Chương I PAGE 15 MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua ở nước ta vấn đề về ma túy diễn biến hết sức phức tạp và đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng Tệ nạn ma tuý đã làm ảnh hưởng đến.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua ở nước ta vấn đề về ma túy diễn biến hết sứcphức tạp và đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng Tệ nạn ma tuý đã làm ảnhhưởng đến sức khỏe, tâm lý, tình cảm, nhân cách, hạnh phúc, sự tồn vonggiống nòi, cản trở sự phát triển lành mạnh đối với nền kinh tế, văn hóa, xãhội, đe dọa sự ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và chủ quyềncủa quốc gia Các hoạt động sản xuất, tàng trữ, buôn bán, sử dụng ma túy tráiphép mang lại lợi nhuận siêu ngạch, và tạo điều kiện cho các tổ chức tội phạmxuyên quốc gia xâm nhập, làm ô nhiễm môi trường sống và phá vỡ sự ổn địnhcủa bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; làm phát sinh tội phạm, nó làcon đường chính dẫn đến lây lan HIV/AIDS căn bệnh thế kỷ
Để ngăn chặn thảm họa ma tuý và tích cực hưởng ứng Chương trình toàncầu phòng, chống ma tuý và sự cần thiết phải huy động sức mạnh của các quốcgia cùng tham gia phòng, chống và kiểm soát ma túy, Liên hợp quốc đã banhành 3 Công ước (năm 1961; 1971 và 1988) để phòng, chống và kiểm soát matúy và tuân thủ lời kêu gọi của khoá họp đặc biệt lần thứ 20 của Đại hội đồngLiên Hợp quốc tại New York – Hoa Kỳ (6/1998) bàn về vấn đề chinh phục nạn
đại dịch ma tuý toàn cầu: “Đoàn kết chống lại thảm họa hàng đầu của thế giới trong thế kỷ XXI”.
Nhận thức được sự cần thiết phải kịp thời đấu tranh ngăn chặn và kiểmsoát ma túy, Bộ luật Hình sự năm 1999 của nước ta, đã hình thành hệ thốngcác quy định tội phạm về ma túy Ngày 09/12/2000, Quốc hội khoá X kỳ họpthứ 8 đã thông qua Luật phòng, chống ma túy Ngày 01/9/1997, Chủ tịchnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định số 789/QĐ-CTNtham gia 3 Công ước của Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy Ngày28/5/1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 686/TTg thành lập
ủy ban quốc gia phòng, chống ma túy (nay là Ủy ban quốc gia phòng, chống
Trang 2tệ nạn ma túy, mại dâm) Ngày 10/3/2005, Thủ tướng Chính phủ ra Quyếtđịnh số 49/2005/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể phòng, chống ma túyđến năm 2010, với mục tiêu đến năm 2015 cơ bản thanh toán tệ nạn ma túytrong cả nước Tất cả các chủ trương, chính sách và các văn bản quy phạmpháp luật này đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống ma túyđầy cam co, quyết liệt, phức tạp cấp bách trong trước mắt cũng như lâu dài ởViệt Nam thời kỳ hội nhập.
Từ năm 2001 đến 2007, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền, sựquyết tâm của quân và dân An Giang, mà nòng cốt là lực lượng CSĐT công
an tỉnh An Giang trong cuộc đấu tranh phòng chống ma tuý, đã đạt đượcnhững kết quả bước đầu khả quan đáng khích lệ Đã phát hiện, điều tra đấutranh triệt phá nhiều ổ nhóm, đường dây và tổ chức tội phạm ma túy và có vụquy mô liên tỉnh (An Giang - Kiên Giang -TP.HCM), xuyên quốc gia(Campuchia - An Giang - Trung Quốc - Đài Loan) Đồng thời An Giang làmột tỉnh đa dân tộc Trong tổng số dân 2.044.367 thì người dân tộc Kinh là1.940.996, người dân tộc thiểu số là 103.380 cho 17 dân tộc, trong đó chủ yếu
là dân tộc Chăm (12.434), dân tộc Khmer (78.706), và dân tộc Hoa (11.256)(thống kê năm 1999) và cũng được xác định là tuyến, địa bàn trọng điểm về
ma túy trong hành lang biên giới Tây nam của tổ quốc, và có các yếu tố: làvùng đất có khả năng nuôi trồng cây cần sa, cây thuốc phiện (vùng bảy núi);tuyến thẩm lậu ma túy từ Camphuchia vào; địa bàn trung chuyển và cũng làđịa bàn tiêu thụ ma tuý Khảo sát, nghiên cứu tổng hợp số liệu, hồ sơ các vụ
án tội phạm ma túy tại Công an tỉnh An Giang (sau 7 năm) cho thấy: tìnhtrạng vi phạm pháp luật về ma tuý chiếm tỷ lệ khá cao (0,76 % số vụ và 1,13
% số đối tượng) so với tổng số các vụ án ma tuý trong cả nước (cùng thờikỳ) cũng từ đặc điểm địa lý phức tạp, đối tượng phạm tội đa dạng, làm chocông tác điều tra, ngăn chặn tội phạm về ma túy luôn gặp khó khăn Trong khichưa có lý luận chỉ dẫn cụ thể, cũng như công tác tổng kết rút kinh nghiệmcòn nhiều hạn chế, dẫn đến tình trạng chất lượng và hiệu quả đấu tranh
Trang 3phòng chống ma tuý còn thấp; công tác tổ chức, phối hợp của các cơ quan,ban ngành có nơi, có lúc chưa đồng bộ nên có ảnh hưởng đến kết quả trongcuộc vận động toàn dân tham gia đấu tranh phòng chống ma tuý của tỉnh
Trước tình hình như vậy, để nâng cao chất lượng hoạt động của cơquan CSĐT trong đấu tranh phòng chống tội phạm ma tuý hiện nay là rất
cần thiết Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: Áp dụng pháp luật trong hoạt động điều tra các vụ án ma tuý của cơ quan cảnh sát điều tra công
an tỉnh An Giang, để viết luận văn thạc sỹ luật.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta trong những năm gần đây, các nhà khoa học chuyên ngành
và các cơ quan chức năng như: Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Tòa án nhân dân tối cao đã có nhiều công trình nghiên cứu: “ Áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra việc sử dụng các biện pháp ngăn chặn của cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam” của Nguyễn Văn Thanh (2004); “Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự đối với các tội phạm về chức vụ ở Việt Nam hiện nay” của Tạ Văn Hồ, luận văn thạc sĩ luật học, 2007; “Nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh hiện nay” của Vũ Viết Tuấn, luận văn thạc sĩ luật học, 2006; “Áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tố các vụ án ma tuý theo yêu cầu cải cách tư pháp
ở Việt Nam hiện nay” của Bùi Mạnh Cường, luận văn thạc sĩ luật học, 2007; “Các giải pháp chống tệ nạn ma tuý trên địa bàn Hà Nội” của Thiếu tướng Phạm Chuyên (2001); “Nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra” của Trần Văn Thuận, Tạp chí Kiểm sát, tháng 9/2003; “Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm”, của PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm – TS Trần Văn Luyện Nxb CAND, Hà Nội 2001; “Hiểm họa ma tuý và cuộc chiến mới”, của
PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm – TS Trần Văn Luyện Nxb CAND, Hà Nội
2002; “Mại dâm, ma tuý, cờ bạc, tội phạm thời hiện đại” của PGS.TS
Trang 4Nguyễn Xuân Yêm – TS Trần Văn Luyện – TS Phan Đình Khánh – Nguyễn ThịKim Liên Nxb CAND, Hà Nội 2003
Các công trình trên được các tác giả nghiên cứu rất thành công ở nhiềucấp độ và phương diện khác nhau như: Xã hội học và tội phạm học hiện đại;hình pháp học trên phạm vi rộng; tổ chức đấu tranh phòng chống tệ nạn xãhội, áp dụng pháp luật trong điều tra truy tố tội phạm ma tuý cũng có đề tàichỉ nghiên cứu ở một số địa bàn nhất định Vì vậy, việc ứng dụng kết quảnghiên cứu trên vào từng địa phương, từng đối tượng chưa thật phù hợp.Công tác tổng kết rút kinh nghiệm chưa được tiến hành một cách đầy đủ, toàn
diện Vấn đề Áp dụng pháp luật trong hoạt động điều tra các vụ án ma tuý
hiện nay rất đáng được quan tâm một cách sâu sắc toàn diện, khoa học hơn
Từ đó, việc nghiên cứu đề tài sẽ có ý nghĩa thiết thực trong công tác phòng,chống tội phạm ma túy
3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung vàthực tiễn của việc ADPL trong hoạt động điều tra các vụ án ma tuý củaCQCSĐT công an tỉnh An Giang trong thời gian 7 năm (2001-2007) theo
quy dịnh của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
4.1 Mục đích của luận văn
Thông qua việc nghiên cứu đề tài, góp phần làm sáng tỏ những nộidung về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động điều tra các vụ
án ma tuý, tìm ra những nguyên nhân tích cực và tồn tại thiếu sót trong quátrình áp dụng pháp luật trong hoạt động điều tra các vụ án ma tuý tại tỉnh AnGiang Từ đó đề một số giải pháp nhằm góp phần bảo đảm áp dụng pháp luậttrong hoạt động điều tra và hạn chế tội phạm ma tuý trên địa bàn tỉnh hiện nay
4.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ sau đây:
Trang 5- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về ADPL nói chung và ADPLtrong thực tiễn hoạt động điều tra các vụ án ma tuý Tập trung làm rõ kháiniệm, đặc điểm của ADPL, quy trình ADPL và các yếu tố đảm bảo trongquá trình hoạt động điều tra các vụ án ma tuý của cơ quan CSĐT công antỉnh An Giang.
- Đánh giá thực trạng ADPL trong hoạt động điều tra các vụ án matuý ở An Giang hiện nay, trọng tâm là phân tích làm rõ những ưu điểmcũng như hạn chế, tồn tại và xác định nguyên nhân của những kết quả đạtđược và những hạn chế, thiếu sót, rút ra những kinh nghiệm ADPL trongđiều tra các vụ án ma tuý
- Phân tích làm rõ những yêu cầu khách quan của việc không ngừngnâng cao chất lượng ADPL trong hoạt động điều tra của CQCSĐT đối vớicác vụ án ma tuý; đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm đảm bảo việc ADPL
của CQCSĐT công an tỉnh đúng trình tự pháp luật, yêu cầu chính trị, nghiệp vụ và đối ngoại trong giai đoạn mới.
