Dưới đây là một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc định giá: Các yếu tố từ phía cầu ảnh hưởng đến việc định giá Các yếu tố từ phía DN ảnh hưởng tới việc định giá Ảnh hưởng của sả
Trang 2BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING
Đề tài: bài tập thảo luận chương 6
GVHD: Cô Nguyễn Hoàng Chi
Nhóm: 10
Thành viên:
1 Ngô Văn Sáng (trưởng nhóm)
2 Võ Quyết Tâm
3 Lê Quang Thanh
4 Nguyễn Thị Mỹ Quyên
5 Nguyễn Thị Ánh Lụa
6 Phùng Thị Mai
7 Trần Thị Diễm Ly
8 Trần Thị Mỹ Duyên
9 Nguyễn Hoàng Nam
10 Bùi Phương Thảo Nguyên
11 Phan Lâm Ngọc Trinh
12 Đinh Thị Vân Nhi
Trang 3Phấn 1: lý thuyết
I NHỮNG CĂN CỨ CHỦ YẾU CỦA VIỆC ĐỊNH GIÁ
Giá là một trong 4 biến số quan trọng của marketing mix Giá đóng vai trò quyết định trong việc mua hàng này hay hàng khác đối với người tiêu thụ Đối với công ty giá
có vị trí quyết định cạnh tranh trên thị trường Việc định giá sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến doanh số và lợi nhuận
Giá được định như thế nào? Các quyết định về giá của công ty chịu ảnh hưởng của yếu tố nào? Dưới đây là một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc định giá:
Các yếu tố từ phía cầu ảnh hưởng đến việc định giá
Các yếu tố từ phía DN ảnh hưởng tới việc định giá
Ảnh hưởng của sản phẩm trong định giá
Các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới việc định giá
1 Các yếu tố từ phía cầu ảnh hưởng tới việc định giá
Các nhân tố về nhân số học: số lượng người mua tiềm năng, địa điểm, mức tiêu
thụ, sức mạnh về kinh tế
Tâm lý của người mua: Nhận thức của khách hàng về giá nhiều khi chịu ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý, nhất là đối với các dịch vụ (sản phẩm vô hình), hoặc các hàng hoá mà hiểu biết cuả khách hàng về đối thủ cạnh tranh còn hạn chế Sau đây là biểu hiện của các xu hướng tâm lý của khách hàng khi nhận thức về giá:
Giá càng cao thì chất lượng càng cao
Xu hướng hoài nghi về mức giá của doanh nghiệp so với chất lượng sản phẩm khi họ không có đủ thông tin
Xu hướng so sánh giá giữa các sản phẩm cùng loại của các đối thủ cạnh tranh
Giá tâm lý: Khách hàng cho rằng giá 299.900 đồng rẻ hơn nhiều so với giá 300.000 đồng! Do đó họ dễ chấp nhận mua sản phẩm với mức giá 299.900 đồng hơn mặc dù thực chất 2 mức giá đó chênh nhau không đáng kể
Sự đàn hồi của cầu theo giá:
Trang 4Những người làm marketing phải xác định được mức độ phản ứng của nhu cầu đối với sự biến động của giá cả Người ta thường dùng khái niệm “mức độ co dãn của nhu cầu theo giá” để phản ánh sự thay đổi của nhu cầu khi giá cả thay đổi Mức độ co dãn của nhu cầu theo giá (EDP) được biểu thị bằng tỉ số giữa số phần trăm thay đổi của lượng cầu
và số phần trăm thay đổi của giá cả sản phẩm
Nếu khi giá cả sản phẩm thay đổi (tăng hay giảm) một phần trăm, mà nhu cầu thay đổi (giảm hay tăng) ít hơn một phần trăm, thì ta nói nhu cầu kém co dãn Trong trường hợp này, hệ số co dãn của cầu theo giá nhỏ hơn 1, nếu lấy theo giá trị tuyệt đối Nếu giá
