1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Văn học: Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ

105 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ
Tác giả Nguyen Thi Thuy Vu
Người hướng dẫn TS. Ton That Dung
Trường học Đại học Huế
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 17,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ gồm 3 chương trình bày các nội dung: Ý thức sáng tạo và quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Thị Thụy Vũ; văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ - Cảm quan về hiện thực cuộc sống và con người; văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ - Những hình thức thể hiện.

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

TRUONG DAI HQC SU PHAM

PHAM TH] THU NHUNG

DAC DIEM VAN XUOL

NGUYEN THI THUY VO

LUAN VAN THẠC SĨ VĂN HỌC

CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC V

"Thừa Thiên Huế, năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHAM TH] THU NHUNG

DAC DIEM VAN XUOL

NGUYÊN THỊ THỤY VŨ

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

JUAN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGUOI HUONG DAN KHOA HOC: TS TON THAT DUNG

Thừa Thiên Huế, năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi sin cam đoan dây là ông tình nghiên cứu của riêng tôi, các s liệu và kết quả nghiên cứu ghỉ trong

sử dụng và chưa từng được công bổ trong bắt kỳ một sông trình nào khác văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép

Tác giả luận văn Pham Thi Thu Nhung

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

“Trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn này, ôi

đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến và chỉ bảo nhiệt tỉnh của thầy cô,

gia đình và bạn bè

Tôi xin bảy tô lồng biết ơn chân thành sâu sắc tới quý thầy cô giáo Khoa

"Ngữ Văn và Phòng Sau Đại học- Trường ĐIISP Huế đã tân tỉnh giúp đỡ và ao moi diều kê tốt nhất rong suốt thời gian tối họ tập,

Toi xin bay ô lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc đến TS, Tôn Thất Dụng

đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, chỉ bảo và động viên tôi hoàn thành luận văn này

“Tôi xi 16 lời

Trị, Ban Giám hiệu Trường THPT Nguyễn Huệ- TX Quảng Trị đã tạo mọi điều

giúp đỡ và khích lệtôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn

cảm ơn tới Bạn lãnh đạo Sở Giáo dục và Bao tao tinh Quảng,

Tôi cũng xin bày tỏ lòng bit ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp luôn bên tôi, quan tâm, động viên tôi trong suốt quá trình học tập

Trang 5

6 Cau tric ludn van 9

“Chương 1: ¥ thức sáng tạo và quan diém nghé thuit ia Nguyn Thi Thuy Va 10

1.2 Quan niệm vẻ nghệ thuật 17

1.2.2 Quan niệm về nhà văn, nghề văn 19

1.3 Văn xuối Nguyễn Thị Thuy Vũ trong dòng chung của văn học nữ_ Nam Bộ

“Chương 2: Văn xuôi Nguyễn Thi Thuy Vũ- Cảm quan về hiện thực cuộc sống và

Trang 6

2.12 Cuộc sống đồ thị

22 Cảm quan vé con người

2.1 Con người cô đơn

2.22 Con người nỗi loạn

2.23 Con người lo âu

2.24 Con ngudi bin năng

“Chương 3: Văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ- Những hình thức th hiện

13.1, Nghệ thuật xây dựng nhân vật

311.1 Nghệ thuật miễu ả ngoại ình nhân vật

3.1.2 Nghệ thuật miêu tả và biểu hiện tâm lý nhân vật

32 Ngôn ngữ

3.21 Ngôn ngữ trẫn thuật

3122 Hệ thống ngôn từ đậm sắc thấi Nam BO

3.3 Giọng điệu

33.1 Giong tt tinh, thuomg cm

3.32 Giong sudng sf, dai thường

3.33 Giong lanh lìng, điểm nhiên, tằm th

Trang 7

MỠĐẦU

1 Mye đích, ý nghĩa của đề tài

`Văn xuôi là thể loại có khả năng miu ta cube sing bÈ

mà nhà văn có thể tung tay các yếu tố kỹ th i, trong bản chất

người Đi tìm vẻ đẹp văn chương, di tìm những đặc điểm của văn xuôi nghệ thuật s6 lẽ là một tong những bành trình vô cùng thú vị cho những ai yêu văn học Văn học Việt Nam đã và đang chúng kiến nhiều hiện tượng văn học thăng trầm

Nỗ lực đánh giá, định danh trên bản đồ văn chương nước nhà cho một nhà văn không phải là điều đơn giản Nhưng độc giả vẫn ắt trăn trọng goi tên họ: th hệ các cây bút rên hành tình làm mới thể loại và tìm kiểm, khẳng định bản ngữ ĐỂ hiểu

tõ và sâu sắc hơn diện mạo nỄn văn xuôi Việt Nam, chúng ôi quyết định chọn văn

xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ để tìm hiểu, khám phá Có thể nói rằng, văn xuôi

"Nguyễn Thị Thuy Vũ là một trong những hiện trọng văn học ốp pÏ

dda dạng của văn xuôi đô thị miễn Nam trước năm 1915

Khám phá thể giới văn xuôi của Nguyễn Thị Thuy Vũ, một lần nữa chúng ta có

dịp nhì lại những giai đoạn phát iển, những bước chuyỂn mình, vận động của văn xuôi đô thị miễn Nam- một trong những bộ phận văn học quan trọng làm nên diện

"mạo hoàn chỉnh của văn học Việt Nam, ma trong thực tẾ chúng ta vô tỉnh lãng quên hoặc không chú ý đến bộ phận văn học này Trong dòng chiy của văn học Việt

"Nam, bộ phận văn học miễn Nam là một rong những bộ phận văn học hỏa nhịp rất nhanh vào dòng chảy của văn học thể giới Vì vây, tiếp nhận các tác phẩm Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng là cách để chúng ta thấy một phần nào đó sự chuyển mình của

văn học Việt Nam trong sự phát triên chung của thời đại Khi làm đẻ tài Đặc điểm:

văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ, chúng tối muỗn gốp thêm một tiếng nổi trong việc đọc hi, đnh giá hú, giới thiệu lai một số giá tị của văn học miễn Nam nói chung, cũng như văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ nồi riêng

3 Lịch sử vấn đề

"Tim hiểu về Nguyễn Thị Thụy Vũ là một trong những vẫn để khá mới m Trong dòng chảy của văn học Việt Nam, Nguyễn Thị Thuy Vũ là một rong những

Trang 8

cây bút có hướng đi riêng, phan ánh hiện thực rong cảm quan của một nhà văn nữ ở

"Nam trước 1975 Các truyện nị

gian 1965- 1975, Vào thận 3 năm 2017, Hội Nhà văn đã ái bản lại mười tác phẩm, sản bà

'Khi nghiên cứu đề ti

văn học miễn Nam nồi chung cũng như về Nguyễn Thị Thụy Vũ nồi riêng

và truyện đài của bà ra đời từ khoảng thời

này, chúng tôi tìm thấy một số ti liệu liên quan đến

“rước hết, phải kể đến công tình nghiên cứu của Võ Phiển, Vấn iọc miễn

“Nam Tẳng quan (háng 5.1986) Đây là một trong những cuốn sich không những giúp người đọc nhận điện một khía cạnh khác trong tả năng của Võ Phiển mã còn cung cắp cho người đọc một khổi thi liệu khá lớn và đáng in cây về một nền văn học ngờ đã bị quên lăng: văn học MiỄn Nam từ năm 1954 đến 1975, Với ý nghĩa như thế, bộ Vấn hge Mién Nam của Võ Phiến, đặc bit tập đầu: "Tổng quan”, đã

cung cấp những tư liệu, nhận định riêng vẻ văn học miễn Nam giúp người nghiên

đã khảo sát

cứu có cái nhìn bao quát hơn về bộ phận văn học này Tác giả Võ Phi

"một số yêu ổ chính trong sinh hoạt văn học miễn Nam như: nhà văn, độc giả và Xxut bản; sau đó, ông lần lượt tình bảy các giải đoạn chính và phân tích những đặc điểm nỗi bật nhất; cuối cùng, đối chiếu sơ lược văn học miễn Nam với văn học

"miễn Bắc và văn học “in chiến” để thấy được tiền trình vận động của mỗi bộ phân

ăn học Từ đó, có cái nha, sự đánh giá về đóng góp và thành tưu mỗi miễn cũng, như sự đa dạng của văn học Việt Nam

Tác giả Thụy Khê tong công

1964-1975” (Pai, tháng 102001, đục li và sửa chữa 0407/2014) mang đến sơ đánh giá khi khối quát, công phu về văn học miễn Nam: tc gi, chữ quốc ngữ,

tình nghiên cứu “Văn học miễn Nam từ

"hoàn cảnh lích sử ác động đến văn học, và đặc biệt là đưa ra những nhận xét đánh giá của mình về văn học miễn Nam từ 1945- 1975 kh tìm hiểu các khuynh hướng, đặc điểm của văn học giả đoạn này “ Đặc diễn chính của nễn văn học miễn Nam từ

1954 dén 1975, là đã thoát khôi văn học thể kỷ XIX, gid te Lang mạn tiền chiến

"Nhu nhà văn tìn cách xây dụng tr trởng trên nền triễt học hiện đại, đưa cơm

"gười về hướng tm hiễu chính mình THÁI học hiện sinh suất hiện dưới nhiễu hình

“hức: phòng trả iu quản, ân chơi, bụi đi, là từng thắp nhất; ở mức cao hơn, nó

Trang 9

.1ậu thuẫn cho tác phải

‘mink [50] Voi con người quay về khảo sắt chính mình, nhận thức chink

viết này, ơng đã cung cấp cho độc giả nhiều thơng tin KI

trọng về văn bọc đồ thị miễn Nam giai đoạn 1954-1975

Tie git Trin Dỗn Nho đã cổ bãi thuyết tình trong buổi hội thảo về "Hai

"mươi năm Văn học miễn Nam 1954-1975

vào ngày 06/12/2014, Trân Dộn Nho đã trình bày về Tính văn lọc trong van hoe

“miễn Nam Ơng đã nêu những tác động ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra đồi của văn học miễn Nam Theo ơng, "Vấn lọc miễn Nam như một cảnh rừng bại ngàn Nĩ đụng chứa hết thảy hình thức văn chương, ừ bình dân đến cao cấp, từ hữu khuynh: đến tả Muạnh, từ cỗ điễn đến hiện đại Nhu trào lưu, khuạnh hướng chẳng đổi

chức tại tịa soạn nhật báo Người Việt

nhau vẫn cùng hiện diện, Tủ hưu nào, khunh hướng nào cĩ độc giả của trào lưu

và khuynh hướng đĩ" [53]

Bài ham luận của nhà văn Bài Vĩnh Phúc trong “Hội thảo hai mươi năm văn học miễn Nam 1954- 197%”, tai California, (06/12/2014) 48 trình bày ph

Ý nghĩa của nên văn học này, Nhà văn khẳng định “ấn lọc miễn Nam, rừ 1954 đến

1975, là một đồng gĩp và một thành tựu của văn học iệt Nam, trong một giai đạn

tính và

thuộc nữa sau thể kỷ XX- Nĩ chỉ tồn tại tong vịng 20 năm, nhưng nĩ đã là một tổn 1i quan trọng và khơng thễ thiểu của giai đoạn này Nĩi một cách thắng thân, nằn văn hoe này nối kết Việt Nam với thể giới, với nhân loại, trong những khía cạnh: Siện hữu người một cách vừa bao quất vừa thâm sâu nhất Nĩ chủa sẻ và phân ảnh thân phận và những tình cảm của con người ở những độ rụng, những bảng mẫu gin

gũi với các nền văn học hiện đại của thể giới, đĩ nhiên với những âm vang và sắc độ

153] Nhà văn đã nhận định

‘van học miễn Nam là một nên văn học đậm tính nhân bản, nhân văn Dây

học khai phĩng, đa sắc và đa dạng,

`Việe tìm hiểu đồi sống văn học miễn Nam 19%4- 1975 trên các phương điện

từ lý luân, phê bình văn học, đến thục tế sáng tác đã được các nhà ngi

bình văn học trước và sau 1975, cả trong Nam ngồi Bắc và người Việt ở hải ngoại

đề cập đến Những cơng trình nghiên cứu hoặc các bài báo về vẫn đề này, với những quy mơ khác nhau, xuất phát từ những "điểm nhìn", quan điểm chính tị,

riêng của đời sống xã hội va tinh than của người V

n cứu, phê

Trang 10

thấm mỹ khác nhau đã đem đến người đọc những cách tiếp cận khác nhau (về văn học đô thị mi

văn học giai đoạn này rất khác nhau Từ đó, nó sẽ hỗ rợ, cung c Nam từ 1954 đến 1975) thì cũng có những nhận xét, đánh giá về cái nhìn toàn

