- Về mặt thực tiễn: Luận văn sẽ đưa ra các giải pháp nhằm tăng cườnghơn nữa sự phối hợp giữa Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việcvận động nhân dân tham gia xây dựng chính quy
Trang 1LUẬN VĂN
"Thực trạng vận
động xây dựng chính
quyền
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Thể chế chính trị ở nước ta là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhândân làm chủ Đây là cơ chế chung trong quản lý xã hội Trong đó, “Mặt trận Tổquốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyềnnhân dân Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sựnhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng
cố chính quyền nhân dân…”1 Đảng lãnh đạo xã hội thông qua Nhà nước vàMặt trận Tổ quốc, qua đó nhằm nâng cao hơn nữa công tác chính trị, tư tưởng,lấy tuyên truyền, thuyết phục, vận động làm phương thức quan trọng để thựchiện sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và xã hội Mặt trận Tổquốc là ngôi nhà chung của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận tập hợp,vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo vàngười Việt Nam ở nước ngoài; Mặt trận tuyên truyền sâu rộng quan điểm,đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước trên các lĩnh vực kinh
tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, về các hoạt động của Mặttrận, các đoàn thể để cán bộ, đảng viên và nhân dân có nhận thức đầy đủ vềtinh thần và nhiệm vụ của đất nước, tạo sự đồng thuận xã hội, đoàn kết dân tộc,đẩy mạnh phong trào cách mạng của quần chúng, thực hiện thắng lợi cácnhiệm vụ, mục tiêu do Đảng đề ra
Quan hệ giữa Mặt trận với chính quyền là quan hệ hợp tác, bình đẳng,tôn trọng lẫn nhau, phối hợp cùng thực hiện nhiệm vụ chung của đất nước.Theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong suốt chiềudài lịch sử, cho đến giai đoạn hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn làmột tổ chức không thể thiếu trong sự nghiệp cách mạng, Mặt trận Tổ quốcViệt Nam đại diện cho quyền lợi hợp pháp và nguyện vọng chính đáng của
1 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, NXB Pháp lý-NXB Sự thật, Hà Nội 1992, trang 15
Trang 4nhân dân, là cầu nối bền chặt giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, luôn songhành cùng nhà nước hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của Đảng Sự phốihợp giữa Nhà nước và MTTQ Việt Nam trong công tác vận động nhân dântham gia xây dựng chính quyền đã được xác định trong nhiều văn kiện quantrọng của Đảng cộng sản Việt Nam Bên cạnh đó, một trong những nội dungquan trọng của cải cách bộ máy Nhà nước hiện nay là tăng cường mối quan
hệ mật thiết giữa Nhà nước với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
Tuy nhiên, trên thực tế, vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Namnói chung và việc phối hợp với Nhà nước trong việc vận động nhân dân xâydựng chính quyền nói riêng chưa được đánh giá đúng và đầy đủ, từ đó dẫnđến những hạn chế trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Mặt khác, với tình hình quốc tế và trong nước hiện nay, trong chiếnlược tăng cường phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đấtnước Việt Nam thực sự của dân, do dân, vì dân, việc vận động nhân dân xâydựng chính quyền đang trở thành nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng và cấpbách của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Do vậy, tôi chọn đề
tài “THỰC TRẠNG VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN” làm luận
văn thạc sĩ khoa học Hành chính công để khẳng định sự phối hợp giữa Nhànước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc vận động nhân dân tham giaxây dựng chính quyền là một công tác rất quan trọng của Nhà nước và Mặttrận Tổ quốc Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay, các công trình lớn, tiêu biểu viết về vai trò của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới nói chung và Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam tham gia xây dựng chính quyền nhân dân nói riêng chủ yếu là: Lịch sử
Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, quyển III (1975-2004) (Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2007); Đại đoàn kết dân tộc vì sự nghiệp dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh (Đỗ Mười-Lê Quang Đạo, Nxb.
Trang 5Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996); Đại đoàn kết dân tộc phát huy nội lực
nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước (Vũ Oanh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); Đại đoàn kết dân tộc - động lực chủ yếu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Kỷ
yếu Hội thảo khoa học-thực tiễn, Hà Nội, 2002); Phát huy sức mạnh Đại
đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo
khoa học-thực tiễn, Hà Nội, 2005); Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết
dân tộc và Mặt trận Dân tộc thống nhất (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1996); Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết với vấn đề phát huy sức mạnh
đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
2004); Một số vấn đề lý luận và thực tiễn công tác Mặt trận (Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội 2009)…
Ngoài ra, trên các sách, tạp chí khoa học, báo cũng có một số bài viết,nghiên cứu về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng chính quyềnnhân dân
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã khái quát, đề cập tươngđối rộng và phản ánh được nhiều khía cạnh về Mặt trận Tổ quốc Việt Namtham gia xây dựng chính quyền nhân dân góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề
lý luận trong thời kỳ mới Song, chưa có một công trình chuyên khảo trực tiếpnào về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia phối hợp với Nhà nước trongviệc vận động nhân dân xây dựng chính quyền
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn của Mặt trận Tổ quốc Việt Namtrong việc tham gia xây dựng chính quyền nhân dân, đề xuất những giải phápnhằm nâng cao sự phối hợp giữa Nhà nước và Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam
Trang 6trong việc vận động nhân dân xây dựng chính quyền, đặc biệt trong giai đoạnhiện nay.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nêu lên những nội dung công tác phối hợp giữa Nhà nước và Mặttrận Tổ quốc Việt Nam trong việc vận động nhân dân xây dựng chính quyền
- Phân tích, đánh giá những kết quả đạt được cũng như những mặt hạnchế trong công tác phối hợp giữa Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Namtrong việc vận động nhân dân xây dựng chính quyền thời gian qua, đồng thờinêu lên những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị có tính khả thi nhằm tăng cườngcông tác tham gia xây dựng và củng cố chính quyền của Mặt trận Tổ quốcViệt Nam
3.3 Đối tượng nghiên cứu
Sự phối hợp giữa Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việcvận động nhân dân xây dựng chính quyền
4 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩaduy vật biện chứng và các phương pháp khác như khảo cứu, phân tích, sosánh, tổng hợp… các tài liệu liên quan
4.2 Nguồn tư liệu
Nguồn tài liệu chủ yếu: Các văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết củaBan Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; các văn bản pháp luậtcủa Nhà nước gần đây đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Các bài phát biểu của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổquốc Việt Nam các thời kỳ; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc nhiệm kỳMặt trận Tổ quốc Việt Nam (các khoá III, IV, V, VI, VII); các văn kiện các
Trang 7Hội nghị Đoàn Chủ tịch, Hội nghị Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc ViệtNam hàng năm (các khoá III, IV, V, VI, VI, VII).
