Từ thực trạng nêu trên, nghiên cứu một cách có hệ thống, khoa học các quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Vũ Thị Phương Loan
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài: 1
2 Tình hình nghiên cứu: 3
3 Phạm vi và mục đích nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7
7 Cơ cấu của luận văn 8
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ, BÍ MẬT CÁC NHÂN, BÍ MẬT GIA ĐÌNH 9
1.1 Khái quát chung về trách nhiệm dân sự: 9
1.1.1 Khái niệm về trách nhiệm dân sự: 9
1.1.2 Những đặc điểm của trách nhiệm dân sự: 10
1.1.3 So sánh trách nhiệm dân sự với các loại trách nhiệm khác: 17
1.2 Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: 20
1.2.1 Khái niệm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: 20
1.2.2 Khái niệm quyền về đời sống tiêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: 23
1.2.3 Điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự của người có hành vi xâm phạm quyền riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: 26
Trang 41.2.4 Đặc điểm trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền
về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: 28 1.2.5 Trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền về đời sống
riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới: 32 KẾT LUẬN CHƯƠNG I 48 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH QUY ĐỊNH TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ, BÍ MẬT CÁC NHÂN, BÍ MẬT GIA ĐÌNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 51 2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành quy định trách nhiệm dân
sự đối với hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình 51 2.2 Các phương thức thức bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong hệ thống pháp luật ở Việt Nam: 63 2.2.1 Các phương thức bảo vệ quyền dân sự 63 2.2.2 Các phương thức thức bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về đời
sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo pháp luật Việt Nam hiện hành: 65 2.3 Thực trạng thi hành pháp luật dân sự Việt Nam khi xác định trách nhiệm, xử lý hành vi xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: 68 2.4 Đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: 81 KẾT LUẬN CHƯƠNG II 91
Trang 5CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ, BÍ MẬT CÁC NHÂN, BÍ MẬT GIA ĐÌNH 92 3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm dân sự đối với hành
vi xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: 92 3.1.1 Sửa đổi quy định của Bộ luật Dân sự quy định về hành vi xâm phạm
quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: 92 3.1.2 Ban hành văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành và bảo vệ
quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: 93 3.1.3 Hoàn thiện và sửa đổi các quy định trong một số văn bản pháp
luật chuyên ngành có liên quan đến việc thực hiện quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: 94 3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân,
bí mật gia đình 96 3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: 101 KẾT LUẬN CHƯƠNG III 104 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6EU : Liêm minh Châu Âu
GDPR : Quy định chung về bảo vệ dữ liệu
CNIL : Cơ quan giám sát bảo vệ dữ liệu của Pháp
DPA : Luật bảo vệ dữ liệu Quốc gia mới
COPPA : Luật bảo vệ quyền về sự riêng tƣ trực tuyến của trẻ em
HIPPA : Luật về trách nhiệm giải trình và trách nhiệm bảo hiểm y tế
Trang 7MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Trong cuộc sống hiện đại cùng với sự phát triển của thời đại công nghệ
số hoá phát triển mạnh mẽ như vũ bão (gọi là cách mạng công nghiệp 4.0), việc chúng ta đưa các thông tin của mình lên mạng để sử dụng vào những mục đích khác nhau như facebook, zalo, viber, hộp thư điện tử đã trở nên khá quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày Việc làm này nhằm giúp thuận tiện hơn trong việc sử dụng các dịch vụ xã hội, nâng cao đời sống tinh thần Tuy nhiên mặt trái của nó là tồn tại những nguy cơ bị người khác lợi dụng, đánh cắp thông tin để sử dụng vào các hành vi vi phạm pháp luật như hack facebook, giả mạo bạn bè nhằm lợi dụng lòng tin lừa đảo chiếm đoạt tài sản; khai thác thông tin dữ liệu cá nhân vì mục đích không lành mạnh Thực trạng trên mạng xã hội ở Việt Nam trong những năm trở lại đây đã tồn tại nhiều thông tin làm lộ bí mật đời tư của một cá nhân, làm lộ bí mật cá nhân, bí mật của một gia đình… ngoài ý muốn của cá nhân và gia đình Nhiều người đã không hiểu, hiểu sai hoặc cố tình không hiểu quyền tự do ngôn luận, tự do thể hiện quan điểm cá nhân… Vì vậy đã vô tình hay hữu ý làm lộ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người khác, đã gây ra những phản ứng trái chiều trên mạng xã hội Dư luận xã hội lan truyền nhanh chóng; gây nhiễu và lệch hướng cho một số bộ phận người thiếu thận trọng hoặc không trải nghiệm cuộc sống và hạn chế về nhận thức đã bị các luồng dư luận lôi kéo và nhấn chìm, mất phương hướng điều khiển hành vi trong các quan hệ xã hội Những người có thông tin cá nhân hoặc người thân của họ bị tiết lộ đôi khi gặp quá nhiều rắc rối, phiền phức trong cuộc sống dẫn tới nhiều hệ lụy không thể lường trước được Với cách mạng công nghệ số hoá như hiện nay, việc tìm kiếm trên các trang mạng xã hội về thông tin cá nhân,
Trang 8đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của bất kỳ ai là điều dề dàng chỉ bằng một thao tác đơn giản gõ tìm kiếm trong trang cá nhân, hoặc trên các trang mạng phổ biến ta có thể biết một cách cụ thể về lịch trình đi lại, cuộc sống riêng tư, công việc, các mối quan hệ xã hội của người đó Việc tìm hiểu thông tin của cá nhân và sử dụng nó để đăng tải trên mạng xã hội có được sự đồng ý của người trong cuộc hay không Tuy nhiên có thể thấy rằng, những thông tin khi đưa lên các trang mạng xã hội với nội dung tốt thì không sao, nhưng nếu đó là những nội dung lệch lạc thì vô hình chung đã làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của chính cá nhân đó Bởi vậy mỗi người cần phải biết bảo vệ chính mình bằng cách biết được các thông tin cá nhân của mình có được pháp luật bảo vệ hay không? Phạm vi thông tin cá nhân được bảo vệ như thế nào? Mức độ bảo vệ ra sao? Hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình đã được quy định trong các văn
bản pháp luật Tuy nhiên việc hiểu như thế nào là “Hành vi xâm phạm quyền
về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” và trách nhiệm dân sự
của người có hành vi vi phạm vẫn còn chưa cụ thể, cần phải được cụ thể hóa một cách rõ ràng
Thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật về đời sống riêng tư,
bí mật cá nhân, bí mật gia đình vẫn còn nhiều bất cập Từ thực trạng nêu trên, nghiên cứu một cách có hệ thống, khoa học các quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình cũng như phát hiện những điểm bất cập nhằm hoàn thiện chúng là một công việc thực sự cần thiết và cấp bách Có như vậy trong quá trình áp dụng để xem xét, xử lý trách nhiệm dân sự mới hiệu quả, thực thi trên thực tế, nhằm hạn chế hơn các hành vi vi phạm trong thời đại công nghệ số như hiện nay
Trang 9Cũng chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” làm đề tài nghiên cứu luận văn với hy vọng phần nào đó nhằm hoàn thiện hơn, cụ thể hơn các quy định của Bộ luật Dân sự của nước ta về “Trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”
2 Tình hình nghiên cứu:
Liên quan đến nội dung quy định đối với quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình cũng đã có nhiều đề tài khoa học, luận văn, bài viết trên các tạp chí ít nhiều đã đề cập như: PGS.TS Phùng Trung Tập
“Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” ; Tạp chí Kiểm sát, ngày 23/5/2018; Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong pháp luật dân sự của Thạc sĩ Đoàn Thị Ngọc Hải; Một số vấn đề về bảo vệ quyền riêng tư trong không gian internet của tác giả Lã Khánh Tùng – khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Thái Thị Tuyết Dung (2012), „„Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư ở Việt Nam và một số quốc gia‟‟, Sách chuyên khảo, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Vũ Công Giao, Phạm Thị Hậu, „„Pháp luật bảo vệ quyền bí mật dữ liệu cá nhân trên thế
giới và Việt Nam‟‟, Tạp chí khoa học Nhà nước và Pháp luật số 2/2017
Tuy nhiên, công trình nghiên cứu triển khai trực tiếp về nội dung này còn nhiều khiêm tốn Với mục đích làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu
về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, nhất là trong
lĩnh vực luật Dân sự nên tôi lựa chọn đề tài: " Trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình " làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ luật học Với mong muốn sẽ
góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm dân sự khi có hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá
Trang 10nhân, bí mật gia đình, nhất là trong thời đại công nghệ số hoá phát triển mạnh
mẽ như hiện nay Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là quy định này còn khá chung chung, chưa xác định rõ phạm vi và nhận diện những thông tin như thế nào thuộc về phạm vi “bất khả xâm phạm”, phạm trù “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” bao gồm những gì và được hiểu như thế nào cho đúng Đồng thời, qua đó nhằm góp phần phát hiện những hạn chế của pháp luật dân sự trong việc xác định trách nhiệm dân sự khi có hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi ở Việt Nam Từ đó, đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của cá nhân và các phương thức bảo vệ quyền này trong hệ thống pháp luật Dân sự ở Việt Nam hiện nay
3 Phạm vi và mục đích nghiên cứu
Pháp luật đề cập về trách nhiệm đối với hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được điều chỉnh bởi nhiều nghành luật khác nhau Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ của mình tôi chỉ đề cập, giới hạn trong các văn bản pháp luật trong đó có quy định quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo một số các văn bản pháp luật này, cụ thể : Tuyên bố quốc tế về nhân quyền của Liên Hợp quốc năm 1948; Công ước quốc tế về quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ năm 1990 của Đại Hội đồng Liên Hợp; Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và năm 2013;
Bộ Luật Dân sự các năm 1995, 2005 và 2015; Luật giao dịch điện tử năm 2005; Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 ; Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật trẻ em năm 2016; Nghị định 56/2017/NĐ-
Trang 11CP hướng dẫn Luật trẻ em; Nghị định 15/2020/ NĐ – CP quy định việc xử phạt vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội mà người dùng facebook cần biết; Hiến pháp Nhật ; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) Nội dung của luận văn giới hạn vấn đề
lý luận và thực tiễn trong việc giải quyết, xử lý các hành vi xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong hệ thống pháp luật Dân sự; Thông qua việc nghiên cứu trong phạm vi được đề tài, tác giả mong muốn cung cấp cho người đọc một cách tổng thể các quy định về phạm vi và nhận diện những thông tin như thế nào thuộc về phạm vi “bất khả xâm phạm”; Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật dân sự quy định cụ thể như thế nào Trách nhiệm dân sự áp dụng khi có hành vi xâm phạm đến quyền này Trên cơ sở đó, nghiên cứu điểm bất cập trong việc áp dụng, giải quyết các vụ việc liên quan đến hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đưa
ra những giải pháp, kiến nghị khắc phục
4 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để có thể đạt được mục đích đặt ra khi nghiên cứu đề tài, đòi hỏi luận văn phải giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất, đề cập khái quát về nội dung thế nào là quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được quy định trong hệ thống pháp luật các nước trên thế giới
Thứ hai, nêu khái niệm và đặc điểm quyền về đời sống riêng tư, bí mật
cá nhân, bí mật gia đình được quy định trong pháp luật dân sự Việt Nam
Thứ ba, điều kiện phát sinh và trách nhiệm dân sự đối với người có hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
Trang 12Thứ tư, thực trạng thi hành pháp luật dân sự Việt Nam khi có hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình Trên
cơ sở đó phân tích nguyên nhân của thực trạng; đưa ra định hướng các giải pháp hoàn thiện, các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật quy định trách nhiệm dân sự đối với người có hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam Theo đó, người viết đặt các vấn đề về bất cập, thực trạng trong việc xác định trách nhiệm dân sự khi có hành vi xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong
hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam với hệ thống pháp luật chuyên nghành khác, đồng thời so sánh quy định trách nhệm dân sự đối với hành vi xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình pháp luật trong hệ thống pháp luật dân sự Việt nam với hệ thống pháp luật các nước trên thế giới
Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng:
Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải: Những phương pháp này được sử dụng phổ biến trong việc làm rõ các quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư,
bí mật cá nhân, bí mật gia đình
Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh: Những phương pháp này được người viết vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét quy định của pháp luật hiện hành có hợp lý hay không, đồng thời nhìn nhận trong mối tương quan so
Trang 13sánh giữa chế tài áp dụng để xác định trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong pháp luật dân sự Việt Nam đối với các quy định trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới
Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch: Được vận dụng để triển khai có hiệu quả các vấn đề liên quan trong mối liên hệ giữa khi xác định trách nhiệm của người có hành vi xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư,
bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong pháp luật dân sự với pháp luật chuyên nghành khác nhằm kiến nghị, hoàn thiện các quy định trong hệ thống pháp luật dân sự
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả đạt được của luận văn góp phần làm sáng tỏ phương diện lý luận trong khoa học pháp lý về các khái niệm liên quan đến quyền riêng tư của cá nhân mà cụ thể là quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; cách nhận diện về hành vi xâm phạm đến quyền này để đưa ra các chế tài áp dụng, xác định trách nhiệm dân sự nhằm bảo vệ tối đa quyền nhân thân; chỉ ra những bất cập của pháp luật và đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật dân sự để bảo vệ quyền nhân thân nói chung, quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình tại Việt Nam nói riêng
Ngoài ra, những giải pháp hoàn thiện pháp luật là cơ sở quan trọng để các cơ quan chức năng trong phạm vi, thẩm quyền của mình sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tương ứng Bên cạnh đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích không chỉ với đội ngũ giảng viên, sinh viên mà còn có giá trị đối với các cá nhân, công dân trong việc nghiên cứu, tự bảo vệ quyền
về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo vệ
Trang 147 Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Khái quát chung về trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