cả sản phẩm thay đổi (tăng hay giảm) một phần trăm, mà lượng cầu thay đổi ( giảm hay tăng ) nhiều hơn một phần trăm, thì nhu cầu co dãn mạnh Hệ số co dãn của cầu theo giá
sẽ lớn hơn 1, lấy theo giá trị tuyệt đối
Ví dụ, khi giá tăng lên 10%, mà lượng cầu chỉ giảm tương ứng 5%, thì nhu cầu kém
co dãn với giá, hệ số co dãn của nhu cầu theo giá là -0,5 (dấu âm thể hiện mối quan hệ nghịch biến giữa nhu cầu và giá cả) Trường hợp này, doanh nghiệp có thể thực hiện chính sách tăng giá để tăng tổng doanh thu, vì tốc độ tăng giá nhanh hơn tốc độ giảm của lượng cầu Giả sử khi doanh nghiệp giảm giá xuống 10% mà lượng cầu tăng lên tương ứng 20%, thì nhu cầu co dãn mạnh đối với giá cả, hệ số co dãn của nhu cầu theo giá là -2 Trong trường hợp này, doanh nghiệp nên thực hiện chính sách giảm giá nếu muốn tăng tổng doanh thu, không nên thực hiện chính sách tăng giá sẽ làm cho tổng doanh thu sụt giảm, vì tốc độ tăng giá chậm hơn tốc độ giảm của lượng cầu
Nhu cầu thường ít co dãn trong những tình huống sau : có ít hay không có những sản phẩm thay thế hay đối thủ cạnh tranh; người mua không nhận thấy ngay việc tăng giá; người mua chậm thay đổi thói quen mua sắm và không vội tìm kiếm sản phẩm có giá thấp hơn; người mua nghĩ rằng giá cao là do sản phẩm được cải tiến về chất lượng, lạm phát bình thường,…
Nếu nhu cầu có tính co dãn, người bán sẽ cóï xu hướng giảm giá để kích thích nhu cầu và do đó tăng được khối lượng bán Một mức giá thấp hơn sẽ tạo ra tổng doanh thu
Trang 5cao hơn Điều này chỉ có ý nghĩa khi các chi phí sản xuất và tiêu thụ với số lượng sản phẩm nhiều hơn không tăng lên một cách không cân đối
2 Các yếu tố từ phía DN ảnh hưởng đến việc định giá
2.1 Mục tiêu định giá của DN
Các mục tiêu Marketing của doanh nghiệp đóng vai trò định hướng cho việc đặt ra nhiệm vụ của giá cả Muốn trở thành một công cụ Marketing hữu hiệu thì giá phải phục
vụ đắc lực cho chiến lược Marketing về thị trường mục tiêu và định vị sản phẩm của doanh nghiệp Do vậy, khi định giá doanh nghiệp phải căn cứ vào mục tiêu Marketing của doanh nghiệp và chiến lược định vị sản phẩm mà doanh nghiệp đã chọn
Thông thường, một doanh nghiệp có thể theo đuổi một trong các mục tiêu cơ bản sau đây:
Tối đa hoá lợi nhuận hiện hành
Dẫn đầu về thị phần
Dẫn đầu về chất lượng sản phẩm trên thị trường
Định giá để an toàn trong kinh doanh
Tối đa hóa lợi nhuận hiện hành: Nhiều doanh nghiệp muốn lựa chọn một mức giá
để tối đa hóa lợi nhuận hiện tại Họ coi trọng hiệu quả tài chính trước mắt hơn là hiệu quả lâu dài, bỏ qua những tác động của các yếu tố khác trong marketing – mix và phản ứng của đối thủ cạnh tranh Các doanh nghiệp ước lượng nhu cầu và chi phí tương ứng gắn liền với những mức giá khác nhau, và chọn ra mức giá sẽ tạo được khả năng tăng tối đa lợi nhuận hiện tại, lượng tiền mặt hay tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư
Dẫn đầu về thị phần: Một số doanh nghiệp khác muốn đạt được thị phần lớn nhất.