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; bám sát đường lối,chủ trương của Đảng về áp dụng pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủnghĩa trong đấu tranh phòng chống tội phạm về ma tuý, gắn với việc quản
Mác-lý xã hội bằng pháp luật nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp duy vật biệnchứng của triết học Mác-Lênin theo quan điểm phát triển, toàn diện, lịch
sử, cụ thể Ngoài ra luận văn còn kết hợp các phương pháp như: lôgíc, phântích, tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát
Trang 66 Đóng góp mới về khao học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu vấn đề ADPL trong hoạt độngđiều tra các vụ án ma tuý của CQCSĐT công an ở một địa phương cụ thể
Vì vậy luận văn có một số vấn đề mới, cụ thể:
- Khái quát được tính đặc thù, chuyên sâu về ADPL trong hoạt độngđiều tra các vụ án ma tuý ở tỉnh An Giang
- Đánh giá thực trạng thực ADPL trong hoạt động điều tra các vụ án matuý ở tỉnh An Giang trên các mặt tổ chức, quản lý nhà nước về hoạt độngADPL trong điều tra phòng chống ma tuý Từ đó đề xuất các giải pháp nhằmbảo đảm ADPL trong điều tra tội phạm đúng quy định của pháp luật
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Thông qua việc làm rõ thực trạng của vấn đề ADPL trong hoạt độngđiều tra các vụ án ma tuý Kết quả đã đạt được và những hạn chế, bất cập,luận văn góp phần khẳng định nhu cầu thực tiễn của việc ADPL trong hoạtđộng điều tra phòng chống tội phạm ma tuý ở tỉnh An Giang
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một sốvấn đề lý luận của ADPL trong hoạt động điều tra các vụ án ma tuý, do đólàm phong phú thêm lý luận chung về Nhà nước và pháp luật Luận văn cóthể là tài liệu tham khảo cho cấp ủy và chính quyền của tỉnh An Giangtrong việc xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động trong lĩnhphòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma tuý Luận văn cũng có thể làtài liệu tham khảo cho cán bộ, chiến sỹ công an nhân dân, giáo viên nghiên cứutham khảo vận dụng vào công tác nghiệp vụ và giảng dạy pháp luật
8 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục ảnh, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN MA TÚY
CỦA CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN MA TUÝ CỦA CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nhà nước và pháp luậtxuất hiện khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định Pháp luật ra đờicùng với Nhà nước, là công cụ sắc bén để thực hiện quyền lực nhà nước, duytrì và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Pháp luật được hiểu là: “Hệ thốngcác quy tắc xử sự chung (quy phạm pháp luật) do nhà nước ban hành hoặcthừa nhận thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, được nhà nước đảm bảo thựchiện kể cả bằng biện pháp cưỡng chế để điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì
xã hội trong một trật tự có lợi cho giai cấp thống trị”[32, tr.141]
Bất kỳ nhà nước nào ra đời trong lịch sử cũng phải xây dựng và banhành pháp luật, sử dụng pháp luật như là công cụ hữu hiệu nhất để quản lý xãhội Tuy nhiên, để pháp luật phát huy được vai trò to lớn của nó thì tiếp nốivới quá trình xây dựng và ban hành pháp luật, Nhà nước phải bảo đảm phápluật được thực hiện một cách triệt để, thống nhất Xây dựng pháp luật và thựchiện pháp luật là hai dạng hoạt động khác nhau nhưng có mối quan hệ chặtchẽ với nhau Xây dựng pháp luật là nền tảng cho thực hiện pháp luật; ngượclại, thực hiện pháp luật là yếu tố đảm bảo cho pháp luật được hiện thực hoátrong cuộc sống
Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính pháp lý, làhành vi xử sự của con người (hành động hoặc không hành động) phù hợp vớiyêu cầu của các quy phạm pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống Căn
cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý phân
Trang 8chia thực hiện pháp luật thành bốn dạng sau: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và ADPL.
- Tuân thủ pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủthể tự kiềm chế mình để không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm
- Chấp hành pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó có chủthể thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình với hoạt động tích cực
- Sử dụng pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật, trong trường hợp
đó các chủ thể pháp luật sử dụng quyền năng pháp lý để bảo vệ các quyền vàlợi ích hợp pháp của mình
- Áp dụng pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhànước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyềnhoặc tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền tổ chức cho các chủ thể thựchiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định củapháp luật ra các quyết định cá biệt làm phát sinh, chấm dứt hay thay đổinhững quan hệ pháp luật cụ thể
ADPL là một dạng thực hiện pháp luật quan trọng Đây là hoạt độngthực hiện pháp luật của cơ quan Nhà nước, được xem như là đặc điểm đặc thùcủa Nhà nước cho các quy phạm pháp luật được thực hiện có hiệu quả trongđời sống xã hội ADPL được thực hiện trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế bằng những chế tài
thích hợp đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật Đây là trường hợp các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục luật định tiến hànhđiều tra, xác minh làm rõ hành vi vi phạm pháp luật (tội phạm hình sự, viphạm hành chính…) để ban hành văn bản ADPL để áp dụng các chế tài đốivới tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm
Thứ hai, khi các quyền chủ thể và nhiệm vụ pháp lý cụ thể không tự
phát sinh nếu không có sự tác động của Nhà nước Trong nhiều trường hợpcác quyền và nhiệm vụ cơ bản của công dân quy định trong Hiến pháp và cácđạo luật phải thông qua các quyết định cụ thể của các cơ quan nhà nước có
Trang 9thẩm quyền mới nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể đối với các cánhân cụ thể.
Thứ ba, khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các
bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên không tự giải quyết được đòi hỏicác cơ quan nhà nước có thẩm quyền ADPL để giải quyết các tranh chấp đó
Thứ tư, ADPL trong trường hợp Nhà nước thấy cần thiết phải tham gia
để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia hoặc Nhà nước xác nhận
sự tồn tại hay không tồn tại của một số sự việc, sự kiện thực tế như côngchứng, chứng thực…
Như vậy, có thể thấy, ADPL là hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt,luôn có sự tham gia của Nhà nước và mang lại hiệu quả cao hơn so với cáchình thức thực hiện pháp luật khác bởi trên thực tế có nhiều trường hợp cácchủ thể không muốn thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nộidung quy phạm pháp luật hoặc không đủ khả năng thực hiện nếu thiếu sự canthiệp của Nhà nước ADPL có những đặc điểm đặc thù so với các hình thứcthực hiện pháp luật khác Cụ thể ADPL có những đặc điểm sau:
Một là, ADPL chỉ do những cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc cá
nhân được trao quyền tiến hành; ngoài ra trong một số trường hợp cá biệt phápluật trao cho các tổ chức xã hội có thẩm quyền ADPL Trong bộ máy Nhà nước,các cơ quan khác nhau có thẩm quyền ADPL khác nhau xuất phát từ chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó Thẩm quyền ADPL của các cơ quan Nhànước được quy định chặt chẽ, cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật
Hai là, ADPL là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Điều này
thể hiện, trong nhiều trường hợp các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiếnhành ADPL theo ý chí đơn phương, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị
áp dụng và văn bản ADPL này có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể bị ápdụng cũng như các chủ thể có liên quan Những văn bản ADPL luôn được bảođảm bởi sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước trong trường hợp chủ thể bị ápdụng không tự giác chấp hành
Trang 10Ba là, Hoạt động ADPL phải tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ
được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật Trong hệ thống phápluật, tương ứng với mỗi ngành luật nội dung thường có một ngành luật hìnhthức (tố tụng hình sự, tố tụng dân sự) quy định trình tự, thủ tục ADPL Trình
tự, thủ tục ADPL dù đơn giản (như thủ tục xử phạt vi phạm hành chính) hayphức tạp (như thủ tục giải quyết một vụ án hình sự…) cũng đòi hỏi các cơquan nhà nước có thẩm quyền ADPL và các bên liên quan phải tuân thủnghiêm ngặt bởi nếu không các văn bản ADPL được ban hành sẽ không đảmbảo giá trị pháp lý
Bốn là, ADPL là hoạt động có tính cá biệt nhằm điều chỉnh các quan hệ
xã hội cụ thể, trên cơ sở những quy phạm pháp luật chung, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền vận dụng để giải quyết những quan hệ xã hội cụ thể phát sinhtrong đời sống Kết quả của hoạt động ADPL là các văn bản ADPL; văn bảnADPL luôn xác định danh tính các tổ chức, cá nhân cụ thể trong những sựkiện cụ thể và chỉ áp dụng một lần đối với các tổ chức, cá nhân đó
Năm là, ADPL là hoạt động mang tính sáng tạo Các vụ việc cụ thể
phát sinh trong cuộc sống rất đa dạng, phong phú trên nhiều lĩnh vực khácnhau và có những nét đặc thù riêng Hoạt động ADPL lại là quá trình vậndụng cái chung (Quy phạm pháp luật) để giải quyết từng vụ việc cụ thể đó.Điều này đòi hỏi người có thẩm quyền ADPL phải vận dụng pháp luật mộtcách linh hoạt không máy móc, rập khuôn nhưng phải đảm bảo nguyên tắckhông trái pháp luật Muốn như vậy, các chủ thể ADPL phải nghiên cứu kỹlưỡng từng vụ việc cụ thể, nghiên cứu các quy định pháp luật để lựa chọn cácquy phạm pháp luật phù hợp, từ đó ban hành văn bản ADPL và tổ chức thựchiện văn bản đó
Như vậy, qua phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm: Áp dụng phápluật là hình thức thực hiện pháp luật đặc thù, do cơ quan nhà nước, công chứcnhà nước được trao quyền tiến hành theo một thủ tục do pháp luật quy định;nhằm thực hiện các biện pháp cưỡng chế khi có hành vi vi phạm pháp luật và
Trang 11tội phạm; khi phải giải quyết các tranh chấp về quyền chủ thể và các nghĩa vụpháp lý giữa các chủ thể trong một quan hệ pháp luật nhất định; hoặc khi Nhànước thấy cần phải can thiệp, cần phải tham gia để bảo đảm việc thực thi trênthực tế của các chủ thể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy địnhcủa pháp luật.
