1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hồ sơ diễn án hành chính bùi quang hải

11 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 50,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN TƯ PHÁP CƠ SỞ TẠI TP HỒ CHÍ MINH BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn Hành chính Hồ sơ số Diễn lần Ngày diễn Họ và tên Sinh ngày tháng năm MSHV Lớp TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2022 MỤC LỤC NỘI DUNG 1.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

CƠ SỞ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Môn : Hành chính

Hồ sơ số :

Diễn lần :

Ngày diễn:

Họ và tên : Sinh ngày: tháng năm MSHV:

Lớp:

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

NỘI DUNG 1

I/ TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC: 1

II/ KẾ HOẠCH HỎI: 2

III/ LUẬN CỨ BẢO VỆ 3

NHẬN XÉT 7

1 Nhận xét chung: 7

2 Nhận xét từng vai diễn: 7

2.1 Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: 7

2.2 Hội thẩm nhân dân: 8

2.3 Thư ký phiên tòa 8

2.4 Kiểm sát viên: 8

2.5 Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: 8

2.6 Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện 8

2.7 Người khởi kiện: 9

2.8 Người bị kiện 9

2.9 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 9

Trang 3

NỘI DUNG I/ TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC:

Ngày 14/6/2016, ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim nộp hồ sơ đề nghị cấp GCN QSDĐ diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ 09, tọa lạc tại Phường 5, TP.A Ngày 07/9/2016, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai TP.A ra Thông báo số 2728/TB-CNVPĐK về việc trả hồ sơ đăng ký, cấp GCNQSDĐ, QSHNỞ và tài sản gắn liền với đất cho vợ chồng ông Hải với lý do lấn chiếm đất biển, không phù hợp với quy hoạch Không đồng ý với Thông báo 2728/TB-CNVPĐK, Vợ chồng ông Hải đã có đơn khởi kiện Thông báo số 2728/TB-CNVPĐK tại Tòa án nhân dân TP.A

Ngày 09/12/2017, Tòa án nhân dân TP.A ra bản án sơ thẩm Ngày 05/04/2018, Tòa án nhân dân tỉnh H ra bản án phúc thẩm số 04/2018/HC-PT, tuyên xử: chấp nhận đơn khởi kiện của vợ chồng ông Hải Buộc Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tiếp nhận lại hồ

sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ của gia đình tôi và giải quyết các thủ tục theo quy định của pháp luật

Ngày 20/4/2018, vợ chồng ông Hải lại nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận kể trên tại bộ phận tiếp nhận và giao trả hồ sơ thuộc UBND TP.A (biên nhận số 2018.086.08648), ngày hẹn trả kết quả là ngày 06/6/2018

Ngày 14/8/2018, Chi nhánh VPĐKĐĐ TP.A ban hành văn bản số 4171/CNVPĐK-ĐKCG với nội dung: cơ quan này đã trình hồ sơ tới phòng Tài nguyên và Môi trường và UBND TP.A từ ngày 02/7/2018

Ngày 24/8/2014, Vợ chồng ông Hải đã có đơn kiếu nại về việc chậm giải quyết cấp GCNQSDĐ tới Chủ tịch UBND TP.A Ngày 30/01/2019, UBND TP.A ban hành các Văn bản số 504/UBND-TNMT trả lời cho vợ chồng ông Ngày 09/03/2019, UBND TP.A đã

có Công văn số 1133/UBND-TNMT xin ý kiến hướng dẫn giải quyết Ngày 06/06/2018

Sở Tài nguyên và Môi trường đã có văn bản số 2847/STNMT-CCQLĐĐ gửi tổng cục quản lý đất đai xem xét hướng dẫn giải quyết, nên trong thời gian chờ chỉ đạo tạm trả hồ

sơ vợ chồng ông Hải

Ngày 18/3/2019 UBND TP.A có công văn số 1126/UBND-TNMT giải quyết đơn khiếu nại ngày 07/01/2019, trả lời lý do tạm trả hồ sơ vì do vướng mắc trong việc áp dụng quy định của pháp luật, cần xin ý kiến hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu đủ điều kiện thì sẽ cấp GCNQSDĐ theo quy định