Họ tin rằng doanh nghiệp nào có chiếm được tỉ trọng thị trường (thị phần) lớn nhất sẽ đạt được chi phí tính trên đơn vị sản phẩm thấp nhất và lợi nhuận về lâu dài cao nhất Họ theo đuổi mục tiêu dẫn đầu thị phần bằng các chính sách định giá thấp Điều kiện để có thể định giá thấp trong trường hợp này là: nhu cầu thị trường rất nhạy cảm với giá cả, và giá thấp sẽ kích thích sự tăng trưởng nhu cầu thị trường; chi phí sản xuất và phân phối sản phẩm giảm dần xuống khi doanh nghiệp ngày càng tích lũy nhiều hơn kinh nghiệm sản xuất; và giá thấp sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh hiện tại và tương lai
Dẫn đầu về chất lượng sản phẩm trên thị trường: Một doanh nghiệp có thể lấy mục
tiêu trở thành ngưòi dẫn đầu thị trường về chất lượng sản phẩm Điều này đòi hỏi phải đề
ra mức giá cao để có thể trang trải được những chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm chất lượng cao và thu được mức lợi nhuận cao
Định giá để an toàn trong kinh doanh: Doanh nghiệp có thể sử dụng giá để đạt được
các mục tiêu khác riêng biệt hơn Họ có thể định giá thấp để ngăn chặn không cho đối thủ tham gia thị trường, hoặc định giá ngang với đối thủ để ổn định thị trường Có thể định giá ở một mức duy trì được sự trung thành và ủng hộ của các trung gian phân phối hay tạm thời giảm giá để tạo sự đáp ứng nhiệt tình đối với một sản phẩm hoặc để thu hút thêm nhiều khách hàng Một sản phẩm có thể được định giá để giúp tạo doanh số cho những sản phẩm khác thuộc mặt hàng của doanh nghiệp Như thế, việc định giá có có thể
Trang 6đóng vai trò quan trọng trong việc thành đạt các mục tiêu của doanh nghiệp ở nhiều mức
độ khác nhau
2.2 Chiến lược marketing hỗn hợp
Giá cả chỉ là một trong các yếu tố của marketing – mix mà doanh nghiệp sử dụng để đạt được các mục tiêu marketing của mình Các quyết định về giá phải được phối hợp với những quyết định về sản phẩm, phân phối, cổ động cho sản phẩm để hình thành một chương trình marketing có tính hệ thống và hiệu quả Các quyết định đưa ra cho những yếu tố khác của marketing – mix đều có thể ảnh hưởng đến những quyết định về giá Chẳng hạn các nhà sản xuất đang sử dụng nhiều trung gian phân phối và muốn những người này ủng hộ và cổ động cho các sản phẩm của mình thì có thể phải đưa vào mức giá một phần lãi lớn hơn cho trung gian phân phối đó Quyết định triển khai vị trí cho một sản phẩm chất lượng cao sẽ đòi hỏi nhiều chi phí hơn, điều này cũng có nghĩa là người bán phải đưa ra mức giá cao hơn để có thể trang trải được các chi phí đó
Doanh nghiệp thường quyết định giá sản phẩm trước, từ đó mới đưa ra những quyết định khác thuộc marketing – mix tương ứng mức giá mà doanh nghiệp muốn ấn định cho sản phẩm
Như vậy, những người làm marketing phải xem xét toàn bộ marketing -mix khi định giá Nếu sản phẩm được định vị dựa trên những yếu tố phi giá cả, thì các quyết định về chất lượng, quảng cáo và phân phối sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ lên giá cả Nếu giá cả là một yếu tố định vị chính yếu thì giá cả sẽ ảnh hưởng mạnh lên những quyết định đối với các yếu tố khác của marketing -mix
2.3 Chi phí sản xuất
Chi phí tạo nền cho việc định giá sản phẩm Các doanh nghiệp đều muốn định ra một mức giá có thể trang trải cho mọi chi phí sản xuất và phân phối sản phẩm, bao gồm
cả một mức lợi nhuận hợp lý cho những nổ lực và rủi ro của mình Các doanh nghiệp phải xem xét cẩn thận các chi phí của mình Nếu chi phí của doanh nghiệp cao hơn chi phí của những doanh nghiệp khác khi sản xuất và phân phối một sản phẩm tương tự, doanh nghiệp sẽ phải định ra một mức giá cao hơn các đối thủ của mình hoặc kiếm lời ít hơn và phải ở vào một vị thế cạnh tranh bất lợi hơn
Chi phí của doanh nghiệp gồm hai loại là chi phí cố định và chi phí biến đổi