Ngoài ra, nguồn tài liệu là các Báo cáo công tác hàng tháng, 6 tháng,hàng năm và các báo cáo chuyên đề của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1986-2010) được lưu trữ tại cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc ViệtNam; một số công trình nghiên cứu về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Về mặt thực tiễn: Luận văn sẽ đưa ra các giải pháp nhằm tăng cườnghơn nữa sự phối hợp giữa Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việcvận động nhân dân tham gia xây dựng chính quyền, từ đó nâng cao vị trí, vaitrò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoànkết toàn dân tộc, phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệttrong giai đoạn hiện nay
6 Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của công tác phối hợp giữa
Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc vận động nhân dân xâydựng chính quyền
- Chương 2: Thực trạng của công tác phối hợp giữa Nhà nước và Mặt
trận Tổ quốc trong việc vận động nhân dân xây dựng chính quyền
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường sự phối hợp giữa Nhà
nước và Mặt trận Tổ quốc trong việc vận động nhân dân xây dựng chínhquyền
Trang 8CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG VIỆC VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm, chức năng, đặc trưng, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác phối hợp với Nhà nước vận động nhân dân xây dựng chính quyền
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - một hình thức cụ thể, hiện thân của Mặttrận dân tộc Thống nhất Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị rộng lớn,một bộ phận của hệ thống chính trị nước Công hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam, do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, từ khi ra đời đến nay đã khôngngừng lớn mạnh, trở thành một trong những nhân tố quyết định thắng lợi củacách mạng Việt Nam
Theo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các
tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nơi hiệp thương, phối hợp, thống nhất hành động của các thành viên, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”.
Trang 9Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tiền thân là Hội phản đế đồng minhđược thành lập ngày 18/11/1930 Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau,Mặt trận đã thay đổi nhiều tên gọi khác nhau cho phù hợp với yêu cầu củacách mạng Đó là:
- Mặt trận dân chủ (tháng 8/1937)
- Mặt trận Việt Minh năm 1945, Hội Liên hiệp Quốc dân(29/5/1945), thống nhất Việt Minh - Liên Việt thành Mặt trận Liên Việt(3/3/1951), đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (tháng 9/1955),
- Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (1960), Liên minh các lựclượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam (1968)
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Tháng 1/1977, Đại hội thống nhất các
tổ chức Mặt trận ở hai miền thành một Mặt trận dân tộc thống nhất duynhất lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)
Hơn nửa thế kỷ qua, trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đấutranh giành độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc cũng như trong sựnghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Namvẫn luôn tỏ rõ là một liên minh chính trị có vị trí, vai trò rất quan trọngtrong việc tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực,góp phần tích cực vào sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh”
Cũng giống như tất cả các tổ chức chính trị- xã hội khác, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam có những chức năng cơ bản sau đây:
- Chức năng phản ánh yêu cầu, nguyện vọng và bảo vệ quyền lợi hợppháp của quần chúng nhân dân:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời nhằm tập hợp tất cả các lực lượngyêu nước, tiến bộ, thể hiện ý chí, nguyện vọng đấu tranh vì độc lập tự do vàhạnh phúc của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo ở Việt Nam
Trang 10Trong Mặt trận dân tộc thống nhất do Đảng lãnh đạo có sự tham gia đôngđảo của các tầng lớp công nhân, nông dân, thợ thủ công, những nhà buôn,những nhà tư sản dân tộc, các điền chủ, những nhà trí thức yêu nước, nhữngquan lại cũ, những chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo, các dân tộc vàngười Việt Nam định cư tại nước ngoài… Ở họ có điểm tương đồng là lợiích quốc gia, truyền thống quý báu, bản sắc văn hoá, lòng yêu nước và tinhthần dân tộc Do vậy, chức năng phản ánh yêu cầu, nguyện vọng và bảo vệquyền lợi hợp pháp của quần chúng nhân dân cần phải được nhận thức đúngđắn và đầy đủ.
- Chức năng tuyên truyền, thuyết phục, tổ chức và vận động nhân dânthực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhànước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có chức năng tuyên truyền, thuyết phục,
tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng,chính sách pháp luật của Nhà nước thông qua các tổ chức thành viên và cáccuộc vận động, các phong trào cách mạng mang tính toàn dân để tập hợp vàđoàn kết mọi tầng lớp nhân dân Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chịu tráchnhiệm hiệp thương danh sách bầu cử và tham gia các hoạt động bầu cử đạibiểu vào cơ quan dân cử các cấp Chức năng tuyên truyền, thuyết phục, tổchức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chínhsách pháp luật của Nhà nước thể hiện trên các nội dung là:
+ Tuyên truyền và vận động quần chúng nhân dân thực hiện đườnglối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước
+ Tuyên truyền và vận động quần chúng nhân dân thực hiện nghĩa vụ,trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc
Trang 11+ Tuyên truyền và vận động quần chúng nhân dân, các hội viên vàthành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện theo đúng tôn chỉ, mụcđích hoạt động của tổ chức.
+ Tuyên truyền và vận động quần chúng nhân dân tham gia xây dựng
và bảo vệ Đảng, bảo vệ các cơ quan Nhà nước, xây dựng và bảo vệ nền dânchủ xã hội chủ nghĩa
+ Động viên các thành viên và mọi tầng lớp nhân dân phát huy quyềnlàm chủ của mình trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, trongthực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
- Chức năng giám sát, phản biện xã hội đối với các cơ quan, cán bộNhà nước và hệ thống chính trị
Giám sát và phản biện việc xây dựng và thực hiện chủ trương, chínhsách của Đảng, Nhà nước là một chức năng rất cơ bản, là một nhiệm vụ rấtquan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phản ánh sâu sắc bản chất củanền dân chủ xã hội chủ nghĩa Trong hệ thống chính trị nước ta, quyền giámsát được quy định trong những văn kiện của Đảng, cơ quan quyền lực Nhànước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Ngoài quyền giám sát của Quốc hộiđối với Chính phủ, Hội đồng nhân dân đối với Uỷ ban nhân dân, Nhà nướccòn cần được giám sát bởi Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, đểNhà nước ta thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân
Thực chất và mục tiêu cơ bản của việc thực hiện ba chức năng đó làtạo nên một cơ chế giám sát quyền lực trong xã hội, làm cho sự lãnh đạo củaĐảng và sự quản lý của Nhà nước bảo đảm thực hiện yêu cầu dân chủ hoá,chống quan liêu và chủ quan duy ý chí trong mọi hoạt động
Một số đặc trưng cơ bản của công tác phối hợp với Nhà nước trong công tác vận động nhân dân xây dựng chính quyền của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam:
Trang 12- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một tổ chức liên minh chính trị, liênhiệp tự nguyện rộng rãi nhất của các tổ chức và các cá nhân tiêu biểu trongcác giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định
cư ở nước ngoài Do đặc điểm này mà Mặt trận có những điều kiện để phốihợp với Nhà nước tập hợp, vận động đông đảo các tầng lớp nhân dân, tạothành sức mạnh to lớn, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn là cơ sở chính trị của chính quyềnnhân dân Mặt trận giới thiệu những người có đủ tiêu chuẩn và điều kiện đểnhân dân bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; vận động nhân dântham gia xây dựng pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đạibiểu dân cử, cán bộ, công chức Nhà nước
Theo quan điểm của Đảng ta, cải cách bộ máy Nhà nước còn bao hàmmột nội dung quan trọng là tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nướcvới Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân Mặt trận và cácđoàn thể nhân dân tham gia xây dựng, quản lý, giám sát và bảo vệ Nhà nước.Nhà nước dựa vào Mặt trận và các đoàn thể để phát huy quyền làm chủ vàsức mạnh có tổ chức của nhân dân Đó cũng chính là sức mạnh của bản thânNhà nước Trong quá trình ra quyết định và quản lý, điều hành, Quốc hội vàHội đồng nhân dân, Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp cần lắng nghenhững kiến nghị của Mặt trận và các đoàn thể Nhà nước cần có quy chế tổchức và cơ chế hoạt động giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước với Mặttrận và các đoàn thể nhân dân
Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là tổ chức lãnh đạo vừa là thành viêncủa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đây là một nét độc đáo trong lý luận cáchmạng nước ta Đảng là thành viên Mặt trận nhưng với tư cách thành viênlãnh đạo, thông qua Mặt trận để tập hợp các lực lượng quần chúng nhân dântheo Đảng làm cách mạng Trong sự nghiệp xây dựng đất nước ngày nay,
Trang 13quan điểm của Đảng là phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc;xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy dân chủ trong đờisống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở các cấp, các ngành để thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1.1.2 Đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
* Đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ: Nhà nước ta là Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Tất cảquyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giaicấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sảnViệt Nam lãnh đạo Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công,phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lậppháp, hành pháp, tư pháp Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xãhội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Một số đặc trưng cơ bản của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam:
- Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân,
do dân, vì dân, các cơ quan quyền lực nhà nước được lập nên thông qua cáccuộc bầu cử phổ thông, dân chủ, tự do, bình đẳng Quyền lực của nhà nước
là quyền lực của nhân dân, do nhân dân uỷ nhiệm thông qua lá phiếu củamình; tổ chức, cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước do nhân dân quyếtđịnh; các vấn đề trọng đại của đất nước đều phải hỏi ý kiến nhân dân Những
Trang 14góp ý, khiếu nại, tố cáo của nhân dân đối với Nhà nước đều được tôn trọng,xem xét, tiếp thu, giải quyết.