Chương 2: Thực trạng Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật quy định về trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
Trang 15CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ, BÍ
MẬT CÁC NHÂN, BÍ MẬT GIA ĐÌNH
1.1 Khái quát chung về trách nhiệm dân sự:
1.1.1 Khái niệm về trách nhiệm dân sự:
Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị thiệt hại Trách nhiệm dân sự dựa vào căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ mà các bên đã vi phạm, trách nhiệm dân sự được phân chia thành trách nhiệm ngoài hợp đồng và trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ từ những cam kết, thỏa thuận
Nếu nghĩa vụ được tạo lập do các bên cam kết thỏa thuận mà người có nghĩa vụ vi phạm thì trách nhiệm đó được coi là trách nhiệm theo hợp đồng Nếu nghĩa vụ được quy định bởi các quy định pháp luật nói chung mà người
có nghĩa vụ vi phạm thì trách nhiệm đó được coi là trách nhiệm ngoài hợp đồng Trách nhiệm dân sự bao gồm xin lỗi, cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự, buộc bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm
Theo Từ điển Tiếng Việt, trách nhiệm có thể được hiểu theo hai nghĩa: Một là “phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả”, hai là “sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả” Với trách nhiệm pháp lý, khi đó trách nhiệm đã được điều chỉnh và bảo vệ bởi các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành
và “hậu quả” này sẽ là “hậu quả bất lợi” được áp dụng đối với những người phải chịu trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý phát sinh khi có vi phạm pháp luật và đó là hậu quả của hành vi vi phạm đồng thời trách nhiệm pháp lý
Trang 16thể hiện được sự răn đe đối với những hành vi vi phạm và thể hiện sự răn đe của Nhà nước đối với những hành vi vi phạm.Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan
hệ đặc biệt giữa Nhà nước với các chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật
Trách nhiệm dân sự là sự ràng buộc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức trong quan hệ dân sự Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự, trách nhiệm dân sự bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị thiệt hại
Nếu hiểu theo nghĩa này, trách nhiệm dân sự là loại trách nhiệm pháp lý được đặt ra khi và chỉ khi có vi phạm dân sự
Trách nhiệm dân sự theo nghĩa rộng là các biện pháp có tính cưỡng chế được
áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của một quyền dân sự bị vi phạm
1.1.2 Những đặc điểm của trách nhiệm dân sự:
Từ định nghĩa có thể hiểu đặc điểm đầu tiên và quan trọng của trách nhiệm pháp lý là “hậu quả bất lợi” (là sự trừng phạt) hay có thể hiểu đó là những chế tài mà pháp luật đặt ra nhằm thể hiện thái độ không chỉ là sự trừng phạt, răn đe mà còn giáp dục đối với những hành vi vi phạm pháp luật Mục đích của trách nhiệm pháp lý không chỉ là trừng trị hành vi vi phạm mà bên cạnh đó còn là sự khôi phục lại tình trạng tương ứng với phần hậu quả mà người vi phạm đã gây ra do không thực hiện nghĩa vụ của mình Vì vậy có thể rút ra kết luận: Trách nhiệm pháp lý có tính đền bù Đặc điểm về hình thức của trách nhiệm pháp lý chỉ tồn tại khi được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ban hành, tức chỉ Nhà nước có
Trang 17quyền xác định hành vi nào là vi phạm pháp luật và các chế tài tương ứng với
mỗi vi phạm đó
Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị thiệt hại Nếu hiểu theo nghĩa này, trách nhiệm dân sự là loại trách nhiệm pháp lý được đặt ra khi và chỉ khi có sự vi phạm pháp luật dân sự
Như trên đã phân tích, trách nhiệm dân sự được hiểu là một trách nhiệm pháp lý cho nên nó sẽ mang những đặc tính nói chung của trách nhiệm pháp lý Tuy nhiên, vì đây là trách nhiệm dân sự nói riêng nên sẽ có những đặc điểm riêng biệt thuộc về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự phải là hành vi vi phạm pháp luật dân sự: Đó là việc không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của người có nghĩa vụ dân sự; Trách nhiệm dân sự phát sinh khi cá nhân, tổ chức vi phạm sự thỏa thuận trong giao dịch dân sự, hay có lỗi trong việc thực hiện hành vi gây thiệt hại đối với người khác Sự thỏa thuận của các bên là cơ sở hình thành nghĩa vụ dân sự Vậy nên, việc vi phạm nghĩa vụ dân sự là căn cứ phát sinh trách nhiệm đối với các chủ thể Ngoài ra, còn phải dựa vào việc vi phạm nghĩa vụ đấy có gây ra thiệt hại cụ thể và có mối quan hệ nhân quả giữa nghĩa vụ và thiệt hại hay không? Như vậy, trách nhiệm bồi thường chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố như: lỗi,
có thiệt hại vật chất xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi không thực hiện nghĩa vụ và thiệt hại vật chất
*Lỗi của người gâỵ ra thiệt hại
Về nguyên tắc, một người bị áp dụng một chế tài pháp lí (cưỡng chế của Nhà nước) thì họ phải có hành vi vi phạm pháp luật do lỗi cố ý hoặc vô ý
Trang 18Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây
thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra
Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình
có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được
Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng và trách nhiệm dân sự nói chung Nhưng lỗi trong trách nhiệm dân sự có những trường hợp là lỗi suy đoán Bởi hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật nên người thực hiện hành vi đó bị suy
đoán là có lỗi Người bị thiệt hại trong nhiều trường hợp không thể chứng
minh được, nếu buộc họ phải chứng minh sẽ bị bất lợi cho họ Vì vậy, người
bị thiệt hại không có nghĩa vụ chứng minh Những người không có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình được coi là không có lỗi trong việc thực hiện các hành vi đó Những người không có năng lực hành vi, bị mất năng lực hành vi, không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của họ thì
họ không phải chịu trách nhiệm Lỗi của pháp nhân trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại là lỗi của người thực hiện nhiệm vụ của pháp nhân Vì vậy, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
Lỗi trong trách nhiệm dân sự có những điểm khác với lỗi trong trách nhiệm hình sự Trong trách nhiệm hình sự, hình thức lỗi và mức độ lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh và quyết định hình phạt Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định người phạm tội có lỗi trong việc thực hiện hành vi phạm tội
Trong trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại, vấn đề hình thức lỗi, mức độ lỗi ảnh hưởng rất ít đến việc xác định trách nhiệm Thậm chí, người gây ra
Trang 19thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi Tuy nhiên, có trường hợp người gây ra thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu do lỗi
vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của
họ hoặc thiệt hại do lỗi cố ý của người bị thiệt hại thì không phải bồi thường
*Có thiệt hại xảy ra
Thiệt hại xảy ra là tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại bởi mục đích của việc áp dụng ttách nhiệm là khôi phục tình trạng tài sản cho người bị thiệt hại, do đó không có thiệt hại thì không đặt ra vấn đề bồi thường cho dù
có đầy đủ các điều kiện khác Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền, do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức Trong trách nhiệm hình sự đối với một số tội có cấu thành hình thức thì không đòi hỏi có hậu qủa vật chất Ngay đối với một số tội