điện hơn khi nghiên cứu về một tắc wi ew the

"Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ vào thập niên 1960-1970 từng nổi lên như

"một rong năm nhà văn nữ hàng đì

phê bình Nguyễn Đình Tuyển cũng nhìn thấy ở văn chương Nguyễn Thị Thụy Vũ những giá tị có ính thời đại: “Truyện của Nguyễn Thị Thụy Vũ thật là táo bạo Đọc xang tmpện, tôi nghĩ đây mới thật là những truyện nh bảy những sự Kiện sống

cia Sai Gòn Trước đó nữa, vào năm 1969, nhà

tực nhất của thời đại chủng ta Thời đại này rồi sẽ đi qua Những cái gì của that

ny néu không ghỉ kịp tì ngày mai sẽ mẮt" [49)

Vào năm 1973, nhà phê inh Uyên Thao từng dành cho Nguyễn Thị Thuy 'Vũ những nhận định có tính gợi mở cho học giới vỀ sau nghiền cứu văn của bà

“Nguyễn Thị Thụy Vũ đã cho thầy tắt cả những người đang sống chỉ thực sự được sống bằng cách chạy trốn Trong khi những kẻ yéu dudi chạy trồn vio ving trời tưởng tượng bỉ thảm của mình thì những kẻ tương đỗi mạnh dạn hơn chạy trén vào trong sự giả đái, che đậy Ngoài hai lớp người ấy là một lớp người chạy trốn thực

se, chay trấn bằng cách nêm mình vào những cuộc phiêu lưu mà mọi tỉnh toán chỉ dùng lại ở một điềm duy nhắt: miễn là tách xa được th giới tà hãm này” |49]

“Tác giả Lam Điền có bài viết “Nhỏ văn Nguyễn Thị Thay Vi sau gân 50 năm dn ge” đăng ngày 19/3/2017 đã giới thiệu những nét khái quất về con người cũng như

phong cách của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vi trong dip tai bin lai mười tác phẩm

Đặc biệt, tác giả Du Từ Lê đã có một bài viết khá bay về “Sự khác biệt về tính

cdục trong truyện Nguyễn Thị Thụy Vũ và các nhà văn nữ khác” (27/10/2010) Ông

cưa ra nhận xét về sự khác biệt cơ bản của Nguyễn Thị Thụy Vũ khi viết về đễ tài tính dục với các cây bút nữ cũng thời Theo ông, trong số các nhà văn nữ ở Sài Gòn, Nguyễn Thị Thụy Vũ là nhà văn tôi trân trong nhất "Ngôi bút của chỉ chứa đong, Tắt cả những gì làm nên mật cấy bút có cá tính Cùng một vẫn đề tình dục, các nhà

văn nữ khác sùng bái khoái cảm, đậy tình dục đến chỗ ca tụng thân xác, Thụy Vĩ

cũng Khát khao thân xác- nhưng là những cơn khát khao ứ uấn, khoái cảm tan

Trang 11

"nhanh trong hoài niệm, hoang đường, giữa bản năng và siêu linh mang một chút cám sắc của trăm năm cô đơn” [S1]

“Tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân đã có bài viết “Nguyễn Thị Thụy Vũ đã trở lại” (17/03/2017) in trên báo Người lao động, tóm tắt một cách sơ lược về để tải, văn phong của Nguyễn Thị Thụy Vũ Theo tác giả, đ

ˆã vẫn được chứng kiến một sự kiện lớn rong cuộc đời mùnh Còn với khân giá tớ

„yêu văn bà, hay chỉ đơn giản là yêu sách, yêu văn chương, cũng thật khó đề không

sóng lòng kh tấy một phần của dh sẵn văn lọc Việt Nam van chim sau hơn 41 năm nay đã trở lại, thật sự tươi mới và rạng rỡ" [48]

Nhìn chung, các ý kiến, bài viết, ti liệu liên quan dến đỀ tải Đặc điềm văn

chỉ đăng lạ ở những nhân xết rất chung, khái quát, chưa đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống nội dung và nghệ thuật tác phẩm của nhà xuối Nguyễn Thị Thụy Vì tắt

văn nữ này, Có chăng là những bài báo trên mạng inlerneL, những bài phông vấn, những ý kiến đánh giá, nhận xét của những người nghiên cứu về văn học miễn Nam,

trước 1975, của Hội Nhà văn Việt Nam khi xuất bản lại 10 tác phẩm của Nguyễn

“Thị Thụy Vũ Các bài viết này chỉ đừng lại ở việc giới thiệu tác giá, tắc phẩm và đưa ra một số nhận xét, ý kiến đánh giá ngắn gọn về vẻ đẹp văn chương của Nguyễn

Thị Thụy Vũ Và các bài viết, các ÿ kiến trên đây vẫn là những gợi mở quý báu giúp

chúng tôi trong quá trình thục biện đ tài Đặc điểm văn xuôi của Nguyễn Thị Thuy

Vũ Vì thể, luận văn là một trong những bước khám phá, tìm tòi của người viết trong việc tìm hiểu những đặc điểm của văn xuôi Nguyễn Thị Thuy Vũ

3 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu

3.1, Déi neomg nghién ci

Trang 12

Với đề tài Đặc điểm văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ, đi tượng nghiên cứu

của luận văn là các tác phẩm truyện ngắn và truyện đài của Nguyễn Thị Thụy Vũ,

trong đô chú ý những đặc điểm về nội dung- cảm quan về n thực cuộc sống và

‘con người trong bối cảnh Sải Gòn- Việt Nam những năm trước 1975 và hình thức thé hig mới mẻ, sáng tạo về nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu

3.2 Pham vi nghién cite

“Các túc phẩm của Nguyễn Thị Thuy Vũ từ năm 1965-1975

“Tập truyện ngẫn

= Meo dém, tap tuyện, nhà xuất bản Kim Anh 1966, Hiện Đại ái bản 1968

~ Lao vào la, tập truyện, nhà xuất bản Kim Anh 1967,

~ Chu mênh mồng, tập truyện, nhà xuất bản Kim Anh 196%

Tiểu thuyết

~ Thú hoang, truyện đài, nhà xuất bản Hồng Đức 1968

~_Ngọn phảo bông, truyện đài, nhà xuất bản Hiện Dại 1968

~ Khung rêu, truyện đài, nhà xuất bản Kê Sĩ 1969 (Giải nhì Văn chương toàn quốc 1970)

= Nhang tin ship Kuga

+ Nu thién đường lạnh

= Chidu xuéng êm đền

= Cho tran gis kink thién

Mười te phim cũa Nguyễn Thị Thụy Vũ được nhà xuất bản Văn học ái bản lại đầy đủ vào tháng 3 năm 2017

4 Phương pháp nghiên cứu

~ Phương pháp cấu trúc- hệ thống: chúng tôi đặt vấn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ như một chính th thống nhất trong diện mạo chung của văn học Nam Bộ trước

1975 ni riêng cũng như văn học Việt Nam hiện đại nói chung Đẳng thời, kh tếp cân từng tác phẩm cụ th, chúng tôi cũng quan tâm đến tính chính thể trong cấu trúc của nô Phương pháp này cũng hỗ ợ đắc lực cho chúng tôi trong việc tiễn khai các Đình diện nghiên cứu của luận văn một cách logie và chặt chẽ

Trang 13

~ Phương pháp so sánh: phương pháp này được sử dụng nỉ

điểm tương đồng và khác biệt giữa văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ vi im muc đích chỉ ra

văn học miễn

Nam trước 1975 nói tiếng cũng như văn học Việt Nam hiện đại nối chung

~ Phương pháp liên ngành: dùng để khảo sát và nghiên cứu đặc thù lịch sử, văn

"hóa, văn học rong các tắc phẩm của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ

còn sử dụng các phương pháp bổ trợ như: Phân tích, tổng hợp, thống kẻ lý thuyết vẻ Thỉ pháp học và Tự sự học

Đóng góp của luận văn

"Ngoài ra, ching

Luận văn đồng góp thêm một tiếng nói trong việc khẳng định gi trì những tác phẩm của Nguyễn Thị Thuy Vũ Những tác phẩm truyền ngẫn và truyện dai đã góp phần làm đa dạng hơn sự phát triển của văn xuôi miễn Nam trước 1975 nói chung

Và văn học nữ hiện đại Việt Nam nồi riêng

Đặc biệt, luận văn góp phần đựng lại bức chân dung nghệ thuật Nguyễn Thị

“Thụy Vũ với những gì mà nhà vẫn suy nghỉ, tải nghiệm và thể nghiệm trên trang iết của mình- cảm quan về cuộc sống và con người, những tìm ti sing tao vé dé

giọng diệu Qua đó, làm nỗi bật lên được phong cách của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ

“Cầu trúc luận văn

Ngoài phần Mỡ đầu và Kết luân, Nội dung luận văn gồm 3 chương:

tii, phương thúc thể hiện: nhân vật, ngôn

“Chương I: Ý thức sâng tạo và quan điển nghệ thuật của Ngyễn Thị Thụy

“Chương 2 Văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ- Cảm quan vé hiện thực cuộc sống và con người

tCHương 3: Văn xuối Nguyễn Thị Thự Vũ Những hình thức thẻ hiện

Trang 14

NỘI DUNG

Chương 1 ANG TAO VA QUAN DIEM NGHỆ THUẬT CUA NGUYEN THE THUY VO

Ý THỨ

1.1 Sáng tạo nghệ thuật

“Những trang văn giầu sự tri nghiệm

Bản chất của nghệ thuật là sư sing tạo và sắng tạo không ngừng Tuy nhiên,

ự sáng tạo nào cũng đều bắt nguồn từ cuộc sống Hiện thực cuộc sống chính là mảnh đắt màu mỡ để mỗi nhà văn khai thác và biểu hiện vào trong tác phẩm của mình

Trong thì đân văn học Việt Nam, phụ nữ cằm bút, có my ai không đa đoạn, trắc ở Dường như cái sự viết, những đa đoạn phận người đã đánh dim ho tong bé

dâu cuộc đời như một lẽ thường của đàn bà làm nghề viết Nguyễn Vũ Thụy Vũ

cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Với Nguyễn Thị Thuy Vũ, khi chọn đi trên son đường với văn chương thì cũng có nghĩa ở một khía cạnh nào đó bà chấp nhân những hy sinh, tiệt thôi Cổ thể là hy sinh một cuộc hôn nhân khi không nhận dược

sr cảm thông của người đồng hành hoặc đôi kh là chấp nhân một cuộc sông ít nhẹ nhàng (ong tâm tưởng), một banh phúc theo nghĩa thông thường như những người phụ nữ làm nghề khác Tuy nhiên, một điều đặc biệt là ngay từ những mắt mát, thiệt thôi dy, những trang văn của họ vẫn chan cÍ yêu thương, thắm xanh hy vọng Din bà vết văn thường đa đoạn, Bởi họ quá nhạy cảm, Mã nhạy cảm thường đi đôi

với những chênh vênh, khó nắm bắt: “Nhạy cảm quả đôi khi thành nghiệt ngã”

Thật khó có th tin mot phy nf sing hoi hot, nhạt nhềo lại có th viết được những, đoạn văn, những câu thơ chạm tối tận đầy sâu trái m bạn đọc Có thể tùy tính cách, tủy hoàn cảnh sống, những người phụ nữ Ấy quan tâm hơn tới điều này diễu kia hoặc đơn giản chỉ là cách biểu hiện bên ngoài Còn trước trang giấy, những người dân bà cằm bắt luôn trung thực với tái tìm của mình Họ viết về những dau đón, mắt mát, những dẫn vặt nhưng chưa bao gi thôi khát khao về một cuộc sống đầy

p tin yêu Bên cạnh những giãy phút bận rộn, vắt vã lo toan như bao người phụ nữ khác, khi ngồi trước trang giấy, họ được sống thật với mình nhất Tác phẩm chính là

