Một cuộc cách mạng về thế giới số đang diễn ra, và lần này nước ta cũng không đứng ngoài cuộc. Cuộc cách mạng lần thứ tư sẽ là cơ hội và thách thức, đòi hỏi mọi ngành nghề, mỗi con người cần thay đổi liên tục để thích nghi. Trong đó nghề công chứng và hoạt động của công chứng viên trong hoạt động công chứng sẽ còn tiếp tục được thay đổi khi Nhà nước ban hành nhiều chính sách khuyến khích việc áp dụng công nghệ thông tin vào phục vụ quản lý mọi lĩnh vực, nhằm mục đích nâng cao việc phục vụ cho đời sống nhân dân cả nước. Vậy việc áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động công chứng tại Việt Nam hiện nay diễn ra như thế nào? Những hạn chế nào còn tồn tại, nguyên nhân do đâu, và giải pháp thế nào? Bài viết này sẽ giải quyết một số vấn đề nêu trên.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC
-BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN
KỸ NĂNG CHUNG VỀ NGHỀ CÔNG CHỨNG
Chuyên đề:
Vai trò của công nghệ thông tin trong hoạt động công chứng - Giải pháp nâng cao
hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động công chứng
Họ và tên: Nông Văn Thành Sinh ngày 21 tháng 10 năm 1994
Số báo danh: 221 Lớp: CC24.1D (D1)
Hà Nội, ngày 01 tháng 10 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 1
II NỘI DUNG 1
1 LÝ LUẬN 1
2 THỰC TIỄN 4
2.1 NHỮNG MẶT ĐẠT ĐƯỢC 4
2.2 NHỮNG MẶT HẠN CHẾ 6
2.3 TÌNH HUỐNG MINH HỌA 7
3 NGUYÊN NHÂN, GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ - ĐỀ XUẤT 7
3.1 NGUYÊN NHÂN 8
3.2 GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ - ĐỀ XUẤT 9
III KẾT LUẬN 11
IV DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3I MỞ ĐẦU
Một cuộc cách mạng về thế giới số đang diễn ra, và lần này nước ta cũng không đứng ngoài cuộc Cuộc cách mạng lần thứ tư sẽ là cơ hội và thách thức, đòi hỏi mọi ngành nghề, mỗi con người cần thay đổi liên tục để thích nghi Trong đó nghề công chứng và hoạt động của công chứng viên trong hoạt động công chứng sẽ còn tiếp tục được thay đổi khi Nhà nước ban hành nhiều chính sách khuyến khích việc áp dụng công nghệ thông tin vào phục
vụ quản lý mọi lĩnh vực, nhằm mục đích nâng cao việc phục vụ cho đời sống nhân dân cả nước Vậy việc áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động công chứng tại Việt Nam hiện nay diễn ra như thế nào? Những hạn chế nào còn tồn tại, nguyên nhân do đâu, và giải pháp thế nào? Bài viết này sẽ giải quyết một số vấn đề nêu trên
Để tìm hiểu câu trả lời cho các câu hỏi trên, tác giả đã lựa chọn đề tài số 8 trong danh mục đề tài báo cáo môn học Kỹ năng chung về công chứng của Khoa Đào tạo Công chứng viên và các Chức danh khác tại Học viện Tư pháp cho bài thi kết thúc môn học của
mình: “Vai trò của công nghệ thông tin trong hoạt động công chứng - Giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động công chứng.”.
II NỘI DUNG
1 LÝ LUẬN
Khái niệm “Công nghệ thông tin” là gì:
Thuật ngữ “Công nghệ thông tin” xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review
“Công nghệ thông tin”, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin
Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết Chính phủ 49/CP ký ngày 04/08/1993: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại – chủ yếu là kĩ thuật máy tính
và viễn thông – nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”
Luật Công nghệ thông tin 2006 định nghĩa: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số.”
