Do sản lượng sản xuất ra của người nông dân vùng nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu của họ hoặc những lao động ở thành thị mới chuyển đến, nên số dân cư này vẫn còn nghèo.. Kênh “phi” t
Trang 1CHUỖI GIÁ TRỊ GẠO ĐIỆN BIÊN, ĐẶC ĐIỂM CHÍNH VÀ ĐỀ XUẤT
PHÁT TRIỂN
Trang 21 PHÂN TÍCH VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH GẠO CỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN: CƠ SỞ 3
2 ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA NGÀNH GẠO ĐIỆN BIÊN 3
2.1 SẢN XUẤT GẠO CỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN 3
2.1.1 Sự đa dạng hệ thống sản xuất gạo 3
2.1.2 Giống canh tác và năng suất của giống 4
2.2 ĐẶC ĐIỂM NHU CẦU GẠO ĐIỆN BIÊN 6
2.2.1 Nhu cầu gạo ở Khu vực Tây Bắc 6
2.2.2 Nhu cầu gạo ở Hà Nội 6
2.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC KÊNH THỊ TRƯỜNG GẠO ĐIỆN BIÊN KHÁC NHAU 6
2.3.1 Tiêu thụ gạo Điện Biên 6
2.3.2 Kênh thị trường chính 7
i Kênh “phi” thị trường: tự tiêu thụ 7
ii Kênh thị trường “Điện Biên” 8
iii Kênh thị trường “Tây Bắc” 9
iv Kênh thị trường “Hà Nội” 10
2.4 SO SÁNH CÁC GIỐNG GẠO ĐIỆN BIÊN 11
2.5 KẾT LUẬN CỦA PHÂN TÍCH 12
3 PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ GẠO ĐIỆN BIÊN 12
3.1 CƠ SỞ CỦA SỰ CAN THIỆP 12
3.2 TÓM TẮT NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGƯỜI THAM GIA TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ 12 3.3 NÂNG CAO LUỒNG THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG TRONG TOÀN CHUỖI 13
3.3.1 Cơ sở và mục tiêu chung 13
3.3.2 Hoạt động 13
i Liên kết người tham gia trong chuỗi giá trị gạo Điện Biên 13
ii Tạo cơ chế linh hoạt hơn để người trồng lúa tiếp cân tín dụng 14
iii Cải thiện hoạt động sản xuất và cung cấp thông tin thị trường cho người trồng 14
3.4 CHỨNG CHỈ CHẤT LƯỢNG 15
3.4.1 Cơ sở và mục tiêu 15
3.4.2 Hoạt động 16
i Hội thảo về chứng nhận, gắn nhãn mác, các tiêu chuẩn kỹ thuật và xây dựng thương hiệu 16
ii Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng cho các hoạt động nằm trong chuỗi giá trị gạo của Điện Biên 16
iii Đánh giá tiêu chuẩn chất lượng tại một quy mô thử nghiệm 18
iv Phổ biến thông tin về tiêu chuẩn chất lượng 18
v Mở rộng chứng nhận trên địa bàn sản xuất rộng hơn 19
3.5 CHIẾN LƯỢC CƠ BẢN 19
3.5.1 Thiết kế can thiệp với bên liên quan nào? 19
3.5.2 Tiêu chí lựa chọn 1 đến 2 xã thử nghiệm 19
Trang 31 PHÂN TÍCH VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH GẠO CỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN: CƠ SỞ
Điện Biên là một trong những tỉnh nghèo nhất của Việt Nam Khoảng 46% trong tổng số dân 440.000 người đang sống dưới mức thu nhập 200.000 đồng một tháng trong năm 2005 (biểu đồ 1 Tình hình nghèo đói của tỉnh Điện Biên năm 2005)
Biểu đồ 1: Tình hình nghèo đói của Điện Biên năm 2005
1,897 1,245
20,514 22,912 25,517
60,426
40,068
28,734 46,984
8,260
15,476
27,103 17,542
45,177
61,369
21,642
0
20,000
40,000
60,000
80,000
100,000
120,000
TP Dien Bien
Phu
Thi Xa Muong Lay
Huyen Muong Nhe
Huyen Muong Cha
Huyen Tua Chua
Huyen Tuan Giao
Huyen Dien Bien
Huyen Dien Bien Dong
Huyện
Số người có thu nhập dưới 200,000 đồng / tháng Số người có thu nhập trên 200,000 đồng / tháng