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và quy trình áp dụng pháp luật trong hoạt động điều tra các vụ án ma tuý của cơ quan cảnh sát điều tra
Hoạt động ADPL đối với tội phạm nói chung và đối với các tội phạm
về ma túy nói riêng phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của tội phạm ấy Vìvậy, để phân tích, đánh giá hoạt động ADPL trong điều tra các vụ án ma túy,trước hết cần tìm hiểu một số khái niệm liên quan về ma tuý, tội phạm ma tuý
và những đặc điểm của tội phạm ma tuý:
1.1.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật trong hoạt động điều tra các vụ
án ma tuý của cơ quan cảnh sát điều tra
* Các chất về ma tuý:
Ma túy là từ Hán - Việt, có nghĩa là “làm mê mẩn” Chất matúy lúc đầu dùng để chỉ các chất có tác dụng gây ngủ, gây mê; vềsau, khi khoa học phát triển con người tổng hợp được các chất tựnhiên có khả năng gây nghiện thì chất ma túy được hiểu là nhữngchất có tính gây nghiện, có khả năng bị lạm dụng [42, tr.14]
Theo các chuyên gia Liên Hiệp Quốc: “Ma túy là các chất hoá học cónguồn gốc tự nhiên và nhân tạo khi xâm nhập cơ thể con người sẽ có tác dụnglàm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm con người bị lệ thuộc vào chúng,gây nên những tổn thương cho từng cá nhân và cộng đồng, do vậy việc vậnchuyển, mua, bán, sử dụng ma túy phải được quy định chặt chẽ trong các vănbản pháp luật và chịu sự kiểm soát của các cơ quan bảo vệ pháp luật” Vàtheo tổ chức Y tế Thế giới WHO, thì: “Ma túy là thực thể hoá học hoặc thựcthể hỗn hợp Việc sử dụng những chất đó sẽ làm thay đổi chức năng sinh họccủa con người ” [37, tr.5]
Trang 12Trên bình diện luật pháp, BLHS nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam 1999 xác định: Ma tuý bao gồm nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao côca; lá hoa, quả cây cần sa; lá cây cô ca; quả thuốc phiện khô, quả thuốc phiệntươi, hêrôin, côcain; các chất ma tuý khác ở thể lỏng và thể rắn [16, tr.139].Các chất ma tuý khác nếu trong các điều luật là những chất ma tuý tuy khôngnêu tên cụ thể nhưng được quy định trong danh mục các chất ma tuý và tiềnchất ban hành kèm theo Nghị định 67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 và Nghịđịnh 133/2003/NĐ-CP ngày 06/11/2003 của Chính phủ Trong Luật phòngchống ma tuý được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namthông qua ngày 09/12/2000 đưa ra một số khái niệm:
Ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần, được quy địnhtrong các danh mục do Chính phủ ban hành
Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễgây tình trạng nghiện đối với người sử dụng
Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảogiác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người
sử dụng [35, tr.8]
Dựa vào những nội dung trên có thể hiểu: Chất ma tuý là các chất gâynghiện, chất hướng thần có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, được quy địnhtrong danh mục do Chính phủ ban hành, các chất này khi xâm nhập vào cơthể người sẽ làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của người đó, có thể dẫnđến nghiện và gây hậu quả xấu về nhiều mặt đối với xã hội
Ngoài các chất ma tuý có nguồn tự nhiên ra, còn có các chất ma tuý cónguồn gốc nhân tạo, đó là các chất ma tuý tổng hợp được điều chế từ các hoáchất trong phòng bí mật Do đó, để hạn chế việc tổng hợp các chất ma tuý tráiphép, cộng đồng quốc tế đã quy định một số hoá chất cần phải được kiểm soátchặt chẽ, những hoá chất này được gọi là tiền chất ma tuý Theo Luật phòng
chống ma tuý năm 2000: “Tiền chất là các hoá chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma tuý, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành” [35, tr.8-9].
Trang 13Như vậy, tiền chất là những hoá chất được dùng để điều chế, sản xuấtcác chất ma tuý bất hợp pháp Tuy nhiên, bản thân các tiền chất cũng lànhững hoá chất cần thiết, thậm chí không thể thiếu được trong các ngành côngnghiệp, y học, nghiên cứu khoa học và trong các lĩnh vực khác của đời sốngkinh tế - xã hội Do đó, nhằm chống thất thoát tiền chất trong các hoạt độnghợp pháp để đưa vào sản xuất, điều chế bất hợp pháp các chất ma tuý đòi hỏitiền chất cần phải được quản lý và kiểm soát chặt chẽ theo quy định của phápluật Đồng thời các nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa khác nhau về matuý tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu Tuy nhiên, việc đưa ra định nghĩakhác nhau về ma tuý và chất ma tuý chỉ có ý nghĩa trong việc nghiên cứukhoa học về chất ma tuý chứ không có ý nghĩa đối với việc xác định chất matuý Khi cần xác định một chất có phải là ma tuý hay không cần đưa mẫu đến
cơ quan giám định chuyên ngành để xác định đó là chất gì và căn cứ vào danhmục các chất ma tuý quy định tại Nghị định 67/2001/NĐ-CP và Nghị định133/2003/NĐ-CP, của Chính phủ để xác định chất đó là ma tuý hay khôngphải ma tuý Hiện nay có 228 chất ma túy và 40 tiền chất ma túy phải đượckiểm soát [15, tr.50-60]
Như vậy, theo quy định của điều luật và các quy định của Chính phủ thìnhững chất ma túy nêu trên là đối tượng của tội phạm về ma tuý, số lượng matúy được tàng trữ, sản xuất, vận chuyển, mua bán, sử dụng…trái phép không
có ý nghĩa trong việc định tội, mà chỉ có ý nghĩa trong việc xác định tình tiếttăng nặng trong việc định khung hình phạt
* Khái niệm tội phạm về ma tuý
Cũng như các tội phạm khác, tội phạm về ma tuý là: “…hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý…”(khoản 1, điều 8 BLHS 1999) Hay nói một cách khác, tội phạm về ma tuý cũng là “hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt” Các tội phạm về ma tuý được Nhà
nước ta xác định là một loại tội phạm nghiêm trọng [49, tr.493]
Trang 14Từ những năm 90 của thế kỷ XX, tình hình nghiện hút và buôn lậu matúy diễn ra hết sức nghiêm trọng, đã trở thành thảm họa chung của toàn nhânloại Con người khi sử dụng một vài lần các chất ma tuý sẽ có nhu cầu đượccung cấp thường xuyên với liều lượng ngày càng cao hơn Chất ma túy vào cơthể sẽ gây ra sự rối loạn về tâm sinh lý và tàn phá, huỷ hoại sức khoẻ; khikhông đáp ứng được nhu cầu họ sẽ lên cơn vật vã, đau đớn về thể xác và cóthể làm tất cả những gì kể cả tội ác để giải toả cơn nghiện Nạn nghiện hút,tiêm chích ma tuý không những trực tiếp huỷ hoại sức khoẻ con người mà cònlàm khánh kiệt kinh tế gia đình và xã hội, là nguyên nhân xô đẩy người lươngthiện vào con đường phạm tội Vì vậy, Nhà nước phải độc quyền và thốngnhất quản lý các chất ma tuý với những quy định rất nghiêm ngặt Vi phạmcác quy định về chế độ quản lý các chất ma tuý không chỉ gây khó khăn choviệc kiểm soát chất ma tuý của Nhà nước mà còn tạo ra một lớp người nghiện,làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình,gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội và an ninh quốc gia Do tác hạilậu dài và nhiều mặt của việc vi phạm các quy định về chế độ quản lý chất matuý như vậy nên mọi hành vi vi phạm ở bất kỳ khâu nào của quá trình quản lýchất ma tuý đều bị quy định là tội phạm Căn cứ vào các điều luật về tội phạm
ma tuý trong BLHS năm 1999, tội phạm ma tuý được hiểu là “hành vi cố ý xâmphạm chế độ quản lý của Nhà nước”…[23, tr.490]
BLHS năm 1999 quy định 10 điều luật về tội phạm ma tuý gồm: Tộitrồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý (Điều 192);Tội sản xuất trái phép chất ma tuý (Điều 193); Tội tàng trữ, vận chuyển, muabán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194); Tội tàng trử, vậnchuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phépchất ma tuý (Điều 195); Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán cácphương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất matuý (Điều 196); Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 197); Tộichứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 198); Tội sử dụng trái
Trang 15phép chất ma tuý (Điều 199); Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng tráiphép chất ma tuý (Điều 200); Tội vi phạm quy định về quản lý sử dụng thuốc gâynghiệm hoặc các chất ma tuý khác (Điều 201).
Tội phạm ma tuý cũng có những đặc điểm chung như các tội phạmkhác về tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự, tính có lỗi vàtính chịu hình phạt Song, tội phạm ma tuý cũng có những đặc điểm riêng sovới các tội phạm khác như:
- Có tính nguy hiểm cao cho xã hội: được biểu hiện ở chỗ, các tội phạm
về ma tuý đều trực tiếp, hoặc gián tiếp liên quan đến ma tuý, xâm phạm tới sựđộc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, để cho ma tuý xâm nhập vàocộng đồng làm gia tăng số người nghiện, gây tác động xấu về nhiều mặt nhưkinh tế, chính trị, văn hóa và trật tự an toàn xã hội; xâm hại nghiêm trọng tớitính mạng, sức khoẻ của con người; là nguyên nhân (nguồn gốc) làm phátsinh các loại tội phạm khác
- Có tính chống đối pháp luật rất cao: các đối tượng phạm tội theo
đường dây ma tuý lớn thường có nhân thân xấu hoặc có nguồn gốc “xã hộiđen”, khi bị phát hiện thường chống trả hết sức quyết liệt bằng mọi thủ đoạn,
kể cả sử dụng vũ khí Khi một mắt xích trong đường dây bị bại lộ, để bảo đảm
an toàn cho hoạt động phạm tội của mình, bọn tội phạm sẳn sàng thủ tiêuđồng phạm
- Tính bí mật, khép kín, cắt đoạn và kéo dài của hoạt động phạm tội:
“Đặc tính hình sự nổi bật của tội phạm ma tuý là tính “cắt đoạn” và tính
“trường diễn”, hoạt động theo đường dây chặt chẽ thường là các thành viêntrong gia đình họ hàng, chất ma tuý gọn nhẹ, lãi suất cao” [39, tr.39]
Nhằm bảo đảm tuyệt đối bí mật cho hoạt động phạm tội, bọn tội phạm
ma tuý thường hình thành các đường dây chìm, khép kín từ người mua đếnngười vận chuyển và người bán, khép kín trong một nhóm đối tượng và thường
là những người thân như: vợ chồng, con cái, anh chị em, cô, dì, chú, bác ; đặcbiệt là tính cắt đoạn, người nào biết việc người ấy, không biết tới người thứ ba
Trang 16thể hiện tính chia cắt rất nghiêm ngặt tính liên hoàn đó là một chuỗi hành viphạm tội, tư sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán đến người sử dụng; đặc biệt
do tính chất siêu lợi nhuận của mua bán ma tuý mang lại nên không dễ gì khi đãbước vào con đường phạm tội mà tự dứt bỏ ra được; mặt khác, đã tham giađường dây mua bán ma tuý lớn nếu tự ý rút khỏi đường dây cũng rất dễ bị đồngbọn tiêu diệt Vì vậy, các hành vi phạm tội thường kéo dài nhiều năm liền
Ngoài ra, bọn tội phạm ma tuý còn câu móc với một số cán bộ thoáihoá biến chất thuộc lực lượng chức năng (nghiệp vụ và đặc nhiệm) chống matuý như với cán bộ Công an, Bộ đội Biên phòng Vụ án Vũ Xuân Trường và
vụ án Cao Thị Lan xảy ra ở Hà Nội; vụ án Trần Hữu Thuỷ, Nguyễn Văn Tiếnxảy ra ở Hà Giang, Tuyên Quang; vụ án Phùng Đức Thịnh, Zhu Bo Lin(người Trung Quốc); Huỳnh Thị Ánh (thường trú tại Campuchia), Phan ThịCẩm Tú (thường trú tại Tp Hồ Chí Minh), Wen Chun Lung, Lee Chih Wen(Đài Loan) xảy ra ở địa bàn An Giang, là những điển hình của việc câumóc của bọn tội phạm với các cán bộ trong cơ quan thực thi pháp luật vàchống tội phạm ma tuý
Vì vậy, BLHS quy định về tội phạm ma tuý có tính nguy hiểm cho xãhội cao hơn so với các tội phạm khác (trừ các tội phạm xâm phạm an ninhquốc gia ở Chương XI), nên trong 10 điều luật quy định về tội phạm ma tuý,
có 3 điều quy định tội có mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình (khoản
4 Điều 193, khoản 4 Điều 194, khoản 4 Điều 197), 3 điều quy định tội có mứccao nhất của khung hình phạt là tù chung thân (khoản 4 Điều 195, khoản 4Điều 200, khoản 4 Điều 201); 12 trường hợp là tội phạm đặc biệt nghiêmtrọng và chỉ có 2 trường hợp là tội ít nghiêm trọng Xuất phát từ đặc điểm này
mà việc ADPL đối với người phạm tội về ma tuý thường nghiêm khắc hơn sovới các tội phạm khác Cũng có thể nói, tội phạm ma tuý hiện nay là cănnguyên nảy sinh ra hàng loạt các tội phạm hình sự khác
Đối với các vụ án mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý với quy
mô lớn thường được người phạm tội tổ chức rất chặt chẽ thành những đường
Trang 17dây xuyên quốc gia nhưng lại không giống như tổ chức của các vụ án có tínhchất tổ chức khác, người chỉ huy, phân công, điều hành không lộ diện, có vụ
có rất đông người tham gia vào đường dây vận chuyển, mua bán ma tuýnhưng thông thường chỉ người thứ nhất biết người thứ hai chứ không biếtngười thứ ba Cũng chính vì đặc điểm này mà hoạt động điều tra, khám phá cácđường dây ma tuý rất khó khăn, không ít những vụ án sau khi xét xử mới pháthiện trong đường dây vận chuyển, mua bán ma tuý còn có những người phạmtội khác, cá biệt có trường hợp trước khi thi hành án tử hình, người bị kết án tửhình mới khai ra đồng phạm (Vụ án Siêng Phênh – Vũ Xuân Trường)
Đối với những hành vi mua bán ma tuý có tính chất tiêu thụ, ngườiphạm tội thường chia ma tuý thành những gói nhỏ (tép, chỉ…) để bán cho cáccon nghiện Việc tổ chức tiêu thụ ma tuý rất tinh vi, người phạm tội thường sửdụng những địa điểm thuận lợi, có phân công người canh gác, khi các lựclượng chống ma tuý phát hiện thì chúng tẩu thoát dễ dàng
Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, người phạm tộichủ yếu là những người bán lẻ ma tuý cho con nghiện, sau đó cho họ mượnluôn địa điểm, dụng cụ để họ hút, chích ma tuý, ít có trường hợp người phạmtội đứng ra tổ chức như kiểu tổ chức đánh bạc Đây cũng là đặc điểm mà thựctiễn có nhiều trường hợp rất khó phân biệt giữa hành vi tổ chức sử dụng chất
ma tuý với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý Không ít trường hợp cónhiều người cùng sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng người này thì phạm tội
tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý còn người khác chỉ phạm tội sử dụngtrái phép chất ma tuý
Trong thực tế hoạt động điều tra các tội phạm về ma tuý thời gian quacòn cho thấy, người có hành vi vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý ítkhi bị bắt quả tang, nếu có bị bắt quả tang thì cũng chỉ bị bắt với trọng lượng
ma tuý ít, còn chủ yếu là bắt được người mua ma tuý để sử dụng và từ lời khaicủa người sử dụng ma tuý CQĐT mới xác minh, truy tìm người bán ma tuý.Khi người mua ma tuý để sử dụng bị bắt thì lập tức người bán ma tuý đã kịp
Trang 18tẩu tán hoặc bỏ trốn nếu có nguy cơ bị lộ Trường hợp người mua chất ma tuýkhai ra người bán chất ma tuý cho mình, nhưng nếu chỉ có lời khai của ngườimua chất ma tuý mà không có các nguồn chứng cứ khác mà người bán ma tuýkhông nhận tội thì cũng rất khó xử lý.