“Ứng dụng công nghệ thông tin” là một hoạt động mang tính chiến lược, nó là một
kế hoạch mang tính tổng thể, liên quan đến nhiều đối tượng chứ không phải là một hay một vài kỹ năng riêng lẻ do một cá nhân thực hiện
Cho đến thời điểm hiện nay, các hoạt động công chứng vẫn diễn ra tại các tổ chức hành nghề công chứng, nhưng nhu cầu về một dịch vụ công chứng liên tục và không bị gián đoạn bởi bất kỳ hoàn cảnh nào như dịch bệnh Covid-19 dẫn đến việc chúng ta phải thực
Trang 4hiện bước chuyển mình để bắt kịp nhu cầu hoàn toàn xuất phát từ thực tiễn của mọi công dân, cái gì có thể truy cập, thuận tiện, không bị gián đoạn chính là chủ đề của cả thời kỳ này, khi mà chúng ta đang thay đổi mạnh mẽ hơn để đón đầu những cơ hội và giải quyết những thách thức trong thời đại “Cách mạng công nghiệp 4.0” (cuộc cách mạng tập trung vào kỹ thuật số)
Vai trò của công nghệ thông tin trong cuộc sống con người:
Từ năm 1784, Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra, với việc phát minh ra động cơ hơi nước, con người ứng dụng phát minh này vào các ngành như dệt may, cơ khí, giao thông vận tải
Từ năm 1870, Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra, và lần này, với việc phát minh ra động cơ chạy bằng điện, một cuộc sống văn minh hơn, năng suất lao động cao hơn trở thành hiện thực
Từ năm 1969, Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba diễn ra, với việc phát minh
ra bóng bán dẫn, thiết bị điện tử, thành quả đạt được của thời kỳ này chính là máy tính cá nhân, mạng internet, mạng xã hội
Từ năm 2000 cho đến nay, Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang lan tỏa ngày càng mạnh mẽ, các ngành khoa học mới ra đời như Internet vạn vật (IoT), tương tác thực tại ảo (AR), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), phân tích dữ liệu lớn, điện toán đám mây … đang làm thay đổi toàn bộ thế giới thực thành thế giới số
Thông tin chính là yếu tố quyết định cho sự phát triển của cuộc cách mạng đang diễn
ra lần này Đây chính là cơ hội cho ngành công chứng Việt Nam thực hiện đổi mới cách thức hoạt động, chiến lược phát triển về mặt lâu dài để bắt kịp với các nước trên thế giới
Vai trò của công nghệ thông tin đối với hoạt động công chứng:
Xuất phát từ nhu cầu thực tế hiện nay của các công chứng viên trong hoạt động công chứng, chúng ta thấy được công nghệ thông tin sẽ có vai trò là công cụ hỗ trợ cho toàn bộ quy trình từ tiếp nhận đến khi trả hồ sơ, cụ thể hơn thì đó là việc ứng dụng vào các nhu cầu như sau:
Tiếp nhận dữ liệu, hồ sơ và xác thực thông tin trong hồ sơ với các cơ quan có liên quan (Tòa án, ngân hàng, bảo hiểm, thuế, cơ quan cảnh sát, văn phòng đăng ký đất đai, …)
Truyền và nhận dữ liệu giữa các tổ chức trong hiệp hội hành nghề công chứng
Chuẩn bị dự thảo một số giấy tờ, hợp đồng cho từng loại giao dịch cụ thể (mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, di chúc )
Lưu trữ dữ liệu (lưu trữ dữ liệu lên các máy chủ của bên thứ ba trong nước hay nước ngoài có thể là giai đoạn đầu, về lâu dài để tự chủ thì chúng ta cần nghiên cứu
Trang 5thêm về công nghệ blockchain – chuỗi khối để nâng cao được tính bảo mật của dữ liệu điện tử.)
Trang 6 Tìm kiếm thông tin về vấn đề hết hạn, quá hạn, vô hiệu, trùng lặp để hạn chế được những giao dịch diễn ra nhiều lần phổ biến hiện nay
Quản lý sổ sách kế toán, thông tin khách hàng, nhân sự làm việc tại văn phòng công chứng, …
Tình hình ứng dụng CNTT vào hoạt động công chứng tại Việt Nam hiện nay ra sao? ở mức độ nào?
Luật Công nghệ thông tin 2006, tại Điều 5 quy định về chính sách của Nhà nước về ứng dụng và phát triển CNTT như sau:
“1 Ưu tiên ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong chiến lược phát triển
kinh tế – xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh; thúc đẩy công nghiệp công nghệ thông tin phát triển thành ngành kinh tế trọng điểm, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu.