Ngày 04/4/2019, vợ chồng ông Hải có đơn khởi kiện tới Tòa án nhân dân tỉnh H yêu cầu:

Trang 4

 Hủy Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019

 Buộc UBND TP.A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất cho vợ chồng ông Hải số diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ số 09, phường 5, TP.A theo quy định của pháp luật

II/ KẾ HOẠCH HỎI:

Tư cách tham gia xét hỏi: Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi

kiện

Định hướng bảo vệ: Yêu cầu Tòa án tuyên:

Hủy Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 và văn bản số

1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019

 Buộc UBND TP.A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất cho vợ chồng ông Hải số diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ số 09, phường 5, TP.A theo quy định của pháp luật

Định hướng, mục đích hỏi:

- Làm rõ nội dung ban hành các văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 và văn

bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND TP.A không có căn cứ, sai về trình tự, thủ tục thẩm quyền ban hành

- Nhằm chứng minh yêu cầu của vợ chồng ông hải là hợp pháp, có căn cứ

1 Hỏi người bị kiện:

- Hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ của vợ chồng ông Hải thiếu điều kiện nào mà không được

Cơ quan cấp GCQSDĐ?

- Nguyên nhân của việc chậm trễ, kéo dài việc cấp GCNQSDĐ của vợ chồng ông Hải?

- Việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ của vợ chồng ông Hải có được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hay không?

- Căn cứ nào để xác định nguồn gốc diện tích đất 54,7m2 của vợ chồng ông Hải đang

sử dụng là gì?

- Phần diện tích đất vợ chồng ông Hải xin cấp GCNQSDĐ có vượt hạn mức sử dụng đất theo quy hoạch sử dụng đất của UBND TP.A hay không?

- Việc khai hoang, lấn biển 54,7m2 có xem là bất hợp pháp hay không?

- Quan điểm của Cơ quan về phần diện tích cấp GCNQSDĐ 54,7m2?

- Cơ quan dựa vào mục đích sử dụng đất với diện tích 54,7m2 của vợ chồng ông Hải để

từ chối hồ sơ cấp GCNQSDĐ đúng không?

Trang 5

- Cơ quan có văn bản xác nhận nào nói đất của vợ chồng ông Hải là lấn biển hay không không? Hoặc, xác nhận do bố ông Hải kê kè đổ đất trước đó là sản phơi cá?

- Tại sao trong suốt quá trình sử dụng đất của người khởi kiện lại không bị Cơ quan xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lấn, chiếm đất?

- Hiện nay, phần diện tích nêu trên có thuộc trường hợp thu hồi đất theo quy định của Luật đất đai hay không?

2 Hỏi người khởi kiện:

- Ông/bà nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận vào thời điểm nào?

- Nguồn gốc đất của vợ chồng ông là như thế nào?

- Việc chậm trễ giải quyết hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của ông/bà như thế nào? Có gây nhiều thiệt hại cho gia đình ông/bà hay không?

- Phần diện tích đất 54,7m2 được phê duyệt thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ số 09 vào năm nào?

- Mục đích sử dụng đất của phần diện tích yêu cầu cấp GCN là gì?

- Qúa trình sử dụng đất có bị xử phạt vi phạm hành chính về đất đai hay có tranh chấp với các hộ xung quanh hay không?

III/ LUẬN CỨ BẢO VỆ

ĐOÀN LUẬT SƯ TP HCM

CÔNG TY LUẬT TNHH ABC

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

TP HCM, ngày tháng năm 2022

LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO NGƯỜI KHỞI KIỆN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM

Kính thưa Hội đồng xét xử,

Thưa đại diện Viện kiểm sát,

Thưa tất cả Quý vị có mặt trong phiên tòa ngày hôm nay!