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặtchẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hànhpháp, tư pháp Nguyên tắc thống nhất quyền lực này xuất phát từ chỗ tất cảquyền lực này thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể duy nhất của quyềnlực nhà nước Mỗi cơ quan có chức năng và nhiệm vụ nhất định trong việcthực thi các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, không có cơ quan nàođứng một cách biệt lập mà có sự phối hợp chặt chẽ với nhau trong việc thựchiện quyền lực
- Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dânchủ Nguyên tắc này đảm bảo sự thống nhất trong tổ chức và hoạt động, kếthợp trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách, cấp dưới phụctùng cấp trên, thiểu số phục tùng đa số
- Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội theo pháp luật và bằngpháp luật Nhà nước được tổ chức và vận hành dựa trên cơ sở của pháp luật.Nhà nước ban hành pháp luật nhưng tôn trọng tính tối cao của pháp luật vàđặt mình dưới pháp luật Pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh,bình đẳng đối với mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội Cùng với các quyphạm đạo đức, pháp luật trở thành công cụ điều tiết chủ yếu các quan hệ xãhội
- Nhà nước do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo mọi chủ trương,đường lối của Đảng là sự kết tinh ý chí và lợi ích của nhân dân Hiến pháp
và pháp luật của Nhà nước là sự thể chế hoá các chủ trương, đường lối củaĐảng Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là tiền đề chính trị để xâydựng một nhà nước mà toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân
Với các đặc trưng nói trên, Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vìdân có một vị trí rất quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta và có quan
Trang 15hệ chặt chẽ, hữu cơ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Tại Hội nghị lần thứ 3Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá VIII, bàn về vấn đề “Phát huy quyềnlàm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh”, Tổng bí thư Đỗ Mười khẳng định:
“Từ khi giành chính quyền, trong hơn nửa thế kỷ qua, ở mọi giai đoạn pháttriển của cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn luôn coi việc xây dựng, tăngcường, kiện toàn Nhà nước là một nhiệm vụ hàng đầu, làm cho Nhà nướcthực sự là trụ cột của hệ thống chính trị, là một công cụ chủ yếu, vững mạnhcủa nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
* Quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
Thấu suốt quan điểm: Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết, là “tốithượng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong bầu trời không gì quýbằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết củanhân dân”, “Dân là chủ, mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” Do
đó, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò to lớncủa nhân dân trong lịch sử Dân làm chủ và phát huy quyền làm chủ củanhân dân là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát huy sứcmạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng nói chung
và tong sự nghiệp đổi mới ngày nay
Trong xây dựng Nhà nước pháp quyền, dân chủ và quyền làm chủ củanhân dân được thể hiện ở những nội dung chủ yếu:
- Nhân dân tham gia xây dựng các tổ chức, bộ máy của hệ thốngquyền lực Nhà nước và lựa chọn các đại biểu của mình bằng bầu cử, theophương thức dân chủ đại diện, từ bầu cử Quốc hội đến bầu cử Hội đồngnhân dân các cấp ở địa phương và cơ sở
- Nhân dân tham gia các công việc quản lý Nhà nước để thực hiệnquyền lực của mình Cụ thể là các việc: thảo luận, đóng góp ý kiến vào các
Trang 16dự thảo Luật, xây dựng hoặc sửa đổi Hiến pháp và các văn bản Luật, các quyđịnh, quy chế mang tính pháp lý; đề xuất các kiến nghị với chính quyền cáccấp thông qua các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân những vấn
đề về pháp luật và chính sách liên quan tới cuộc sống của mình
- Nhân dân tham gia đánh giá chính sách của Nhà nước Trung ương
và chính quyền các cấp ở địa phương, đưa ra những kiến nghị điều chỉnh, bổsung, sửa chữa chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu, lợiích chính đáng của mình
- Nhân dân đánh giá, nhận xét và chất vấn về hoạt động của các tổchức nhà nước, về thực hiện nhiệm vụ của các đại biểu được dân uỷ quyền,giám sát công việc, hành vi, tư cách của họ trong mối quan hệ với nhân dân,thái độ đối xử với dân và hiệu quả phục vụ nhân dân theo cương vị, chứctrách của người đại biểu
- Nhân dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, phát hiện
và đề nghị thanh tra, xử lý các biểu hiện tham nhũng, các vụ việc vi phạmchính sách, luật pháp, đạo đức của công chức, của các cơ quan nhà nước gâytổn hại tới lợi ích chung và lợi ích công dân, ảnh hưởng xấu đến uy tín,thanh danh của Nhà nước
- Nhân dân có quyền đòi hỏi các tổ chức, cơ quan Nhà nước và cáccông chức, đặc biệt là những người có chức, có quyền, có trọng trách do dân
uỷ thác phải cung cấp thông tin kịp thời theo những quy định được ban hànhcho dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra Quy chế dân chủ cơ sở xoayquanh những vấn đề đó Đó là công cụ pháp lý bảo đảm thực hiện dân chủ
và quyền làm chủ của dân ở cơ sở
Các đại biểu của dân và chính quyền của dân phải thực hiện chế độtrách nhiệm, kỷ luật công vụ và đạo đức công chức trong sự giám sát thườngxuyên của nhân dân Bằng những việc làm cụ thể đó, nhân dân không những
Trang 17tham gia xây dựng và tổ chức nên những cơ quan quyền lực, tham gia quản
lý để thực thi quyền lực mà còn tham gia vào kiểm soát quyền lực Nhà nước