Khuyến khích đầu tư cho lĩnh vực công nghệ thông tin.
Ưu tiên dành một khoản ngân sách nhà nước để ứng dụng công nghệ thông tin trong một số lĩnh vực thiết yếu, tạo lập nền công nghiệp công nghệ thông tin và phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin.
Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia.
Có chính sách ưu đãi để tổ chức, cá nhân có hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đối với nông nghiệp; nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người có hoàn cảnh khó khăn.
Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin.
Tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế; khuyến khích hợp tác với tổ chức, cá nhân Việt Nam ở nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ thông tin.”
Có thể thấy rất nhiều nội dung khuyến khích ứng dụng CNTT, thế nhưng Luật Công chứng 2006 thì không có bất kỳ nội dung nào liên quan đến việc ứng dụng thông tin
Mặc dù vậy, từ ngay sau khi Luật Công chứng 2006 có hiệu lực thì trên cơ sở sự hỗ trợ của nước ngoài, Bộ Tư pháp cũng đã triển khai ứng dụng thử nghiệm phần mềm cho một
số tổ chức hành nghề công chứng (phần mềm Master) Tuy nhiên, với hạ tầng công nghệ thông tin lúc đó, phần mềm này gần như chỉ hoạt động đơn lẻ chứ chưa có khả năng kết nối
và chia sẻ dữ liệu Nó cũng bộc lộ khá nhiều hạn chế do được viết trên nền tảng công nghệ cũ
Tại Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, các Sở Tư pháp cũng đã nhận thấy
sự cần thiết phải xây dựng một cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạt động công chứng để giải quyết một số vấn đề cấp bách nhất, đó là hạn chế tình trạng tài sản bị giao dịch nhiều lần,
Trang 7tài sản bị ngăn chặn giao dịch nhưng vẫn được công chứng, đồng thời cần có một công cụ
để hỗ trợ phục vụ công tác quản lý, vì vậy hệ thống dữ liệu về thông tin tài sản bị ngăn chặn
và thông tin công chứng đã bước đầu được tạo lập Tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh,
cơ sở dữ liệu được xây dựng trên môi trường mạng diện rộng với nền tảng web, cho phép các tổ chức hành nghề công chứng trực tiếp khai thác dưới sự quản lý và giám sát của Sở Tư pháp Ở Hải Phòng thì việc này được tiến hành khá thủ công, các tổ chức hành nghề công chứng không trực tiếp khai thác được mà phải thông qua Sở Tư pháp dưới hình thức yêu cầu bằng văn bản.1
Hiện nay ở Việt Nam, công nghệ thông tin được ứng dụng vào hoạt động công chứng đang diễn ra nhưng ở mức còn đơn giản, chưa có chiến lược phát triển lâu dài Các ứng dụng của công nghệ thông tin hiện tại ở nước ta bao gồm: (i) Tiếp nhận dữ liệu khách hàng, thông báo, trao đổi với khách hàng qua email trên phần mềm; (ii) Soạn thảo và in tài liệu bằng MS Office; (iii) Tìm kiếm thông tin: thông tin ngăn chặn, văn bản pháp luật, mẫu dấu, chữ ký, hồ sơ lưu trữ, …; (iv) Lưu trữ thông tin: sổ lưu trữ, sổ công chứng/chứng thực, sổ công văn, thư tín; (v) Quản lý thu chi, tiền lương, quản lý nhân sự, …
Trong lần sửa đổi Luật Công chứng sắp tới, tác giả hi vọng được biết rằng phần lớn quy trình thủ tục công chứng sẽ được thực hiện từ xa, và chúng ta sẽ có một khái niệm mới
ra đời, “công chứng từ xa”, để phục vụ nhu cầu của xã hội Đây sẽ chính là cơ hội của nền công chứng nước nhà, cơ hội để được “hiện đại hóa” hơn nữa Và vị thế của công chứng viên cũng nhất định phải được thể hiện rõ ràng hơn, quyền tự quyết trong hình thức tiến hành hoạt động công chứng để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của các bên Và để sử dụng dịch vụ công chứng tại một tổ chức hành nghề công chứng, cá nhân sẽ phải thể hiện ý chí đó của mình bằng phương tiện là chữ ký điện tử (đã được cấp phép)