sản xuất hay doanh số Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động kinh doanh thì hàng tháng họ phải trả tiền thuê mặt bằng, tiền khấu hao máy móc thiết bị và nhà xưởng, tiền lãi và tiền lương của các cán bộ quản lý,… không phụ thuộc vào mức sản lượng của doanh nghiệp Chi phí cố định (FC) là khoản chi phí không thay đổi cho dù ở mức độ sản xuất như thế nào Chi phí
cố định tính trung bình trên mỗi đơn vị sản phẩm gọi là chi phí cố định trung bình (AFC)
AFC = FC/Q
doanh nghiệp Mỗi chiếc xe máy do hãng Honda sản xuất đều bao gồm các chi phí về vật liệu sắt thép và plastic để làm vỏ xe và động cơ, dây dẫn và bộ
Trang 7phát điện, bao bì chuyên chở và những yếu tố vật liệu khác Những chi phí này gần như không thay đổi tính trên mỗi đơn vị sản phẩm được sản xuất, và đưọc gọi là chi phí biến đổi trung bình (AVC) Chúng được gọi là chi phí biến đổi (VC) vì tổng những chi phí đó thay đổi theo số lượng sản phẩm được sản xuất ra
AVC = VC/Q Tổng chi phí (total costs) là tổng các chi phí cố định và chi phí biến đổi tại một mức
độ sản xuất nhất định nào đó Tổng chi phí (TC) tính trung bình trên mỗi đơn vị sản phẩm đưọc gọi là chi phí trung bình (AC), hay giá thành đơn vị sản phẩm Ban lãnh đạo doanh nghiệp muốn định ra một mức giá ít nhất cũng sẽ trang trải được tổng chi phí sản xuất một mức sản xuất nhất định
TC = FC + VC
AC = TC/Q = FC/Q + VC/Q
AC = AFC + AVC
3 Ảnh hưởng của sản phẩm trong định giá
Mặc dù có nhiều đặc tính sản phẩm ảnh hưởng đến giá, nhưng có 3 vấn đề chính:
Tính dễ hư hỏng:
Sản phẩm được xem là dễ hư hỏng gồm: những sản phẩm hư hỏng theo nghĩa nhu cầu sản phẩm chỉ có trong một thời gian nhất định( theo mùa, theo thời trang nhất thời) và những sản phẩm hư hỏng theo nghĩa vật lý Hàng hóa mà dễ hư hỏng về vật lý cần phải được định giá để đẩy mạnh bán ra, nhiều khi bất kể chi phí
Tính dễ hỏng cũng liên quan tới tốc độ tiêu thụ, sản phẩm càng lâu hỏng càng được tiêu thụ một cách chậm chạp như trong trường hợp hàng tiêu dùng lâu bền
Tính dễ phân biệt của hàng hóa: khả năng khác biệt hóa sản phẩm, ví dụ : lúa mì, sữa nguyên
liệu thì khó khác biệt hóa hơn bánh ngọt, sữa đã qua chế biến đóng hộp Sản phẩm có tính phan biệt cao thì việc định giá có thể dựa trên điểm khác biệt đó
Chu kỳ sống của sản phẩm:
Trong giai đoạn giới thiệu của một chu kỳ sống sản phẩm, có hai phương pháp để định giá là định giá lướt nhanh( giá hớt váng sữa) và định giá thâm nhập
Trong những giai đoạn sau của chu kỳ sống, giá có thể được thay đổi để đáp ứng các thay đổi trên thị trường
4 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới việc định giá
Có rất nhiều yếu tố môi trường ảnh hưởng đến việc định giá nhưng ở đây ta chỉ xem xét hai yếu
tố quan trọng nhất là: sự cạnh tranh và các luật lệ của chính phủ
Cạnh tranh:
Trang 8Doanh nghiệp cần so sánh giá thành đơn vị sản phẩm của mình với giá thành đơn vị sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh và qui mô kinh doanh của họ để biết được mình đang có lợi thế hay bất lợi về chi phí Doanh nghiệp cũng cần tìm hiểu mức giá cả và chất lượng sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh, bằng cách thu thập các biểu giá và cử người đi mua hàng của họ để có sự so sánh và đánh giá thích hợp, hay tháo rời sản phẩm của đối thủ ra để ngiên cứu, phân tích những ưu thế và hạn chế của sản phẩm của
họ Doanh nghiệp cũng có thể tiến hành phỏng vấn người tiêu dùng xem họ đánh giá như thế nào về giá
cả và giá trị các sản phẩm tương đương của doanh nghiệp và của đối thủ cạnh tranh
Như vậy giá thành, giá cả và chất lượng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng chiến lược định giá sản phẩm cạnh tranh của mình Cũng vậy, chiến lược định giá của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến bản chất định hướng của sự cạnh tranh mà doanh nghiệp đang đối đầu – một chiến lược giá cao, mức lời cao có thể thu hút sự cạnh tranh, trong khi một chiến lược giá thấp, mức lời thấp có thể làm nản lòng các đối thủ cạnh tranh hay làm họ rút lui khỏi thị trường.