Đa số người dân của tỉnh Điện Biên tham gia các hoạt động sản xuất nông nghiệp và sản xuất gạo nói riêng Gạo Điện Biên đang ngày càng có danh tiếng ở khu vực Tây Bắc và Hà Nội, ở đó ngày càng có nhiều người sẵn sàng trả giá cao hơn để mua gạo ăn hàng ngày
Sở Thương mại và Du lịch Điện Biên, với sự hỗ trợ của Chương trình “Tiếp cận Thị trường cho Người nghèo” của SNV, cam kết giảm tỷ lệ nghèo thông qua việc phát triển các hoạt động kinh tế của các ngành khác nhau của tỉnh và trong trường hợp này là ngành nông nghiệp
2 ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA NGÀNH GẠO ĐIỆN BIÊN
2.1 SẢN XUẤT GẠO CỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN
2.1.1 Sự đa dạng hệ thống sản xuất gạo
Trong năm 2005 khoảng 32.000 ha của tỉnh Điện Biên được sủ dụng cho hoạt động sản xuất gạo, trong đó 56% (18.000 ha) là đất nương, đất dốc (thường được biết là “nương”), 44% (14.000 ha) là đất bằng, ruộng bậc thang ít nhiều có hệ thống thủy lợi (thường được biết là “đất ruộng”) có hệ thống sản xuất hiệu qủa cao
Trang 4(năng suất/ ha cao) với hai vụ canh tác mỗi năm, được cày bằng máy hoặc bằng sức kéo của trâu bò (biểu đồ 2: Sản xuất gạo ở Điện Biên: loại đất và diện tích giao đât năm 2004)
Biểu đò 2: Sản xuất gạo ở Điện Biên: loại đất và địa bàn phẩn bổ năm 2004
Đất ruộng trồng một vụ /
năm 7007 22%
Đất nương 18378 56%
Đất ruộng trồng hai vụ /
năm 7130 22%
Sự phân chia này thể hiện rằng hoạt động sản xuất gạo ở Điện Biên không đồng nhất: tồn tại sự chênh lệch lớn giữa năng suất lao động (năng suất/ đơn vị lao động) và hiệu quả sử dụng đất (năng suất/ đơn vị diện tích đất) từ hệ thống sản xuất này sang hệ thống khác Sự chênh lệch này liên quan đến năng lực sản xuất tối
đa vốn có của từng hệ thống canh tác Canh tác trên đất nương dốc được thực hiện một cách thủ công bởi vì người ta không thể đưa gia súc kéo cày lên khu vực dốc như vậy Do vậy, một nông dân chỉ có thể thực hiện tối đa 1/2 ha Độ màu mỡ của đất chỉ do những cây trồng thoái hóa tạo nên trong quá trình làm lại đất Nông dân vùng cao chỉ có một diện tích đất hạn chế để canh tác cho nên họ phải quay trở lại canh tác trên những mảnh đất của mình trước khi rừng được tái sinh Chính vì thế mà độ màu mỡ của đất bị suy giảm và năng suất chỉ đạt từ 1,2 đến 1,7 tấn thóc/ ha Còn hoạt động canh tác dưới ruộng có sự hỗ trợ của máy kéo, gia súc
và công cụ như cái cày Các hoạt động sản xuất khác nhau (tưới tiêu, cày bừa, làm cỏ ) chiếm nhiều công sức những lại mang lại năng suất cao hơn rất nhiều so với canh tác ở trên nương Lúa ruộng cho năng suất khoảng từ 6 đến 7 tấn thóc/ ha với một nông dân có khả năng thực hiện từ 0,2 đến 0,4 ha cùng với những công cụ canh tác (máy cày hay gia súc)
Đó là lý do vì sao chỉ có 18% tổng sản lượng là thóc nương (trên 56% tổng diện tích canh tác) trong khi đến
Trang 5lúa thơm địa phương, và các giống gạo tẻ khác đã được giới thiệu cách đây khoảng 10 năm như IR64, các giống lúa nếp du nhập từ nơi khác và của địa phương, các giống lúa nương địa phương và các giống lúa nương có nguồn gốc từ Thái Lan Hiện tại vẫn chưa thể có một danh sách đầy đủ những giống lúa đang được canh tác tại Điện Biên Chính vì vậy, sản lượng thóc chỉ được tính toán và phân chia theo từng “loại” thóc khi chúng được đưa ra thị trường