Trang 15

cách họ trò chuyện với chính mình, với cuộc sống, là cách họ khoác lên tâm hỗn mình đôi

inh dé phiéu du trong trí tưởng tượng và những đắm say

Nguyễn Thị Thuy Vũ, tên thất là Nguyễn Thị Băng Linh, sinh năm 1937 6 Vinh Long, tong một gia đình khá giả Cha bà là nhà văn Mặc Khải, cô là tỉ sĩ Phương Đài đều hoạt động kháng chiến, Bà viết văn từ năm 1965, Bà chung sống

với nhà thơ Tô Thủy Yên và có đến bốn mặt con Cuộc hôn nhân không êm đề

đến năm 1980, Nguyễn Thị Thụy Vũ chấp nhận một mình nuôi con

¬ a bà là những thăng tẩm Khoảng 1960-1965, bà dạy tiểu học tại Vĩnh Long, ồi không chấp nhận được môi trường sự phạm bỏ hẹp, khăn gói lên Sai Gon hoe Anh ngữ ở Hội Việt Mỹ Tại đây, ngay ừ năm đầu tiên học iếng Anh,

bà được một bạn học giới thiệu đi dạy tiếng Anh cho các cô gi lâm snack bar, những phụ nữ Việt Nam cặp kề bình lính, sĩ quan Mỹ Nhiễu người trong số đó dem tâm sự tỉ tê với ba Cuộc đời và tâm sự của ho gây xúc động, làm thành để tài sáng tác của bà Người đọc nhận thấy trong các truyện của bà Nguyễn thì thoảng có

sô giáo dạy Anh vin xuất hiện, Những đổi thay của cuộc đồi, thời cuộc cùng với thực tổ tần tr, khốc iệ, thắm dim buổn dau về đời sông con người, những cô gái làm ở các snack bạc, dan du với lính Mỹ đã đ vào trang viết của Nguyễn Thị Thuy

rêu, Thú hoang Nguyễn Thị Thụy Vũ trở thành một hiện tượng văn học gây ngạc

nhiên trên văn dân miền Nam Nguyễn Thị Thuy Vũ mạnh dạn phơi bày một phương diễn thực trạng xã hội a vào một thời điểm đá biệt Bà xông vào cơn gió boi, phanh phi những cảnh dời lầm than, công đấy xã hội làm lắm kỳ sững sở,

+ là quê hương Vĩnh Long- nơi bà sinh ra và lớn lên, đã làm

"

Trang 16

mà chan chứa tỉnh người Nguyễn Thị Thụy Vũ phải là người yêu

ấm đượm tình quê như thế

này mới có những trang viết

"Đn với những trang văn của Nguyễn Thị Thụy Vũ, tuy cổ sự pha trộn gila

ự thật và hư cấu nhưng sự thất và tính chân thực được đặc biệt chủ trọng, trong đồ,

tỷ lẽ cái thật tội hơn so với hư cấu, thậm chí là bộ xương để kiến tạo cốt truyện

"Những yếu tố này được bà đưa vào tác phẩm một cách hệ thống, có ý nghĩa trong

túc ph

"Nguyễn Thị Thụy Vũ từ những trả nghiệm, chiêm nghiệm, giọng kế tự thú, nhất là khuynh hướng xoây sâu vào lý giải quá tình hình thành nhân cách nhân vật chính, độc giả cảm nhận được mâu sắc hiện thực õ rệt (Vuz thiên đường lan, Nang tan tiắp tua, Chiều xuống êm dẫn, Khung réu, Thi hoang, Như ngọn pháo bông,

việc hình thành tính cách nhân vật Chúng tôi cho rằng, khi viết c

Cho trận gió kinh thiên ) Nhân vật trong các tác phẩm của bà hiện lên một cách chân thực Những vui buẳn, ghết thương, trăn ở, ốc vọng, sự chua chất, niềm tin, ran vO ue mơ, cô đơn của thân phận con người rong các trang văn cũa bà hiện lên một cách tự nhiễn nhưng cũng rất âm ảnh Đó là những thân phận kiếp người

cùng đáy xã hội Trong truyện ngắn Ứao vảo lửa, các cô gái bar: Tâm (Chiếc giường), Ta- Tina (Lao vào lửa), Hạnh, Bích, Nga (Đêm nồi lửa), Mi-sen (Nẵng

chi vàng), Loan (Mẻo đêm) mỗi người mỗi hoàn cảnh bị sa chân vào cuộc sống của các cô gái làm điểm Họ mênh mông, vô dịnh, bị cuỗn vào vòng xoáy của ánh đền, men rượu, ếng nhạc của quấn bar, những va đập của xác thí, những tr nghiệm giường chiếu của bạn tỉnh Họ tiển miễn trong nỗi dau, cô độc, lo sợ tuổi giả sắp đến nhưng khi được bắt đầu ại từ đầu, họ hoài nghỉ, họ không muốn, không cquen, họ không biết sống như thể nào và phải làm những gi Họ cứ trượt di, rồi

mi giữa dòng đời

cả những hiện thực mà Nguyễn Thị Thụy Vi

đã góp phần tạo nên các tác phẩm văn xuôi ngồn ngôn hiện

mg kiến, chiêm

thực Bà viết như là một hình thức để ải lòng Dù bà để cập tới những vấn đề vĩ

"mô hay nhỏ bế, xa xôi bay gần gui thì vẫn bộc lô sự tính tế, sâu lắng, những góc nhìn ắtiêng về thôi cuộc và con người

1.1.2 Sự đa dạng, mạnh bạo trong đề tài

Trang 17

Đọc các ác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ, chúng la không khỏi ngờ

ngàng, sửng sốt bởi những trang văn \y táo bạo Những gì người ta nghe thấy,

chứng kiến ngoài đời, người ta ngại nói hoặc nhắc đến th bà lại đỀ cập một cách tự nhiên, không hỗ e ni, giấu đểm

“Giai đoạn 1945- 1975, văn xuôi hầu hết để cập đến các để tải tập trung thể

hiện, phản ánh kịp thời nhịp sống cách mạng, kháng chiến của toàn dân tộc Tỉnh thần ngợi ca bao trùm lên toàn bộ đồi sống văn học cách mạng Migu tả cái bị phải

là bí hùng, bỉ trắng, tuyệt nhiên không được phép bí luy Người cần bộ chi sĩ vì

“quằn chúng cách mạng là hai mảng đề tả lớn nhất, hút vào những để tài khác: đ ti chiến tranh, cách mạng, đ tải lịch sử, đỀ tài xây dụng chủ nghĩa xã hội, cải cách mộng đắt, đề tài đầu ranh thống nhất đất nước: Sống mãi với thủ đổ (Nguyễn Huy

Tưởng), Những người thợ mỏ (Võ Huy Tâm), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc),

Dắu chân người lĩnh (Nguyễn Minh Châu), Hôn đất (Anh Đức), Bao biển (Chu

‘Van), Chủ tịch huyện ( Nguyễn Khải) Nhà văn

người tong kháng chiến đã mi n thực sống động, chân thất Con người về đề tai chiến tranh và con trong các mảng đề, chủ đề tiêu thuyết chiến tranh, cách mạng chủ yêu được miễu

tả ở khía cạnh chung, tiêu biểu cho gai cấp, dân tộc Vẻ đẹp lý tưởng của họ được hòa chung với công đồng, thời đai Do đó, văn xuôi giai đoạn này giới hạn đời sống chủ yêu miêu tà ở bnỗi, mang cảm hứng ngơi ca

Trong khi văn xuôi đang khai thác những vấn đề thôi thượng thì Nguyễn Thị

“Thụy Vũ lại chọn cho mình một hướng đi riêng, đi sâu vào để tải thể sự, đồi tư

"Nhìn chung, toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ thể hiện rõ nét, xuyên suốt

È tải: đời sống của bà con nông dân (Thú hoang, Như thiên đường

lạnh, Khung rêu) và đời sống của những cô gái bar (Lao vào lứa, Mèo đêm, Chiều

ở hai máng

‘ménh ming, Ngọn pháo bóng ) Hai đề tài này đặt vào hai không gian cụ thể: Thứ nhất, không gian sinh hoạt nông thôn miễn Nam, tỉnh Vĩnh Long Đó là biểu tượng của một vùng sông nước trù phú, ôn hỏa, miu md, lim nén cho những gia đỉnh

“quyền quý, cầu kỳ hay cuộc sống đồi thường với những nếp sống sinh hoạt thường nhật với tĩnh yêu, tuổi trẻ, đi sống gia định của bà con thôn quê Thứ hai, đồ là không gian của đ thị Sải Gòn, Đồ là không gian của các cô gái bạ tiếp khách trong,

Trang 18

đánh đèn mỡ, men rượu, không gian phòng ngủ, bệnh viện, p 100, x6m lao động, nghèo Dù là ở không gian nghệ thuật nào thì ngồi bút của Nguyễn Thị Thụy Vũ

chỉ tiết để nói lên những vẽ đẹp xưa cũ

đến

từ nhiều tầng lớp khác nhau: là gia đình của một ông Phủ về hưu trong Ñhưng réu,

cũng muốn phản ánh một cách sinh độn/

nay đã bị hoàn cảnh thời cuộc tác động Bà khai thác câu chuyện cia

"người phụ nữ từ khuôn đúc ễ giáo bài bản đ làm vo, lim m trong Nhang tn tp

ua, đảm học tò lớp Đệ tứ A trong Thi hoang hay thậm chí, đó là những cô

i bin bar ly Mỹ ở Sải Gòn trước 1915 trong Lao vào lửa, Mèo đêm, Chẳu mênh:

“mồng Cuộc sống con người trong những hoàn cảnh đó, có lúc, họ muỗn vượi thoát nhưng lại không tìm thấy lỗi thoát, hoặc ho tưởng rằng đã thay đối, đã vượt thoát nhưng thực ti th thấy lạ lõng, bơ vơ, chưa tìm thấy được niềm vui sống Phía sau

sự giản dị của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ đó là tằng tằng lớp lớp số phận kẹt

trong những khúc mắc cuộc đời- bức bối, đa đoan và mái miết kiếm tìm một lối

thoát

'Ở để tài cuộc sống của bà con nông dân, đây là đề tài không mới Trước bà, 1a có thể bắt gặp đỀ ải này ong các tác phẩm của Tự Lực văn đoàn, Nam Cao, Vũ

“Trong Phụng Với Thụy Vũ, dây là đ tải được phân ánh dưới một cái nhìn mới

"mẻ, Đồ là cuộc sống của những người nông dân sống mòn, sống mỗi với những bi kịch tỉnh yêu, hôn nhân, gia định, xói môn đạo đúc bởi hoàn cảnh xã hội mà họ không tìm được ỗi đi Họ khắc khoải chờ đợi một điều gì mới mẻ, thay đổi ốt đẹp

nhưng rốt cục họ bị vây búa, nhắn chìm bởi những quan niệm đạo đúc, tá

sia đình và xa rồng hơn đồ là hoàn cảnh xã hội khi có chiến tranh cứ bảo môn tâm, hồn ho

6 a tai cuộc sống của những cô gấi ba, đây là để tải mà các nhà văn trước

<4 nôi đến hoặc ngại viết đến, Nhưng ở Nguyễn Thị Thuy Va, ta thy ba phn én trực tiếp và dành một vị trí đặc bit kh viết về để ti này, Hầu hết các tuyện ngắn của bà đều phản ánh cuộc đời những cô gái bar Bà miều tà chân thực, thậm chí có lúe thô nhám và trẫn tri Đây là những thân phận người xuất hiện khá nhiễu khi để quốc Mỹ đổ bộ vào miễn Nam Việt Nam Những cô gái bar- thân phận của những,

"nạn nhân thấp cổ bể họng của chiến tranh Hầu hết rong số họ là những cô gải quê

Trang 19

nghèo khổ, không bi chữ, không có cách nuôi thân n o khác ngoài việc sống như

những gái điểm cho người đọc phải nghĩ suy Vì vậy, có thể nhận định đây là nhà văn viết về

Bà Thụy Vũ đã chọn cách đối diện với chiến tranh và hiện thực tang thương của nó bằng một cái nhĩ thấu cảm khin ta có th thôn thức khi chạm tới đây thân phân những con người này Và giữa nỗi đau sầu thắm và sự vô nghĩa của chiến tranh, những ác phẩm của bã sẽ nâng ta ên, đỂ ta có thể nhì thấy ở giữa vực thắm của bông tôi, vẫn còn le ôi hơi ẩm của tỉnh người

1LI-3 Sự khẳng định bản lĩnh cá tính sáng tạo

Nguyễn Thị Thuy Vũ, nhà văn phái nữ, hiện diện giữa khung trời văn nghệ

với lỗi đi, tạo riêng mình một thể đứng, một cương vị trong nền văn học Việt Nam

hiện đại Mỗi truyện của Thụy Vũ không nằm trong khuôn nếp thông thường của

"một nữ nhỉ, nó đã bay ra ngoài quỹ đao dự tưởng Các sắng tác của bà không đi theo những chủ để thời thượng lúc bẪy giờ mà rẽ sang một lỗi riêng mà nhiễu người ngai nối đến hay nhắc đến (iết về những thân phân cùng đấy xã hội, những cô gấi điểm ) Nguyễn Thị Thuy Vũ mổ đầu văn nghiệp bằng những truyện ngắn đăng rãi Tác trong các tạp chí văn nghệ

gấi thuộc giới snack bar thành phổ Và trong các truyện đài của mình, bà đi sầu vào

số phân những con người bình thường nhưng có một đồi sống nỗi tâm không hÈ bằng phẳng Với cá tính bản linh của mình, nhà văn muốn những điều mình viẾt ra,

nó phải được chứng minh qua sự thật” (Lời nói đầu- Hội Nhà văn) Các tác phim của bà đã cắt lên tiếng nói thắm,

tác động Đó là thân phân cô độc, bơ vơ trong một không gian bế tắc Sự cô độc như

"một thứ định mệnh mã con người dẫu có cổ gắng vùng vẫy đến đầu cũng không thé thoát ra, Từ gi định một ông Phủ về hưu hết thời rong Khung rêu, ba cô nữ sinh tại