Nắm chắc khái niệm về ma tuý, tội phạm ma tuý và những đặc điểmcủa nó sẽ giúp cho cơ quan tiến hành hoạt động tố tụng và người tiến hành tốtụng có những phương pháp phù hợp trong việc áp dụng các quy định củaBLHS và BLTTHS vào việc điều tra các vụ án về ma tuý
* Giai đoạn điều tra các vụ án ma tuý và một số vấn đề liên quan
Quá trình giải quyết một vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai đoạnkhác nhau, mỗi giai đoạn thể hiện một hướng nhất định của hoạt động tố tụng.Giai đoạn tố tụng hình sự là những bước trong trình tự tố tụng có nhiệm vụriêng, mang đặc thù về phạm vi chủ thể, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng.Hiện nay còn có nhiều qua điểm khác nhau về việc phân chia các giai đoạn tốtụng hình sự Dưới góc độ khoa học pháp lý, đa số các quan điểm chia cácgiai đoạn tố tụng hình sự thành 5 giai đoạn: khởi tố vụ án hình sự, giai đoạnđiều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử và giai đoạn thi hành án Còn nếucăn cứ vào các quy định trong BLTTHS có thể chia thành 7 giai đoạn: giaiđoạn khởi tố vụ án, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử sơthẩm, giai đoạn xét xử phúc thẩm, giai đoạn thi hành án và thủ tục giám đốcthẩm, tái thẩm vụ án hình sự Sự phân chia các giai đoạn tố tụng hình sự gắnliền với trách nhiệm của từng cơ quan tiến hành tố tụng Mỗi giai đoạn tuyđộc lập những vẫn nằm trong mối quan hệ khắng khít với nhau và tạo thànhmột hoạt động thống nhất Giai đoạn trước là tiền đề cho việc thực hiện nhiệm
vụ của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước Kết thúc một giaiđoạn phải có kết luận dưới hình thức văn bản tố tụng hình sự để giải quyết vụ
án hay chuyển sang giai đoạn kế tiếp Đối với việc điều tra các vụ án ma tuýcũng không nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của BLTTHS, vì vậy trong phạm
vi đề tài này, tác giả chỉ tập trung vào giai đoạn điều tra và liên hệ đến việc
Trang 19ADPL trong điều tra các vụ án ma tuý tại tỉnh An Giang Hoạt động điều tra,gồm hai giai đoạn: hoạt động điều tra trinh sát và hoạt động điều tra theo luật
tố tụng hình sự
Giai đoạn 1, Điều tra trinh sát là hoạt động điều tra được tiến hành
thông qua việc áp dụng các biện pháp điều tra như nội tuyến; ngoại tuyến; xâydựng và sử dụng mạng lưới đặc tình (đánh vào, kéo ra), cơ sở bí mật, cộng tácviên, chuyển hoá chứng cứ trinh sát thành chứng cứ pháp lý
Giai đoạn 2, Điều tra theo luật tố tụng hình sự là hoạt động điều tra của
cơ quan điều tra và những cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một sốhoạt động điều tra, tiến hành các biện pháp điều tra theo quy định của phápluật nhằm phát hiện, thu thập các tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm vàngười phạm tội theo trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự
“Điều tra là giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc giải quyết
vụ án” [24, tr.265] Đây là giai đoạn thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm,người thực hiện hành vi phạm tội, tính chất và mức độ thiệt hại do hành viphạm tội gây ra Để thu thập chứng cứ trong giai đoạn điều tra, CQĐT đượctiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS Viện kiểm sátthực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát điều tra (KSĐT) để đảm bảomọi hoạt động điều tra đúng pháp luật Hoạt động điều tra là cần thiết đối vớitất cả các vụ án hình sự, thiếu hoạt động điều tra VKS không có cơ sở để truy
tố, Toà án không có cơ sở để xét xử vụ án Để VKS có thể ra bản cáo trạngtruy tố đúng người phạm tội, Toà án có thể xét xử đúng người, đúng tội, đúngpháp luật và đáp ứng được yêu cầu phòng chống tội phạm, giai đoạn điều tra phảiđáp ứng được những nhiệm vụ sau:
- Xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội: Tội phạm vàngười thực hiện hành vi phạm tội là những vấn đề cơ bản cần phải làm rõ
Trang 20trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Khi ra quyết định khởi tố vụ án hình
sự, cơ quan có thẩm quyền dựa trên cơ sở nguồn tin ban đầu để xác định dấuhiệu của tội phạm, còn cụ thể diễn biến của tội phạm như thế nào, người thựchiện hành vi phạm tội có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm hay không vẫnchưa được làm rõ Tất cả những vấn đề này thuộc nhiệm vụ của giai đoạnđiều tra Trong giai đoạn điều tra, CQĐT phải thu thập đầy đủ chứng cứ đểlàm rõ ai là người thực hiện tội phạm, người đó có đủ dấu hiệu chủ thể của tộiphạm hay không; hành vi phạm tội phạm được thực hiện như thế nào; lỗi vô ýhay cố ý của người đó trong việc thực hiện hành vi phạm tội; động cơ, mụcđích phạm tội, từ đó đối chiếu với BLHS để xem hành vi phạm tội thuộc vàođiều, khoản nào; phải xác định tất cả mọi tình tiết để không bỏ lọt tội phạm vàkhông làm oan người ngay
- Xác định thiệt hại do tội phạm gây ra, điều cần thiết cho việc giảiquyết vụ án: Mỗi tội phạm đều để lại hậu quả nguy hại nhất định cho xã hội.Trong giai đoạn điều tra xác định đúng những thiệt hại do tội phạm gây ra để
có cơ sở đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.Những thiệt hại cần xác định bao gồm thiệt hại về thể chất, tinh thần vàthiệt hại về tài sản Việc xác định những thiệt hại này còn là cơ sở để giảiquyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
- Lập hồ sơ, đề nghị truy tố bị can: Đề ra quyết định truy tố và tiếnhành xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, VKS và Toà án phải dựavào hồ sơ vụ án Hồ sơ điều tra hình sự là tập hợp hệ thống các văn bản, tàiliệu được thu thập hoặc lập trong quá trình khởi tố, điều tra, được sắp xếptheo một trình tự nhất định, phục vụ cho việc giải quyết vụ án và lưu trữ lâudài Nếu hồ sơ điều tra hình sự không đầy đủ, VSK sẽ gặp khó khăn trongviệc đưa ra quyết định hợp lý trong và sau quá trình điều tra Hồ sơ điều trahình sự có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng sẽ làm cho kết quảhoạt động điều tra không chính xác Vì vậy, việc lập và củng cố hồ sơ điều trahình sự là một nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn điều tra CQĐT phải lập hồ
Trang 21sơ ngay sau khi có quyết định khởi tố vụ án và thường xuyên củng cố hồ sơ
để các tài liệu thu thập được hoặc các văn bản tố tụng được lập bảo đảm đúngtrình tự, thủ tục do pháp luật quy định Khi đã có đầy đủ chứng cứ để xác định
tội phạm và người phạm tội, CQĐT có nhiệm vụ làm bản kết luận điều tra
theo quy định tại Điều 162 BLTTHS Bản kết luận điều tra phải trình bày diễnbiến hành vi phạm tội, các chứng cứ chứng minh tội phạm, lý do và căn cứ đềnghị truy tố đã được điều tra và có đây đủ chứng cứ để chứng minh Căn cứvào bản kết luận điều tra, VKS chỉ ra cáo trạng truy tố những bị can về các tộiphạm đã được điều tra có đủ chứng cứ chứng minh Những tội phạm và bị canchưa được điều tra sẽ không bị truy tố và không được coi là tội phạm
- Xác định nguyên nhân phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữuquan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa: trong giai đoạn điều tra,một trong những nhiệm vụ rất quan trọng là xác định nguyên nhân phạm tội
để phòng ngừa tội phạm Thực hiện nhiệm vụ này, đối với mỗi tội phạmCQĐT phải tìm ra nguyên nhân và động cơ thúc đẩy việc thực hiện tội phạm.Nếu tội phạm phát sinh do thiếu sót của cơ quan, tổ chức thì yêu cầu các cơquan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa; các
cơ quan, tổ chức được yêu cầu phải chấp hành yêu cầu của CQĐT
Để phân tích đặc điểm của hoạt động ADPL trong giai đoạn điều tracác vụ án ma tuý, trước hết chúng ta cần làm rõ những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, Về thẩm quyền điều tra các vụ án ma tuý
Theo BLTTSH, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự (2004) và các vănbản hướng dẫn thi hành thì thẩm quyền điều tra các vụ án ma tuý được quyđịnh như sau:
- Thẩm quyền điều tra các vụ án ma tuý của CQĐT trong công an nhân dân:
Ở CQĐT cấp huyện (quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) có ĐộiCSĐT về ma tuý tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm ma tuýquy định tại chương XVIII của BLHS 1999 khi các tội phạm đó thuộc thẩmquyền xét xử của Toà án nhân dân (TAND) cấp huyện
Trang 22Ở CQĐT cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) có PhòngCSĐT tội phạm về ma tuý (PC17), tiến hành điều tra các vụ án hình sự về cáctội phạm ma tuý quy định tại chương XVIII của BLHS 1999 khi các tội phạm đóthuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh hoặc thuộc thẩm quyền điều tracủa Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.