Sau đây là những giống sẽ được phân tích:
IR64: đây là tên giống cũng được tiếp cận thị trường dưới cái tên Điện Biên và Tây Bắc hoặc trong một số trường hợp có thể được giới thiệu dưới những tên khác mà chúng ta không biết bởi vì giống lúa này được trồng ở rất nhiều tỉnh khác nhau
Lúa lai: đây là một tên chung đại diện cho rất nhiều giống khác nhau được giới thiệu từ những năm 1970 cho đến nay để tăng năng suất nhằm đạt được mục tiêu đáp ứng đủ nhu cầu lương thực cho người dân Giống này thường có nguồn gốc từ Trung Quốc
Gạo thơm: đây là giống được đưa ra thị trường dưới cái tên “Tẻ Thơm” và “Tám Thơm” Hai tên này ám chỉ giống Bắc Thơm số 7 và Hương Thơm số 1, hai giống này được trồng trên đất ruộng và không phải là giống bản xứ của Điện Biên và cũng không thuộc nhóm những giống lúa thơm địa phương
Tẻ Thái Lan là giống có hương thơm trung bình và bắt nguồn từ Thái Lan, hiện nay giống lúa này đang được trồng ngày càng nhiều ở trên nương
Lúa nếp: ám chỉ những giống lúa nếp bản địa và du nhập từ nơi khác
Biểu đồ 3: Sản lượng gạo Điện Biên sản xuất năm 2004 phân theo chủng loại đơn vị tấn
tương đương thóc
Gạo nương Thái Lan 10703.07456 9%
Gạo nương khác 2140.614912 2%
Nếp nương 8562.459648 7%
Nếp ruộng 12441.23288 10%
Lúa Lai 23931.28278 20%
IR64 28557.2723 24%
Gạo Tám thơm và Tẻ thơm 33664.06292 28%
2.2 ĐẶC ĐIỂM NHU CẦU GẠO ĐIỆN BIÊN
Trang 6Nhu cầu đối với gạo tẻ ở Việt Nam là tương đối ổn định bởi vì nó là lương thực chủ đạo cho khoảng 80 triệu người Đối với một số khu vực thành thị, nhu cầu này có thể giảm xuống do sự thay đổi thói quen ăn uống, nhưng vẫn sẽ duy trì ở khoảng 160 kg đến 200 kg/ 1 người/ năm
2.2.1 Nhu cầu gạo ở Khu vực Tây Bắc
Ở khu vực Tây Bắc với chủ yếu dân số là người dân tộc Thái, nhu cầu về gạo cũng có những đặc điểm khác biệt nho nhỏ Gạo nếp là lương thực chủ yếu mang tính truyền thống của họ chứ không phải gạo tẻ Do vậy, diện tích trồng lúa nếp ở đây lớn hơn đáng kể so với những khu vực khác trên cả nước Mặc dù vậy, dân cư
ở khu vực Tây Bắc không đông đúc như ở các tỉnh đồng bằng khác, ở một số khu vực hoạt động canh tác được thực hiện ở trên đất dốc, ruộng bậc thang, cho nên sản lượng không đáp ứng được nhu cầu của người dân Hơn nữa, tới đây sẽ có những công trình lớn được xây dựng như đập nước ở Mường Lay, sẽ tạo nên một dòng lao động phi nông nghiệp tràn vào, do vậy một nhu cầu gạo lớn hơn sẽ không được đáp ứng Do sản lượng sản xuất ra của người nông dân vùng nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu của họ hoặc những lao động ở thành thị mới chuyển đến, nên số dân cư này vẫn còn nghèo Ngân sách hạn hẹp không cho phép
họ mua được những loại gạo đắt tiền Điện Biên là tỉnh có sản lượng gạo tương đối cao và có só lượng dư thừa để bán sang thị trường các tỉnh lân cận không đủ khả năng cung cấp như Sơn La, Lai Châu và Lào Cai
Vì những lý do trên, gạo được bán từ Điện Biên sang các thị trường này là những chủng loại có giá thấp: IR64, gạo lai, gạo nếp ruộng và một chút gạo thơm
2.2.2 Nhu cầu gạo ở Hà Nội
Cuối cùng nhu cầu gạo thơm Điện Biên (Tẻ Thơm và Tám Thơm) nói riêng là cơ bản bởi vì nó đã có danh tiếng vượt ra khỏi tỉnh cũng giống như gạo Hải Hậu ở Nam Định hay gạo “hoa vàng” trong Miền Nam Ba loại gạo này được biết đến với những tính chất đặc biệt thơm và “dẻo”