2 THỰC TIỄN
2.1 NHỮNG MẶT ĐẠT ĐƯỢC
Chúng ta có phần mềm Công chứng Uchi đã được sử dụng tại nhiều tỉnh thành trọng điểm, cụ thể thì có hơn 17 Sở Tư pháp trên cả nước có sử dụng phần mềm này, trong đó có
Sở Tư pháp Hà Nội, Đà Nẵng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu …; trong tương lai gần, sẽ ngày càng có thêm sự tham gia của các cơ quan nhà nước vào việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động công chứng Nhu cầu tra cứu thông tin liên quan đến tài sản, nhân thân không chỉ đến từ phía tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan nhà nước, cấp phường, xã mà chúng ta còn phải tính đến việc có sự tham gia cung cấp thông tin của người dân Hiện tại thì mặt đạt được của phần mềm này chính là tra cứu và quản lý thông tin liên quan đến hồ sơ công chứng; và tổ chức hành nghề công chứng đã được tham gia vào trong một mô hình kết nối chặt chẽ có sự tham gia của nhiều tổ chức khác nhau Điều
Trang 8này phản ánh một nỗ lực không hề nhỏ của nhiều cá nhân, tổ chức khác nhau cùng liên kết lại để xây dựng dần dần một cơ sở dữ liệu lớn và hoàn thiện hơn cho tương lai Tại mỗi tỉnh thành sẽ có cơ sở dữ liệu riêng, dần dần khi đến một thời điểm thuận lợi hơn trong tương lai, chúng ta sẽ hợp nhất cơ sở dữ liệu ở cấp quốc gia
Bên cạnh đó thì Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi có nhu cầu công chứng cao nên tại đây có sử dụng phần mềm CeNM trong hoạt động công chứng Hơn nữa, chúng ta còn có các phần mềm công chứng khác đáp ứng được nhu cầu của mỗi cá nhân là công chứng viên, ngoài ra cũng cần tính tới cả vấn đề chi phí cho phần mềm để cập nhật; các phần mềm đó là: Dotary, VSD, H2-QLCC, Project Software, Doceye, Faceworks, 3H Trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động công chứng mạnh mẽ như hiện nay thì việc phát triển nhiều phần mềm để phục vụ cho một ngành cụ thể là điều hoàn toàn cần thiết và phù hợp với sự phát triển chung, điều này thúc đẩy mỗi nhà phát triển phần mềm tìm ra cách thức quản lý hiệu quả hơn nữa đối với hồ sơ công chứng dạng dữ liệu điện tử
Đối với công dân cũng có thể thực hiện việc tra cứu thông tin ngăn chặn của tài sản,
cá nhân, tổ chức trên trang “Cổng dịch vụ Công chứng là trang thông tin cung cấp cho công dân” (https://congchungonline.vn/) Tuy nhiên thì trang này mới đang cung cấp thông tin sơ
bộ chứ chưa đầy đủ, chủ yếu là cung cấp thông tin về thủ tục công chứng, thông tin về các
tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn một địa phương, còn việc tra cứu thông tin ngăn chặn có lẽ vẫn đang trong quá trình tiếp tục hoàn thiện (tác giả thực hiện việc tra cứu nhưng không có được nhiều thông tin như mong đợi, việc chọn tỉnh / thành phố chỉ hiện lên thành phố Đà Nẵng chứ chưa có thêm các địa phương khác) Nhưng có thể nói rằng việc ứng dụng công nghệ thông tin để cung cấp thông tin ngăn chặn về tài sản cho công dân cả nước thể hiện rằng chúng ta đã có ý tưởng và đang hoàn thiện ý tưởng này Như vậy thì có thể hình dung được rằng, công dân sẽ thực hiện thêm một thao tác nữa trước khi thực hiện các giao dịch tại các tổ chức hành nghề công chứng, điều này trực tiếp hạn chế được rủi ro pháp lý cho công dân, và gián tiếp đảm bảo được an toàn hơn cho công chứng viên khi hành nghề