Một khi một doanh nghiệp đã biết rõ giá cả và các sản phẩm của những đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp đó có thể sử dụng những hiểu biết đó như một điểm định hướng cho việc định giá của mình Nếu sản phẩm của họ tương tự như sản phẩm của đối thủ quan trọng, doanh nghiệp sẽ phải định giá sát với mức giá của đối thủ cạnh tranh đó, nếu không thì sẽ bị thiệt về doanh số Nếu sản phẩm của doanh nghiệp kém hơn, doanh nghiệp sẽ phải định giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh Nếu sản phẩm của doanh nghiệp tốt hơn, doanh nghiệp có thể định giá cao hơn đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên, doanh nghiệp phải
ý thức được rằng các đối thủ cạnh tranh cũng có thể thay đổi giá cả của họ để đáp ứng lại với mức giá của doanh nghiệp
Các luật lệ của chính phủ:
Nhà nước có vai trò điều tiết, quản lý giá Một mặt, Nhà nước muốn bảo vệ cho các doanh nghiệp, mặt khác Nhà nước cũng muốn bảo vệ cho người tiêu dùng Tuỳ từng điều kiện mà Nhà nước can thiệp trực tiếp hoặc can thiệp gián tiếp để điều tiết giá Khi can thiệp trực tiếp, Nhà nước đặt ra mức giá trần (là mức giá cao nhất mà doanh nghiệp được bán) nhằm bảo vệ cho người mua; và giá sàn (là mức giá thấp nhất doanh nghiệp được mua) nhằm bảo vệ cho người bán Khi can thiệp gián tiếp, Nhà nước thường tác động đến cung cầu của hàng hoá, qua đó sẽ tác động đến giá Ví dụ, Nhà nước điều chỉnh mức thuế của các mặt hàng xuất nhập khẩu, và như vậy ảnh hưởng gián tiếp đến giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu
II CÁC CHIẾN LƯỢC ĐỊNH GIÁ SẢN PHẨM
Các chiến lược định giá thường thay đổi theo chu kỳ sống của sản phẩm Tùy theo sản phẩm là mới thực sự, lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường hay sản phẩm cải tiến trong một thị trường hiện có, sản phẩm hiện có đưa vào một kênh phân phối mới, một thị trường mới,…mà doanh nghiệp cần có chiến lược định giá cho phù hợp
1 Định giá sản phẩm mới
Trang 9Các doanh nghiệp khi phát triển hay mua được bản quyền phát minh sản phẩm mới
và tung nó ra thị trường, có thể chọn một trong hai chiến lược định giá là chiến lược định giá chắt lọc thị trường (market – skimming pricing), và chiến lược định giá thâm nhập thị trường (market – penetration pricing)
a) Chiến lược định giá hớt váng
Nhiều doanh nghiệp phát triển hay mua được bản quyền phát minh sản phẩm mới, khi tung ra thị trường đã quyết định mức giá cao ban đầu để “chớp” thị trường Tuy nhiên, việc chắt lọc thị trường với mức giá cao ngay từ đầu chỉ thực sự có có ý nghĩa trong những điều kiện nhất định : có một số lượng người mua đủ để có mức cầu hiện tại cao; chi phí tính trên mỗi đơn vị sản phẩm khi sản xuất với khối lượng nhỏ không quá cao đến mức làm triệt tiêu lợi thế của mức giá mà khách hàng sẽ chấp nhận; giá ban đầu cao sẽ không thu hút thêm các đối thủ cạnh tranh; và giá cao hỗ trợ được hình ảnh về một sản phẩm chất lượng cao
