoạn điều tra, luật sư cần phải thực hiện đúng thủ tục để được tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa của người bị tạm giữ, bị can Sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký bào chữa, luật sư tiến hành gặp gỡ, làm việc với cơ quan điều tra, tiến hành trao đổi về nội dung vụ án nếu thấy cần thiết, đảm bảo có lợi cho người được bào chữa, đối tượng mà luật sư đang bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Luật sư tham gia vào các hoạt động điều tra như khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, xem xét dấu vết thân thể, hỏi cung, … là một trong các hoạt động cần thiết và có ý nghĩa Thông qua các hoạt động này, luật sư có thể phát hiện được những tình tiết mới của

vụ án, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, những điểm đang có sự mâu thuẫn, các tình tiết có ý nghĩa trong việc chứng minh sự vô tội của người

bị buộc tội

Là giai đoạn đầu tiên trong hoạt động TTHS, tuy nhiên ngay từ đầu luật

sư cần phải định hướng được cách nghiên cứu hồ sơ, thu thập tài liệu, chứng

cứ và định hướng cho việc bào chữa nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội

* Giai đoạn truy tố: Sau khi hoàn tất các công việc trong giai đoạn điều

tra, CQĐT ra kết luận điều tra vụ án, tiến hành thủ tục tống đạt kết luận điều cho cho bị can trong vụ án, chuyển hồ sơ cho VKSND cùng cấp Trong giai đoạn truy tố luật sư được phép tiếp cận, sao chụp hồ sơ vụ án phục vụ cho việc nghiên cứu toàn diện của mình Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, vai trò của luật sư thể hiện thông qua việc phát hiện những tình tiết mâu thuẫn trong vụ việc thể hiện thông qua các tài liệu, chứng cứ như: biên bản ghi lời

Ngày đăng: 09/09/2022, 09:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Nguyễn Đăng Dung (2014), “Tư pháp độc lập - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/119/511. Truy cập ngày 06/6/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tư pháp độc lập - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/119/511
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2014
9. Nguyễn Đăng Dung (2020), Suy đoán vô tội - Vấn đề của nhận thức & phải là quy định có tầm cỡ quốc gia, Bài viết tham gia Hội thảo khoa học quốc tế trực tuyến (Hội thảo chuyên gia) với chủ đề: “Nguyên tắc suy đoán vô tội” ngày 24/7/2020 tại Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy đoán vô tội - Vấn đề của nhận thức & "phải là quy định có tầm cỡ quốc gia", Bài viết tham gia Hội thảo khoa học quốc tế trực tuyến (Hội thảo chuyên gia) với chủ đề: “Nguyên tắc suy đoán vô tội
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2020
10. Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng (2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
11. Đại hội đại biểu Luật sư toàn quốc lần thứ hai (2015), “Báo cáo tại Đại hội” ngày 17 đến 19/4/2015, http://bttp.gov.vn. Truy cập ngày: 10/10/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại Đại hội” ngày 17 đến 19/4/2015, "http://bttp.gov.vn
Tác giả: Đại hội đại biểu Luật sư toàn quốc lần thứ hai
Năm: 2015
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
15. Bùi Tiến Đạt (2020), Quan niệm về suy đoán/giả định vô tội ở Việt Nam: một số thảo luận về thuật ngữ, Bài viết tham gia Hội thảo khoa học quốc tế trực tuyến (Hội thảo chuyên gia) với chủ đề: “Nguyên tắc suy đoán vô tội” ngày 24/7/2020 tại Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về suy đoán/giả định vô tội ở Việt Nam: "một số thảo luận về thuật ngữ", Bài viết tham gia Hội thảo khoa học quốc tế trực tuyến (Hội thảo chuyên gia) với chủ đề: “Nguyên tắc suy đoán vô tội
Tác giả: Bùi Tiến Đạt
Năm: 2020
16. Trần Văn Độ (2017), Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự - Khái quát các tiêu chuẩn quốc tế và quy định pháp luật Việt Nam, Bài viết tham gia hội thảo “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng”ngày 16/12/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự - Khái quát các tiêu chuẩn quốc tế và quy định pháp luật Việt Nam", Bài viết tham gia hội thảo “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2017
17. Trần Văn Độ (2020), Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam, Bài viết tham gia Hội thảo khoa học quốc tế trực tuyến (Hội thảo chuyên gia) với chủ đề: “Nguyên tắc suy đoán vô tội” ngày 24/7/2020 tại Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam", Bài viết tham gia Hội thảo khoa học quốc tế trực tuyến (Hội thảo chuyên gia) với chủ đề: “Nguyên tắc suy đoán vô tội
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2020
18. Hoàng Văn Đông (2016), “Bàn về quyền bào chữa của người bị bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự”, Chuyên đề thông tin tội phạm học Học viện Cảnh sát nhân dân số 5-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền bào chữa của người bị bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Tác giả: Hoàng Văn Đông
Năm: 2016
19. Lê Minh Đức (2016), “Phát huy vai trò của luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự”, http://liendoanluatsu.org.vn. Truy cập ngày: 15/6/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò của luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự”, "http://liendoanluatsu.org.vn
Tác giả: Lê Minh Đức
Năm: 2016
20. Phạm Hồng Hải (2003), Mô hình lý luận Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình lý luận Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2003
21. Trần Thị Hòe (2015), Nhà nước Việt Nam với việc bảo đảm quyền con người trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước Việt Nam với việc bảo đảm quyền con người trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay
Tác giả: Trần Thị Hòe
Năm: 2015
22. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hỏi - Đáp về quyền con người, Nxb Công an nhân dân 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi - Đáp về quyền con người
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân 2010
23. Liên đoàn Luật sư Việt Nam (2012), Báo cáo số 25/LĐLSVN về đánh giá thực trạng bảo đảm quyền bào chữa và quan điểm sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 25/LĐLSVN về đánh giá thực trạng bảo đảm quyền bào chữa và quan điểm sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Tác giả: Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Năm: 2012
24. Liên đoàn Luật sư Việt Nam (2020), “Hội nghị Tổng kết tổ chức hoạt động năm 2020 và phương hướng hoạt động năm 2021”, https://www.liendoanluatsu.org.vn. Truy cập ngày 12/6/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị Tổng kết tổ chức hoạt động năm 2020 và phương hướng hoạt động năm 2021”, "https://www.liendoanluatsu.org.vn
Tác giả: Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Năm: 2020
29. Nguyễn Thành Long (2010), Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thành Long
Năm: 2010
30. Nguyễn Thái Phúc (2006), Nguyên tắc suy đoán vô tội, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc suy đoán vô tội
Tác giả: Nguyễn Thái Phúc
Năm: 2006
32. Quốc hội (2012), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2012

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w