Việc thực hiện dân chủ và quyền làm chủ của dân trong xây dựng Nhànước còn đồng thời gắn liền với việc nhân dân thực hiện các nghĩa vụ côngdân của mình đối với Nhà nước Các quyền và nghĩa vụ này được ghi trongHiến pháp và luật Nhà nước cần phải thực hiện các biện pháp tuyên truyền,phổ biến chính sách và pháp luật cho dân biết, dân hiểu, dân tự giác thựchiện Giáo dục ý thức pháp luật trong toàn dân từng bước hình thành văn hoápháp luật, nhu cầu và thói quen tôn trọng pháp luật, tạo ra tập quán pháp luậttrong đời sống xã hội Cần tiến hành một cách công phu, bền bỉ với nhữngbiện pháp đồng bộ, những hình thức vận động, tuyên truyền, giáo dục thiếtthực cũng như áp dụng những chế tài cần thiết để mọi công dân nghiêmchỉnh chấp hành chế độ trách nhiệm, kỷ luật công vụ và đạo đức công chức,kết hợp sức mạnh đạo đức với sức mạnh điều tiết, kiểm soát của pháp luật đểtạo ra sự lành mạnh xã hội, tính minh bạch, nghiêm minh của pháp luật
Với cơ quan nhà nước, cán bộ công chức, viên chức nhà nước, nếuthiếu vắng chế độ trách nhiệm, nếu không có những quy định pháp luật thật
rõ ràng, minh bạch và những chế tài nghiêm ngặt để buộc thực hiện và xử lýcác hậu quả tiêu cực xảy ra theo chế độ, trách nhiệm thì đó sẽ là mảnh đấtthuận lợi cho sự vi phạm dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân, làm tổnhại tới quyền lực của nhân dân
Do đó, để phát huy dân chủ và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dântrong xây dựng Nhà nước thì tất yếu phải làm rõ mối quan hệ giữa công dânvới Nhà nước, mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ, giữa lợi ích với tráchnhiệm, giữa công chức, quan chức với dân chúng, giữa đại biểu dân cử với
cử tri Những mối quan hệ này phải được thể chế hoá, phải được pháp luậtđiều tiết với sự hỗ trợ, thúc đẩy mạnh mẽ của đạo đức, của văn hoá
Trang 18Trong lĩnh vực xây dựng Nhà nước, những quyền dân chủ và làm chủvới những nội dung nói trên của nhân dân được thể hiện bằng phương thứcdân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, tức là thông qua các đại biểu nhân dân
do dân bầu ra, dân kiểm tra, giám sát và có quyền bãi miễn; bằng quyết địnhtrực tiếp của dân theo quy chế dân chủ cơ sở đã ban hành Ở cơ sở, dân chủ
và quyền làm chủ của dân còn được thực hiện bằng các hoạt động tự quảntrong cộng đồng Hương ước, quy ước là một thể chế tự quản, vừa có tínhpháp lý, vừa có ý nghĩa văn hoá, đó là văn hoá tự quản mang sắc thái vănhoá truyền thống Các quan hệ dân sự trong đời sống xã hội dân sự, nhândân tự dàn xếp, giải quyết trên tinh thần hoà giải, đoàn kết, đồng thuận
Trong quản lý xã hội, việc phát huy dân chủ và bảo đảm quyền dânchủ của nhân dân được thể hiện ở những nội dung và hình thức chủ yếu là:Nhân dân tham gia quản lý xã hội bằng Nhà nước, tức là tham gia thực hiệnchức năng xã hội, tổ chức đời sống xã hội dân sự: tham gia quản lý xã hộibằng các tổ chức, thiết chế phi nhà nước Đó là các đoàn thể, các tổ chứcchính trị-xã hội trong hệ thống chính trị (trong đó có Mặt trận Tổ quốc ViệtNam), cũng như các tổ chức khác mang tính xã hội, tự nguyện, tự quản, tựquyết định (có thể gọi là các định chế xã hội dân sự) Nhân dân tham giaquản lý xã hội bằng sự phối kết hợp giữa các tổ chức, các phong trào, cácnguồn lực để thực hiện phát triển kinh tế- văn hoá, xây dựng môi trường xãhội lành mạnh, thực hiện công bằng và bình đẳng xã hội, đoàn kết và hợptác, tự phát triển, nhất là trong các quan hệ tộc người ở vùng cư trú đa tộcngười ở nước ta: xoá đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn, giữ gìn an ninhtrật tự, ổn định chính trị- xã hội, tổ chức đời sống văn hoá tinh thần, xâydựng đạo đức, lối sống…
Việc hoàn thiện hệ thống chính trị, trước hết là xây dựng và củng cốnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện hệ thống pháp luật vàtăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, là tạo ra điều kiện để nhân dân tham
Trang 19gia ngày càng nhiều vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội như bầu
cử, ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước; tuyển chọn và bố trí giámsát đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có phẩm chất đạo đức, giỏi chuyênmôn nghiệp vụ, thành thạo trong điều hành và giải quyết công việc phục vụnhân dân; tham gia đông đảo và có tính chất quyết định hơn vào cuộc đấutranh chống tệ nạn quan liêu, thói cửa quyền và nạn tham nhũng, tiêu cực
1.1.3 Mối quan hệ phối hợp giữa Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
“Phối hợp” là phạm trù phản ánh mối quan hệ qua lại giữa các bênphối hợp, trong đó các bên phối hợp có sự tác động qua lại với nhau Côngtác phối hợp gắn với sự phân công công việc cần phối hợp Tính chất củaphối hợp là theo chiều ngang
Có 2 hình thức phối hợp là phối hợp trong hệ thống và phối hợp ngoài
hệ thống Sự phối hợp sẽ dễ dàng và có ý nghĩa hơn nếu các bên phối hợptrong cùng một hệ thống
* Nguyên tắc của sự phối hợp:
- Đối với phối hợp trong hệ thống: sự phối hợp thông qua quy chế làmviệc của các bên phối hợp Có 3 khía cạnh được thể hiện nguyên tắc phốihợp là: trách nhiệm của các bên phối hợp; thẩm quyền của các bên phối hợp
và các công việc cụ thể cần sự phối hợp
- Đối với phối hợp ngoài hệ thống: thông qua quy chế phối hợp tại cáccuộc họp liên tịch của các bên tham gia phối hợp
Trong phối hợp ngoài hệ thống, nguyên tắc phối hợp được thể hiệnnhư sau:
+ Phối hợp phải đảm bảo tính thống nhất: Thể hiện ở kế hoạch phốihợp của cơ quan chủ trì Đặc biệt phải có sự tôn trọng lợi ích các bên phốihợp Khi bối cảnh thay đổi phải có sự kịp thời điều chỉnh cho phù hợp
Trang 20+ Phối hợp phải đảm bảo sự chia sẻ thông tin giữa các bên Các bênphối hợp phải có trách nhiệm chia sẻ thông tin với nhau.