b) Chiến lược định giá thâm nhập thị trường
Khác với chiến lược định giá cao nhằm chắt lọc thị trường, một số doanh nghiệp khác lại chọn chiến lược định giá sản phẩm mới tương đối thấp nhằm thâm nhập thị trường, với hi vọng rằng sẽ thu hút được một số lượng lớn khách hàng và đạt được một thị phần lớn
Để chiến lược định giá thấp có thể giúp doanh nghiệp thâm nhập được thị trường, cần hội đủ các điều kiện sau đây: thị trường rất nhạy với giá cả và một mức giá thấp có thể kích thích mức tăng trưởng của thị trường lên nữa; các chi phí về sản xuất và phân phối sản phẩm giảm dần khi mức kinh nghiệm sản xuất tích lũy được tăng lên; và một mức giá thấp không làm tăng mức độ cạnh tranh thực tế và tiềm tàng
2 Định giá theo mối quan hệ với chất lượng sản phẩm
- Khi một doanh nghiệp có kế hoạch triển khai một sản phẩm mới, cải tiến sản phẩm hay đưa một sản phẩm hiện có vào một kênh phân phối mới, một thị trường mới thì doanh nghiệp đó cần phải tiến hành định vị sản phẩm Việc định vị sản phẩm có thể xemxets trong rất nhiều mối quan hệ giữa các yếu tố của marketing- mix, nhưng phổ biến hơn cả là tiến hành định vị theo mối quan hệ giữa chất lượng và giá cả của sản phẩm
- Trong mối tương quan chất lượng/giá cả, doanh nghiệp cần phải đánh giá những
ưu thế về chất lượng và các đặc điểm khác biệt của sản phẩm so với sản phẩm cạnh tranh, trên cơ sở đó mà có thể định vị sản phẩm của mình ở mức giữa thị trường hay ở mức cao hơn hoặc thấp hơn
- Hình dưới cho thấy các phương án chiến lược có thể kết hợp giữa các mức chất lượng và giá cả, được phân chia một cách tương đối theo ba mức độ cao, trung bình và thấp
Trang 10- Các chiến lược trên đường chéo 1,5 và 9 có thể cùng tồn tại trên một thị trường, nghĩa là một doanh nghiệp chào bán sản phẩm chất lượng cao với giá cao, doanh nghiệp thứ hai chào bán chào bán sản phẩm chất lượng trung bình với giá trung bình, và doanh nghiệp thứ ba chào bán sản phẩm chất lượng thấp với giá thấp Cả ba đối thủ cạnh tranh cùng tồn tại được là vì thị trường có ba nhóm khách hàng, một nhóm chỉ quan tâm đến chất lượng, nhóm khác thì quan tâm đến giá cả, còn nhóm cuối cùng quan tâm đến cả hai vấn đề chất lượng và giá cả
- Các chiến lược định vị 2, 3 và 6 là những chiến lược tấn công vào các chiến lược trên đường chéo 1,5 và 9 Chẳng hạn chiến lược 2, “sản phẩm chất lượng cao như sản phẩm 1, nhưng bán giá thấp hơn”, chiến lược 3 cũng tuyên bố như vậy nhưng giá còn thấp hơn nữa Nếu khách hàng nhạy cảm với chất lượng tin vào những đối thủ cạnh tranh
đó thì họ sẽ mua hàng của những người này để tiết kiệm tiền, trừ khi sản phẩm 1có sức hấp dẫn hơn theo những tiêu chuẩn khác nữa
- Các chiến lược định vị 4, 7 và 8 thuộc loại định giá quá cao đối với chất lượng của sản phẩm Khách hàng sẽ cảm thấy bị mắc lừa và chắc chắn sẽ khiếu nại hay có nhận xét