có cấu thành vật chất thì trong một số trường hợp cá biệt, hậu quả chưa xảy ra nhưng do tính chất của hành vi nguy hiểm có khả năng gây ra hậu quả lớn cũng đã cấu thành tội phạm hoặc ngược lại, đối với một số tội như tội thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc vi phạm các quy định về an toàn giao thông thì phải có thiệt hại nghiêm ttọng mới cấu thành tội phạm Nhưng trong trách nhiệm dân sự chỉ cần có thiệt hại dù không nghiêm trọng cũng phải bồi thường Vì thiệt hại là điều kiện bát buộc phải có trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, không có thiệt hại thì không phải bồi thường
vì vậy trước tiên cần xác định thế nào là thiệt hại
+ Thiệt hại về tài sản, biểu hiện cụ thể là mất tài sản, giảm sút tài sản, những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản Đây là những thiệt hại vật chất của người bị thiệt hại;
Trang 20+Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ làm phát sinh thiệt hại về vật chất bao gồm chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ;
+ Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm hại bao gồm chi phí hợp lí để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút
do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại;
+ Tổn thất về tinh thần
Đời sống tinh thần là phạm trù rất rộng Về nguyên tắc, không thể trị định giá được bằng tiền theo nguyên tắc ngang giá trị như trong trao đổi và không thể phục hồi được Nhưng với mục đích nhằm ngăn chặn người có
hành vi trái pháp luật, Bộ luật dân sự quy định người xâm hại phải: “bồi
thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần” cho người bị
thiệt hại, người thân thích gần gũi của người đó phải gánh chịu
*Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật
Quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản là một quyền tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức Mọi người đều phải tôn trọng những quyền đó của chủ thể khác, không được thực hiện bất cứ hành vi
nào “xâm phạm" đến các quyền tuyệt đối đó
Việc “xâm phạm" mà gây thiệt hại có thể là hành vi vi phạm pháp luật
Hành vi gây thiệt hại thông thường thể hiện dưới dạng hành động Chủ thể đã thực hiện hành vi mà đáng ra không được thực hiện các hành vi đó Vấn đề hành vi trái pháp luật thể hiện dưới dạng không hành động có phải bồi thường thiệt hại không và sẽ áp dụng như thế nào là vấn đề phức tạp hiện đang còn có nhiều tranh luận, về phương diện lí luận, hành vi này vẫn coi là hành vi trái pháp luật và có khi phải chịu trách nhiệm hình sự (không cứu giúp người bị nạn ) nhưng khó có thể buộc người đó bồi thường thiệt hại Lỗi trong trách nhiệm dân sự là điều kiện để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, tuy
Trang 21nhiên mức độ lỗi, hình thức lỗi không có ý nghĩa nhiều trong việc xác định trách nhiệm bồi thường
Hành vi gây thiệt hại có thể là hành vi hợp pháp nếu người thực hiện hành vi theo nghĩa vụ mà pháp luật hoặc nghề nghiệp buộc họ phải thực hiện các hành vi đó Ví dụ: nhân viên phòng chữa cháy có thể phá huỷ nhà dễ cháy xung quanh đám cháy; bác sĩ cắt bỏ các bộ phận hoặc làm các phẫu thuật khác Trong trường hợp này, người gây thiệt hại không phải bồi thường Người gây thiệt hại cũng không phải bồi thường trong Trường hợp phòng vệ chính đáng, trong tình thế cấp thiết hoặc có sự đồng ý của người bị thiệt hại Tuy nhiên, nếu vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng, vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây ra thiệt hại vẫn phải bồi thường thiệt hại
*Có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật
Thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật hay ngược lại hành
vi trái pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra Tuy nhiên, xác định mối tương quan nhân quả là vấn đề rất phức tạp Phạm trù nguyên nhân và kết quả
là cặp phạm trù trong triết học Nhân quả là mối liên hệ nội tại, khách quan và tất yếu giữa các hiện tượng tự nhiên cũng như xã hội, trong đó một là nguyên nhân và sau nó là kết quả Việc xác định mối quan hệ nhân quả chính là sự liên hệ khách quan đó Nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả và kết quả
là hậu quả của nguyên nhân Xem xét mối liên hệ nhân quả giữa các hiện tượng xã hội, trong đó con người sinh sống và hoạt động phức tạp hơn nhiều
so với các hiện tượng tự nhiên khác Vì vậy, việc xem xét chỉ có ý nghĩa khi hành vi của con người và hậu quả của hành vi đó được đánh giá dưới góc độ
xã hội, trong đó đặc biệt chú trọng đến hành vi của con người, liên quan đến con người vào thời điểm có hành vi và hậu quả xảy ra
Việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rẩt khó khăn Do đó, cần phải xem xét,
Trang 22phân tích, đánh giá tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng, khách quan và toàn diện Từ đó mới có thể rút ra được kết luận chính xác về nguyên nhân, xác định đúng trách nhiệm của người gây ra thiệt hại
Trách nhiệm dân sự là biện pháp cưỡng chế mang tính tài sản Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự mục đích mà các bên hướng đến là lợi ích Mỗi bên
sẽ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận đối với nhau Việc một bên không thực hiện nghĩa vụ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của bên còn lại Lợi ích mà một bên bị thiệt hại sẽ được giá trị bằng một lượng tài sản nhất định mà bên có lỗi phải có trách nhiệm bồi thường Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của các bên trong mỗi giao dịch dân sự, cho nên, trách nhiệm trong dân sự chính là biện pháp cưỡng chế mang tính tài sản đối với các bên trong quan hệ dân sự
Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm của bên vi phạm trước bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm Trách nhiệm dân sự có trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng
Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng: Hợp đồng là giao dịch dân sự, mà trong đó các bên tự thỏa thuận quyền và nghĩa vụ Việc vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng có thể sẽ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường Trong mỗi loại hợp đồng, các bên đều có thể tự do thỏa thuận những nội dung cụ thể Những thỏa thuận này chính là sự ràng buộc đối với cả hai bên hợp đồng Việc vi phạm hợp đồng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại xảy ra Trong hợp đồng, việc không thực hiện đúng nghĩa vụ có thể sẽ là căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự.Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng dân
sự mà pháp luật đặt ra là biện pháp bảo đảm để các chủ thể thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, hạn chế tối đa thiệt hại xảy ra
Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng: Trong trường hợp này, các chủ thể không có bất kì sự thỏa thuận nào, nhưng đã vi phạm các điều cấm của
Trang 23pháp luật dẫn đến một thiệt hại thực tế Ngoài ra về nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thường chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện như:
Có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, lỗi thuộc về người gây ra thiệt hại;
Có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật
Chủ thể chịu trách nhiệm dân sự là các chủ thể của quan hệ dân sự
Trong dân sự, nghĩa vụ của chủ thể này là quyền của chủ thể khác Việc một bên vi phạm nghĩa vụ sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của bên còn lại Đặc biệt, trách nhiệm dân sự phát sinh từ nghĩa vụ dân sự, cho nên các chủ thể của nghĩa vụ dân sự cũng là chủ thể của trách nhiệm dân sự Cụ thể, cá nhân, tổ chức, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự
do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm Chủ thể chịu trách nhiệm dân sự ngoài người vi phạm nghĩa vụ còn có thể là những chủ thể khác như: Pháp nhân, cơ quan, tổ chức, người đại diện theo pháp luật cho người chưa thành niên…;
Hậu quả bất lợi mà người vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu có thể là việc phải thực hiện nghĩa vụ, thực hiện đúng và thực hiện đủ nghĩa vụ và nếu