ía về thân phân con người do hoàn cánh xã hội trường công lập tỉnh lẻ trong Thii hoang, xóm lao động nghèo trong Cño (rận gió

Trang 20

Xinh điền, cô đào hết bội tài sắc Năm Thang bo di tw trước biển cổ cuộc đời rờng

ng tần đến giới bản phần buôn hương, các me Mỹ và chuyện phá thi, những

giấc mơ bị cưỡng hiếp, những người đần bã bán trôn nuôi miệng luôn âm ảnh nỗi sợ

ền, đối nghẻo sẽ

"hãi một ngày nào đồ mông teo ngực nhão không còn kiếm ra

bệnh hoạn sẽ cướp đi cuộc sống Hong Lao vo lớa, Chiểu mônh móng, Ngọn háo bóng "Tất cả họ, dil i, thuộc tẳng lớp nào, kợtở đâu trong khúc mắc cuộc đời, đêu hiện lên trên trang viết của Thuy Vũ sống động, tươi mới Bà không phim bình họ ding thương hay đáng tách, chỉ lắng lãng về hi chân dung từng người, gom góp lạ thành chân dung của một “nhôm người” trong suốt những năm vừa viết văn, vừa đi dạy tiếng Anh cho các cô gái saok bar để kim sống Không ngơi ca phụ nữ, cũng chẳng tô hồng họ, không nói về nữ quyền mà giọng văn Thụy Vũ vẫn

cứ trản diy nữ tính, đầy sự thấu cảm và sẽ chia Những nhân vật của Thụy Vũ, dù

no thi hi hit du mang rong lòng một cơn bảo, chục chữ xổ khỏi

sẽ bộc lộ thành hành động với mức độ khác nhau ty điền

thuộc đề

"không khi ngột ngạt,

kiện và sự gan góc” [48] Chúng ta hãy nghe lời bộc bạch tâm sự của bà trong lời

lừ hồi còn nhỏ tôi đã phải chịu đựng một ám ảnh thường xuyên

tựa Khung rêu: "

sự suy sụp bỆ rạc của một gia

sat suy sụp bệ rạc này thì sỉ cũng biết chiến tranh ) Tôi không hề có ý định làm, công việc của nhà xã hội học hay của nhà đạo đức học ( ) Tôi cũng không có ý định phân ích các nguyên nhân, và nhất là phê phán một sỉ hay một điều gi Cho

thỉnh mãn ở miền Nam Nguyên nhân chánh của

riêng tôi, ôi chỉ muốn dựng lại cái thể giới khốn đồn đã bao trùm tôi cho đến ngày

nay Tôi chỉ muỗn mô tả một hiện trợng xã hội boàn toàn thân thuộc mã tôi, Tiểu thuyết là tưởng tương, ai cũng biết vậy, nhưng có tưởng tượng nào không bắt nguồn

từ một phần sự thật” (Lời tác giả trong Khung réu) Thụy Vũ có thái độ sống rạch

Tồi và bình thản Như cách bà viết Viết vi ein phái tế, vì đó là sinh kế, chân chính

và nhọc nhẫn “Tôi từng là địa chủ mà Tải không ng hộ người nông dân nhưng tôi cũng không phê phán họ Tôi chỉ viết những gì mình cần phải viết, những gì mà ôi biết là sẽ cuốn độc giả của mình đến trang sách cuối cùng” [47, tr 1] Trong thời cuộc nhá nhem, không phải cây bút nào cũng giữ được sự bản lĩnh như Thụy Vũ!

Trang 21

Cuộc sống đê thứ thâch Nguyễn Thị Thụy Vũ nhiễu vă bă đón nhận bằng,

một sự can đảm dung đị đặc biệt Nguyễn Thị Thụy Vũ đê trải hồn mình trín trang giấy vă về văo đó những nĩt mạnh bạo, đối khi pha phing để bắt người đọc phải cùng chung vui buồn với mình trong một khoảng thời gian ngắn, dăi năo đó (Mỉo

đím, Chiều mính mông, Cho trận gió kinh thiín ) Dù lă viết truyện ngắn hay

truyện đăi, mỗi tâc phẩm đều hăm chứa sự cuỗng nhiệt của tuổi trẻ rong vẫn đề tỉnh yíu, cũng như nỗi đau về thđn phđn Bởi vậy, đọc câc tắc phẩm của bă ta thấy có

"một số yíu tổ hiện sinh Đó lă một trong những tất lý nhđn bản trong câc tâc phẩm, của bă

“Có thể nhận thấy rằng, văn xui của bă Thụy Vũ tiếp xúc với câi đời thường, xóa mờ khoảng câch sử thí, mỡ rộng biín độ phản ânh hiện thực Văn xuôi cũa bă

“Thụy Vũ âp sảtđời ống, ếp cận với câi hiện tại chưa boăn kế, đẫy rẫy những biển

đông, những bắt ngờ, vấn dĩ dao đức xê hội được quan tđm Văn xuôi Nguyễn Thị

Thuy Vũ chăm chú văo bản ngê, những câ nhđn lạc hệ thống (câc cô gi những người trí thức sống mơ hỗ về lý tưởng, một số người sống không có ngăy mai, những tỉnh yíu di bín nhau nhưng chắn ngắn, vô vi ), con người được soÏ chiếu từ nhiễu góc độ (Ồuung rẻu, Cho mrận gi lính thiín) Nhđn vật trong vin xui của bă Nguyễn khẳng định mình bằng câch quêng mình văo tỉnh yíu, khoâi lac, họ bănh động, khóc cười để được lă mình Văn xuôi của bă có lúc chạm đến những chủ để thđn phận với những môtip biểu hiện khing hoăng hiện sinh: cô đơn bản thể, lo đu, nỗ loạn, câi chết (Lòng trấn, Trôi sông, Khung ríu, Cho trận giỏ

kinh thiín ) Với Nguyễn Thị Thụy Vũ, câc tâc phẩm lă tiếng nói của thđn phận

`Viếtlă để hiện tổn, để khẳng định nhđn vị

1.2 Quan niệm về nghệ thuật

1.2.1 Quan niệm về hiện thực trong văn chương

`Văn học phđn ânh hiện thực cuộc sống vă con người Với Nguyễn Thị Thuy

Vũ, hiện thự trong câc tâc phẩm lă qu nhă Vĩnh Long vă đô thị Sải Gòn, Quí nhă cung cấp cho bă những cđu chuyện về gia đình, nh yíu, vợ chẳng (AViư điềm

“đường lạnh, Nhang tđn tiắp kh, CHẦu xuống ím đím, Khung ríu), VỀ trường lớp, bạn bề (Phí hoang) Sải Gòn mang đến cho bă những cđu chuyện về cuộc đời

Trang 22

các cô gái bán phần buôn hương, những dan díu Việt- MỊ ¡, những người cũng đây trong xã hội (Như ngọn pháo bông, Cho trận giỏ kinh thiên, Mèo dém, Lao vào

lúa, Chằu mênh mồng) Hiện thực rong các tác phẩm này là hiện thực ám ảnh

"Những vẫn đề người ta ngại nói, cổ tránh, làm ngơ đĩ tì đều được bà gợi mỡ, phơÏ bây một cách tự nhiên

“Có thể ni, từ một cô giáo tính lẻ, lên Sải Gòn, nhờ dạy kèm tiếng Anh cho giới bán bar, giới làm sở Mỹ nên Nguyễn Thị Thụy Vũ có cơ hôi giao tiếp, tìm hiểu mặt tri của cuộc sống để làm chất liệu cho ngòi bút Hiện thực cuộc sống, con

"người không còn được nhìn ở bề mặt, bề nỗi mà được nhìn ở phần đời tư su kín, khuất lấp với những nghĩ suy, cô đơn, biến động dữ dội, mẫu thuẫn Do đó, hiện thực rong các ác phẩm của bà hiện lên một cách trn tụi, chân thực

Sự đổi mới quan niệm vẻ hiện thực của Nguyễn Thị Thụy Vũ gắn với nhu

cầu được “nói thật” Ở đó, hiện thực được nhìn nhận, phản ánh không giản đơn,

xui chiễu mà được phân ích, mổ xế ở một chiều sâu mới Đó không phải là hiện thực “đăng sẵn, đôn chờ” như trước, mà là hi

biết ao điều phức tạp, đồi hoi nhà văn phải "suy ngẫm”, “nghiền ngẫm”, phải đi sâu khám phác thứ hiện thực “chưa hoàn kế "theo quan niệm của M.Bakhn Từ

“phan ánh hiệ thực” đến “nghiỄn ngẫm hiện thực” là một sự chuyển đổi đáng kể

thực da dạng, nhiễu chiéu, an chứa

của văn xuôi Nguyễn Thị Thuy Vũ, Ở đó, vai trỏ chủ thể của nhà văn được để cao Người cằm bút có thể thoát khôi sự rùng buộc của "chủ nghĩa để tài ` chủ động lựa

‘chon hign thực, suy ngẫm vả lí giải, khám phá một cách năng động hiện thực

“Chính sự đổi mới quan niệm về hiện thục đã mở rộng biên độ, dem lại cho văn xuôi của Nguyễn Thị Thuy Vũ nhiều nội dung phong phú, mới mẻ Hiện thục đời sống không chỉ thu gọn trong những biễn cổ lịch sử và đời sống cộng đồng mà

thường nhật với bao mỗi quan hệ ching chit, chim ân trong những mỗi quan hệ xã hội, công đồng và cá nhân Hiện thực trong

ăn xuôi của bà Thuy Vũ thô nhám, trần tri, Và bởi thể, cái nhìn thể sự, đồi tư thục

sự giữ vai trồ cốt yêu trong cảm quan nghệ thuật của nhà văn Ví như trước đây, chiến tranh được nhìn nhận và phản ánh chủ yếu qua những chiến công hiễn hách,

thì giữ đây, với Khung rêu, bà Nguyễn nhìn chiến tranh,

tông hơn, sâu hơn, "đời" hơn là

“của dân tộc, của con ngưự

Trang 23

từ phần khi

chiến tranh bằng những “nghịch I

của tư duy văn học một thời Nhờ thể đã đem lại cho người đọc một

chim, suy ngẫm về chiến tranh tử số phận của con người và phần ánh

Mỹ hành hạ thể xác, lính Mỹ biểu tỉnh chống “Stigdn-tea” ti vai duimg phd Sai (Gòn để phân đối chủ các bar chém quá nặng, gái bản bar lường gạ linh Mỹ, đi phá

thai, bị bệnh hoa liễu, gái mới nhập môn học các ngón nghề của bậc đản chị trong

"nghệ thuật bán bar, và đôi Khi đi khách như một gấi hạng

Cño trận giỏ kh thiên, Thú hoang, Lao vào lửa, Mẻo dém ) Chính ở những

tiền (Khung rêu,

“Vũng thẳm mĩ" mới mẻ này văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã kết tỉnh những, tác phẩm được độc giả khẳng định Tuy có những đánh giá khen chế khác nhau, nhưng tho thời gian, tính dân chủ tong văn học đã trả lời đầy đủ nhất cho những tức phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ

1.22 Quan niệm về nhà văn, nghề vẫn

'Văn chương đến với bà Nguyễn Thị Thụy Vũ như một nhân duyên Cuộc đời với những thăng rằm, hiện thực phơi bầy trước mắt bà như ám ảnh thổi thúc con

người văn chương trong bà không thể ngủ yên Dẫu bi

ï hỏi phải iế, nhưng có thể duyên nợ với đồi khiến bà không thể nhắm mắt tằng, có thể cuộc sống mưu

âu ti cỏ một cao vọng viết một tập tùy bút lẫn tuyên ngắn Ở ngoài đời tôi thất

ai, cô đơn Chắc hn vẫn chương không cm những giắc mơ lẫn ảo tưởng của tối

thao túng, vẽ với" [45, tr28]

Trang 24

Bà Nguyễn không hễ tuyên ngôn hay lên iếng về nghề nghiệp, sứ mệnh văn

chương của mình, nhưng đọc các tác phẩm, thì đó là cách gián tiếp để ta hiểu được