Ở CQĐT Bộ công an có cục CSĐT tội phạm về ma tuý (C17), tiếnhành điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng,phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh về cáctội phạm ma tuý quy định tại chương XVIII của BLHS 1999 nhưng xét thấy cầntrực tiếp điều tra
- Thẩm quyền điều tra các vụ án ma tuý của CQĐT trong quân đội nhândân: theo quy định của BLTTHS, CQĐT trong quân đội nhân dân điều tra cáctội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự Đó là các tội phạm màđối tượng phạm tội là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng,quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẳnsàng chiến đấu; dân quân tự vệ phối hợp với quân đội trong chiến đấu, phục vụchiến đấu và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vịquân đội trực tiếp quản lý hoặc những người thuộc các đối tượng trên nhưngphạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội
Như vậy, nếu các đối tượng phạm tội về ma tuý thuộc thẩm quyền xét
xử của Toà án quân sự thì thẩm quyền điều tra các vụ án ma tuý sẽ thuộcCQĐT trong Quân đội nhân dân
Theo quy định của BLTTHS thì Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểmlâm, Lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân,Quân đội nhân dân được giao nhiêm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
có quyền điều tra đối với một số loại tội phạm nhất định quy định trongBLHS Tuy nhiên, đối chiếu với các quy định trong các văn bản pháp luật thìchỉ có Bộ đội Biên phòng và lực lượng Cảnh sát biển mới có thẩm quyền điềutra đối với một số tội phạm ma tuý quy định tại chương XVIII – BLHS 1999
Trang 23So với các CQĐT chuyên trách, thẩm quyền điều tra đối với một số tộiphạm ma tuý của lực lượng Cảnh sát biển và Bộ đội biên phòng có phạm vihẹp hơn Đối với tội phạm ít nghiêm trọng, trong trường hợp phạm tội quảtang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng thì các lực lượng này raquyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơcho VKS có thẩm quyền trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi
tố vụ án Còn đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệtnghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì các lực lượngnày chỉ có quyền ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điềutra ban đầu và chuyển hồ sơ cho CQĐT có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày,
kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án
Trong quá trình điều tra các vụ án ma tuý, CQĐT có những nhiệm vụ,quyền hạn sau đây:
- Tiến hành những hoạt động điều tra làm rõ hành vi phạm tội của cácđối tượng phạm tội ma tuý và những tình tiết khác làm cơ sở cho việc giảiquyết vụ án được khách quan, toàn diện, đầy đủ Những hoạt động điều tracủa CQĐT bao gồm:
+ Khởi tố vụ án hình sự;
+ Khởi tố bị can và hỏi cung bị can;
+ Lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợinghĩa vụ liên quan đến vụ án;
+ Đối chất, nhận dạng;
+ Khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, vật chứng;
+ Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trênthân thể, thực nghiệm điều tra, giám định
- Áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với đối tượng phạm tội về matuý như bắt tạm giữ, tam giam, truy nã bị can bỏ trốn, cấm đi khỏi nơi cư trú,bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Việc áp dụng các biệnpháp ngăn chặn của CQĐT tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của
Trang 24hành vi phạm tội, nhân thân đối tượng phạm tội, hoặc khi có chứng cứ chứng
tỏ bị can sẽ gây khó khăn cho việc điều tra vụ án, hoặc tiếp tục phạm tội mới
- Ban hành các quyết định xử lý vụ án như tạm đình chỉ điều tra, phụchồi điều tra, đình chỉ điều tra, kết luận điều tra
Như vậy, CQĐT là cơ quan được pháp luật giao nhiệm vụ thu thập,nghiên cứu và đánh giá chứng cứ để tìm ra sự thật của vụ án, xác định người
đã thực hiện hành vi phạm tội Trong quá trình điều tra để thu thập chứng cứ,CQĐT có quyền áp dụng các biện pháp tố tụng về điều tra Nhóm các tộiphạm về ma tuý lại là nhóm tội phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội rấtlớn, vì vậy trên thực tế các biện pháp tố tụng mà CQĐT áp dụng với đốitượng phạm tội thường rất nghiêm khắc nên những biện pháp này có ảnhhưởng rất lớn tới các quyền cơ bản của đối tượng bị áp dụng Mặt khác, đểbảo đảm cho hoạt động điều tra nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật,không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội, pháp luật quy định một hệthống cơ quan thực hiện chức năng THQCT và kiểm sát các hoạt động điềutra của CQĐT trong giai đoạn điều tra
Thứ hai, phối hợp giữa CQĐT và VKS trong hoạt động điều tra án ma tuý
Về mặt pháp lý, mối quan hệ giữa CQĐT và VKS đã được pháp luật tốtụng hình sự quy định như đã nêu ở trên, nhưng CQĐT và VKS thuộc hệthống cơ quan nhà nước khác nhau, độc lập với nhau, không có sự ràng buộctrong quan hệ hành chính Do đó, trong quá trình điều tra, THQCT và KSĐTthì khả năng phối hợp giữa hai cơ quan là không thể thiếu Thực tế cho thấy,
để biến các quyết định của pháp luật về mối quan hệ tố tụng giữa VKS vàCQĐT vào trong hoạt động thực tiễn là hoàn toàn không đơn giản Cùngkhuôn khổ pháp luật như vậy, nhưng có nơi thực hiện tốt, có nơi thực hiệnchưa tốt, thậm chí còn tạo nên sự trì trệ cho hoạt động tố tụng của hai cơquan Mối quan hệ qua lại giữa hai cơ quan có phát triển tốt hay không cònphụ thuộc rất nhiều vào quá trình tương tác giữa hai bên Trong đó mỗi bênđều phải tác động vào đối tác của mình theo hướng tích cực để nhận được sự
Trang 25đáp ứng tích cực trở lại Các bên phải tạo điều kiện cho nhau để hoàn thànhtốt nhiệm vụ, trách nhiệm được giao Do đó, chất lượng và hiệu quả của mốiquan hệ tố tụng này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ nhận thức, phương phápcông tác, uy tín của tập thể và cá nhân tham gia mối quan hệ đó, thông quahoạt động cụ thể của thủ trưởng mỗi cơ quan, của KSV, ĐTV và những người
có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng
Như vậy, các chủ thể tiến hành tố tụng, nhiệm vụ quyền hạn cũng nhưmối quan hệ giữa các chủ thể tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra các vụ
án ma tuý là cơ sở để chúng ta xem xét những nội dung của hoạt động ADPLtrong giai đoạn điều tra các vụ án ma túy
Từ nhận thức lý luận chung về áp dụng pháp luật, và sau quá trình phân
tích các vấn đề về ma tuý, đặc điểm, tội phạm về ma tuý…có thể hiểu ADPL trong hoạt động điều tra các vụ án ma tuý của cơ quan cảnh sát điều tra là một dạng thực hiện pháp luật, mà theo đó cơ quan cảnh sát điều tra sử dụng các quyền năng pháp lý của mình để tiến hành các biện pháp điều tra theo quy định của Bộ luật TTHS, nhằm tìm kiếm, thu thập tin tức, tài liệu, chứng
cứ chứng minh tội phạm và ADPL trong quá trình đấu tranh, ngăn chặn hành
vi vi phạm pháp luật đối với người phạm tội phạm về ma tuý (quy định ở Chương XVIII, các tội phạm về ma tuý, từ điều 192->201 – BLHS năm 1999), làm cơ sở cho hoạt động truy tố, xét xử người phạm tội trước pháp luật Hoạt động áp dụng pháp luật trong điều tra các vụ án về ma tuý của cơ quan cảnh sát điều tra phải được tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục rất chặt chẽ do pháp luật TTHS quy định.