Tôi là Luật sư … hiện đang công tại Công ty luật TNHH ABC, thuộc Đoàn Luật sư

TP Hồ Chí Minh Tôi có mặt tại phiên toà ngày hôm nay với tư cách là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện là ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị

Kim trong vụ án hành chính về việc khởi kiện: “Quyết định hành chính trong lĩnh vực đất

đai”.

Trang 6

Kính thưa Hội đồng xét xử!

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi công khai tại phiên tòa hôm nay, tôi xin trình bày một số ý kiến bảo vệ quyền lợi cho người khởi kiện như sau:

Về đối tượng khởi kiện: Đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính này là Văn bản số

504/UBND-TNMT của UBND TP.A ngày 30/1/2019 V/v tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp GCNQSDĐ, Công văn số 1126/UBND-TNMT của UBND TP.A ngày 18/3/2019 V/v giải quyết đơn của ông Hải Những Quyết định này được UBND TP.A ban hành nhằm giải quyết yêu cầu cấp GCNQSDĐ và giải quyết khiếu nại đối với vợ chồng ông Hải Các Quyết định này làm ảnh hưởng trực tiếp tới quyền, lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông Hải Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 điều 3 và khoản 1 điều 30 luật tố tụng hành chính 2015, thì các Quyết định này thuộc đối tượng khởi kiện hành chính

Về thẩm quyền giải quyết của tòa án: Căn cứ khoản 1 điều 30 và khoản 3 điều 32

luật tố tụng hành chính 2015, việc giải quyết sơ thẩm đối với khiếu kiện các Quyết định trên thuộc thẩm quyền của Tòa hành chính Tòa án nhân dân cấp tỉnh trên cùng phạm vi địa giới hành chính với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hành chính Như vậy, Tòa hành chính Tòa án nhân dân tỉnh H là Tòa án có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm

vụ án này Do đó, việc Tòa án nhân dân tỉnh H đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật

Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì vợ

chồng ông Hải là đối tượng trực tiếp chịu tác động trực tiếp bởi Văn bản số 504/UBND-TNMT của UBND TP.A ngày 30/1/2019 V/v tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp GCNQSDĐ, Công văn số 1126/UBND-TNMT của UBND TP.A ngày 18/3/2019 Ngày 04/04/2019, vợ chồng ông Hải đã có Đơn khởi kiện và Tòa án nhân dân tỉnh H đã ra Thông báo số 47/2019/TLST-HC về việc thụ lý vụ án hành chính sở thẩm TAND tỉnh H ngày 18/4/2019 Căn cứ điểm a khoản 3 điều 116 luật tố tụng hành chính 2015, thì việc thụ lý

và giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh H là phù hợp với quy định của pháp luật

Kính thưa Hội đồng xét xử!

Về nội dung yêu cầu khởi kiện: Tôi cho rằng yêu cầu khởi kiện của thân chủ tôi là

hoàn toàn hợp pháp và có căn cứ bởi những lẽ sau:

Thứ nhất, Xét trình tự, thủ tục ban hành và nội dung Văn bản số 504/UBND-TNMT

của UBND TP.A ngày 30/1/2019 V/v tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp GCNQSDĐ

Ngày 20/4/2018, vợ chồng ông Hải đã nộp bộ hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ tại bộ phận tiếp nhận và giao trả hồ sơ thuộc UBND TP.A (Biên nhận số 2018.086.08648) Ngày hẹn trả kết quả là ngày 06/6/2018

Trang 7

Căn cứ điểm a khoản 2 điều 61 Nghị định 43/2014 thì thời hạn thực hiện thủ tục đăng

ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp GCNQSDĐ, QSHNỞ và tài sản khác gắn liền với đất là không quá 30 ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận được hồ sơ hợp lệ Tuy nhiên, UBND TP.A lại hẹn trả kết quả ngày 06/06/2018, tức là phải hơn 30 ngày theo như quy định Điều này chứng minh cho quá trình giải quyết hồ sơ cấp GCNQSDĐ của UBND TP.A đã vi phạm nghiêm thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật Không dừng lại ở đó, đến hết ngày 06/06/2018 – ngày hẹn trả kết quả - nhưng vợ chồng ông Hải vẫn không nhận được kết quả hay bất kỳ sự trả lời nào của cơ quan tiếp nhận hồ sơ Mãi đến ngày 30/01/2019, UBND TP.A mới có văn bản số 504/UBND-TNMT V/v tạm trả hồ

sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận QSDĐ, QSHNỞ và tài sản khác gắn liền với đất tại Phường 5, TP.A

Nội dung Văn bản số 504/UBND-TNMT có cụm từ “tạm trả hồ sơ…” là không phù

hợp với bất cứ văn bản quy phạm pháp luật nào đang có hiệu lực Căn cứ khoản 5 điều 60 Nghị định 43/2014 quy định về việc nộp hồ sơ và trả kết quả thực hiện thủ tục hành chính

về đất đai, theo đó, có 02 trường hợp xảy ra khi giải quyết hồ sơ cấp GCNQSDĐ như sau:

- Trường hợp hồ sơ đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ thì phải trao GCN cho người sử dụng đất sau khi người sử dụng đất nộp chứng từ hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định

- Trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện giải quyết thì cơ quan nhận hồ sơ có trách nhiệm trả lại hồ sơ và thông báo rõ lý do không đủ điều kiện giải quyết

Như vậy, nếu như hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ của vợ chồng ông Hải không đủ điều kiện cấp GCN thì cơ quan phải “trả lại hồ sơ” và “thông báo rõ lý do không đủ điều kiện giải quyết” Tuy nhiên, UBND TP.A đã ban hành văn bản với nội dung “tạm trả hồ sơ” là trái quy định tại Điều 60 Nghị định 43/2014

Thứ hai, Xét trình tự, thủ tục ban hành và nội dung Công văn số 1126/UBND-TNMT

ngày 18/3/2019 V/v giải quyết đơn của ông Bùi Quang Hải, phường 5 đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc do lấn chiếm “Biển”

Căn cứ khoản 6 điều 2 và khoản 1 điều 7 Luật khiếu nại 2011 thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại của vợ chồng ông Hải là UBND TP.A chứ không phải Chủ tịch UBND TP.A Việc Chủ tịch UBND TP.A ban hành Công văn số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 là không đúng với quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, không

có căn cứ pháp lý giải quyết khiếu nại, kết quả thẩm tra xác minh, kết luận khiếu nại, thể thức không phù hợp với quy định của pháp luật Vì vậy, Công văn số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 không được coi là văn bản hợp pháp về cả hình thức và nội dung của quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại

Trang 8

Thứ ba, Về lý do “tạm trả hồ sơ” của UBND TP.A, tôi cho rằng, điều này không có

căn cứ Tôi xin được nhấn mạnh rằng, vợ chồng ông Hải đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ theo đúng quy định của pháp luật về đất đai, bởi vì:

1 Nguồn gốc diện tích 54,7m2 đất xin cấp GCNQSDD của vợ chồng ông Hải: Nguồn gốc phần diện tích đất này được vợ chồng ông Hải nhận chuyển nhường từ ông Bùi Xuân

Mĩ và bà Nguyễn Thị Rô (là bố mẹ của ông Hải) theo Hợp đồng mua bán (cho) nhà ở ngày 14/4/2003 (có Công chứng ngày 14/4/2003) Trước đó, phần diện tích này được ông

Mĩ nhận tặng cho từ cha mẹ mình Trong quá trình sử dụng, ông Mĩ đã làm sàn phơi cá trên phần diện tích 54,7m2 từ năm 1993, đến năm 1998 ông Mĩ xây kè đổ đất và tiếp tục làm nơi phơi cá, đến năm 2000 ông Mĩ xây nhà trọ và cho thuê (Xác nhận của UBND Phường 5 ngày 13/7/2016 và kết quả kiểm tra hồ sơ số 104/TB/UBND Phường 5)