có thệt hại thực tế từ vi phạm đó thì sẽ phát sinh thêm trách nhiệm bồi thường thiệt hại;
Trách nhiệm dân sự nhằm đền bù hoặc khôi phục lại quyền và lợi ích bị xâm phạm Trách nhiệm dân sự phát sinh từ việc không thực hiện nghĩa vụ dân sự Việc không thực hiện nghĩa vụ của mình sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của người khác Cho nên đương nhiên, người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự để đền bù hoặc khôi phục lại quyền và lợi ích đã xâm phạm
1.1.3 So sánh trách nhiệm dân sự với các loại trách nhiệm khác:
Có 04 loại trách nhiệm pháp lý:
Trang 24-Trách nhiệm pháp lý hình sự: Là trách nhiệm pháp lý áp dụng đối
với các cá nhân, pháp nhân thương mại vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình
-Trách nhiệm pháp lý hành chính: Là loại trách nhiệm pháp lý đặt ra
đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính hay nói cách khác trách nhiệm là trách nhiệm thi hành nghĩa vụ do pháp luật hành chính quy định và trách nhiệm phát sinh do vi phạm nghĩa vụ đó
-Trách nhiệm pháp lý dân sự: Là trách nhiệm pháp lý mang tính tài
sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị hại
-Trách nhiệm pháp lý kỷ luật: Là trách nhiệm pháp lý áp dụng đối
với cán bộ, công chức, viên chức do vi phạm kỷ luật, vi phạm quy tắc hay nghĩa vụ trong hoạt động công vụ hoặc vi phạm pháp luật mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
* Điểm giống nhau giữa các loại trách nhiệm pháp lý: đều là hậu
quả bất lợi do Nhà nước áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật, theo đó cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật phải chịu những chế tài được quy định tại phần chế tài của quy phạm pháp luật
*Điểm khác nhau:
- Trách nhiệm hình sự: là trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với các cá
nhân, pháp nhân thương mại vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả pháp
lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình
Trang 25Các hình thức xử lý: Phạt chính; phạt bổ sung; các biện pháp khắc phục
Trình tự áp dụng Được áp dụng theo trình tự tư pháp
-Trách nhiệm dân sự: là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được
áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị hại
Chủ thể áp dụng: Nhà nước
Chủ thể bị áp dụng Áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật dân sự Mục đích Buộc người có hành vi vi phạm pháp luật vào nghĩa vụ bồi thường cho người bị tổn hại do hành vi đó gây ra nhằm khắc phục những tổn thất đã gây ra
Các hình thức xử lý Bồi thường thiệt hại; Các biện pháp khắc phục Trình tự áp dụng Được áp dụng theo trình tự tư pháp
-Trách nhiệm hành chính: là loại trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với
các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính hay nói cách khác TNHC là trách nhiệm thi hành nghĩa vụ do pháp luật hành chính quy định và trách nhiệm phát sinh do vi phạm nghĩa vụ đó
Chủ thể áp dụng: Nhà nước
Chủ thể bị áp dụng: chủ thể trong trách nhiệm hành chính là Nhà nước đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật hành chính
Mục đích: Xử lý vi phạm hành chính, loại trừ những vi phạm pháp luật,
ổn định trật tự quản lý trên các lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước
Các hình thức xử lý: Cảnh cáo; Phạt tiền
-Trách nhiệm kỷ luật: là trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với cán bộ,
công chức, viên chức do vi phạm kỷ luật, vi phạm quy tắc hay nghĩa vụ trong hoạt động công vụ hoặc vi phạm pháp luật mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
Trang 26Chủ thể áp dụng: thủ trưởng, cơ quan đơn vị, xí nghiệp
Chủ thể bị áp dụng: cá nhân khi thực hiện hành vi vi pham kỷ luật hoặc
vi phạm pháp luật khác mà theo quy định phải chịu trách nhiệm kỷ luật
Mục đích: đảm bảo trật tự nội bộ của cơ quan, tổ chức
Các hình thức xử lý: khiển trách; cảnh cáo; hạ bậc lương; hạ ngạch; cách chức; buộc thôi việc
Trình tự áp dụng: là trình tự hành chính
1.2 Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình:
1.2.1 Khái niệm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình:
Cá nhân là một thực thể của tự nhiên và là chủ thể của quan hệ xã hội
Cá nhân với tư cách chủ thể độc lập trong quan hệ xã hội, quan hệ dân sự, kinh tế, lao động, thương mại và các quan hệ khác trong phạm vi thời gian và không gian nhất định Do vậy mỗi cá nhân có đời sống riêng tư, nội hàm của đời sống riêng tư có bí mật cá nhân, bí mật gia đình
1.2.1.1 Khái niệm về đời sống riêng tư của cá nhân: là tập hợp các yếu
tố tạo thành nét riêng đặc thù, độc lập, không thể trộn lẫn và mang dấu ấn của riêng cá nhân, không thể trộn lẫn với người khác Đời sống riêng tư của cá nhân có đặc điểm riêng biệt của cá nhân trong quá trình sống, thời gian sống,
sự trải nghiệm trong các quan hệ xã hội mà hình thành và mang dấu ấn riêng của cá nhân Đời sống riêng tư là một quan hệ phản ánh đời sống của một cá nhân có tính độc lập và với tư cách chủ thể trong các quan hệ xã hội ổn định hoặc không ổn định trong không gian và thời gian xác định được Đời sống riêng tư của cá nhân được hiểu theo nghĩa hẹp: Là quyền của cá nhân tự mình hành xử các hành vi nhằm đáp ứng trực tiếp nhu cầu sống độc lập theo cách lựa chọn của bản thân tạo ra những điều kiện thuận lợi để thực hiện đời sống riêng tư không làm phiền ai và không muốn ai làm phiền mình, đồng thời, cá
Trang 27nhân tự ngăn chặn các hành vi cản trở đến đời sống riêng tư của mình và có quyền khởi kiện dân sự khi đời sống riêng tư của mình bị người khác cản trở
có tính thường xuyên, có hệ thống
Đời sống riêng tư của cá nhân là những sự việc, quan hệ liên quan đến
cá nhân, mà cá nhân giữ cho riêng mình, thể hiện sự chủ động, tự do và tự mình thực hiện các hành vi để phục vụ cho đời sống của riêng mình Sự khép kín của đời sống riêng tư của cá nhân mà cá nhân không muốn chia sẻ, bộc lộ cho người khác biết và cá nhân xem như những lợi ích tinh thần của bản thân
và tự mình, duy nhất mình có quyền thủ đắc và tự cân bằng cuộc sống trong mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… Các quan hệ xã hội khác mà cá nhân luôn luôn chủ động, tự chủ giữ gìn trong đời sống riêng tư về nơi ở, quan hệ liên quan đến cá nhân Đời sống riêng tư của cá nhân là những lợi ích tinh thần của cá nhân có mối liên hệ với tài sản hoặc không có mối liên hệ với tài sản Đời sống riêng tư của cá nhân là quyền nhân thân tuyệt đối của cá nhân Đời sống riêng tư của cá nhân như một sự lựa chọn tự thân của cá nhân, tuy rằng các yếu tố khác trong quan hệ xã hội và trong bản thân của sự sống nhân loại luôn luôn có sự tác động trực tiếp hay gián tiếp đến đời sống riêng
tư của cá nhân Đời sống riêng tư: Bao gồm nếp sinh hoạt, thói quen, sở thích, danh tính, đặc điểm thể chất, tâm sinh lý, trình độ, học vấn, vị trí, cấp bậc công việc, thông tin khác có tính định danh hoặc được cấp riêng cho cá nhân (chứng minh thư, điện thoại, tài khoản, thẻ ngân hàng…) và những mối quan
hệ xã hội, quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của cá nhân
1.2.1.2 Khái nhiệm về bí mật cá nhân: Bí mật cá nhân là tổng thể các
quan hệ quá khứ, các thông tin liên quan đến cá nhân mang tính chất chi phối các quan hệ cụ thể của cá nhân mà bị bộc lộ sẽ gây cho cá nhân những bất lợi hoặc dễ gây ra sự hiểu lầm ở các chủ thể khác, mà bản chất của yếu tố bí mật
cá nhân không gây ra bất kỳ một thiệt hại nào cho chủ thể khác Bí mật cá
Trang 28nhân: Bao gồm tất cả những thông tin thuộc về đời sống riêng tư của cá nhân
đó Đời sống riêng tư và bí mật cá nhân là hai thành tố hợp thành bí mật đời
tư của cá nhân, là quyền nhân thân gắn với cá nhân được pháp luật bảo hộ
1.2.1.3 Khái niệm về bí mật gia đình: Để làm rõ hơn khái niệm bí mật