-ạuan niệm nghiêm túc của bà với nghỄ, với văn học nghệ thuật

"Nguyễn Thị Thụy Vũ từng nói rằng truyện của bả có 70% là câu chuyện thật

"Như vậy, trải nghiệm của bà trong cuộc đời thật phong phú Và khả năng tự ý thức

của bà cũng thật rõ rằng: “Đời sống thực t với những kinh nghiệm nễm ti đã làm cho độc giả quên đi một phần nào bút pháp rất một giọng miễn Nam đây gai góc của lõi" Nguyễn Thị Thuy Vũ vẫn là một “người gỉ chép" trung thành về cuộc sống mà bà đãtham dự với tự cách người cằm bút "Quan sát tận tường, miễu tả táo bạo, phơi mỡ nhiễu cảnh huống, dời theo nhiễu số phận, chạm khắc những tâm trạng tuyện dài và truyện ngắn của Nguyễn Thị Thụy Vũ nổi với chúng ta qua từng mảnh đời của mỗi người Việt Nam bình thường nhất cũng đều phân chiếu li

“một phần nào đó cũa lịch sử và chiến tranh Bóng đãng hời cuộc phả rên ng quế, những phân người, những cuộc tỉnh, luỗn siu vào đồ thị, phát tác nơï lớp người ít học, cùng khổ” (Lời nói đằu- Hội Nhà văn)

Đọc kỹ các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ, chúng tôi nhận thấy rằng bà

là một nhà văn tả chân, Nhà văn tả chân phải là người từng trải cuộc đồi, chú mục phơi bảy những cảnh đời bình dị, những con người bình thường Tác phẩm cña bà phô diễn tính tình và hành động của các hạng người thật sinh động, thanh thoát, tự

nhiên Trong tác phẩm của bả, con người không còn là những chính nhân quân tứ nữa mà là những con người nhỏ bé mang diy những khát khao bản vita ti Bí

vữa xu, mắt ính giáo huẳn

(Qua sy cảm nhận và trải nghiệm của mình, các trang văn xuôi của Nguyễn

“Thị Thuy Vũ viết theo khuynh hướng tả chân giúp người đọc tỏ tường các mặt thục cia dai, chiều sâu của đời sống xã hội, sự phằn tạp trong hoạt động tính thần, tâm - tinh lý của các hạng người đồi Không thể kết án nhà văn tả chân khí họ miều tả những thôi xấu của xã hội, những cái để tiện của người đồi và gọi chúng bằng tên

thật của nó Nguyễn Thị Thụy Vũ đũng cảm đối diện với sự thật, di nó tàn nhẫn,

khắc nghiệt, trái với sự mong đợi của mình Nguyễn Thị Thụy Vũ khi viết không

đổi trắng ra đen, không che diy hay huyén hoặc lừa mình, dối người, cũng không

20

Trang 25

„ nhưng tỉnh thần hiện sinh đã trả về đúng giá trị của nó,

Đổi với Thuy Vũ, văn chương cũng là một nghề để kiểm sống Cuộc sống thường nhật đã thôi thúc bà viết Tuy nhiên, bà luôn ý thức đồ là một nghề nghiêm, túc Mỗi tác phẩm của bà là những thốn thức, trăn rổ rất đồi, ắt thực, rất văn chương (Khung rêu, Lao vào lửa, Mèo đên, , Bà lắng nghề những tâm sự của các

sô gái diễm, mỗi người mỗi cảnh Bà chứng kiến những sự thật phũ phng trong cuộc đồi họ khi dan dịu với khách, với bình lính Mỹ Bà rải lông và thấu hiễu với những thân phân cùng đầy xã hội, những cuộc đồi con người ở nơi tỉnh lẻ ĐŠ rồi tắt cả hiện lên trên trang,

giỏ linh điển

Giá tr lớn nhất của văn chương là di tìm bản chất Cuộc sống không hoàn

với đầy đủ màu sắc (Kiưng rêu, Thú hoang, Cho trận

`Văn xuôi, đặc biệt tiêu thuyết là thể loại bùng nỗ của văn học đô thị miễn

"Nam, lạo thành một hiện tượng văn học trong thời kỳ này Văn học đồ thị miễn [Nam 1954- 1975 đã tập hợp được một đội ngữ tác giả tiêu thuyết hùng bậu với số lượng tác phẩm đ sô, với nhiễu khuynh hướng sáng tác khác nhan, đặc biệt là văn học nữ Lần đầu tiên, người ta thấy số lượng tác phẩm phong phú và đa dạng như thể, Đọc các tác phẩm, người ta thấy sự thay đổi, phá cách trong văn chương của sắc nhà văn nữ được chủ ý nhiễu hơn so với nam văn đó là những

Trang 26

Nam thực sự mới mẻ về giọng điều, ngôn từ; đặc biệt là việc khai thác và thể hiện các yếu tổ tỉnh dục, bản năng, lỗ sống hiện sinh Đó là những tên ổi: Tùng Long, Nguyễn Thị Vinh, Ái Lan, Linh Bảo, Vân Trang, Nhã Ca, Lệ Hằng, Nguyễn

“Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị NgH Văn học nữ đã góp thêm một thanh âm để làm nên sự đa dạng, phong phú của một bản nhạc văn chương Việt 'Nam hiện dại Văn học nữ Nam bộ trước 1975 có những diện mạo riêng Văn học

nữ trở thành một điểm nhấn kỳ lạ, như chính sự phát triển lạ kỳ của văn học Việt Nam đương đại Với ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, sắng tắc văn học miễn Nam nói chung và văn học nữ nói iêng có sự chuyển mình lớn: sự cảm nhận sâu sắc và đau đón về thân phân bỉ đất của con người rong th giới đầy phí lý Thấp thoáng rong các tác phẩm, chúng ta bắt gặp dầu ấn chủ nghĩ hiện sinh ám ảnh từ nhan đề cho đến nội dung tác phẩm Ngay nhan đề cũng thấy sự hư vô, buỗn thảm trong cuộc sống con người: Đồng đổ, Mới lồn vũ nghĩa trang, Chất không nhắm

mắt, Lửa mù, Sau cơn mộng dữ, Xâu chuỗi bọt nước, Thầm lục địa, Tiếng khóc vào

đi của Nguyễn Vũ; Bóng ôi tht con gai, C6 Hippy lac loti, Sng mt ng của Nhà Cá; Khung rêu, Lao vio lta, Cho trận giỏ kinh thiên, Nhang tàn tiếp Muya, Thú hoang của Thuy Vũ; Biển đêm, Mối thừ rực rỡ, Tôi nhìn tôi rên vách của Túy Hồng; Bóng tối cuỗi cùng, Bun như đồi người, Vực nước mắT, Một ngày rÀI thi, Năm thẳng đầu hu, Ngày qua bóng tối, Cho những mia xudn phat Tình yêu địa ngục, Dưới vực sâu này của Nguyễn Thị Hoàng, vv, Đời sống

luôn được migu ả như thảm kịch, là hư vô, phi lý Con người bể bông, kiếp người

mong manh, chới với trong ngập tràn đau khổ, cõ đơn, chia lìa Những cái chết xuất

hiên rắt nhiều trong văn xuôi miền Nam trước 1975 Trong sự vô nghĩa, chắn chường của cuộc đời, các nhân vật của văn xuôi đã vũng vẫy, nỗi loạn để chống tr, cho đủ đồ là sự vùng vẫy, chống trả trong tuyệt vong Họ muốn chống li sự phí lý, muốn tìm ý nghĩa dích thực của cuộc dồi, để dừng sống buồn nôn, dùng bị cuỗn theo cái vũng "cát lẦy” kính khủng của cuộc đời Thể nhưng họ lạ rơi vào bỉ kịch của tuyệt vọng Văn xuôi viết nhiều về sự vô định, mong manh, hư vô của kiếp

người, vỀ cái chết, nỗi buồn đau tu nặng, sự xa lạ của thế nhân, sự đỗ vỡ cũa niềm tin va mo ước,

Trang 27

“Trong dòng chảy của văn học nữ, Nguyễn Thị Thuy Vũ là một trong số các

tranh, trước 1975 Nguyễn Thị Thụy Vũ

ất của miền Nam trước 1975 Các

nhà văn trưởng thành trong giai đoạn chỉ

trớ thành một trong năm nhà văn nữ nổi ti 1g ah

tác phẩm của bà không chỉ táo bạo trong để tải, cách xây đựng nhân vật, mà còn

trong việc cách tân ngôn ngữ Nguyễn Thị Thụy Vũ mỡ ra một cánh cửa để nhìn

ào thể giới nội tâm tuy đơn giản bên ngoài nhưng lại vô cùng phúc tp, nh tế bên trong của nữ giới, nhất à nữ giới rong thời hiện đại Các vẫn đề được bà khai thác

là những trần trụ của cuộc đời kh Mỹ vào đô hộ Sải Gòn, lim thay dBi cuộc sống con người Con người đời tư được bà khai thắc tiệt để Cúc ác phẩm của bà không,

hồ hảo, kêu gọi mà là sự gợi mỡ, phơi bày về những thân phân con người Đó là các

sô gái buôn hương bán phần, những người cùng đáy trong xóm lao động nghèo, cuộc sống sinh hoạt của các nhân vật trong gia đình nhiễu biển cố có iên quan đến thôi cuộc và những khúc quanh của lịch sử Mỗi tác phẩm là mỗi mảng mẫu sắc nhân ánh hiện thực của Thuy Vũ, “à tả chân câu chuyện của các nhân vat dén tir nhiễu tằng lớp thay vi quin quanh với chuyên tỉnh ái lãm ly như đa phần các cây bất nữ cùng thời khác” [51] Đó là thứ văn chương hiện thực xã hội pha trộn một chút bóng đáng văn chương nỗi loạn của chủ nghĩa hiện sinh Nguyễn Thị Thụy Vũ

là môt trong những nhà văn nữ tiên phong tự tìm cho các tác phẩm một phong cách Tiếng, để sau đồ là sự tiếp nổi của nhiều nữ nhà văn thuộc nhiều th hệ, bắt đầu bằng những cách tấn trong thơ, rồi xen gải giữa truyện ngẫn và iễu thuyế, nhất là với

Tiểu kết: Như vậy, có thể nhận thấy nhà văn Nguyễn Thi Thuy Vũ đã có ý

thức sáng tạo và quan niệm nghệ thuật mới mẻ khi sáng tác các tác phẩm của mình

văn học nữ dẫn định hình diện mạo từ

"Nguyễn Thị Thụy Vii d chon cho mình một hướng đĩ riêng, di su vào đề ti thế

sự, đời tự Trên cơ sở lựa chọn hai mảng đề tài: đồi sống của bà con nông dân và dồi sống những cô gái bar, nhà văn đã phơi bày những hiện thực ám ảnh nhưng đầy nhân văn về thân phân con người Những tang văn xuôi của Nguyễn Thị Thuy Vũ đđã khẳng định một bản lĩnh cá tính sáng tao cũng như một quan niệm nghệ thuật nghiêm túc ong dòng chung của văn học nữ Nam Bộ trước 1975

2B

Trang 28

Chương2 VAN XUOI NGUYEN THE THUY Vi - CAM QUAN VE HIỆN

CUỘC SÔNG VÀ CON NGƯỜI

thực cuộc sống

31 Cảm quan về

3.1.1 Cuộc sống đời thường

“Trong các trang văn xuối của Nguyễn Thị Thụy Vũ, cuộc sng đời thường hiện lên với những nét thường nhật Cuộc sống đời thường được bà biểu hiện trong tác phẩm với những nhu cầu vật chất và tỉnh thẳn của con người Đó là cuộc sống thường nhật với cơm, áo, gạo, iễn, ăn, mặc, hit thờ, yêu đương, mơ c, khất vọng, do Nơi đó, đời thường được miêu tắt gần, rất thật và cũng đầy nhức nhối

“Cuộc sống đời thường được tá giá ấy bổi cảnh sinh hoạt nông thôn miễn Nam, cụ thể là tỉnh Vĩnh Lons- nơi ác giả sinh ra, nơi cất giấu những kỉ niệm dep

về tuổi trẻ, tình yêu, ta bắt gặp những câu chuyện gia đình, tỉnh đời trong sự thay

dỗi của thời cuộc Ở đây, ta không chỉ bắt gặp những biến động dữ đội bên ngoài thời cuộc mà còn là sự giảng xẻ, hỗn tạp, đa chiễu từ nội âm bên trong của những, mẫu nhân vật Thời cuộc hỗn loạn mả cuộc sống của con người cũng hoang mang,