Như vậy, nguồn gốc diện tích đất 54,7m2 là đất sàn phơi cá của bố của ông Hải bán cho

vợ chồng ông Hải có Hợp đồng mua bán tay công chứng và không có bất kỳ dấu hiệu vi phạm pháp luật nào

2 Toàn bộ diện tích đất 54,7m2 không bị xử phạt hành chính về hành vi “lấn biển” và không có tranh chấp gì từ khi sử dụng đến nay: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ

vụ án cũng như câu trả lời của người bị kiện, việc sử dụng đất của vợ chồng ông Hải chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “lần biển” Bên cạnh đó, tại Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư ngày 21/6/2016, các hộ dân sống ở các thửa đất giáp ranh với thửa đất vợ chồng ông Hải xác nhận không có tranh chấp gì Như vậy, UBND TP.A “tạm trả

hồ sơ” cấp GCNQSDĐ của vợ chồng ông Hải với lý do phần diện tích đất được tạo thành

từ “lấn biển” là hoàn toàn không có căn cứ

3 Diện tích đất 54,7m2 của vợ chồng ông Hải đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được cấp GCNQSDĐ Đồng thời, Vợ chồng ông Hải đã nộp đầy đủ hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ tại cơ quan có thẩm quyền

Tại bản đồ địa chính năm 2000 được phê duyệt 2002 phần đất 54,7m2 là phần diện tích tăng thêm thuộc một phần thửa đất số 164 bản đồ số 9 trong đó có 102m2 đã cấp giấy chứng nhận cho ông Mĩ sau đó chuyển nhượng cho vợ chồng ông Hải theo GCN số BM

62400 ngày 11/1/2013, đang sử dụng đất tổng là 156,7m2 Căn cứ điều 20 Nghị định 01/2017 thì việc vợ chồng ông Hải sử dụng đất ổn định, lâu dài, không có tranh chấp, không bị xử phạt hành chính liên quan đến đất đai từ trước ngày 01/7/2004 đến nay và việc UBND tỉnh H phê duyệt quy hoạch sử dụng đất thì phần đất phù hợp với quy hoạch

ở đô thị Chính vì vậy, phần diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đố số 9 của vợ chồng ông Hải đáp ứng đầy đr các điều kiện để được cấp GCNQSDĐ

Tại giấy tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai TP.A thì hồ sơ ông Hải đã nộp gồm: Đơn xin cấp giấy, giấy CNQSH nhà, QSD đất và

Trang 9

TSKGLVĐ, giấy mua bán nhà đất, Bản án số 04/2018, Sơ đồ vị trí, Phiếu lấy ý kiến khu dân cư, bộ sao lục, danh sách công khai số 104/TB-UBND Căn cứ điểm a khoản 3 điều 9a Thông tư 33/2017 thì hồ sơ mà ông Hải đã nộp đầy đủ theo quy định của pháp luật Qua những nội dung đã phân tích ở trên, tôi cho rằng yêu cầu của người khởi kiện là hoàn toàn có căn cứ Căn cứ điểm b khoản 2 điều 193, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem cét, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của thân chủ tôi là: Hủy Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 Buộc UBND TP.A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất cho vợ chồng ông Hải số diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ số 09, phường 5, TP.A theo quy định của pháp luật Tôi tin tưởng rằng bằng sự công minh, chính trực của mình HĐXX sẽ có một phán quyết thật chính xác, đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ tôi

Kính thư HĐXX tôi đã trình bày xong lời bảo vệ của mình Xin chân thành cảm ơn HĐXX đã lắng nghe!