gia đình, cần dựa trên định nghĩa về: (i) Gia đình: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”[12]; (ii) Thành viên trong gia đình: “Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha
mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng
mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột”[13] Theo nội dung trên, thành viên gia đình được pháp luật liệt kê trong phạm vi ba đời đối với quan
hệ huyết thống, hai đời đối với quan hệ nuôi dưỡng (cha mẹ nuôi/con nuôi) và quan hệ hôn nhân (vợ/chồng/dâu/rể; bố mẹ chồng/bố mẹ vợ)
Trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành về gia đình và thành viên gia đình, tác giả đề xuất xây dựng khái niệm về bí mật gia đình như sau: Bí mật gia đình: Bao gồm tất cả các thông tin liên quan đến các thành viên gia đình gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Là những thông tin
về vụ việc, tài liệu liên quan đến các quan hệ giữa các thành viên của gia đình với nhau có mối quan hệ hữu cơ đến truyền thống nhiều đời hay một đời về huyết thống, về bệnh lý, về năng lực trí tuệ của các thành viên có tính hệ thống, nếu bị bộc lộ sẽ gây ra sự bất lợi cho các thành viên gia đình trong các quan hệ xã hội và quan hệ pháp luật khác thuộc nhiều lĩnh vực Bí mật gia
Trang 29đình được giữ kín, nếu tất cả các thành viên trong gia đình có ý thức không muốn bộc lộ, thì không chủ thể nào có quyền xâm phạm
1.2.2 Khái niệm quyền về đời sống tiêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình:
1.2.2.1 Khái niệm quyền về đời sống riêng tư:
Quyền về đời sống riêng tư: Cá nhân được bảo đảm và bảo vệ các quyền về đời sống riêng tư không bị xâm phạm bởi bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, trừ những trường hợp do pháp luật quy định hoặc tình huống đặc biệt mà việc xâm phạm đến đời sống riêng tư của cá nhân đó nhằm bảo vệ hoặc mang lại quyền lợi lớn hơn cho cá nhân đó Nếu xét về mặt xã hội và tâm lý thì đời sống riêng tư của một cá nhân là sự lựa chọn, có thể có sai lầm và có thể phù hợp với thói quen, sự trải nghiệm, rèn luyện và nhận thức về cuộc sống hiện thực của cá nhân như một chức năng, như một ước vọng hay một nhu cầu đơn thuần về tinh thần của cá nhân Sự tự mình, cho mình và chỉ riêng mình với mục đích và quan niệm sống của cá nhân tồn tại khách quan trong xã hội hiện
đại và được tôn trọng, bảo vệ bằng pháp luật
Xét về mặt quan hệ pháp lý, quyền về đời sống riêng tư của cá nhân là quyền do luật định Việc thực hiện quyền này và mức độ thực hiện đến đâu là
do chính cá nhân định đoạt bằng hành vi của mình, vì mình, cho riêng mình
và tự do hưởng dụng những lợi ích nào đó cho riêng mình, chỉ là của mình và không ai được xâm phạm
Quyền về đời sống riêng tư còn được xem như một điều kiện liên quan đến không gian và thời gian sống của cá nhân và là nhu cầu cần thiết nhằm phục vụ cho cuộc sống của cá nhân trong một hoặc nhiều lĩnh vực, nhiều mối quan hệ pháp luật và quan hệ xã hội thông thường khác Quyền về đời sống riêng tư còn là quyền tự chủ, độc lập, tự do, làm chủ hành vi của cá nhân trong quan hệ xã hội không làm ảnh hưởng đến quyền tự do của người khác
Trang 30Sự độc lập bản thân của cá nhân thực hiện một mong muốn, một ước vọng tự
do nhằm tránh và cố tránh tối đa khỏi sự can thiệp của người khác một cách
vô cớ, không hợp lý đối với thói quen của cá nhân
Vì vậy, quyền về đời sống riêng tư của cá nhân được hiểu là một phạm trù pháp lý nhằm đảm bảo cho cá nhân thực hiện được các lựa chọn cho một cách sống, thể hiện chức năng để đạt một ước vọng, một điều kiện sống nhằm thỏa mãn những nhu cầu sống, tư duy, hành động phù hợp với quy định của pháp luật về đời sống riêng tư của cá nhân
1.2.2.2 Khái niệm về quyền bí mật cá nhân:
Theo góc nhìn của luật học có thể hiểu “pháp luật về bảo vệ quyền đối với bí mật cá nhân là tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh giữa cá nhân với cơ quan nhà nước, cá nhân hoặc tổ chức nhằm bảo vệ quyền đối với bí mật cá nhân không bị xâm phạm một cách tùy tiện”
Quyền bí mật cá nhân là quyền dân sự, là quyền nhân thân gắn với cá nhân bất khả xâm phạm và bất khả chuyển giao Những bí mật của cá nhân theo tính chất phụ thuộc mật độ và tính chất của các quan hệ xã hội khác Bí mật cá nhân thuộc về bí mật đời tư là những thông tin, những quan hệ trong quá khứ và hiện tại của cá nhân và cá nhân không muốn bộc lộ công khai Bí mật cá nhân liên quan đến nhiều yếu tố xã hội và pháp luật
Về những quan hệ liên quan đến cá nhân và những thông tin về cá nhân phát sinh trong đời sống xã hội hay từ chính bản thân cá nhân mà cá nhân muốn giữ kín, không bộc lộ Những hành vi thu thập, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật cá nhân phải được cá nhân đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn bí mật và bất khả xâm phạm Mặc dù Bộ luật dân sự năm 2015
Trang 31đã quy định về quyền bí mật cá nhân là một quy định cấp thiết, quan trọng và
là một điểm nhấn phản ánh quan điểm lập pháp và trình độ lập pháp ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, pháp luật chưa có một khái niệm cụ thể, rõ ràng nào về “Quyền đối với bí mật cá nhân” Theo quan điểm của một số nhà trong công tác làm luật cho rằng “quyền về bí mật cá nhân là một quyền dân sự, là quyền nhân thân gắn với cá nhân bất khả xâm phạm, không thể chuyển giao
và được pháp luật bảo hộ” Trong đó, bí mật cá nhân thuộc về bí mật đời tư, là những thông tin hoặc quan hệ trong quá khứ, hiện tại liên quan đến cá nhân và
cá nhân không muốn bộc lộ công khai vì có thể khi bộc lộ sẽ gây ảnh hưởng bất lợi hoặc gây ra sự hiểu lầm ở các chủ thể khác Đồng thời, bản chất của bí mật cá nhân là không gây ra bất kỳ một thiệt hại nào cho các chủ thể khác1
1.2.2.3 Khái niệm về quyền đối với bí mật gia đình:
Để làm rõ hơn khái niệm bí mật gia đình, cần dựa trên định nghĩa về: (i) Gia đình: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”[12]; (ii) Thành viên trong gia đình: “Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị,
em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu,
em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột”[13] Theo nội dung trên, thành viên gia đình được pháp luật liệt kê trong phạm vi ba đời đối với quan hệ huyết thống, hai đời đối với quan hệ
1
Https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=869n
Trang 32nuôi dưỡng (cha mẹ nuôi/con nuôi) và quan hệ hôn nhân (vợ/chồng/dâu/rể; bố
mẹ chồng/bố mẹ vợ).2
Trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành về gia đình và thành viên gia đình, tác giả đề xuất xây dựng khái niệm về bí mật gia đình như sau: Bí mật gia đình: Bao gồm tất cả các thông tin liên quan đến các thành viên gia đình gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình[14]
1.2.3 Điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự của người có hành vi xâm phạm quyền riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình:
1.2.3.1 Có hành vi trái pháp luật:
Các quyền nhân thân về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là các quyền dân sự Mọi cá nhân có năng lực pháp luật dân sự ngang nhau, do các quyền nhân thân này được pháp luật bảo vệ theo cơ chế pháp luật Các quyền nhân thân về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình bất khả xâm phạm Hành vi xâm phạm đến các quyền nhân thân này là hành vi trái pháp luật Người có hành vi xâm phạm các quyền nhân thân của
cá nhân trái pháp luật phải chịu trách nhiệm dân sự như xin lỗi, cải chính, bồi thường thiệt hại và căn cứ vào hành vi gây thiệt hại và nếu động cơ của chủ thể gây thiệt hại, mức độ thiệt hại là nghiêm trọng thì người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự
1.2.3.2 Có thiệt hại về lợi ích tinh thần:
Những thiệt hại về quyền nhân thân do hành vi trái pháp luật gây ra được xác định là hành vi làm tổn thất về tinh thần cho cá nhân, gia đình công dân xác định được, người gây thiệt hại có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người bị thiệt hại Những khoản bồi thường thiệt hại do quyền
Trang 33
nhân thân bị xâm phạm là bồi thường thiệt hại về vật chất và bồi thường thiệt hại về tinh thần theo quy định của pháp luật
a) Bồi thường thiệt hại về tài sản: Thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm: Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; thiệt hại khác do luật định
b) Bồi thường tổn thất về tinh thần: Người có hành vi trái pháp luật xâm phạm các quyền nhân thân về danh dự, uy tín, nhân phẩm của cá nhân ngoài khoản bồi thường thiệt hại về tài sản xác định được, còn có trách nhiệm bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần mà người có quyền nhân thân bị xâm phạm gánh chịu Mức bồi thường do tổn thất về tinh thần có thể
do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì sẽ được áp dụng theo quy định của pháp luật
1.2.3.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và thiệt hại về vật chất, về tinh thần cho người bị thiệt hại:
Quan hệ này là mối quan hệ phổ biến, quan hệ biện chứng giữa hành vi gây thiệt hại xảy ra Hành vi gây thiệt hại về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là nguyên nhân của thiệt hại về vật chất và những tổn thất về tinh thần của người bị thiệt hại Việc xác định mối quan hệ nhân quả này cần phải xác định các yếu tố là quyền riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình như đã phân tích ở mục 2
1.2.3.4 Yếu tố lỗi của người có hành vi xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình:
Lỗi có thể là vô ý hoặc cố ý Cho dù người xâm phạm đến các quyền nhân thân này có lỗi do vô ý hoặc cố ý đều có trách nhiệm bồi thường Người xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình có lỗi cố ý và có tính
hệ thống thường xuyên còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Trang 34Xác định hành vi xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình thỏa mãn 04 điều kiện trên thì người có hành vi trái pháp luật phải bồi thường cho người bị thiệt hại, tính chất của trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.2.4 Đặc điểm trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình:
Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là quyền dân sự, là quyền nhân thân gắn với cá nhân bất khả xâm phạm và bất khả chuyển giao Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình có các đặc điểm sau đây:
Về hành vi xâm phạm: Hành vi xâm phạm bí mật cá nhân, bí mật gia
đình nhằm tác động đến các thông tin liên quan đến vấn đề trên Còn hành vi xâm phạm đời sống riêng tư bao gồm các hành vi xâm phạm đến thông tin thuộc bí mật cá nhân, bí mật gia đình và các hành vi khác xâm phạm đến đời sống riêng tư Về thời gian: Hành vi xâm phạm đời sống riêng tư vốn là những vấn đề gắn với cuộc sống của cá nhân nên được gắn với giai đoạn hiện tại Việc minh thị các khái niệm trên sẽ tạo cơ sở cho việc xây dựng hành lang pháp lý bảo vệ quyền nhân thân liên quan đến đời sống riêng tư và bí mật gia đình, bí mật cá nhân được thể hiện đầy đủ và trọn vẹn từ hoạt động, nếp sinh hoạt đến các thông tin liên quan đến cá nhân, gia đình 3
Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: Cá nhân được bảo đảm và bảo vệ các thông tin thuộc về đời sống riêng tư, các thông tin được cấp riêng hoặc gắn với nhân thân cá nhân, các thông tin về gia đình, các thành viên trong gia đình khỏi sự xâm phạm của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào, trừ trường hợp do pháp luật quy định, do cá nhân đó tự cung cấp hoặc việc tiết lộ, sử dụng thông tin về cá nhân, gia đình nhằm mục đích bảo vệ
Trang 35
hoặc mang lại quyền lợi lớn hơn cho cá nhân đó Việc tiết lộ, sử dụng thông tin phải đảm bảo tôn trọng và không xâm phạm quyền đối với đời sống riêng
tư, bí mật cá nhân của tất cả các thành viên gia đình
Về nhóm các hành vi xâm phạm quyền: Về phương pháp xác định các nhóm hành vi: Xuất phát từ tính đặc thù của nhóm quyền nhân thân, tiếp thu các quy định của pháp luật quốc tế và đặc thù của quyền nhân thân, khi quy định các hành vi xâm phạm, pháp luật Việt Nam cần kết hợp cả hai phương pháp liệt kê và tổng hợp, bao quát Điều này đảm bảo hiệu quả trong công tác thực thi pháp luật khi xác định các hành vi xâm phạm cụ thể, đồng thời tránh
bỏ sót các hành vi khác chưa được liệt kê Tuy nhiên, quy định về các hành vi xâm phạm cần có sự thống nhất trong các ngành luật, vì hiện nay có một số ngành luật chuyên ngành quy định một số hành vi cụ thể như pháp luật an ninh mạng, giao dịch điện tử, nhưng pháp luật dân sự, hình sự lại quy định khá chung chung
Về phân loại nhóm hành vi: Trên cơ sở các quyền về đời sống riêng tư
và bí mật cá nhân, bí mật gia đình, pháp luật nên có sự phân định cụ thể trên
cơ sở tách biệt hai nhóm quyền trên, cụ thể: (i) Các hành vi xâm phạm đời sống riêng tư: Bao gồm các hành vi xâm phạm, tiếp cận chỗ ở, nơi làm việc, cản trở, ngăn cấm cá nhân thực hiện các nếp sinh hoạt, thói quen, sở thích hợp pháp mà không được pháp luật cho phép hoặc cá nhân đó đồng ý; (ii) Các hành vi xâm phạm đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình: Bao gồm các hành vi xâm phạm, tiếp cận, tiết lộ, sử dụng hoặc phát tán thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, cá nhân, gia đình mà không được pháp luật cho phép hoặc cá nhân đó đồng ý (đăng tải trên internet, tiết lộ bằng lời, văn bản hoặc các phương tiện liên lạc điện tử, cung cấp thông tin về cá nhân hoặc gia đình cá nhân đó cho cá nhân, tổ chức khác…)
Trang 36Cần xác định cụ thể “đối tượng được bảo vệ” và “hành vi”: Việc xác định “đối tượng” và “hành vi” có mối quan hệ mật thiết với nhau và cần được xác định rõ ranh giới giữa việc có hay không hậu quả “bị xâm hại” Ví dụ, hình ảnh là một trong các thông tin thuộc bí mật cá nhân, nhưng pháp luật lại cho phép việc ghi âm, ghi hình trong các cuộc họp công khai Vậy thế nào là cuộc họp công khai thì pháp luật cần phải có hướng dẫn cụ thể, công khai đến đâu, thời gian nào, nội dung gì ? Ví dụ, cuộc họp của tổ dân phố thì sẽ có tính công khai trong tổ dân phố đó Nếu đưa cuộc họp đó đăng tải trên các trang mạng xã hội để tất cả mọi người đều xem được thì có bị coi là vi phạm pháp luật không? Bên cạnh đó, mặc dù cuộc họp là công khai, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc hình ảnh cá nhân tham gia cuộc họp đó cũng bị công khai khi không được phép của người đó Vì vậy, để đảm bảo quyền đời sống riêng tư song hành với quyền tiếp cận, cung cấp thông tin, thì pháp luật cần phải xây dựng được hành lang pháp lý phân định rõ phạm vi này Đặc biệt, các yếu tố “riêng tư”, “bí mật”, “tập thể”, “công cộng”, “dịch vụ công” cũng cần được xác định cụ thể
Pháp luật đã có bước tiến bộ lớn trong việc xác định các quyền nhân thân, quyền được bảo vệ đời sống riêng tư từ phương diện “được Nhà nước trao quyền” tới sự thừa nhận các quyền này dựa trên bản chất tự nhiên và xã hội của con người Chính bởi vậy, thay vì các quy định liệt kê như trước kia, pháp luật đang hướng tới các nội dung có tính bao quát nhất Theo đó, tất cả những gì thuộc về con người một cách hợp pháp và tự nhiên đều thuộc đối tượng bảo vệ của pháp luật Thuật ngữ “đời sống riêng tư, bí mật gia đình, bí mật cá nhân” mang phạm vi rộng và đầy đủ hơn so với các thuật ngữ trước kia Không chỉ cá nhân, mà tất cả những gì gắn với cá nhân, các mối quan hệ, tâm tư, tình cảm, vật dụng, gia đình đều có thể được coi là “đời sống riêng tư” của cá nhân đó