đảo lộn

Một điều dễ nhận thấy là cuộc sống đồi thường của bà con nông dân thay đổi

do yếu tổ chính tị, xã hội, văn hỏa thay đổi Như chúng ta đã thấy, Nam Bộ là mảnh đất dễ sống, Hơn nữa, con người nơi đây luôn là những người tiên phong

ong việc tiếp nhận những cái mới Khi để quố, Mỹ đỗ bộ vào miền Nam Việt

"Nam thì đã tạo nên một sự thay đổi lớn trong đời sống của con người nơi đây Bến

sanh một Nam Bộ với văn hóa tuyển thông ngay thẳng, phông khoáng, yêu ghết

rach rồi, nhân hậu, thủy chung, nhân- lễ- nghĩa- trí- tín thì còn có một văn hóa tiếp

nhận của phương Tây Sự va chạm văn hóa này đãlàm cho cuộc sống đi thường sửa những con người Nam Bộ cỏ những xáo tồn, thay đổi Cuộc sông đời thường được bà phản ánh da dạng, nhiều màu sắc Dù họ là, thuộc ng lớp no đi chăng nữa thì cuộc sống cũa họ không bình thường, phẳng lặng mà luôn luôn chất chứn những bộn bể, luôn có sự đầu ranh giữa vệ gìn gi và phá bồ, giữa lưu giữ và tiếp nhận Cải nhìn của Nguyễn Thị Thụy Vũ với cuộc sống đời thường thật phong phí

3”

Trang 29

Bà phản ánh những con người cụ thể, trong môi trường, hoàn cảnh cụ t

nhưng khi đọc các tác phẩm ta thấy bả có khả năng khái quát thật sâu sắc Đó l

ông thức, những ông phủ, cô gái mới lớn, những người phụ nữ gia đình,

giáo, anh

những cô cậu học trò Đản ông thì thích một cuộc sống nhiều màu sắc nhưng lại bị

chỉ phối bởi công việc, trách nhiệm làm con, làm chồng, làm cha Phụ nữ th ý thức

học nữ công gia chánh, lễ nghĩa để đối nhân xử thế mong yên ổn gia thất, êm ấm, bên chẳng nhưng lại đề rơi vào cảm giác đơn diệu, cuộc sống tẻ nhạt và khát khao được tự do, sống lăng mạn, sung sướng Những cô cậu thanh niên thì mộng tưởng tương ai, đấm say với tỉnh yêu đầu đời nhưng lại luẫn quẫn trong gia đình, tương, lại nghề nghiệp mịt mù Cuộc sống làm họ ngột nga Tắt cả đều muốn thay dồi, nhưng chẳng biết bất đầu thay đổi từ đầu và lâm như thể nào, Dưỡng như họ mơ hỗ,

"hoài nghị, khắc khoải Họ tự bằng lông chấp nhận, sống một cuộc đời nhàn nhạt vì

.ủ ê Đôi khi, họ có phá phách, nỗi loạn nhưng rồi lại lặng lẽ trở về với nếp sống cũ

"Những tác phẩm ở mảng này xoay quanh những tỉnh yêu, cuộc hôn nhẫn éo le, gây

đổ do rằng buộc nghiêm ngặt của quan niệm cũ kỹ và những thay dỗi bên ngoài của thi cube Các nhân vật với những cá tính, quấn riế lấy nhau, hình hạ lẫn nhau, trong một mỗi trường sắp vỡ nát và mỗi thân phân cuối cùng đều tan rã như bọt bảo tỏi nỗi tong đại đương cuộc đồi hay khuất chìm vĩnh viễn vào lòng đất Các câu chuyên ấy có lúc lạng lẽ, lăng mạn, có lúc gay cắn, đau đón, quần quai, nhiễu màu sắc hí, nộ, ái, nhưng ắt cả đều thấy được những khát khao về hạnh phúc lứa

đôi, hạnh phúc gia đình, sống một cuộc đời tốt đẹp

“Trước hết, ở Không gian quê nhà, Nguyễn Thị Thụy Vũ quan tâm đến cuộc sống đồi thường của những thành viên rong gia đình

“Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mỗi

«quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và quan hệ giáo dục Do đó, nhà văn dĩ sâu vào phản ánh cuộc sống gia đình cũng là cách gián tếp đễ phân ánh xã hội

Trong gia dinh, su va cham về văn hỏa như vùng miỄn, phong tục, tập quân, địa vị, ích cách, quan điểm, lý tưởng của các hành viên luôn xây ra hằng ngày Dưỡng như cách nghĩ, nếp sống truyền thông gia đình đang phải tiếp nhận và thích

35

Trang 30

lất chứa những băn khoăn giữa

giữa truyễn thông và hiện đại, giữa ìn giữ và phá vỡ, giãn hiện thực và lý lưỡng

Họ muốn nương tựa vào một chỗ dựa cả về tinh thần và vật chất để sống qua những thắng ngày chỉ tranh nhưng cảm giác hoang mang, lạc loài luôn thường trực trong

"mỗi con người Họ bơ vơ trong chính gia đình của mình, họ lạc lông ngay trong tỉnh yêu của họ, họtha hương ngay trên chính quê hương của mình

“Trước hết, Nguyễn Thị Thuy Vũ phơi bảy hiện thực cuộc sống gia đình với những thành viên sống bên nhau nhưng thiếu vắng sự gần gũi, chỉa sẻ; mỗi người lao vào một ốc đảo để thỏa mãn mộng tưởng của mình trong một xã hội loạn lạc .Cụ thể, đó là những người đần ông rong gia định Người đản ông trong đổi sống gia định cổ vai uỏ của người làm chủ, túc lã điều khiển Trước hắt họ làm chủ trong gia đình, kế đồ làm chủ ngoài xã bội Bản tính thiết yếu là chỉ huy, điều khiển, snên tâm lý người đàn ông luôn thé hiện sức mạnh, sống lý tí Thể nhưng, những người đàn ông trong cuộc sống đời thường của Nguyễn Thi Thụy Vũ dường như mắt phương hướng, không tìm thấy lỗi thoát cho cuộc đời mình Cuộc đời họ thụ đồng, các dự định chỉ bỏ ngõ, tức mơ cứ mờ nhạt dần, họ tự chôn chân trong mái nhà của mình

Tưởng: một thầy giáo trong Thiên đường lạnh, "y

kiến, chẳng về nhà kèo nài chà mẹ đi cưới Khương” J43, r0], Năm đầu, họ rất êu Khương nga từ buổi sơ mục hạnh phúc Nhưng rồi theo đã lôi cuốn của lũ bạn, Tưởng bắt đầu đi ngang về tắt, Lúc đầu Khương côn cần nhần, khuyên đứt Sau đó, thấy Tưởng miệng uy hứa

"hẹn trăm điều, nhưng cái nết đánh chết Không chữa, năng bên thay đối thái độ, day nghiền chồng mỗi khi chàng đi chơi về khuya “Chàng sống lông bông, thả rễ rễ những giắc mộng nóng hổi tho ngày tháng, dòng đời Chẳng nhớ rõ từng ngày gid của nhà người quen, chòm xóm, ban bè Chẳng ưa nhập theo đám thơ cất tóc, đồn

ca, bất xướng rồi cao hứng ngoại tinh” [43, 22), Đổi với bản thân, Tưởng cảm, thấy công việc gỡ đầu trẻ thật nhàm chấn, nhưng với gia định "dòng họ mình chỉ có chủ là ăn học, chữ n

những biển chuyển quan trọng, bô ại một cách tản nhẫn những người ra đồi với mới la Chẳng mang máng nhận thức là nhịp sống sẽ tải qua

16

Trang 31

bũng và cuộc đời hoạt động ngoài mái nhà Cái thói quen đồ dìm chẳng lần xuống

một cơn chiêm bao vô vị, nhưng chàng cảm thấy bạc nhược không muốn tỉnh diy chút nào” [43, 6l]

phiêu lưu ái tinh cùng Hương quản Mão Tưởng mê cô Bảy Chợ Lách, với Tưởng để lê lạc với cuộc sống, Tưởng bắt đầu vào những cuộc

“nêu không ăn vụng chắc moa sắng không nỗi” 43, r8]

Hương quan Mio tinh tinh rẻ trung, hoạt động, yêu đi Làm việc sanh lợi

"hoặc chơi bởi du hí, ông đều thành thạo Đồ là bai môi trường dẫu khác biệt nhau

xa, nhưng chỗ nào, ông cũng lao vào thao túng một cách dễ dàng Lúc nào, ông cũng vui vẻ, giao thiệp buôn bán một cách anh lạ, duyên dáng, hầu như không có thì giờ để một mỗi, bãng khuảng, Ấy vậy ma "suỗt cuộc đời, Hương quản Mão đã sống hết mình, chơi hết mình mà sao ông ta vẫn than rằng thiểu thôn? Rồi đó, ông

chấn ch là đá đít

ta cứ chay đuổi, hết người đần bà này tới người đàn bà khác để

tt ca” [43,163]

“Cả Tưởng và Hương quản Mão đễu cảm thấy thiểu thốn “Tâm hồn chàng

"hụt hông, cần phải có một lý tưởng gì đó lắp đây Mà lý tưởng dồi hỏi biết bao công, trình deo đuổi Nhưng bây giờ, chàng một mỗi quá rồi, thân xác bẻo nhèo, rã rời

“Cuộc sống đời thường như ngưng đọng, như chảy ngằm duối bình điện du hu" 4340.164), Gia đình bề ngoài làm họ nhâm mắt nhưng đã buộc họ bởi một sợi dây

vô hình bền chặt, ra khỏi gia đình, họ đã có cảm tưởng ra khỏi vùng an toàn Dẫu

vay, họ vẫn cứ để cuộc đời cuốn lấy họ Họ tự nguyện chui vào cuộc sống buồn tẻ

đó

"Những người đ ông trong Khưng Ñéu: Canh, Tường, Thụ, Chiêu cũng rơi

vào bí kịch, Gia đình ông Phủ, đất bị Việt Minh sung công cắp phát cho tí điền vườn bị người Pháp phát quang để tránh những trận phục

nhưng gia đỉnh ông vẫn khá nhàn ha nhờ vào tài vén khéo của bà Phủ "bây giờ bà hết cây trồng Nhà nước bảo hộ có đủ sức bảo vệ tải sản của bà nữa khỉ mà bà phải reo bảng trước nhà nhận nuôi cơm tháng và cho học rồở trọ” [47, tr 30]

ích của đối phương,

n

Trang 32

Cái bị ch của gia định ông Phủ không phải ở vật chất, mà ở những thành

viên trong gia đình “7rong ngói nhà thừa tự đỏ, mỗi người là một hỏn đảo của

“những thải hư tậ xu Cả phải con người khi đã mắt thăng bằng trong cuộc sống vật cất thưởng để lộ ra rõ rật hơn bao giờ hồi những xắu xa tàn tệ của mình? Và

một giai cắp cũng vậy” (Lời của tác giả trong Khung réu) Mỗi người đều lựa chọn

"một cách sống khác nhau Và mỗi sự lưa chọn ấy phải chăng phân ánh một thể giới bên trong diy những trăn tr

LÔng Phủ- luôn mang năng tìm hỗn hoài cổ, vợ chết để lại ba đứa con tai, nhưng "các con ông từ Canh cho đến Tường đều ÿ lại vào tải sin ông cha” [47] Ông ấy thêm vợ nữa, sinh ra Chiêu Thể nhưng, gia đỉnh ông luôn luôn ẫn hiện các mâu thuẫn Ông muốn giữ gìn tuyển thống gia định, nÈ nếp gia phong, luôn trồng chờ vào những đứa con, nhưng đấp lại sự kỳ vọng ấy là những muộn phiễn mã các coon mang Ia

Con trai diu- Can, duoe dng Phủ cho di Tây học mấy năm, đến khi về nước, chỉ mang theo cắp bằng ăn chơi, li xe, khiêu vũ Ba tháng sau, Canh bươn bã lấy vợ và chẳng thiết làm lụng gì cả Suốt ngày cậu la cà đến nhà bạn bê để nhảy nhất, bài bạc, tri gái rồi hút sách Kho lúa góp mỗi mùa gặt một phần tiêu tan theo Khối thuốc của cậu ta Người vợ của câu thua bud bô về nhà cha mẹ ruột Nỗi dau đón và bắt lực của một người cha khiến ông Phủ phải thất lên: "số con như thẳng

“Canh thả tuyệt tự sướng hơn, Từ mấy năm nay, ti coi nó như một thứ giặc trong nhà, "47, 71-72]