1.1.2.2 Đặc điểm áp dụng pháp luật trong giai đoạn điều tra các vụ
án về ma tuý
Áp dụng pháp luật trong giai đoạn điều tra các vụ án ma túy cũng làmột dạng ADPL bao hàm những nội dung cơ bản nhất của lý luận chung vềADPL Tuy nhiên, chúng cũng có những đặc điểm riêng có tính đặc thù củamột dạng ADPL cụ thể , đó là ADPL của các chủ thể tiến hành tố tụng ở
Trang 26trong giai đoạn điều tra đối với nhóm tội phạm về ma túy ADPL trong giaiđoạn điều tra các vụ án ma túy được thực hiện từ khi vụ án ma tuý được khởi
tố và kết thúc khi CQĐT có bản kết luận điều tra đề nghị VKS truy tố hoặckhi CQĐT, VKS ra quyết định đình chỉ điều tra đối với vụ án Những hành vi
tố tụng của chủ thể có thẩm quyền trong giai đoạn điều tra vụ án ma túy làhình thức biểu hiện cụ thể trong quá trình tiến hành tố tụng các chủ thể căn cứvào quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự và các vănbản pháp luật có liên quan để ban hành các văn bản ADPL cụ thể cần thiếtcho việc giải quyết vụ án
Cũng như hoạt động ADPL nói chung, ADPL trong giai đoạn điều tracác vụ án ma túy là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước do CQĐTtiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ nhằm cá biệt hoá các quy phạm phápluật hình sự về tội phạm ma tuý và quy phạm pháp luật tố tụng hình sự để giảiquyết các vụ án ma túy Quá trình ADPL, các chủ thể tiến hành tố tụng cóquyền lực nhà nước đề ra những quyết định có tính chất bắt buộc đối với cácđối tượng bị áp dụng, nếu các đối tượng bị áp dụng không chấp hành có thể bịcưỡng chế Quyết định ADPL của CQĐT bao gồm nhiều loại khác nhau, cóloại là quyết định ADPL nội dung tức là quyết định áp dụng các quy phạmpháp luật hình sự về tội phạm ma túy, có loại là quyết định ADPL luật hìnhthức, tức là quyết định áp dụng các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, mỗiloại quyết định ADPL có những nét đặc thù riêng Song, có thể thấy, ADPLtrong giai đoạn điều tra các vụ án ma tuý có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, chủ thể ADPL trong giai đoạn điều tra các vụ án ma tuý là CQĐT
và một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Như ở phần trên chúng tôi đã phân tích, lực lượng nòng cốt tiến hànhhoạt động điều tra các vụ án ma tuý là lực lượng CSĐT tội phạm ma tuý như:Cục CSĐT tội phạm về ma túy thuộc Bộ Công an; Phòng CSĐT tội phạm matuý của Công an cấp tỉnh và các Đội CSĐT tội phạm ma túy của Công an cấphuyện Có thể nói, hầu hết các vụ phạm tội ma túy ở nước ta là do lực lượng
Trang 27CSĐT tội phạm ma túy tiến hành điều tra làm rõ, đây là lực lượng được trang
bị những phương tiện kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ đặc thù để đấu tranhvới nhóm tội phạm ma túy Lực lượng CSĐT tội phạm ma tuý có quyền ápdụng tất cả các biện pháp nghiệp vụ, các biện pháp tố tụng hình sự cũng như
áp dụng các quy định của BLHS về tội phạm ma túy để điều tra giải quyết vụ
án, song các hoạt động của lực lượng này phải đúng quy định của pháp luật
Nếu đối tượng phạm tội ma túy thuộc thẩm quyền xét xử của Toà ánquân sự thì việc điều tra vụ án ma túy sẽ do CQĐT trong Quân đội nhân dântiến hành điều tra, nhưng các vụ án thuộc loại này không nhiều
Ngoài ra chủ thể tiến hành điều tra ban đầu (các vụ án ma túy phạm tội
ít nghiêm trọng) còn có thể là Bộ đội biên phòng và Lực lượng Cảnh sát biển
Trong giai đoạn điều tra, pháp luật trao cho CQĐT và một số cơ quankhác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra những quyềnnăng pháp lý quan trọng như: khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt, giữ, giam, tiếnhành các hoạt động điều tra thu nhập chứng cứ… Các lệnh, quyết định, cũngnhư những chứng cứ CQĐT thu thập được có ý nghĩa rất quan trọng đối vớiviệc giải quyết vụ án, vì nó là cơ sở để VKS xem sét quyết định việc truy tố,
là cơ sở để Tòa án xét xử Chính vì vậy, hoạt động ADPL của CQĐT ở giaiđoạn điều tra phải đảm bảo hết sức chặt chẽ khách quan, đảm bảo đúng cácquy định của BLHS và BLTTHS Tránh mọi hiện tượng điều tra trái pháp luậtnhư mớm cung, bức cung, nhục hình ADPL thiếu căn cứ dẫn đến việc bắt,giữ, giam oan sai, hoặc thu thập chứng cứ thiếu khách quan, không đầy đủdẫn đến việc VKS, Toà án phải trả hồ sơ điều tra bổ sung…
Trong giai đoạn điều tra các vụ án ma tuý, mọi quyết định ADPL tronggiai đoạn điều tra đều tác động trực tiếp đến các quyền cơ bản của đối tượng bị
áp dụng Vì Vậy, đòi hỏi ĐTV phải thận trọng, khách quan trong việc xem xét,đánh giá các chứng cứ, tài liệu của các vụ án trước khi ra quyết định ADPL.Pháp luật trao cho VKS quyền phê chuẩn những lệnh, quyết định quan trọng củaCQĐT như lệnh bắt khẩn cấp, quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam, lệnh
Trang 28tạm giam, lệnh khám xét, thu giữ… những lệnh, quyết định này phải có sự phêchuẩn của VKS mới có giá trị pháp lý Pháp luật cũng trao cho VKS quyền ápdụng, thay đổi, huỷ bỏ các quyết định ADPL không có căn cứ hoặc không cầnthiết của CQĐT Vì vậy, VKS phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, nếu thấy chưa đủ căn
cứ, VKS có thể tự bổ sung hoặc yêu cầu CQĐT bổ sung Nếu CQĐT đã bổ sungnhưng vẫn chưa đủ căn cứ chứng minh tội phạm thì tùy trường hợp cụ thể VKS
từ chối phê chuẩn hoặc quyết định huỷ bỏ văn bản ADPL của CQĐT
Thứ hai, ADPL trong giai đoạn điều tra các vụ án ma tuý được tiến hành
theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ được quy định trong BLTTHS và các văn bảnhướng dẫn thi hành Như đã phân tích ở phần lý luận chung về ADPL, hoạt độngADPL nào cũng phải tuân theo những trình tự, thủ tục được pháp luật quy định.Tuy nhiên, đối với hoạt động ADPL của các chủ thể tiến hành tố tụng trong giaiđoạn điều tra các vụ án hình sự và đặc biệt là đối tượng phạm tội về ma túy thìcàng cần phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt, chặt chẽ bởi vì mục đích của hoạtđộng điều tra là nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với đối tượng phạm tội
ma túy, buộc họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do các chế tàipháp luật hình sự đặt ra Đây là loại chế tài nghiêm khắc nhất trong hệ thống chếtài pháp luật, nó tước bỏ hoặc hạn chế quyền tài sản, quyền nhân thân, thậm chí
là quyền sống của đối tượng bị áp dụng Văn bản pháp lý quy định về trình tự,thủ tục ADPL của các cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra các vụ
án ma túy là BLTTHS và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật này
Trên thực tế, việc tuân thủ các quy định của BLTTHS cũng chính là quátrình ADPL, nhưng là quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật hình thức.ADPL của CQĐT trong giai đoạn điều tra các vụ án ma túy chủ yếu là áp dụngcác quy phạm pháp luật hình thức và mục đích của việc áp dụng này là để ápdụng các quy phạm pháp luật nội dung tức là các quy phạm pháp luật hình sựquy định về tội phạm ma tuý Vì vậy, có thể nói, áp dụng các quy định củaBLTTHS là điều kiện bắt buộc và là tiền đề cho việc áp dụng các quy phạmpháp luật hình sự BLTTHS năm 2003 đã quy định cụ thể, chặt chẽ trình tự, thủ
Trang 29tục ADPL trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự Đây là những quy địnhquan trọng và cần thiết, thể hiện sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật nhằm đảmbảo cho việc ADPL được đúng đắn, khách quan, chính xác, không để xảy ra cáctrường hợp oan sai hay bỏ lọt tội phạm trong quá trình giải quyết án hình sự.
Thứ ba, trong giai đoạn điều tra các vụ án ma tuý là hoạt động ADPL
cá biệt do CQĐT và VKS thực hiện đối với các vụ án ma tuý Hoạt độngADPL này làm phát sinh mối quan hệ giữa một bên là Nhà nước (Đại diện làCQĐT, VKS) với một bên là đối tượng phạm tội về ma tuý Trong mối quan
hệ này, Nhà nước với tư cách là chủ thể bảo vệ lợi ích của xã hội có quyền ápdụng các biện pháp cưỡng chế, các quyết định mang tính bắt buộc đối với cácđối tượng phạm tội ma tuý là những chủ thể gây nguy hiểm cho xã hội Ngoài
ra, ADPL trong giai đoạn điều tra vụ án ma túy còn làm phát sinh mối quan
hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng với nhau đó làmối quan hệ giữa VKS và CQĐT Mối quan hệ giữa VKS và CQĐT vừa cótính chất quyết định - chấp hành, vừa có tính phối hợp để đảm bảo vụ án matúy được giải quyết đúng đắn, toàn diện, khách quan và kịp thời Trên cơ sởnhững quy phạm pháp luật hình sự về tội phạm ma tuý và những quan hệpháp luật tố tụng hình sự, CQĐT, VKS vận dụng để giải quyết các mối quan
hệ phát sinh trong quá trình điều tra vụ án ma tuý Kết quả của hoạt độngADPL trong giai đoạn này là những văn bản ADPL, các văn bản ADPL phảibảo đảm có căn cứ và đúng pháp luật và phải được ban hành theo trình tự, thủtục chặt chẽ được pháp luật quy định Mục đích của việc ban hành các vănbản ADPL trong giai đoạn này nhằm bảo đảm việc điều tra các vụ án ma tuýđược đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không làm oan người vô tội cũngnhư không để lọt tội phạm
1.1.2.3 Các giai đoạn của quy trình áp dụng pháp luật trong điều tra các vụ án ma tuý
Áp dụng pháp luật trong giai đoạn điều tra các vụ án ma tuý là hoạtđộng có nội dung rộng, phức tạp Bởi vậy, không thể có quy trình chung cho
Trang 30việc ban hành tất cả các loại văn bản ADPL ở giai đoạn này Trên cơ sở lýluận chung về quy trình ADPL, các quy định của BLTTHS năm 2003, cácvăn bản hướng dẫn ADPL của ngành Công an có thể chia quy trình ADPLtrong giai đoạn điều tra của CQĐT thành các giai đoạn sau:
Giai đoạn thứ nhất, thụ lý, nghiên cứu hồ sơ vụ án và đánh giá chứng
cứ Đây là giai đoạn đầu nhưng có ý nghĩa rất quan trọng của hoạt độngADPL trong giai đoạn điều tra của CQĐT Thụ lý hồ sơ là hành vi pháp lýlàm phát sinh hoạt động ADPL trong điều tra tố tụng hình sự Kể từ thời điểmthụ lý hồ sơ, mọi hoạt động điều tra của CQĐT đều phải tuân thủ các quyđịnh của pháp luật tố tụng hình sự
Giai đoạn thứ hai, lựa chọn quy phạm để áp dụng và làm sáng tỏ nội
dung, tư tưởng của quy phạm đó Đây là giai đoạn có ý nghĩa quan trọng, lựachọn quy phạm một cách chính xác để đảm bảo nâng cao chất lượng, hiệu quảcủa hoat động áp dụng pháp luật Việc lựa chọn quy pháp luật được thực hiệnngay sau khi nghiên cứu, đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ vụ án hoặc cũng
có thể được thực hiện song song với quá trình thu nhập chứng cứ, nghiên cứu
hồ sơ, đánh giá chứng cứ của vụ án Thực tế cho thấy, nếu làm tốt việc nghiêncứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ sẽ có thể lựa chọn được chính xác quy phạmcần phải áp dụng đối với từng trường hợp cụ thể Quy phạm được lựa chọn ápdụng phải là những quy phạm đang có hiệu lực pháp luật và không được tráivới văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc không được trái với nhữngvăn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn
Áp dụng pháp luật trong giai đoạn điều tra, CQĐT thường liên quanđến nhiều loại quy phạm khác nhau (cả quy phạm luật nội dung và quy phạmluật hình thức) Đối với các quy phạm luật hình thức việc lựa cho quy phạm
để áp dụng thường dễ dàng hơn so với việc lựa chọn các quy phạm luật nộidung Chẳng hạn, đối với các trường hợp bắt khẩn cấp, chỉ cần phân tích đốichiếu hành vi thực tế đối tượng phạm tội thực hiện với các trường hợp đượcbắt khẩn cấp quy định tại Điều 81 BLTTHS năm 2003 Nhưng đối với việc áp
Trang 31dụng quy phạm luật nội dung, việc lựa chọn có phần phức tạp hơn Trong nhữngtrường hợp này, để lựa chọn chính xác quy phạm, đòi hỏi ĐTV phải có trình độchuyên môn nghiệp vụ và ý thức pháp luật cao, có nhiều kinh nghiệm trong côngtác chuyên môn Đồng thời, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng hồ sơ vụ án, tậptrung vào các yếu tố cấu thành tội phạm, vào nhân thân của đối tượng phạm tội,hậu quả tội phạm gây ra cho xã hội, công cụ, phương tiện, thủ đoạn, động cơ,mục đích phạm tội, địa điểm, không gian và thời gian phạm tội…
Đối với việc áp dụng quy phạm luật nội dung, quy phạm pháp luật đểlựa chọn chính là các điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội phạm vàhình phạt Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, nếu chỉ căn cứ vào các quy phạmnày, không thể lựu chọn được chính xác quy phạm cần phải áp dụng, bởi trênthực tế có không ít điều luật quy định còn chung chung, hoặc quy định có tínhchất viện dẫn ở một ngành luật khác Đối với những quy định loại này, đểhiểu được nội dung, tư tưởng của nó phải dựa vào văn bản hướng dẫn ADPLcủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trên cơ sở đó mới có thể lựa chọn quyphạm phù hợp để áp dụng Bên cạnh các văn bản hướng dẫn ADPL và vănbản pháp luật chuyên ngành, còn nhiều tài liệu khác cũng có giá trị tham khảorất bổ ích cho việc lựa chọn quy phạm như: Bình luận khoa học BLHS vàBLTTHS; các sách chuyên khảo về luật hình sự và tố tụng hình sự, các bàiviết, các công trình nghiên cứu của các chuyên gia, các nhà khoa học pháp lý
có uy tín và có nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn công tác…
Như vậy, việc lựa chọn và làm sáng tỏ nội dung tư tưởng của quy phạm
được áp dụng là một thao tác nghiệp vụ có ý nghĩa quan trọng, không tìm raquy phạm pháp luật hiện hành phù hợp, không hiểu đúng nội dung tư tưởngcủa quy phạm pháp luật được áp dụng tất yếu dẫn đến ban hành văn bảnADPL không chính xác, trong nhiều trường hợp còn có thể dẫn đến oan, sai,nhất là việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự Bởi vậy, trong mọitrường hợp, người có thẩm quyền ADPL phải khách quan, thận trọng và phảixem xét, đánh giá chứng cứ một cách toàn diện, từ đó lựa chọn quy phạm
Trang 32pháp luật phù hợp để áp dụng Chỉ có như vậy, mới bảo đảm được sự phù hợpgiữa quy phạm pháp luật được lựa chọn với các tình tiết khách quan của vụviệc được xem xét.