+ Phối hợp phải đảm bảo sự chuyên môn hoá giữa các bên, đi đôi vớihợp tác hoá
+ Phải đảm bảo tính khách quan trong phối hợp
* Các điều kiện để sự phối hợp có hiệu quả:
- Điều kiện để đảm bảo kinh phí
- Điều kiện để đảm bảo thông tin
- Điều kiện để đảm bảo thời gian
Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là hai tổ chức thuộc hai hệthống khác nhau cùng nằm trong hệ thống chính trị Hệ thống chính trị nước
ta bao gồm 3 tổ chức là Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vớiphương thức Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ Trong
đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội đại diện chonhân dân, có vai trò hết sức to lớn trong việc tập hợp khối đại đoàn kết toàndân tộc, đây cũng là sứ mệnh lịch sử mà Đảng giao phó cho Mặt trận Tổquốc Việt Nam từ khi thành lập cho đến nay Mỗi giai đoạn lịch sử, tuỳ theotừng hoàn cảnh lịch sử khác nhau, Mặt trận đều thực hiện tốt vai trò này Đểlàm được điều này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận và Nhà nước cần có
sự phối hợp chặt chẽ mới có thể phát huy tốt nhất sứ mạng lịch sử này VìMặt trận Tổ quốc và Nhà nước là hai hệ thống khác nhau trong hệ thốngchính trị nước ta (khác về tổ chức và chức năng), do vậy việc phối hợp giữaMặt trận Tổ quốc và Nhà nước là phối hợp giữa hai hệ thống khác nhaunhưng cùng chung một mục tiêu, một điểm tương đồng là cùng nhau xâydựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh, nhà nước thực sự của dân, dodân, vì dân, trong đó, việc phối hợp để vận động nhân dân xây dựng chínhquyền cũng là mục tiêu quan trọng trong công tác phối hợp nói chung giữaMặt trận Tổ quốc và các cơ quan Nhà nước
Trang 21Quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là quan
hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân được hình thành và phát triển trong quátrình cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội chủ nghĩa Cơ
sở để xác định mối quan hệ này phải căn cứ vào thể chế chính trị của nước ta.Văn kiện Đại hội VI của Đảng xác định: “Chúng ta đã xác định mối quan hệĐảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chungtrong quản lý toàn bộ xã hội” Quyền làm chủ của nhân dân cần được thể chếhoá bằng pháp luật và tổ chức; đồng thời Đảng cũng chỉ rõ: “Mặt trận Tổquốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội có vai trò to lớn trong việcđộng viên các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng, quản lý kinh tế, quản lý
xã hội Các cấp, các ngành, chính quyền phải tôn trọng các đoàn thể quầnchúng và Mặt trận, phối hợp chặt chẽ và tạo điều kiện thuận lợi để các đoànthể và Mặt trận hoạt động có hiệu quả thiết thực”
Sau 12 năm thực hiện các quy định của Hiến pháp 1980 về quan hệgiữa Nhà nước với Mặt trận, Hiến pháp 1992 đã bổ sung và phát triển nộidung của mối quan hệ giữa Nhà nước với Mặt trận:
- Về tính chất của quan hệ, tại Điều 9 Hiến pháp quy định: “Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chínhquyền nhân dân”
- Về nhiệm vụ cơ bản của Mặt trận, Hiến pháp quy định: Mặt trận phảiphát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị
và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhândân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chính thi hànhHiến pháp và pháp luật, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, đạibiểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước
- Về trách nhiệm của Nhà nước, Hiến pháp quy định: “Nhà nước tạođiều kiện để Mặt trận Tổ quốc và cá tổ chức thành viên hoạt động có hiệuquả”
Trang 22Trong Hiến pháp năm 1992 quy định một số quyền và trách nhiệm củaNhà nước, của Mặt trận, đó là, quyền trình dự án Luật ra trước Quốc hội củaMặt trận Tổ quốc Việt nam, các đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệuquả (điều 112), Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt nam và người đứngđầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp Hộiđồng nhân dân và được mời tham dự hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp khibàn các vấn đề có liên quan
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tìnhhình mọi mặt của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân,lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền vàphát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận và các đoànthể nhân dân động viên nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh
tế - xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận và các đoàn thể nhân dânđộng viên nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội,quốc phòng, an ninh ở địa phương ( điều 125)
Như vậy, Hiến pháp năm 1992 đã xác định rõ tính chất, nội dung, quan
hệ, quyền và trách nhiệm của mỗi bên trong mối quan hệ giữa Nhà nước vớiMặt trận, đây là cơ sở để cụ thể hoá thành các quy định của pháp luật
Thể chế hoá Hiến pháp, nhiều đạo luật đã quy định cụ thể mối quan hệgiữa Nhà nước với Mặt trận, giữa Uỷ ban Mặt trận với cơ quan Nhà nước trêncác lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại nhân dân, trongcông tác tuyên truyền, vận động nhân dân, công tác tập hợp, xây dựng khốiđại đoàn kết toàn dân tộc Điển hình trong việc cụ thể Hiến pháp là Nhànước đã ban hành Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó quy định cụ thểnguyên tắc của mối quan hệ, hình thức của mối quan hệ
Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước là quan hệphối hợp để thực hiện nhiệm vụ chính trị, quyền hạn theo quy định của pháp
Trang 23luật, trên cơ sở quy chế phối hợp công tác do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ViệtNam và cơ quan Nhà nước hữu quan ở từng cấp ban hành Đây là phươngthức để thực hiện quan hệ phối hợp giữa Mặt trận với Nhà nước ở mỗi cấphành chính.
Ở Trung ương, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phốihợp với Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Việnkiểm sát nhân dân tối cao thông qua quy chế phối hợp công tác giữa ĐoànChủ tịch với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, giữa Đoàn Chủ tịch với lãnh đạoViện Kiểm sát nhân dân tối cao, lãnh đạo Toà án nhân dân tối cao BanThường trực ký quy chế phối hợp công tác với lãnh đạo các Bộ, cơ quanngang Bộ
Ở địa phương, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ký quy chế với Uỷ ban nhândân, Hội đồng nhân dân cùng cấp Ban Thường trực ký quy chế phối hợpcông tác với lãnh đạo các sở, ngành cung cấp
Nguyên tắc của mối quan hệ giữa Mặt trận với Nhà nước là quan hệphối hợp để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mỗi bên thamgia quy định của Hiến pháp và pháp luật Nguyên tắc của sự phối hợp là bìnhđẳng, hợp tác, tạo điều kiện để mỗi bên thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình
Sở dĩ Nhà nước phải phối hợp với Mặt trận vì bản chất Nhà nước ta là Nhànước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhândân Nhà nước có chức năng quản lý toàn bộ đất nước Mặt trận là cơ sở chínhtrị của chính quyền nhân dân, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân,đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của công dân Nhà nước
và Mặt trận đều do Đảng lãnh đạo Tuy chức năng, nhiệm vụ, quyền và tráchnhiệm có khác nhau nhưng đều là công cụ của nhân dân thực hiện và phát huyquyền làm chủ của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thực hiện các quy định của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về quan
hệ phối hợp công tác, đến nay tất cả các tỉnh, thành phố, các quận, huyện, xã,
Trang 24phường, thị trấn trong cả nước đều đã xây dựng và ban hành quy chế phối hợpcông tác ở mỗi cấp Sự phối hợp công tác giữa Mặt trận với Nhà nước đã đivào nề nếp theo quy định pháp luật.