“Tường con trai thứ của ông Phủ là một cậu hanh niên non nứt khi bước vào dồi “Tường mười chín uổi, đang sức lớn vạm vỡ Chàng cao to, hồng hào Sinh luc phong phú đồ hứa hợn sau này sẽ làm cho chàng điển tni, quyến rũ Ch tế lãi tinh hai hợt, thích nồi hớt, nối lo nên chàng có vẻ là một thứ rẻ ranh tỉnh quấi

“Tường yêu Ngư, nhưng tâm tánh Tường nay vẫy mai khác Có đôi lác chẳng ÿ lạ

ơi phần đất hương hóa của cha mình sẽ đảm bảo cho Ngự và chàng một cuộc đời phủ phê, sung sướng Nhưng đổi khi bắt mãn, Tường lại uy tính đến đời sống tư lập, không thèm cậy trồng vào của phụ ấm nữa Không có việc gi có thế làm chẳng say mê đeo đuổi lâu” 47, tr242] Tường sắng trong tỉnh yêu với Ngự va “nding

38

Trang 33

chiều buông thả theo cơn thị

nhưng không cần phải làm việc, chỉ cả

thao thức, in nhắc thấp thỏm trước khi bắt tay vào công việc mả từ nhỏ t io

chàng chưa hè nghĩ Tẩy trộm gia sản: đỏ sứ, ché

công sưu tằm mẤy chục năm nay Chẳng nghĩ tối một mái nhà đơn sơ ở một xứ lạ hoắc, rong đó Ngự và chẳng có một đời sống tư do, công khai yêu nhau, thoát khổi những tằm mắt soi bói Tường lẤy ba chục ngàn tiễn mặt và vài môn nữ trang để làm vốn Hải tháng đầu, Tường và Ngư ngụp lấn rong tỉnh yêu, niềm hạnh phúc mới mẻ, Nhưng Ngư cảng ngày cảng thấy Tường bất tài, vô tưởng, Và ngây ngày, đôi tỉnh nhân này phải chịu đựng nhau bằng những iếng cả vã, khó chị, ánh mắt soi thường, Không có lối thoái, họ đành quay trở về ngôi nhà xưa, sinh con, ĐỂ

chứng tò mình, trong lúc chàng chỉ hiểu mù nở vẻ thời cuộc và lý tưởng, ý nghĩa

cuộc đời, Tường tham gia vào chiến khu Sau đó, Ngư ở nhà ngoại ình, bỏ con lên

Si Gòn Tường thì trái ngược lại Chẳng cưới một người vợ quê mùa nhưng xinh đẹp và sinh sống bằng nghề chích dạo Và có lẽ cuộc đời của chẳng đúng như Thụ dinh nghĩa “Tường: một thằng người không có iu sĩ” [47]

(Chigu- cdu con ri của ông Phủ với bà Phủ, lại chịu bắt bạnh tong hình hãi bán nam bán nữ, Đó là niềm mong mỗi của hai vợ chẳng như một cứu cánh để có thể ông bà nương nhờ lú tuổi giả nhưng lạ là một nốt lặng buồn đối với ông bã khi Chữ

đặc biệt, khác người "Những lúc thay cho con tả lới, hoặc quần may đăng, bà Phủ không sao nghĩ ngợi Ngày mà Chiêu ý thức được cái thân xác của nó đang đúng chắng rằng giữa h

cánh của nam, nữ trong các cầu tiêu của rạp bất tiêm ăn, nó sẽ chọn cánh cửa nào? Chắc chấn người ta không hề nghĩ đến gian phòng vệ sinh đành cho loại người lưng chừng vì một chút lơ đăng lười biếng của

"mười bai Mụ Bà” [47, tr58] Thiên hạ thì được dịp để vui với bắt hạnh của người khác: “Rắng mau lớn, ăn học cho giỏi để sau này vua tiến vào cung làm hoạn quan

"nghe chú bế [47,58], Chigu lớn lên trong mặc cảm bị lạc loài Chiêu không biết mình là i, và nên làm gỉ, Nhưng cũng như những người bình thường, Chiều cũng khao khát được yêu đương Chiêu yêu Hoàng "Nếu Thượng để cho tôi làm con gái

»

Trang 34

[7.189] Và để khẳng định sự tồn ti của mình, Chiêu rời khỏi nhà, đĩ học, tham gia phong tảo Dường như, chàng đi bởi nhất định phải thé và không còn con

tối phải có chứa vì tí

đường nào khác Dĩ để ìm thấy mộtlỗi thoát cho mình nhưng chẳng hiễu gì nhiễu

về sơn đường mình đang đi Chiêu bit vô âm tính Hình như có người đồn rằng Chiêu bị Tây bắt và xử bắn ở kính Nước Lạnh Cái bit úch của Chiêu như để khẳng ịnh sự vô nghĩa của mình khi sống trong cuộc đời này

Đối với các con tri, ông Phủ câm thấy mệt môi, không còn đặt kỳ vọng vào một đứa nào Chỉ côn có Thụ "Thụ có tỉnh thần gia tộc nặng Cách đối xử của Thụ

sẽ gắn iễn người sống của dòng họ Nguyễn để tránh khôi sự phân tân, và nh

(l7, 134], Nhưng trên hành trình tìm

phần hương hóa mấy đời không suy suyễ

kiếm ý nghĩa của cuộc sống, Thụ tham gia vào cơn tốt khuấy phá chính quyền và

sổ võ thanh niên bỏ học đĩ khu Thụ về thăm nhà và sửa soạn tham gia lịch sử

chàng mộng đến những chân ti xa la, những cơ hỏi sống bào hùng Hãm hở là thể nhưng con người Thụ chưa được trang bị đẫy đủ vẫn sống, kinh nghiệm, sự từng

(ch bởi cơn bão thời cuộc đang huyền náo,

trải lý tưởng nên Thụ sống co ro với cái mặc cảm thất bại của cuộc mưu đồ đại sự 'Thụ trở về, buồn bã, đơn độc trong ngôi nhà từ đường "Ngôi nha do bay giờ xiêu eo- mái ngói quần xuống bờ tường, hàng kèo cột bị mỗi mọt ăn rệu và loang lớ những dầu vết chiến tranh” [47] Thụ không còn nhìn cuộc đi háo hức nữa Tắt cả đều vô ích Con người bất quả cũng như một cơn bọ chết sống trong bộ lông của

một con vật khổng lồ Có những đêm mưa, chàng bừng thức giấc vì gió áo ào

4 tới, Chẳng khêu ngọn đến chong, hướng mắt theo đường song cửa nhìn en ngôi sha

ra tự, lo lắng

`Và chính ông Phủ cũng bể tc, bắt lục với chính mình “Tí óc ông lại quay

VỀ đứa nhỏ bắt đắc ĩ của ông hiện nằm trong bụng Ngà Thật không ngờ ông lạ thêm một gánh nặng nữa Điễu gì dã khiến ông đi quá xa Trong thời kỳ còn xông pha vào vòng quan lại, ông đã không chuốc lấy những nỗi tinh vung trim, By gid, bồng dưng một chút rạo rực gì đó mọc lên trên nắm xương bắt đầu tân tạ của ông,

để ông thông gian cùng Ngà Có phải vì một nỗi thất vọng về con cái mà ông lại

30

Trang 35

xoay qua tìm một cảm giác mới bn thân thé trân rễ nhựa sống của người ớ gi

147, tr.135] Ông sống trong cô đơn và vô nghĩa, khi bà Phủ xây tư trang ra ở riêng

và không còn quan tâm đến ông nữa

Dưỡng như tắt cả những người đần ông trong văn xuối của Nguyễn Thị Thụy

'Vũ đều thất bại Trong cuộc sống đời thường, họ không tìm thấy ý nghĩa của cuộc

dồi mình Họ tựthả trôi cuộc đời mình Gia đình, tỉnh yêu, công danh, nghề nghiệp, tốc vong đễu mờ áo, Họ lờ mờ trên con đường dời của mình và tự để cho dòng đời cuốn

Bên cạnh đó, cuộc sống đời thường của những người phụ nữ cũng được Nguyễn Thị Thuy Vũ biểu hiện cụ th Đời sắng riêng tư cùng những suy nạhĩ của

họ trong cuộc sống hẳng ngày bây giờ chứa đẫy mâu (huẫn, nhiễu cung bậc Tà đồng thời vừa thấy một người phụ nữ hiển lành, yêu chồng thương con hết mực,

quán xuyến gia đình chu đáo, vừa thấy một người phụ nữ phá phách, quyết liệt, sẵn

sing trbs

"Với họ,

ơi để họ bám víu, tìm thấy ý nghĩa, tăng dư vỉ cuộc sông và họ sẵn sàng làm tắt cả

Do đó, những người phụ nữ trong văn xuôi Nguyễn Thị Thuy Vũ rất chú ý đến việc hoàn thiện bản thân để ầm sao bảo vệ ỉnh yêu ấy Họ rất tháo vát, dim dang quấn sxuyén việc gia định, đối nhân xử th, tÈ gia nội trợ, chăm chẳng chăm con

yêu, thay đổi mình để làm chủ cuộc sống

nh yêu là tất cả lẽ sống, là điễuthiệng liêng để giữ gìn Tỉnh yêu là

Thể nhưng, cuộc sống đời thường ấy à cả mỘt trời âm tư, nguyện vọng, ước

“Trong truyện dai Nhang tim thép khuya, ta đến với cuộc sống trôi qua êm

dễm trong “ngôi nhà ngồi năm căn giữa một khu vườn mộng hai mẫu Kim Mã Trang” [47] Nhưng đằng sau sự vương gid, êm dém ấy đời sống hôn nhân mỗi thành viên trong gia định đều không h bằng phẳng

“Cuộc hôn nhân của Đức và Thục Nghị, tưởng là viên mãn, ven đầy nhưng đẳng sau là những cơn sông lòng âm i, Đức- người đân ông sinh đời lớn hơn Thục

Nghĩ chục tuổi từng du học ở phương Tây, sau khi lấy Thục Nghỉ làm vợ vớ tt cả

3

Trang 36

sự thành ÿ thì lao mình vào công việc, gánh vác trách nhiệm gia đình, dòng họ

“Thục Nghĩ là con một ông o học người Huế, về làm vợ với vai trò dâu trưởng,

\g tăm, Thục Nghỉ đã khôn khéo làm đẹp,

trong mot gia định ông Đốc phủ sử ti

lòng từ bà mẹ kế của chồng đến các cô em chồng đầy soi moi đến kẻ ăn người ở trong nhả Từ d

hồm chia khda cho sinh host dai gia dinh, nang đều chủ toàn Xoay quanh cuộc thức uống cầu ky sang trọng mỗi ngày tới những lo toan tay

sống thường nhật của Thục Nghĩ tong gia đình ông Đốc phủ số, người đọc thấy cả

"một hiện thực gần ghi với mình hơn bao gi hết Cuộc sảng trôi qua êm đềm, người dân ông hãm hỡ, lăng tử không còn ở Đức; sự lăng mạn, cuồng nhiệt không đủ sức làm bài lòng cô vợ trẻ Vì vây, cuộc sống của Thục Nghỉ bồng dung thay đổi, không

"ngữ Duy- một người bạn chẳng, đến Duy lăng mạn, đầy mơ mộng, luôn đem tiếng

ân để bộc lộ một tâm bồn nông chây, tái ồn với cái vững chất, lãnh mạnh nhưng:

đđã trở nên lơ là trong cuộc sống lứa đôi là chồng nàng Thục Nghỉ vốn là người đã cảm, rất bao dung và hay mềm lòng đối với kẻ yếu đuối Năng không ngờ từ tấm lòng bảo sảng của mình, nàng lún sâu vào tỉnh yêu Người bạn chồng và nàng đều hiểu rằng họ đã yêu nhau, anh ta hầm bổ tiến tới còn người vợ vì lễ giáo nên chỉ biết dau khổ tồn vào bên phân vợ hiền Song song với tỉnh yêu chẳng, người vợ có một niềm bí mật vạn phần lông lẫy dể cất giấu trong kho tầng kỉ niêm của riêng mình Nàng đã có tắt cà mọi thứ, trừ điều mà chẳng nàng không thể mang lại, như cách Duy đã làm, Có l đồ là một loại bi kịch: không phải cứ sống tong sự no đủ, thỏa mãn về vật chất thì người ta có thé dat tới một hạnh phúc như mình mong đợi Các nhân vật nữ khác trong Nang tản thap kÖ„ya cũng có những biểu hiện khác nhau về đời sống hôn nhân

Cé Hai Diệm suốt ngày mẻ nheo yêu sách chồng phải lo tiễn thân, làm khổ

Phương không íL Lâu rồi, chồng cô lên có vợ bé Cô nỗi ghen, mướn nặc nô lột truồng tỉnh địch giữa chợ cho bô ghét Tức nước vỡ bờ, Phương lên dem người vợ

bé lên Lèo lập nghiệp, Cô Hai Diệm tức tốc theo kiếm, làm di, ham he Nhưng người vợ bé đã có mang rong khi đó cô vẫn chưa chứa nghén, Thể là cô phải chịu phép cho chẳng lấy vợ bé.