Giai đoạn thứ ba, ban hành văn bản áp dụng pháp luật: Lý luận chung
về ADPL khẳng định đây là giai đoạn trung tâm, quan trọng nhất của cả quátrình ADPL ADPL trong giai đoạn điều tra các án về ma tuý cũng vậy, bởimục đích của việc thụ lý, nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ và lựa chọnquy phạm pháp luật cũng là để nhằm ban hành văn bản ADPL và tổ chức thựchiện văn bản đó Ban hành văn bản ADPL được thực hiện trên cơ sở kết quảnghiên cứu, đánh giá chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án và lựachọn quy phạm áp dụng Văn bản ADPL có giá trị pháp lý bắt buộc thi hànhđối với đối tượng bị áp dụng, nó tác động đến các quyền và lợi ích cơ bản củađối tượng bị áp dụng dưới hình thức này hay hình thức khác, trong đó cónhiều văn bản nhằm tước bỏ hoặc hạn chế các quyền nhân thân và quyền tàisản của đối tượng bị áp dụng Bởi vậy, việc ban hành văn bản ADPL phảiđược thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quyđịnh, như ban hành văn bản phải đúng thẩm quyền, đúng hình thức, thể thứcvăn bản, nội dung văn bản phải cụ thể, rõ ràng, chứa đựng đầy đủ nhữngthông tin cần thiết như tên cơ quan ban hành, ngày tháng năm, địa điểm banhành văn bản, số, ký hiệu của văn bản, chữ ký, con dấu, tên chủ thể bị ADPL,căn cứ pháp lý để áp dụng… Cũng giống như hoạt động ADPL ở các lĩnh vựcchuyên môn khác, các mẫu văn bản ADPL trong giai đoạn điều tra được CQĐT
và VKSNDTC in theo mẫu thống nhất áp dụng trong toàn ngành
Giai đoạn thứ tư, tổ chức thực hiện văn bản ADPL, đây là giai đoạn
cuối cùng của quá trình ADPL, văn bản ADPL của CQĐT là các loại quyếtđịnh cá biệt, có đối tượng xác định Các văn bản này có giá trị bắt buộc thihành; là căn cứ để phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt hoạt động tố tụng đốivới vụ án, bi can (đối với quyết định đình chỉ vụ án, bị can); hoặc là căn cứ đểTòa án đưa vụ án ra xét xử (đối với bản cáo trạng) Thông thường các quyết
Trang 33định ADPL ở giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát không trực tiếp tổ chức thihành mà chỉ kiểm tra, giám sát việc tổ chức thi hành của CQĐT Vì vậy, ởgiai đoạn này, VKS cần tăng cường kiểm tra, đôn đốc bảo đảm cho văn bảnADPL được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất.
1.2 CÁC YẾU TỐ BẢO ĐẢM VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VỀ MA TUÝ
ADPL trong giai đoạn điều tra các vụ án ma tuý là những hoạt động rấtphức tạp, tác động trực tiếp đến các quyền cơ bản của đối tượng áp dụng Đểnâng cao chất lượng ADPL trong điều tra các vụ án về ma túy theo chúng tôiphải đáp ứng được các yêu cầu sau đây:
1.2.1 Bảo đảm về mặt pháp lý
Hoạt động ADPL trong điều tra các vụ án ma tuý được tiến hành trên
cơ sở những quy phạm pháp luật của BLHS, BLTTHS và các văn bản phápluật khác có liên quan đến tội phạm ma tuý
BLHS là văn bản pháp luật duy nhất quy định vê tội phạm và hình phạtđối với các tội phạm về ma tuý Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất trongviệc áp dụng các quy định trong hoạt động điều tra các vụ án ma tuý
BLHS hiện hành của nhà nước ta là BLHS năm 1999 (trước đó là BLHS năm1985) BLHS 1985 được sửa đổi, bổ sung tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá IXngày 10/05/1997 tại chương VII A quy định 14 điều tương ứng với 14 tộidanh về ma tuý Sau khi BLHS 1985 được bổ sung Chương VII A, các cơquan bảo vệ pháp luật ở trung ương cũng đã kịp thời ban hành Thông tư liêntịch số 01/1998/TTLT/TATC – VKSTC – BNV ngày 02/01/1998 củaTANDTC, VKS, NDTC, Bộ nội vụ (nay là Bộ Công an) và Thông tư liên tịch
số 02/1998/ TTLT/ TATC – VKSTC-BVN ngày 5/8/1998 hướng dẫn áp dụngchương VII A quy định các tội phạm về ma túy Những văn bản hướng dẫnnày bước đầu đã đáp ứng được yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng cáccấp và cán bộ làm công tác điều tra các tội phạm về ma tuý Những nội dunghướng dẫn này vẫn còn giá trị tham khảo khi áp dụng các quy định tại chương
Trang 34XVIII BLHS 1999 đối với các tội phạm về ma tuý Tuy nhiên, những quyđịnh của BLHS 1985 đối với các tội phạm về ma tuý và hướng dẫn áp dụng
đã ban hành vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu mà thực tiễn đặt ra Tại kỳ họpthứ 6, Quốc hội khoá X ngày 21/12/1999 Quốc hội đã thông qua BLHS mới,BLHS năm 1999 có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2000, đây là BLHS thay thếBLHS năm 1985 Tại Chương XVIII – các tội phạm về ma túy gồm 10 điềutương ứng với 13 tội danh khác nhau Một thay đổi lớn nhất đối với ChươngXVIII, BLHS năm 1999 so với Chương VII A, BLHS năm 1985 là nhập 4 tộiphạm quy định các điều 185c, 185đ và 185e thành một tội danh tội quy địnhtại Điều 194 với đầy đủ các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán và chiếmđoạt chất ma tuý; đồng thời quy định hình phạt bổ sung ngay trong từng điềunày mà không quy định thành một điều riêng; cụ thể hoá một số tình tiết quyđịnh trong BLHS năm 1985 và điều chỉnh lại mức hình phạt trong từng khunghình phạt cho phù hợp với thực tiễn xét xử Có thể nói, các quy định về tộiphạm ma tuý trong BLHS năm 1999 có những bước tiến về trình độ lập pháp
so với BLHS năm 1985, các quy định trở nên rõ ràng và cụ thể hơn, cáckhung hình phạt được chia nhỏ hơn nên dễ áp dụng hơn BLTTHS là luật hìnhthức quy định mọi vấn đề liên quan đế thẩm quyền, trình tự, thủ tục ADPLhình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trongquá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung cũng như vụ án ma túy nói riêng.Các vụ án về ma tuý cũng là vụ án hình sự nên hoạt động điều tra phải tuântheo những quy định của BLTTHS Cũng như BLHS, BLTTHS luôn đượcĐảng và Nhà nước ta quan tâm xây dựng và hoàn thiện BLTTHS năm 1988được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII thôngqua ngày 28/6/1988 là Bộ luật đầu tiên quy định một cách toàn diện nhữngvấn đề liên quan đến thủ tục tố tụng giải quyết một vụ án hình sự Qua gần 15năm thi hành với ba lần sửa đổi, bổ sung, BLTTHS năm 1988 là một trongnhững căn cứ pháp lý giúp CQĐT, VKS và Tòa án các cấp tiến hành các hoạtđộng của mình một cách khách quan, toàn diện, góp phần vào việc bảo đảmviệc phát hiện chính xác nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành
Trang 35vi phạm tội, không làm oan người vô tội Tuy nhiên, trong công cuộc đổi mớitoàn diện của đất nước trên tất cả các lĩnh vực, BLTTHS năm 1988 không cònphù hợp nữa và bộc lộ một số hạn chế nhất định Đổi mới hoạt động củaCQĐT, VKS và Tòa án trong tố tụng hình sự là một trong những nhân tốquan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam Với tinh thần đó, tại kỳ hợp thứ 4, Quốc hội khoá XI ngày26/11/2003 Quốc hội đã thông qua BLTTHS năm 2003 có hiệu lực pháp luật
từ 1/7/2004 Bộ luật này đã đáp ứng được yêu cầu về đổi mới hoạt động củacác cơ quan tư pháp theo hướng tinh giản bộ máy, thống nhất đầu mối, nângcao chất lượng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạmtrong tình hình mới, nêu cao hơn nữa trách nhiệm của cơ quan nhà nước đốivới công dân, đảm bảo quyền tự do, dân chủ của công dân; các quy định vềtrình tự, thủ tục tố tụng được minh bạch hơn, rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu và cótính khả thi hơn, tạo điều kiện cho những người tiến hành tố tụng và tham gia
tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm của mình
Bên cạnh BLHS và BLTTHS là những văn bản pháp lý quan trọng nhấttrong quá trình ADPL và hoạt động điều tra các vụ án ma tuý thì cũng cầnphải hoàn thiện các văn bản pháp luật khác có liên quan như Luật phòngchống ma tuý, Danh mục các chất ma tuý…và đặc biệt là các văn bản hướngdẫn thi hành việc áp dụng các quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về
ma tuý” của BLHS và các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTHS Các vănbản hướng dẫn ADPL tuy là văn bản dưới luật nhưng lại có vai trò rất quantrọng trong bảo đảm hiệu quả hoạt động ADPL trong điều tra các vụ án matuý Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, dù đã rất nỗ lực nhưng chất lượngcông tác lập pháp nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thựctiễn thực thi pháp luật Trong BLHS và BLTTHS còn nhiều điều luật quyđịnh chung chung, chưa cụ thể nên khó thực hiện Vì vậy, để việc áp dụngBLHS và BLTTHS được thống nhất, dễ dàng trong thực tiễn thì hoạt động
Trang 36ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng của các cơ quan tư pháp ở Trungương là rất cần thiết.