Ở Hà Nội, tầng lớp “trung lưu” đang ngày càng tăng nhanh, họ sẵn sàng mua với giá cao hơn những loại gạo đáp ứng nhu cầu thưởng thức của họ Gạo Tám Thơm và Tẻ Thơm Điện Biên cũng là hai trong số những sản phẩm này Trong một số thị trường, những loại gạo này có thể được bán với giá 9.000 đồng/ kg Hơn nữa, trong dịp Tết những người dân này sẵn sàng trả giá cao hơn để mua những loại gạo nếp và nếp thơm
“tốt nhất” trên thị trường Đây cũng là những loại mà Điện Biên có Người ta coi là tốt nhất không chỉ vì hương vị của chúng mà người ta còn tin rằng chúng có nguồn gốc từ một môi trường “tự nhiên”, “sạch”,
“đáng tin cậy”: vùng núi Tây Bắc
2.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC KÊNH THỊ TRƯỜNG GẠO ĐIỆN BIÊN KHÁC NHAU
2.3.1 Tiêu thụ gạo Điện Biên
Biểu đồ 4 “Địa điểm tiêu thụ gạo Điện Biên” trình bày sự thị phần gạo (đơn vị tấn tương đương thóc) tự tiêu thụ trong tỉnh, được bán trong tỉnh, bán đến thị trường các tỉnh ở khu vực Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu
và Lào Cai) và thị trường Hà Nội Đặc điểm nổi bật ở đây là mặc dù gạo Điện Biên đang ngày càng có danh tiếng tốt ở các thị trường ngoại tỉnh, nhưng đa số sản lượng gạo lại chỉ được tiêu thụ trong tỉnh
Như chúng ta đã thấy ở phần 2.2, có một nhu cầu rất lớn đối với gạo thơm Điện Biên (4.000 tấn gạo tương đương thóc được tiêu thụ ở Hà Nội và có tiềm năng tăng lên gấp đôi, trong khi 33.000 tấn sản xuất ở Điện Biên chủ yếu được tiêu thụ trong tỉnh)
Trang 7Biểu đồ 4: Sản lượng và phân bổ gạo Điện Biên tiêu thụ theo địa bàn
Tự tiêu thụ trong gia đinh,
83000, 69%
Điện Biên, 13000, 11%
Sơn La, 17000, 14%
Lai Châu & Lào Cai, 3000,
3%
Hà Nội, 4000, 3%
2.3.2 Kênh thị trường chính
i Kênh “phi” thị trường: tự tiêu thụ
Số lượng: 83.000 tấn tương đương thóc: chiếm khoảng 69% sản lượng
Những người nông dân sản xuất dưới ruộng và trên nương chỉ sử dụng cho nhu cầu tiêu thụ của gia đình
hoặc không có số lượng dư thừa để đưa ra thị trường Cần phải nghiên cứu tính khả thi về sự dư thừa gạo
và đánh giá thêm về đối với những đối tượng nông dân này
Chế biến tại các máy xay sát của bản hoặc xã trên cơ sở nhu cầu Nông dân mang một số lượng nhỏ thóc đến xay sát tại đây để lấy gạo đáp ứng nhu cầu lương thực của gia đình, cám (để chăn nuôi lợn) và trấu (để đốt)
Tiêu thụ bởi chính người sản xuất:
Trang 8ii Kênh thị trường “Điện Biên”
Số lượng: 13.000 tấn tương đương thóc: chiếm khoảng 11% sản lượng
Người nông dân sản xuất dưới ruộng và trên nương bán đi khi có nhu cầu về tiền và hiếm khi trên một cơ sở
ổn định
thu mua bởi người thu mua ở bản hoặc xã
vận chuyển đến gần địa điểm tiêu thụ (gần khu vực
thành thị của Điện Biên)
Chế biến bởi người chế biến ở Điện Biên
bán lẻ ở các chợ của thị xã Điện Biên và các cửa
hanhg nhỏ
dự trữ bởi người chế biến ở bản hoặc xã chế biến bởi người chế biến của bản hoặc xã người chế biến bán lẻ cho nông dân khi họ không có
đủ gạo đáp ứng nhu cầu của gia đình trước khi đến mùa vụ tới
Cũng có suy nghĩ rằng người bán lẻ của Điện Biên cũng bán gạo về Hà Nội thông qua các kênh thị trường không chính thức Chúng ta khó có thể dự đoán số lượng gạo được bán theo hình thức này