Tuy nhiên, qua hơn 10 năm thực hiện Luật Mặt trận Tổ quốc Việt nam
về quan hệ phối hợp công tác giữa Nhà nước và Mặt trận còn những tồn tại,hạn chế sau:
- Nhận thức trong hệ thống chính trị chưa đầy đủ và thống nhất về cơ
sở của mối quan hệ, tính chất, nội dung, quyền và trách nhiệm của mỗi bêntrong mối quan hệ giữa cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổquốc ở mỗi cấp, nhất là ở cấp huyện và cơ sở Bản thân cán bộ Mặt trận còn
tự ti, e dè trong việc thực hiện các mối quan hệ
- Phương thức quan hệ giữa Uỷ ban Mặt trận với cơ quan Nhà nướcchưa được thực hiện rộng rãi trên các mặt công tác của mỗi bên Các cấp ởđịa phương mới chỉ xây dựng quy chế phối hợp giữa Mặt trận với Hội đồngnhân dân, với Uỷ ban nhân dân, chưa mở rộng sự phối hợp thông qua các vănbản liên tịch nhiều bên, giữa cơ quan Nhà nước với Ban thường trực Mặt trận
- Trong phối hợp công tác thông qua các văn bản liên tịch sự bình đẳng,tạo điều kiện từ phía cơ quan Nhà nước còn hạn chế, tư tưởng xin - cho, ban
ơn vẫn còn ở nơi này, cấp nọ trong sự phối hợp giữa 2 bên
1.2 Cơ sở pháp lý
1.2.1 Các văn bản pháp luật quy định công tác phối hợp giữa Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc vận động nhân dân xây dựng chính quyền
Công tác phối hợp giữa Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vậnđộng nhân dân tham gia xây dựng chính quyền được quy định ở nhiều văn
bản pháp luật như Hiến pháp, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Tổ
chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân
và Uỷ ban nhân dân, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu
Trang 25Hội đồng nhân dân, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật giámsát của Quốc hội…
- Hiến pháp 1992 quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính
trị của chính quyền nhân dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thầntrong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùngNhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viênnhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp vàpháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán
bộ viên chức Nhà nước Ngoài ra còn một số điều luật khác của Hiến phápquy định về mối quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Quốc hội,Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
- Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 5
thông qua ngày 12/6/1999 Luật đã cụ thể hoá Hiến pháp 1992 về vai trò, vịtrí, tính chất và nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đồng thời tổnghợp các quyền và trách nhiệm của Mặt trận đã được quy định ở một số đạoluật liên quan Việc Quốc hội ban hành Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cómột ý nghĩa rất quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý để Mặt trận Tổ quốc ViệtNam tiếp tục nâng cao vai trò của mình trong sự nghiệp đổi mới đất nước,góp phần thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy tinh thần yêu nước,lòng tự hào dân tộc, tính tích cực, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân thựchiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại,góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng vững mạnh.Trên cơ sở đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phấn đấu để làm tốt vai trò là cơ
sở chính trị của chính quyền nhân dân, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng vàNhà nước, để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự là nơi tập hợp khối đạiđoàn kết toàn dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhândân
Trang 26Thể hiện mục đích và ý nghĩa nêu trên, tại các điều 7, 8, 9, 10, 11,12… của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã quy định chi tiết quyền vàtrách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác tham gia xâydựng và củng cố chính quyền
- Luật Tổ chức Chính phủ quy định Chính phủ phối hợp với Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả.Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liênđoàn lao động Việt Nam và các đoàn thể nhân dân động viên, tổ chức nhândân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; tổ chức thực hiệncác chủ trương, chính sách của Nhà nước, giám sát hoạt động của cơ quanNhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ và viên chức Nhà nước
- Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân:
Luật này có nhiều điều quy định về mối quan hệ giữa Hội đồng nhândân, Uỷ ban nhân dân với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thànhviên của Mặt trận Về công tác phối hợp giữa Hội đồng nhân dân, Uỷ bannhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vận động nhân dân xây dựng và
củng cố chính quyền, nêu rõ: Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, đại
biểu Hội đồng nhân dân phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức thành viên của Mặt trận chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia vào việc quản lý Nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước; Uỷ ban nhân dân tạo điều kiện thuận lợi để
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tổ chức, động viênnhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, giám sát hoạtđộng của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, viên chức Nhà nước;trong quá trình giám sát hoạt động của đại biểu, Mặt trận đề nghị Hội đồng
Trang 27nhân dân bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân không còn xứng đáng vớitín nhiệm của nhân dân…
- Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội;tham gia các tổ chức phụ trách bầu cử, giám sát việc bầu cử đại biểu Quốchội và các giai đoạn khác của cuộc bầu cử
- Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân quy định Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ViệtNam ở địa phương tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu những ngườiứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, tham gia các tổ chức phụ trách bầu cử,giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và các giai đoạn khác củacuộc bầu cử
- Luật Tổ chức Toà án nhân dân quy định Toà án phối hợp với các cơ
quan, trong đó có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để nghiên cứu và thực hiệnnhững chủ trương, biện pháp nhằm phòng ngừa và chống tội phạm, các viphạm pháp luật khác Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ quan duynhất có thẩm quyền giới thiệu người để Hội đồng nhân dân cùng cấp bầulàm Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa phương
1.2.2 Những nội dung cơ bản của công tác phối hợp giữa Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc vận động nhân dân xây dựng chính quyền
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định: “Mặt trận Tổ quốc ViệtNam tham gia tuyên truyền, động viên nhân dân thực hiện đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phối hợp, tham giavới cơ quan nhà nước tổ chức các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêunước, vận động nhân dân đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, xây dựngđời sống văn hoá, giải quyết các vấn đề xã hội, xây dựng nền quốc phòng
Trang 28toàn dân, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội” (Khoản 1,2 Điều7) Vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc phối hợpvới các cơ quan nhà nước để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vậnđộng nhân dân xây dựng chính quyền là một là một vai trò rất to lớn và quantrọng, bởi vì việc tạo điều kiện cho nhân dân trực tiếp thực hiện quyền lựccủa mình cúng như phải lắng nghe, thực hiện ý kiến, kiến nghị của nhân dân,bảo vệ các quyền làm chủ và tham gia xây dựng một Nhà nước pháp quyềnthực sự của dân, do dân, vì dân là những nội dung rất cơ bản, cốt lõi của đờisống chính trị - xã hội của một thể chế dân chủ Trong hoạt động này có sựtham gia của nhiều chủ thể: tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, nhất là các cơquan đại diện quyền lực, các đoàn thể chính trị - xã hội (trong đó có Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam), trong đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trịcủa chính quyền nhân dân, đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong côngtác này và chủ yếu thể hiện trong sự phối hợp với các cơ quan nhà nước đểthực hiện
Nội dung và cách thức phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và Nhà nướctrong việc vận động nhân dân xây dựng chính quyền thể hiện ở những điểm
có các nhiệm vụ chính như sau:
- Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc chủ trì tổ chức hiệp thương,lựa chọn giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồngnhân dân
Công tác hiệp thương với quy trình 5 bước được thực hiện theo quyđịnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương
Trang 29Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (đối với bầu cử đại biểu Quốc hội); của Chínhphủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (đối với cuộc bầu cửđại biểu Hội đồng nhân dân).
- Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phối hợp cùng vớiThường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành lập các tổ chức phụtrách bầu cử và cử đại diện Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thamgia các tổ chức phụ trách bầu cử cùng cấp: Hội đồng bầu cử, Ủy ban bầu cử,Ban bầu cử, tổ bầu cử đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội; Hội đồng bầu
cử, Ban bầu cử và tổ bầu cử đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
- Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc chủ trì phối hợp với chínhquyền cùng cấp ở xã, phường, thị trấn tổ chức hội nghị cử tri ở nơi cư trú, đểlấy ý kiến nhận xét và sự tín nhiệm của cử tri trước khi tổ chức hội nghị hiệpthương lần thứ 3 lựa chọn, lập danh sách chính thức giới thiệu người ứng cử
- Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc chủ trì tổ chức các hộinghị cử tri để những người ứng cử gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri, thực hiện quyềnvận động bầu cử Đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội thì do Ủy ban Mặttrận Tổ quốc cấp quận, huyện, thị (gọi tắt là cấp huyện) chủ trì tổ chức Đốivới cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân do Ban Thường trực Ủy ban Mặttrận Tổ quốc cấp xã chủ trì tổ chức
- Phối hợp trong công tác tuyên truyền, vận động cử tri thực hiện quyềnbầu cử, tự mình đi bỏ phiếu trong ngày bầu cử
- Thực hiện quyền giám sát việc bầu cử thông qua việc cử đại diện của
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tham gia các đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụQuốc hội, Hội đồng nhân dân hoặc tự mình tổ chức các đoàn giám sát thựchiện các công việc bầu cử như: giám sát việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tốcáo của cử tri trong cuộc bầu cử; giám sát thủ tục, trình tự tổ chức bỏ phiếu,kiểm phiếu, bầu lại, bầu thêm và những công việc liên quan đến bầu cử theoquy định của Luật bầu cử và hướng dẫn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Trang 30Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; chỉ đạo hoạtđộng của Ban Thanh tra nhân dân giám sát thực hiện các quy trình bầu cử,công tác hiệp thương của Mặt trận Tổ quốc cùng cấp trong bầu cử đại biểuHội đồng nhân dân.
- Phối hợp vận động nhân dân tham gia giám sát thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Vấn đề này đã đượcquy định rõ trong điều 9 Hiến pháp 1992 và hơn 30 văn bản quy phạm phápluật hiện hành Nhiều Nghị quyết, chỉ thị của Đảng đã nhấn mạnh yêu cầunâng cao vai trò giám sát của Mặt trận và nhân dân đối với Nhà nước (Nghịquyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, Nghịquyết của Bộ Chính trị về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dântộc Thống nhất ngày 17/11/1993, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấphành Trung ương Đảng khoá VIII, các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII, IX của Đảng và gần đây nhất là Nghị quyết Hội nghị lần thứbảy (phần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về phát huy sứcmạnh toàn dân tộc vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh”)
Sự khác nhau cơ bản giữa hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốcViệt Nam với giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quanNhà nước khác có chức năng giám sát là ở tính chất giám sát và hình thứcgiám sát Giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân là giám sát mang tínhquyền lực do các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và các cơquan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân tiến hành Quốc hội, Hội đồng nhândân có quyền quyết định những hình thức và biện pháp xử lý nếu quá trìnhgiám sát phát hiện có vi phạm pháp luật Giám sát của Mặt trận Tổ quốc là
giám sát xã hội, mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra,
Trang 31thanh tra của Nhà nước nhằm góp phần xây dựng và bảo vệ Nhà nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệulực, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân Hoạt độnggiám sát của Mặt trận được thực hiện với ba hình thức là: động viên nhândân thực hiện quyền giám sát của mình; tham gia với cơ quan Nhà nướctrong hoạt động giám sát khi có yêu cầu và trực tiếp thực hiện hoạt độnggiám sát thông qua các hoạt động thường xuyên, tổng hợp ý kiến, kiến nghịcủa nhân dân và các thành viên, trên cơ sở đó nghiên cứu, xác minh để kiếnnghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết và xử lý
Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn quy định cụ thể những việc Hộiđồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, phải thông tin kịp thời và công khai để dânbiết, những việc dân bàn và quyết định trực tiếp, những việc dân tham gia ýkiến trước khi cơ quan Nhà nước quyết định, những việc dân giám sát, kiểmtra và các hình thức thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Xuất phát từ tình hình thực tiễn của đất nước, khi mà tình trạng yếukém của hệ thống chính trị ở cơ sở và vấn đề mất dân chủ ở cơ sở diễn ranghiêm trọng ở nhiều nơi, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng vàNhà nước, gây nên tình trạng mất an ninh và trật tự xã hội ở nhiều địaphương; ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị số 30/CT-TW về việc xâydựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Đây là lần đầu tiên, Đảng ta cómột văn bản riêng về vấn đề này Việc ban hành Chỉ thị quan trọng này củaĐảng chính là để tiếp tục mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyềnlàm chủ của nhân dân trong xây dựng và quản lý Nhà nước; thực hiện tốt
phương châm: "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" nhằm
phát huy quyền làm chủ của dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý, kiểmsoát Nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạntham nhũng đang xảy ra ở nhiều nơi trên đất nước ta Qua đó nhằm xây dựng
bộ máy chính quyền cơ sở ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động có
Trang 32hiệu lực, hiệu quả; góp phần to lớn vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chỉ thị đã nêu rõ nhiệm vụ quan trọng và cấpbách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở; bởi đó là nơitrực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơithực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất.Trên cơ sở đó, ngay trong năm 1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29
về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (sau đóđược thay bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP và nay đã được nâng lên thànhPháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn) Nghị định 79/2003/NĐ-
CP đã chỉ rõ trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc tham giatuyên truyền phổ biến, phối hợp với chính quyền tổ chức thực hiện và giámsát việc thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở
Trong quá trình tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ, Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc cơ sở và chính quyền quán triệt 5 quan điểm chỉ đạo của Bộ chính trị
về dân chủ:
- Dân chủ phải tạo ra động lực phát triển kinh tế xã hội, ổn định chínhtrị xã hội, tăng cường đoàn kết nông thôn, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí
- Dân chủ phải gắn liền với cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
nhân dân làm chủ" coi trọng cả 3 mặt nói trên không vì nhấn mạnh 1 mặt, mà
coi nhẹ, hạ thấp mặt khác
- Dân chủ trực tiếp gắn liền với phát huy dân chủ đại diện, xây dựngchính quyền trong sạch, vững mạnh, ngăn ngừa và khắc phục tình trạng suythoái, quan liêu, tham nhũng
- Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, trật tự trong khuôn khổ của hiếnpháp và pháp luật Chống quan liêu mệnh lệnh, đồng thời chống tình trạng vôChính phủ, lợi dụng dân chủ vi phạm pháp luật
- Gắn thực hiện quy chế dân chủ với công tác cải cách hành chính, sửađổi cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính không phù hợp
Trang 33Trên cơ sở quán triệt những quan điểm của Bộ Chính trị và nắm chắc 5khâu trong qui chế thực hiện dân chủ ở xã theo Nghị định 79 CP, Ủy ban Mặttrận Tổ quốc cơ sở phối hợp với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thựchiện tốt quyền và trách nhiệm của mình đã được qui định trong qui chế thựchiện dân chủ xã, phường, thị trấn.