NHẬN XÉT

1 Nhận xét chung:

- Về hình thức: Buổi diễn án đã được thực hiện tốt về mặt hình thức, diễn ra trôi chảy

nhưng đôi lúc có chút tạp âm xen vào Các vai diễn đều có chuẩn bị phông nền theo đúng quy định Việc phối hợp diễn án khá ăn ý

- Các thủ tục tố tụng tại phiên tòa:

Về phần xét hỏi: HĐXX, các Luật sư đã tham gia đầy đủ vào quá trình xét hỏi Thực hiện đặt nhiều câu hỏi cho các đương sự nhằm làm rõ nội dung vụ án

Về phần tranh luận giữa các luật sư khá sôi nổi Các luật sư đã đưa ra được nhiều luận điểm, lý lẽ nhằm bảo vệ cho yêu cầu của mình

Về phần bảo vệ của Luật sư: các Luật sư đã có sự chuẩn bị bài bảo vệ cho thân chủ của mình

2 Nhận xét từng vai diễn:

2.1 Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa:

 Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa có giọng đọc to, rõ ràng, điều hành phiên tòa đúng quy trình, thủ tục tố tụng, tác phong lịch sự, trang trọng Tuy nhiên, do ảnh hưởng của đường truyền nên đôi lúc lời nói bị ngắt quảng, không nghe rõ

 Thẩm phán đã phổ biến đầy đủ, chi tiết quyền, nghĩa vụ cho những người tham gia

tố tụng

Trang 10

 Thẩm phán chỉ điều hành chứ không tham gia phần xét hỏi, không mời đại diện Viện kiểm sát tham gia phần xét hỏi

 Việc chủ tọa phiên tòa mời hội thẩm nhân dân, thư ký, kiểm sát viên “đứng lên” hay “ngồi xuống” khi phát biểu là không phù hợp

2.2 Hội thẩm nhân dân:

 Giọng nói to, rõ ràng, trang phục phù hợp, có chuẩn bị phông nền

 Có sự nghiên cứu hồ sơ vụ án, đặt được nhiều câu hỏi cho các đương sự

2.3 Thư ký phiên tòa

Giọng nói to, rõ ràng, trang phục phù hợp Tiến hành thủ tục bắt đầu phiên tòa đúng quy định

2.4 Kiểm sát viên:

 Kiểm sát viên có giọng nói rõ ràng, trang phục phù hợp, có trang bị phông nền đúng quy định

 Phần xét hỏi: Mặc dù, Chủ tọa quên không mời kiểm sát viên không tham gia phần xét hỏi nhưng Kiểm sát viên không đưa ra ý kiến gì

 Kiểm sát viên đã có sự chuẩn bị phần trình bày ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng đối với Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án Tuy nhiên, phần trình bày hơi dài, có sự nhầm lẫn về thời gian nội dung vụ việc, nhầm lẫn khái niệm giữa “khởi kiện” và “khiếu kiện”

2.5 Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện:

Về thủ tục bắt đầu phiên tòa: Tác phong chỉnh chu, tranh phục lịch sự, phù hợp Giọng

nói to, rõ ràng Việc giới thiệu bản thân ngắn gọn, súc tích

Trong quá trình xét hỏi: Luật sư đã đặt được nhiều câu hỏi cho các đương sự nhằm làm

rõ các tình tiết trong hồ sơ vụ án

Trong quá trình tranh luận: Các luật sư tham gia tranh luận sôi nổi Đưa ra nhiều lý lẽ,

luận điểm phản bác ý kiến của luật sư bên bị kiện đưa ra

Trong quá trình bảo vệ: Luật sư đã có sự chuẩn bị bài bảo vệ cho người khởi kiện.

Tuy nhiên, nội dung bài bảo vệ chưa tập trung, xoáy sâu vào mục đích cuối cùng là yêu cầu phía bị kiện chấp nhận hồ sơ và thực hiện các thủ tục để cấp GCNQSDĐ của người khởi kiện chứ không chỉ là yêu cầu hủy các văn bản

2.6 Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện

Ngày đăng: 08/09/2022, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w