Với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động công chứng, thành quả là quy trình công chứng trở nên chặt chẽ, có sự liên kết với các cơ quan liên quan, chuyên nghiệp, hiệu quả, bảo mật, tiết kiệm thời gian hơn cho các cá nhân có nhu cầu cần công chứng Các điều trên cho thấy một viễn ảnh rất đáng mong đợi Công chứng viên có thời gian để tiếp cận được nhiều khách hàng hơn, xử lý được nhiều hồ sơ hơn trong một khoảng thời gian ngắn, chi phí in ấn bản cứng giảm xuống đáng kể khi mà công chứng viên xem và sửa đổi trực tiếp bản mềm Không những thế, ứng dụng công nghệ thông tin để kịp thời cập nhật về các trường hợp ngăn chặn giao dịch, giả mạo người, giả mạo giấy tờ, lừa đảo … còn góp phần minh bạch hoạt động công chứng và làm giảm các hoạt động tiêu cực, nâng cao được
uy tín và vị thế của nghề công chứng
Trang 92.2 NHỮNG MẶT HẠN CHẾ
Cần có sự thống nhất chung về một cơ sở dữ liệu quốc gia về công chứng, phần mềm thì có nhiều với các giao diện tính năng khác nhau, nhưng cần thiết có một cơ sở dữ liệu duy nhất trong thời gian sắp tới từ toàn bộ các tổ chức hành nghề công chứng để thống nhất khai thác chung trên cả nước Điều này chúng ta vẫn chưa làm được do chưa đủ năng lực về nhiều mặt khác nhau về kỹ thuật, ngân sách, nhu cầu
Việt Nam vẫn chưa phải là quốc gia có thế mạnh về công chứng điện tử bởi hai lý do: (i) Công chứng viên chưa sử dụng chữ ký điện tử, con dấu điện tử để ký văn bản; (ii) Quy trình, các bước công chứng vẫn chưa được thực hiện trực tuyến mà vẫn phải thực hiện theo phương thức truyền thống Hai nguyên nhân này cũng sẽ góp phần lớn vào sự chậm phát triển công chứng điện tử nếu đứng ở góc nhìn so sánh với các nước như Pháp, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, … Như vậy là chúng ta đang chậm hơn các nước trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động công chứng
Nếu như các tình tiết, sự kiện trên các cơ sở dữ liệu khác với các tình tiết, sự kiện trên hợp đồng, giao dịch đã được công chứng thì liệu rằng Tòa án có công nhận đó là chứng
cứ không cần phải chứng minh theo Điều 5 Luật Công chứng 2014 hay không? Đây là câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ và cần được bổ sung vào quy định của pháp luật công chứng Và còn trường hợp nữa là văn bản công chứng bản mềm (dạng điện tử) và văn bản công chứng bản cứng (dạng giấy tờ) liệu có giá trị pháp lý như thế nào trong khi các giao dịch trực tuyến ngày một tăng trưởng mạnh mẽ Để đưa ra nhận định rằng một văn bản, thông tin dưới dạng điện tử có giá trị pháp lý đến mức độ nào thì trước tiên chúng ta cần phải xử lý thật tốt
“khâu đầu vào” của các văn bản này, mọi thứ chặt chẽ ngay từ đầu thì sẽ dễ dàng cho khâu quản lý về sau Để làm được việc này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa tổ chức hành nghề công chứng với cơ quan đăng ký đất đai, thuế, tài nguyên – môi trường, … Và sự phối hợp này hiện nay mới chỉ dừng lại ở mức độ nhất định
Chúng ta chưa có quy định pháp luật cho việc thực hiện và công nhận công chứng điện tử, ngay tại khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng 2014 cũng thể hiện rõ như vậy, rằng
“Công chứng viên … chứng nhận … giấy tờ, văn bản” chứ chưa cụ thể là văn bản dưới dạng điện tử Công chứng là thủ tục ở giai đoạn mở đầu làm bước tiền đề cho các thủ tục tại các cơ quan liên quan khác, chính vì vậy mà nếu ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động công chứng là phải tính cả việc hoàn thiện thủ tục về hồ sơ điện tử đối với các cơ quan liên quan