1.2.2 Bảo đảm về tổ chức
Hoạt động ADPL trong điều tra các vụ án ma tuý là hoạt động doCQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độngđiều tra thực hiện Tổ chức cũng như nhân sự ở các cơ quan này là yếu tố rấtquan trọng để nâng cao chất lượng ADPL; bởi lẽ chất lượng ADPL suy cho cùng
là do con người và phụ thuộc vào khả năng chuyên môn của những người trựctiếp là công tác ADPL như Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT, ĐTV
Nghị quyết 49/NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lượccải cách tư pháp đến năm 2020 đã nhận định:
Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiêm vụ, cơ chế hoạt động củacác cơ quan tư pháp còn chưa hợp lý Đội ngũ cán bộ tư pháp, hỗ trợ
tư pháp còn thiếu, thậm chí một số cán bộ sa sút về phẩm chất đạođức và trách nhiệm nghề nghiệp Vẫn còn tình trạng oan sai trongđiều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử [29, tr.1-2]
Như chúng ta đã biết, hoạt động của các cơ quan tư pháp trong tố tụnghình sự có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động và bổ sung cho nhau, kết quảcủa hoạt động này là tiền đề cho hoạt động kế tiếp Bởi vậy, chất lượng ADPLtrong điều tra các vụ án ma tuý chỉ có thể nâng lên khi, tổ chức bộ máy vàchất lượng hoạt động của CQĐT được nâng lên
Về mặt tổ chức, theo Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của BộChính trị, CQĐT phải sắp xếp lại theo hướng thu gọn đầu mối, tiến tới sápnhập CQĐT là một, phân định giữa thẩm quyền hành chính với tư pháp TheoPháp lệnh mới, cơ cấu tổ chức của Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an gồm
có Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục cảnh sát điều tra tộiphạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Cục cảnh sát điều tra tội phạm về
ma tuý và Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra Bên dưới cơ quan cảnh sátđiều tra công an cấp tỉnh và cấp huyện có các phòng, đội cảnh sát điều tra
Trang 37tương ứng Tại cuộc họp báo do Văn phòng Chủ tịch Nước tổ chức sáng 7/9,công bố Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 và Nghị quyết thi hànhPháp lệnh này, Thứ trưởng Bộ Công an Lê Thế Tiệm đã khẳng định:
Quy định tổ chức bộ máy Cơ quan cảnh sát điều tra như trênkhông phình bộ máy mà thực chất là bố trí lại lực lượng trong Công
an nhân dân nhằm đẩy mạnh công tác hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụcủa cơ quan điều tra cấp trên với cơ quan điều tra cấp dưới, bảo đảmtính chuyên sâu trong việc điều tra các loại án, sự phối hợp đồng bộ,hiệu quả giữa điều tra tố tụng và điều tra trinh sát, chống bỏ lọt tội
phạm đã được thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng [38]
Quy định tổ chức như trên là xuất phát từ trách nhiệm của cơ quan điềutra được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 tăng đáng kể sovới trước đây Cơ quan điều tra phải tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo vềtội phạm và tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin để quyết định khởi tố haykhông khởi tố vụ án; trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; tiếp nhận giảiquyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo Đồng thời, cũng xuấtphát từ thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm trong những năm qua, số vụ
án do Cơ quan cảnh sát điều tra thụ lý chiếm tỷ lệ rất lớn (chiếm 99% trong
TS các vụ án đã khởi tố điều tra) và yêu cầu cải cách tư pháp
Đối với đội ngũ cán bộ làm công tác điều tra cần phải được nâng caotrình độ năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp Trên thực tế hiện nay,trình độ năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, ĐTV chưa đáp ứng đượcyêu cầu Số người có năng lực, có kinh nghiệm nghiên cứu tổng hợp đề xuấtnhững vấn đề có tầm chiến lược hoặc những chuyên gia giỏi trên từng lĩnhvực còn ít Một số cán bộ điều tra giảm sút ý chí phấn đấu, vi phạm về phẩmchất đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật Để đáp ứng yêu cầu cải cách tưpháp ở CQĐT nhằm bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ điều tra, truy tố cần phảiđặc biệt chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực côngtác và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ điều tra
Trang 38Ngoài ra, trong quá trình giải quyết các vụ án ma tuý còn có sự thamgia của những cơ quan khác như cơ quan giám định, tổ chức luật sư… hoạtđộng của những cơ quan này cũng có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả hoạtđộng điều tra của CQĐT, vì vậy, kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng hoạtđộng của CQĐT cũng là yếu tố quan trọng đảm bảo cho việc ADPL tronghoạt động điều tra các vụ án ma tuý của CQĐT được khách quan, chính xác,đúng pháp luật.
1.2.3 Các đảm bảo khác
- Bảo đảm sự giám sát của các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử với
hoạt động ADPL của CQĐT
Theo tinh thần Nghị quyết 08 – NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị
về một số trong tâm công tác tội phạm trong thời gian tới cần “Tăng cường sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, của các tổ chức xã hội và của nhân dân đối với công tác tư pháp [27, tr.7] Trước đây, việc giám sát của các
cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cư đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tốtụng, người tiến hành tố tụng được đề cập trong Điều 8, BLTTHS năm 1988.Hiện nay, thể chế hoá Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị, BLTTHS đã quy địnhbảo đảm hoạt động giám sát của các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cư đối vớihoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thành mộtnguyên tắc của Luật tố tụng hình sự tại Điều 32, BLTTHS năm 2003
Chủ thể có quyền giám sát theo quy định này là: cơ quan nhà nước, Ủyban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử;đối tượng giám sát là cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng; phạm vi giámsát là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng vàviệc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiếnhành tố tụng; biện pháp để giám sát là nếu phát hiện những hành vi trái phápluật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thì cơ quan nhànước, đại biểu dân cử, Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thànhviên của Mặt trận có Tổ quốc thành viên của mặt trận có quyền kiến nghị với
Trang 39cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét giải quyết theo quy định củaBLTTHS Nguyên tắc này cũng xác định trách nhiệm của cơ quan tiến hành
tố tụng phải xem xét giải quyết và trả lời kiến nghị, yêu cầu đó theo quy địnhcủa pháp luật Cơ quan tiến hành tố tụng các cấp phải thực sự tôn trọng những
ý kiến nghị, yêu cầu của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đại biểu dân cử vànghiêm túc xem xét, giải quyết những kiến nghị, yêu cầu đó
Bảo đảm sự giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạtđộng ADPL trong việc giải quyết án hình sự nói chung và của CQĐT trongđiều tra các vụ án ma tuý nói riêng nhằm đảm bảo tính công khai, rõ ràng,minh bạch trong hoạt động của cơ quan này, đồng thời phát huy tinh thần làmchủ của nhân dân thông qua cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đại biểu dân
cử Qua đó góp phần bảo đảm cho hoạt động ADPL của các cơ quan nàyđược chính xác, đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm và làm oan người vôtội
- Công tác quản lý, chỉ đạo điều hành và công tác thanh tra, kiểm tra của ngành Công an, kiểm tra đối với hoạt động điều tra các vụ án ma tuý.
Điều tra các vụ án về ma túy là những giai đoạn của quá trình giảiquyết vụ án ma túy Ở những giai đoạn này CQĐT thực hiện những quyềnnăng pháp lý trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình được phápluật quy định
Trong quá trình điều tra các vụ án ma túy có sự kiểm tra, CQĐT vàVKS giám sát, hỗ trợ cho nhau Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn tình trạngbắt, giam, giữ oan, sai; tình trạng CQĐT tiến hành những hoạt động điều tratrái pháp luật, VKS truy tố không đúng người đúng tội bị Toà án tuyên vôtội… Chính vì vậy, ngoài hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhândân, tổ chức xã hội… cần phải tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điềuhành, công tác thanh tra, kiểm tra của ngành Công an, kiểm sát đối với hoạtđộng của CQĐT Hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, tổchức xã hội… là những hình thức giám sát từ bên ngoài Về mặt lý luận, đây
Trang 40là những hình thức giám sát luôn đem lại hiệu quả rất lớn Song, trên thực tếhiệu quả của những hình thức giám sát này chưa cao bởi vì chất lượng hoạtđộng giám sát của các cơ quan và đại biểu dân cử chưa đáp ứng được yêu cầu.Quốc hội và Hội đồng nhân dân chủ yếu thực hiện quyền giám sát thông quaviệc xem xét báo cáo của các cơ quan tư pháp, thông qua hoạt động chất vấncủa đại biểu Quốc hội, Đại biểu của Hội đồng nhân dân đối với người đứngđầu các cơ quan tư pháp Trong điều kiện trình độ hiểu biết pháp luật củanhiều đại biểu dân cử chưa cao, còn nặng về cơ cấu thành phần thì hoạt độnggiám sát của các cơ quan này chưa thực sự bảo đảm Mặt khác, trình độ dântrí của nhân dân hiện nay nhìn chung còn thấp, ý thức trách nhiệm của côngdân đối với xã hội chưa cao thì hoạt động giám sát của các tổ chức xã hội vànhân dân vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra Do đó, tăng cườnghoạt động từ bên trong tức là tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành,công tác kiểm tra của ngành Công an, Kiểm sát đối với hoạt động điều tra củaCQĐT là một yếu tố rất quan trọng để bảo đảm cho hoạt động ADPL trongđiều tra được đúng đắn.
- Ngoài các yếu tố trên còn có nhiều yếu tố khác bảo đảm việc ADPL trong điều tra các vụ án ma tuý như: cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên môn
cho hoạt động điều tra các vụ án ma tuý của CQĐT; chế độ, chính sách đốivới đội ngũ ĐTV; mối quan hệ phối hợp giữa CQĐT, VKS trong quá trìnhđiều tra các vụ án ma tuý; và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, của ngành đốivới hoạt động ADPL của CQĐT trong điều tra các vụ án ma tuý…
Tiểu kết chương 1
Trong chương này, chúng tôi đã phân tích những vấn đề lý luận chung
về ADPL; trên cơ sở đó, cùng với việc nghiên cứu các quy định của luật hình
sự và luật tố tụng hình sự, các Nghị quyết của Đảng về công tác tư pháp đểlàm rõ khái niệm về ma tuý, tội phạm về ma tuý và đặc điểm của nó; đồng