Trang 37Việc bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật gia đình, bí mật cá nhân được pháp luật xây dựng trên cơ chế bảo vệ (được thiết lập bởi pháp luật, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức, đoàn thể, xã hội ) và tự bảo vệ của mỗi cá nhân Để thực hiện được điều này, bên cạnh việc xây dựng hành lang pháp lý hoàn chỉnh, các cơ quan, tổ chức có năng lực, hoạt động tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật hiệu quả, con người cần phải tự nhận thức và
có ý thức bảo vệ quyền của mình và của người khác
Việc cập nhật xu hướng phát triển của xã hội khiến cho các quy định về quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật gia đình, bí mật cá nhân ngày càng có
vị trí, vai trò thiết thực Trong những năm gần đây, cùng với các cuộc cách mạng về công nghệ, hành vi xâm phạm bí mật cá nhân, đời sống riêng tư ngày càng tinh vi Mặt khác, nhu cầu “câu view”, “câu like” và ăn cắp thông tin cá nhân phục vụ cho nhiều mục đích đã đặt ra vấn đề cấp bách cần ngăn chặn Trẻ em, đối tượng bị xâm phạm bí mật đời tư nhiều nhất đã có một đạo luật riêng để quy định về quyền trẻ em, trong đó có hướng dẫn cụ thể về quyền riêng tư
Như vậy, pháp luật về bảo vệ quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình tập trung điều chỉnh các quan hệ xã hội về đời sống
riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình Nó điều chỉnh các quan hệ phát sinh
giữa các chủ thể là Nhà nước với cá nhân, cá nhân với cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp… trong mối quan hệ liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình Các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể này diễn
ra trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống như: dân sự, thương mại, y
tế, giáo dục,… Pháp luật về bảo vệ quyền đối với bí mật cá nhân ghi nhận quyền của cá nhân đối với bí mật cá nhân của mình và nghĩa vụ, yêu cầu, trách nhiệm đối với các chủ thể Nó còn đòi hỏi ghi nhận trách nhiệm bảo vệ quyền bí mật cá nhân từ phía nhà nước thông qua những quy định cụ thể và
Trang 38nghĩa vụ của các chủ thể Mục đích điều chỉnh của pháp luật về bảo vệ quyền đối với bí mật cá nhân nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật về
bí mật cá nhân được pháp luật bảo vệ Quy định của pháp luật về bảo vệ quyền đối với bí mật cá nhân là cơ sở để giải quyết tranh chấp phát sinh và xử
lý vi phạm nhằm mục đích răn đe, giáo dục đối với các hành vi xâm phạm đến
bí mật cá nhân một cách bất hợp pháp Bên cạnh đó, pháp luật bảo vệ quyền đối với bí mật cá nhân còn có mục đích xây dựng, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng và bảo vệ bí mật cá nhân của người khác
1.2.5 Trách nhiệm dân sự đối với hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới:
Kinh nghiệm lập pháp ở nhiều nước trên thế giới cho thấy, luật bảo vệ quyền riêng tư (privacy law) có thể được ban hành với tư cách một luật độc lập, hoặc có các luật cụ thể gắn với từng lĩnh vực, chuyên ngành, chẳng hạn luật riêng tư về tài chính (financial privacy laws); luật riêng tư về y tế (health privacy laws); luật riêng tư trong giao tiếp (communication privacy laws); luật riêng tư trên internet (online privacy laws); luật riêng tư thông tin (information privacy laws); bảo vệ riêng tư tại gia đình (privacy in one‟s home)… tùy theo nhận thức pháp lý và tính đặc thù cao ở mỗi quốc gia Ở nước ta, các nội dung về quyền riêng tư đã được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật hình sự, dân sự, có sự tương thích căn bản với nhận thức chung trong các văn kiện pháp luật quốc tế
Nhận thức về quyền riêng tư đã được ghi nhận khá rộng rãi và đầy đủ trong pháp luật, mặc dù vậy hiện nay quốc gia nào cũng đang có những vi phạm quyền này ở những mức độ khác nhau, nhưng không thể biện minh về
sự vi phạm ấy để thiếu tôn trọng quyền riêng tư ở quốc gia mình
Trang 39Từ năm 1948 đến năm 1970, Liên Hợp Quốc đã thông qua nhiều hiệp ước và nghị định thư về nhân quyền, trong đó có hai công ước quan trọng nhất được thông qua vào năm 1966 là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế,
xã hội và văn hóa và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị Cùng với sự phát triển của quyền nhân thân trong các công ước quốc tế, quyền được bảo vệ bí mật đời tư cũng được ghi nhận Điều 12 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 quy định: “Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh
dự hay thanh danh Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy” Nội dung trên được tái khẳng định tại Điều 17 Công ước quốc
tế về các quyền dân sự và chính trị và được Ủy ban nhân quyền làm rõ trong Bình luận chung số 16 tại phiên họp thứ 32 (năm 1988) Trong Bình luận chung này, Ủy ban nhân quyền nêu rõ mục đích của việc quy định quyền được bảo vệ đời tư là “nhằm bảo vệ chống lại những xâm phạm tùy tiện hay bất hợp pháp từ các chủ thể khác gồm mọi thể nhân, pháp nhân hay từ phía cơ quan nhà nước” Điều 12 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 cho thấy nội hàm về các giá trị đời tư cần được bảo vệ không chỉ cuộc sống riêng tư của mỗi cá nhân mà còn bao gồm cả những khía cạnh đời sống có mối gắn kết mật thiết với cá nhân như gia đình, nơi ở, thư tín và cả những giá trị định tính như danh dự, uy tín cá nhân Diễn giải trên thể hiện tương đối cụ thể và chi tiết về các giá trị đời tư trong pháp luật quốc tế, giúp cho việc nội luật hóa quy định này vào pháp luật quốc gia thuận lợi hơn Để làm rõ hơn những xâm phạm đối với đời tư cá nhân, Bình luận chung số 16 cũng đã đề cập thế nào là
“can thiệp tùy tiện” và “bất hợp pháp” Theo đó, “bất hợp pháp” là sự can thiệp không dựa trên nền tảng quy định của pháp luật được xây dựng phù hợp với các quy định và mục đích của Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị Ở mức độ xâm phạm cao hơn, cụm từ “can thiệp tùy tiện”
Trang 40được sử dụng để chỉ những hành động mà mặc dù dựa trên những quy định pháp luật nhưng không phù hợp hoặc trái với những quy định và mục đích của Công ước
Trước sự phát triển của khoa học - công nghệ và nhu cầu xây dựng hệ thống thông tin điện tử trong quản lý nhà nước, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc
đã thông qua “Hướng dẫn về quy chế số hóa hồ sơ dữ liệu cá nhân” theo Nghị quyết số 45/49 ngày 14/12/1990, với nguyên tắc đầu tiên được đề cập là
“thông tin về các cá nhân không nên được thu thập, xử lý một cách bất công hoặc bất hợp pháp và cũng không nên dùng trái với những mục đích, nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc” Cùng với những quy định chung nêu trên, việc bảo vệ đời tư của cá nhân cũng được xác nhận với một số chủ thể đặc biệt như Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em (Điều 16), Công ước về quyền của người khuyết tật (Điều 22) Nếu xem xét trong bối cảnh ra đời của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 thì thấy lý do dẫn đến việc ghi nhận sự bảo vệ quyền đời tư là do “sự gia tăng mức độ nguy hiểm của việc can thiệp” với “những hình thức can thiệp tinh vi thông qua sự phát triển của khoa học công nghệ” (như giám sát điện tử của cơ quan nhà nước) Do
đó, giới hạn sự tùy tiện của các nhà nước trong việc can thiệp vào đời tư của
cá nhân công dân thật sự quan trọng Tuy nhiên, việc nhấn mạnh nghĩa vụ bảo
vệ của pháp luật như vậy mặc dù phù hợp với tinh thần của Tuyên ngôn nhưng vô hình trung đã làm lu mờ nghĩa vụ của chính mỗi cá nhân đối với việc tự bảo vệ quyền đời tư của bản thân Đây là vấn đề được các nhà nghiên cứu về nhân quyền quan tâm và cũng là nội dung pháp lý mới cần đặt ra trong giai đoạn hiện nay khi những xâm phạm đời tư cá nhân, pháp nhân khác (không phải cơ quan nhà nước) diễn ra ngày càng phổ biến và nghiêm trọng dưới vỏ bọc của những quyền như tự do báo chí, tự do ngôn luận mà ở đó, nghĩa vụ bảo vệ của Nhà nước khó đạt được sự chủ động cần thiết và đòi hỏi