Để xây dựng được một cơ sở dữ liệu công chứng chứa đựng thông tin về nguồn gốc tài sản theo Điều 62 Luật Công chứng 2014 không phải là một việc dễ dàng Đó chính là lý
do vì sao mà chúng ta mới chỉ xây dựng được dữ liệu để chia sẻ và lưu trữ thôi, chứ còn việc tính toán làm sao để kho dữ liệu đó phục vụ cho quy trình, thủ tục công chứng điện tử vẫn còn đang bị bỏ ngỏ Điểm hạn chế chính là ở đây, việc ứng dụng công nghệ thông tin
Trang 10vào hoạt động công chứng đến giai đoạn này tuy đã phát triển nhưng các phần mềm chỉ mang tính hỗ trợ cho quy trình, thủ tục công chứng truyền thống
2.3 TÌNH HUỐNG MINH HỌA
Tình huống: Giả mạo giấy tờ nhân thân trong hoạt động công chứng, tra cứu trên phần mềm hiện thông tin biện pháp ngăn chặn
Anh A đóng giả chủ đất để thực hiện bán lại mảnh đất tại Đà Nẵng với giá là 3 tỷ đồng cho Anh B Để khiến cho anh B tin tưởng mình, anh A có nhờ anh C đóng giả là con của mình, và ra văn phòng công chứng X tại Hà Nội yêu cầu công chứng một hợp đồng ủy quyền cho anh A thực hiện việc chuyển nhượng mảnh đất nêu trên Thư ký công chứng viên tại văn phòng công chứng X tiếp nhận các giấy tờ sau: chứng minh thư nhân dân của anh C (đã được làm giả) và các giấy tờ sau của anh A: bản sao công chứng sổ đỏ (bản thật), giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, sổ hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân mang tên anh A (đã được làm giả)
Công chứng viên D tại văn phòng công chứng X sau khi nhận giấy tờ từ thư ký của mình, với kinh nghiệm nhiều năm cùng trách nhiệm cao đối với nghề, thực hiện việc xem xét kỹ lưỡng các giấy tờ này Chứng minh thư nhân dân đã được làm giả với công nghệ tinh
vi nên công chứng viên D không thể phát hiện ra Công chứng viên D thực hiện việc đăng nhập vào phần mềm công chứng Uchi của văn phòng, thực hiện việc nhập thông tin về tài sản được giao dịch là mảnh đất trên Công chứng viên D phát hiện rằng mảnh đất này đang
bị một Chi cục thi hành án dân sự gửi yêu cầu ngăn chặn trên phần mềm từ hai năm trước
Do chưa có thông tin giải tỏa, công chứng viên D hẹn anh C cung cấp thêm Giấy xác nhận nhân khẩu tại thời điểm cấp sổ đỏ từ Cơ quan công an và đến văn phòng công chứng X hoàn tất một số thủ tục
Anh C một tuần sau đem theo Giấy xác nhận nhân khẩu (đã được làm giả) tới văn phòng công chứng X, công chứng viên D hỏi một số câu hỏi về nguồn gốc mảnh đất, thời gian cư trú của anh C tại Đà Nẵng nhưng anh C trả lời ấp úng không tự tin, dáng vẻ dè dặt Công chứng viên D nhắc tới việc cần xác minh thêm thông tin từ phía cơ quan công an về chứng minh thư nhân dân của anh C và anh A, sau khi nghe xong anh C lập tức đứng dậy xin phép từ chối tiếp tục công chứng và lấy lại giấy tờ đã nộp rồi đi về
3 NGUYÊN NHÂN, GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ - ĐỀ XUẤT
Các giải pháp hiện nay về phần mềm đã hiện hữu nhưng việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động công chứng là một quá trình chuyển đổi cần có định hướng và sự tham khảo từ nhiều đơn vị công chứng của các nước Trong bối cảnh ngày càng có nhiều nhu cầu công chứng từ người Việt ở nước ngoài đối với tài sản tại Việt Nam, cũng như vấn nạn lợi dụng những giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tham gia giao dịch nhiều lần tại các
tổ chức công chứng, đơn vị thực hiện chứng thực thì việc đẩy mạnh ứng dụng công