Người sản xuất dưới
ruộng và trên nương Người chế biến ở bản hoặc xã
Bản xà xã của Điện Biên
Thóc
69%
Sản lượng
Sản xuất
Gạo + cám + trấu Tiêu thụ
Chế biến
Trang 9iii Kênh thị trường “Tây Bắc”
Số lượng: 20.000 tấn tương đương thóc: chiếm khoảng 17% sản lượng
Người nông dân sản xuất dưới ruộng và trên nương bán thóc của mình đi khi có nhu cầu về tiền hoặc những người có cơ cấu sản xuất dư thừa
Thu mua bởi những người thu mua cấp bản hoặc xã
Vận chuyển đến người chế biến ở các khu vực có
đường giao thông chính
Chế biến thành gạo đánh bóng hoặc sơ chế thành gạo
bóc trấu
Gạo đánh bóng được vận chuyển đến những người
bán buôn ở các tỉnh Tây Bắc
Bán lẻ ở các tỉnh Tây bắc
Thu mua bởi những người thu mua thứ cấp đến từ các tỉnh Tây Bắc khác
Vận chuyển đến những người chế biến ở các tỉnh Tây bắc khác
Chế biến bởi những người chế biến ở các tỉnh Tây bắc khác
Gạo trắng được bán lẻ tại các tỉnh đó hoặc bán ra các tỉnh khác
Điều gì xảy ra tiếp theo đối với thóc/ gạo bóc trấu hoặc gạo trắng đánh bóng một khi nó tiếp cận thị trường các tỉnh Tây bắc này thì lại không được biết Có thể một phần trong số đó cũng được bán dưới cái tên “Điện Biên” tại thị trường Hà Nội thông qua kênh này, nhưng lại không có thông tin để chứng minh
Người sản
xuất dưới
ruộng và trên
nương
Người chế biến
Bản và xã xủa Điện Biên
Sản xuất
Tiêu thụ Chế biến
Dự trữ Thu mua 1
Người thu mua cấp bản
Vận chuyển Thu mua 2
Người thu mua cấp huyện có thuê vận chuyển
Dự trữ Bán lẻ Chế biến
Bán lẻ Những khu đô thị của Điện Biên
Người chế biến kiêm bán buôn bán lẻ Người bán lẻ “thuần túy”
THÀNH PHÀN KHÔNG CHÍNH THỨC Người tiêu dùng HN: Hộ gia đình & nhà hàng
Trang 10iv Kênh thị trường “Hà Nội”
Số lượng: 4.000 tấn tương đương thóc: chiếm khoảng 3% sản lượng
Đây là con số rút ra dựa trên những lần trao đối với 4 người chế biến kiêm bán buôn lớn ở Hà Tây Thông tin này lại không cho chúng ta biết số lượng gạo Điện Biên được bán đến thị trường Hà Nội thông qua các kênh không chính thức là trực tiếp từ người chế biến, bán lẻ của Điện Biên hay qua những tỉnh khác
Người nông dân sản xuất dưới ruộng hay trên nương bán thóc đi khi họ có nhu cầu về tiền hoặc những người có cơ cấu sản xuất dư thừa
Thu mua bời những người thu mua cấp bản hoặc xã
Vận chuyển đến những người chế biến ở các khu vực có đường giao thông chính
Sơ chế thóc thành gạo bóc trấu
Gạo bóc trấu được vận chuyển đến những người chế biến cuối cùng ở khu vực ngoại thành Hà Nôi, chủ yếu
là Hà Tây
Gạo bóc trấu được chế biến thành gạo trắng đánh bóng, gạo vỡ và tấm
Tất cả cá sản phẩm được bán buôn cho các đại lý, đơn vị kinh doanh ăn uống và công ty thức ăn chăn nuôi
Người sản
xuất dưới
ruộng và trên
nương
Bản và xã của Điện Biên
Sản xuất Thu mua 1
Người thu mua cấp bản
Vận chuyển Thu mua 2
Người thu mua cấp huyện có thuê vận cuyển
Dự trữ thóc Bán lẻ Chế biến 1
Bán buôn gạo
bó trấu và gạo trắng
Khu vực đô thị của Điện Biên
Người chế biến 1 kiêm bán buôn
Bán lẻ
Khu vực đô thị của Tây Bắc Chế biến 2 &
vận chuyển
Dự trữ thóc Chế biến 2 Bán buôn và bán lẻ Doanh nghiệp phối hợp, thực hiện hoạt động từ thu mua đến bán buôn THÀNH PHẦN KHÔNG CHÍNH THỨC Người tiêu dùng HN: Hộ gia đình và nhà hàng