Trang 37

(Cơ Ba Ngoạn đã từng yêu một người đân ơng khơng cùng gi cấp- con

của má, “ảnh hiểu học, nhưng vì nhà nghèo nên đậu xong bằng sơ học

ip lớp đào tạo điều dưỡng y tế, để ảnh cĩ nghề riêng đỡ cực thân” [42, tr98], nhưng

và quyết định kết hơn- lấy ơng chủ báo tờ Viễn Đơng người Pháp Đổi với moi

(42, 293)

C6 Tw Kien iy bac st Thach Tir lie nim duge thớp chẳng, an nhiên hướng

"hạnh phúc viên mãn Cơ làm lơ vài mỗi tình phắt phơ nữa của bác ĩ Thạch và tự tín

đài sắc của mình,

ng Năm coi như cơ đã chết từ lúc lọt lịng"

L mua thêm ruộng đất tua phố cho mướn

“Cổ Sâu Niệm đi lấy chẳng, nhưng coi thường gia định chồng “Nư ý thể nĩ là

“một vi quan Dốc phủ sứ nên cọ gia đình bên chẳng như rơm, như rắc Dĩ đâu, nĩ khơng c

chi lim đủ cho vợ chẳng nĩ thưởng thức TiỀn lương của thẳng Đán bao nhĩ cũng dành tắt cả Đã vậy, nĩ lại cịn muơi thêm bai đứa ở gái, một đứa chuyên lo hầu

<quat, dim bop, sai vặt, cịn đứa kia lo nấu ăn cho nổ" [42, tr.260] Cơ thỉnh thoảng, vẫn gây gỗ, xeo nay my chi em bên chẳng

Tit cả các đơi vợ chồng rong tác phẩm của Nguyễn Thị Thuy Vũ đều mang

ho người đọc một cảm giác: Hạnh phúc gia định sao mã khơ nắm bắt, nắm gi

phách, xương thịt của chảng đã trao gửi cho một ai chăng?” [ 42, tr 123]

Hịa vào đời sống hơn nhân gia đình, truyện Nfur đới đường lạnh, miều tả đồi sống của đơi vợ chồng Tường- Khương, định cư trên một giang đảo (Cù lào An

“Thành đối diện với chợ tỉnh Vĩnh Long, qua nhánh sơng Cổ Chiên) mang đến cho ching ta một biểu hiện khác của cuộc sống hơn nhân Chồng là thiy gio tu hoc, tánh lơng bơng, ưa ngoại tỉnh khơng hẳn là người tham thanh chuộng lạ, khơng hẳn

là thứ ta vai từu sắc, mà chân cái lấp đi lp lại ắt vơ vị của cuộc sống khơng biển

3

Trang 38

6, Vo là người đân bà đảm đang, ghen tuông, hỗn bảo nhưng hết dạ yêu chẳng,

"Người chồng vốn thích cuộc sống thay đổi nhưng không dám sống đủ có sự thay đổi thực sự đi nữa Y cảm thấy cuộc sống hằu như ngưng dong ở vùng nữa chợ nửa quê rồi vì inh thần bạc nhược nên y ta ẫn giữ nghề gỡ đầu trẻ, lồng ngóng một sơ thay đổi, nhưng sự thay đổi không hề xảy đến Tác phẩm toát ra không khí u oãi chin nàn, băn khoản, hư vô, không tìm thấy lý tưởng cuộc đời để vui sống Các nhân vật bị hoàn cảnh nhẫn chìm, đôi lúc ho muén tri diy nhưng không đủ sức mạnh để bứt rẻ

"Đặc biệt, qua khảo sắt của chúng tôi, bên cạnh các tác phẩm viết về cuộc sống gia định, Nguyễn Thị Thuy Vũ tải lòng mình với những người phụ nữ có cuộc sống không may mắn, đặc biệlà gái và bà góa

Bà góa- hiểu nôm na, đó là người đản bà bị chết chẳng, Chẳng may số phận cười cợt, họ phải chịu nỗi đau chồng chế, một mình côi cút giữa cuộc đời Đây là

ng của bà Hảo “Cô lấy chẳng chỉ vui được ba tháng, rồi buồn ba năm và khổ

"héo một đời, Cô tin rằng hôn nhân là một cuc xổ số các em ä” 41, 59]

Những người phụ nữ này phi ging mình lên để sống, để nuôi con, buon chải giữa đời Thể nhưng, thiên hạ vẫn thường có một cái nhìn xoi méi với những người phụ nữ bắt hạnh này Trong mắt nhìn của các đắng mày râu, đó đích tị là những người đần bà cô đơn cẳn được những an ủi vết ve chim sóc của một người đân ông nào đó, Nên cử việc mạnh mỗm, bạo tay, tiêu chọc, bồn ot bởi vú đùa với gải gồa một cũng chẳng chết ai Thậm chí còn có thể coi đó là hành động hào phóng bạn ân ! “Ây, đồi này, thanh niễn mê bà góa, hơn là mê gãi còn nh, cô Ba biết không” [43, tr48] Những cổ

trong gia đình hầu như thiên hạ đều không thấy, vì tự trong tâm thức, đó vốn là sự đương nhiên, Dưỡng như, Nguyễn Thị Thuy Vũ là nhà văn của nữ nên đã hiểu được

"ngon nguồn của những nếp nghĩ của cuộc đồi Điễu người ta quan tâm, nhìn ngắm, quan sit, la gi géa e6 ở được một mình mãi mài, có thủ tiết, chung thủy với đúc công chồng quá cố, để nuôi dạy con nên người không? “Tui bay rin rip gl tao đố”

“Tạo không có đem thẳng nào về ngũ đâu” [45, 45] Đôi hỏi nghiêm là thể, nhưng,

"gi nỗi, nếu gái góa ở một mình để lâm trình phụ thì mẫy cô gai chồng, mấy bà

lắng của một người phụ nữ thay chồng trụ cột

M

Trang 39

vợ ngoan hiền kia lại thấy xốn xang trong mit, ho p

miệng chi dng “Ung ai thi ung quách cho rồi, để thiên hạ an ổn Kim an” Nhưng, ba hà, bực bội, đôi khi buộc

nếu gấi góa thừ mạnh dạn nắm lấy lay một aỉ đó, thì lập tức bị cười khẩy- "hóa rà

nó cũng chẳng đăng hoàng, chẳng tiết hạnh, thủy chung son sắt gỉ Thật đăng ti cho ông chồng dưới suối vàng” Nguyễn Thị Thuy Va miu ta rit cin thật cuộc sống của những người bà góa “Kim có tắt cả bảy chị em gái không chồng và nỗi danh khếo nhất tính và tiết hạnh khả phong Cả bây người con gái có một đời sng tình ái giống nhau, yêu chỉ một lẫn và cuộc tỉnh đó dang dỡ vì chiến cuộc Người tình của họ phần đông đi bộ đội trong cuộc kháng chiến năm 1945, từ tận hoặc đi tập kế, Chỉ em họ sống với những hình ảnh người khuất mặt hay đi xa Ngồi nhà cổ

âm thầm với bảy người con gái luồng tuổi- ba người trên ba mươi chỉ còn Kim mà

"họ đặt tắt cả hy vọng vĩ nàng là đứa con gi út, có chút ít học thức, Họ chuyên về

những khoa tiêu xảo, làm bánh, khâu may, thêu thủa, công việc vừa giết thời giờ

"vừa sanh lợi Họ phải mang tiếng là vô duyên nên không có ching trai nao thèm đến coi mắt Nhiễu người ác miệng tì thằm là nhà bà Phân thiểu âm đức Các cô

‘fi yêu người nào là chất người nấy Sổ họ là số sát phu Tiếng dữ đồn xa VÌ kiêng

cử nên Không aĩ dại đột dem con tai mình nhào vô chỗ chết [I, 261]

“Quyển Chiễu mệnh móng, wong truyện Trới sống, tong làng có cô Kim

“Quýt người con gi tải sắc vẹn toàn dưới ánh đền sân khẩu ngày xưa “nghề giọng

đồ, người ta còn có thể vẽ ại rong đầu một cô Km Quýt ngày xưa mễm mại như

‘bin khi đồng vai Bảng Quý Phí hoặc oại phong lẫm lẫm khi làm sống lạ nàng Hoa

lão với làn

Mộc Lan giả trai di nhập ngũ trên sàn gỗ” 45, tr22], giờ hiện trước mị

cda nhãn nhúm do sự tàn phá của phẩn sáp hóa trang trong suốt cuộc dời đi hát Ba mươi mốt tụ

lanh vọng tuột dốc, nàng lăng lẽ bỏ gánh trở về làm vợ bể cho thầy

ai tổng Từ ngày chồng chết bà phải ra thân bán bưng sống cuộc đời bị lãng quên

“Trong làng, có lão Tư xuất hiện với gia cảnh thất buồn: cái ghế long chân, cạnh cửa sat bin 1 ci la nước mưa sắp sữa nứt, mái nhà lỗ đỗ giột, làm thợ xà bản (thợ dụng) Đã thể, hoàn cảnh của lão Tư ại cảng buồn hơn, Lão có đứa con gái độc nhất làm vợ lâm của quan t phủ, Lão về đây với chức vụ mới Ít lâu sau, quan phú chết, con gái lão chưa đầy hai mươi tuỗi Nàng tái giá theo chẳng về Sâi Gòn sống lạ

3s

Trang 40

cuộc đời khiêm nhường của vợ một anh phu xích lô máy, Lão bỏ vựa lúa của ông

phủ về cất chỏi dưới tan cả cum xué này Cuộc sống buồn tẻ của hai nhân vật

song hành bên nhau, nhưng không dững lại ở đổ, cuộc sống ấy bị đảo lồn rong

vòng một đêm Kim Quýt uống rượu, nằng lần mò đến sân nhà lão Tư Lão Tư nắp

bờ tần rằn, máu me sối sục đưa lão về bạ tím năm về trước Lão Tư xông tới, trái tim dé dp dién đo, lao bể thốc Kim Quýt vào sha “Va sing hém sau, ldo Từ chất co quấp Kim Quýt khóc cười, múa may trước

"hà với đối mắt đồ chạch, thâm thiết |45, 24) Câu chuyên kết thúc bắt ngờ, đầy

Xa xót Dục vọng hay là nỗi khát khao muốn khỏa lắp nỗi cô đơn đã mang họ đến với nhau? Nhưng sự thật luôn phũ phàng! Cái chết thật thề thâm! Người sống cũng thật đăng thương Khi người la đã dâm vượt qua và muốn sống như cách mình muốn thì cuộc đồi lại không như họ mong muốn Những tưởng hai cuộc đời bất

"hạnh có thể neo vào nhau để sống với tuổi gia nhưng hiện thực thật tr trêu

Đó là những khao khát, rung động được yêu đương và che chở, được khẳng định Lời bộc bạch của bà Hảo với đám học trỏ trường làng thật thả đến tôi nghiệp: “Các em coi có tức cười không? Ông Minh giả từng tuổi Ấy mà côn sanh chứng, Ai đời cổ sui gia, có châu nội cháu ngoai diy ding dẫy sả mà lao nó là lão yêu cô" [4I, 119-121]

"Để rồi, đẳng sau đó, bà lại dan du với ông Biểu ở khu tập thể nhằm thỏa mãn thân xác và mong muốn có được tình yêu “Ông kể môi xuống môi bá, bả nhắm mắt li khử bai bản tay ông quấn chất lẤy bã vã bản lay sơn móng mẫu võ ôi của bã

iu lẫy bả vai ông” [46, tr 72]

“Các cô gái Ê cũng mang những gánh năng âm hỗn G É- đó là những người phụ nữ đến tuổi kết hôn, lập gia đình nhưng lại chưa có người đần ông nào đến

cưới Họ khao khát được yêu đương, được kẻ đón người đưa, được có bờ vai nương, tựa, họ mơ ước một mãi âm giản dị như bao người phụ nữ khác, được nghe tiếng khóc, tếng cười của trẻ thơ Thể nhưng, “Ở chỗ chó ăn đá, gà ăn muối này em, tuyển cử aỉ vào vòng chung kết cho cuộc đời mình? Con tra ð đây mười lăm tuổi đã sửa soạn làm chẳng, Tuổi bằng em ở đây sắp sữa lâm mụ nội, mụ ngoại rồi” [45, 88]

36

Ngày đăng: 08/09/2022, 11:47

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w