- Phối hợp vận động nhân dân tham gia xây dựng pháp luật, phối hợp tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân
Công tác phối hợp giữa Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Namtrong việc vận động nhân dân tham gia xây dựng pháp luật và phối hợp đểtuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân được quy định chủ yếu ởHiến pháp, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật Mặt trận Tổquốc Việt Nam, với những nội dung chủ yếu sau đây:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có quyền trình
dự án luật ra trước Quốc hội Theo Hiến pháp, các chủ thể có quyền trình dự
án luật ra trước Quốc hội bao gồm: Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốchội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhândân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vàcác tổ chức thành viên của Mặt trận và đại biểu Quốc hội Mặt khác, Mặttrận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền thamgia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Đối với những dự ánluật, pháp lệnh có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Mặttrận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; quy định về tổ chức bộmáy Nhà nước, thì cơ quan soạn thảo có trách nhiệm gửi dự án luật, dự ánpháp lệnh đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên để lấy ýkiến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng với cơ quan Nhà nước có thẩm quyềnban hành nghị quyết, thông tư liên tịch để hướng dẫn thi hành những vấn đềkhi pháp luật quy định về trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thamgia quản lý Nhà nước
Trang 34Các thành viên của hệ thống chính trị nước ta bao gồm Đảng, Nhànước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó Đảng đóng vai trò lãnh đạotoàn diện, Nhà nước là tổ chức quản lý xã hội, còn Mặt trận Tổ quốc ViệtNam, các tổ chức thành viên của Mặt trận là các tổ chức chính trị-xã hộihoặc các tổ chức xã hội có chức năng chủ yếu là làm công tác vận động các
tầng lớp nhân dân (hoặc nói theo Bác Hồ là làm công tác Dân vận), không
thuộc khối các cơ quan Nhà nước Trong khi đó, công tác xây dựng phápluật vốn là công việc của Nhà nước Vì vậy, quy định Mặt trận Tổ quốc ViệtNam có quyền phối hợp tham gia xây dựng pháp luật là những quy định thểhiện tính dân chủ trong xây dựng pháp luật của Nhà nước ta Mặt trận Tổquốc Việt Nam tham gia xây dựng pháp luật ở tất cả các khâu, từ việc trình
dự án luật ra trước Quốc hội cho đến việc tham gia ý kiến vào các dự án luật
do cơ quan Nhà nước soạn thảo; tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhândân và giám sát việc thi hành pháp luật
- Phối hợp vận động nhân dân tham gia tố tụng, tuyển chọn Thẩm phán, giới thiệu Hội thẩm nhân dân.
Công tác tố tụng là một lĩnh vực đòi hỏi tính mệnh lệnh, tính cưỡngchế là chủ yếu, tuy nhiên việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Nhànước vận động nhân dân tham gia tố tụng thể hiện rất cao tính chất dân chủtrong các hoạt động tố tụng Trên thực tế, các quy định về Mặt trận Tổ quốcViệt Nam phối hợp tham gia tố tụng trong một số văn bản pháp luật hiệnhành như Bộ luật tố tụng hình sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranhchấp lao động…không nhiều và cũng chưa thật sự cụ thể nhưng nếu Mặttrận Tổ quốc Việt Nam các cấp chủ động tham gia một cách tích cực thìcũng góp phần rất quan trọng trong việc phát huy dân chủ, bảo vệ các quyền
và lợi ích cơ bản của công dân
Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc giới thiệu, tuyểnchọn Hội thẩm nhân dân và phối hợp cùng Toà án nhân dân giúp đỡ Hội
Trang 35thẩm nhân dân hoạt động đã có từ lâu Song thực chất hoạt động này chỉ đivào nền nếp và có tính ổn định sau khi có Pháp lệnh về Thẩm phán và Hộithẩm Toà án nhân dân Vì thế trong phần này tác giả chỉ đi sâu nhấn mạnh
và làm rõ thực trạng vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc giớithiệu, tuyển chọn Hội thẩm nhân dân và phối hợp cùng Toà án nhân dângiúp đỡ Hội thẩm nhân dân hoạt động từ khi có Pháp lệnh về Thẩm phán vàHội thẩm Toà án nhân dân
Trang 36CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG VIỆC VẬN ĐỘNG NHÂN
DÂN XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN 2.1 Những hoạt động chủ yếu về công tác phối hợp giữa Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc vận động nhân dân xây dựng chính quyền
2.1.1 Phối hợp vận động nhân dân tham gia công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
Để cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhândân được tiến hành tốt nhất, nhằm thực hiện sự phối hợp giữa Mặt trận vàchính quyền trong việc vận động nhân dân tham gia bỏ phiếu chọn đượcngười đại biểu tin cậy nhất của mình cần các yêu cầu sau:
Thứ nhất, Mặt trận phải lựa chọn, giới thiệu được những người đủtiêu chuẩn ra ứng cử qua các bước hiệp thương theo luật định Đây là côngviệc hết sức quan trọng để vừa có được danh sách những người ứng cử hợp
lý, vừa đảm bảo cả số lượng, chất lượng, vừa thể hiện được cơ cấu cácthành phần đại diện cho trí tuệ của các tầng lớp nhân dân Quá trình hiệpthương có nhiều bước, nhưng bất cứ bước hiệp thương nào cũng nhất thiếtphải dựa vào ý kiến đa số của cử tri ở nơi công tác và nơi cư trú để lựachọn, không phân biệt người do cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổchức chính trị-xã hội hoặc người tự ứng cử Quá trình tổ chức hiệp thương
là quá trình lắng nghe ý kiến của nhân dân, thu thập và xử lý các thông tin
đa dạng, nhiều chiều Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có làm tròn chức năng lànơi thể hiện cho ý chí và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân hay không
là ở chỗ có phản ánh được hay không ý kiến, nguyện vọng chính đáng của
Trang 37nhân dân trong việc lựa chọn người đại diện xứng đáng của nhân dân vàocác cơ quan quyền lực Nhà nước
Thứ hai, Mặt trận phải phối hợp với các tổ chức phụ trách bầu cử(Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử) để làm tốt côngtác tổ chức bầu cử theo các quy định của pháp luật; cần phối hợp tổ chứccác khâu công tác cụ thể và tỷ mỉ, từ khâu chuẩn bị và tổ chức các đơn vịbầu cử, hoàn chỉnh hồ sơ người ứng cử, niêm yết danh sách cử tri, danhsách người ứng cử, tổ chức bỏ phiếu, kiểm phiếu, thông báo kết quả… chođến việc giải quyết những vấn đề phát sinh như khiếu nại, bầu lại, bầu bổsung… Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp phải cử đại diện là những người
có năng lực trong công tác tổ chức, nắm vững luật pháp, được nhân dân tincậy để tham gia vào các tổ chức phụ trách bầu cử, trực tiếp phối hợp côngtác để cho việc bầu cử tại địa phương được tiến hành một cách thực sự dânchủ và đúng luật
Thứ ba, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện quyền giám sát cuộcbầu cử Việc giám sát được tiến hành ngay từ khi lập danh sách cử tri, công
bố danh sách người ứng cử, việc bầu cử, kiểm phiếu… Đây là một công tácrất khó khăn, đòi hỏi Mặt trận các cấp phải chủ động, linh hoạt và sáng tạonhằm góp phần vào thắng lợi của mỗi cuộc bầu cử Muốn vậy Mặt trận cầnphải biết dựa vào dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, phối hợp tốt với các
tổ chức thành viên trong việc xử lý kịp thời những vấn đề nảy sinh theochức năng, quyền hạn của mình
Thứ tư, Mặt trận cần phối hợp các cơ quan chức năng để làm tốt côngtác tuyên truyền, vận động bằng các hình thức phong phú, đa dạng đối vớicác tầng lớp nhân dân về cuộc bầu cử, nhằm làm cho nhân dân hiểu rõ ýnghĩa quan trọng và yêu cầu của cuộc bầu cử để nhân dân hăng hái tự giáctham gia bầu cử, để ngày bầu cử thực sự thành ngày hội của toàn dân
Trang 38Theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đạibiểu Hội đồng nhân dân, nhiệm kỳ của Quốc hội và của Hội đồng nhân dâncác cấp là 5 năm Thực tế từ các nhiệm kỳ trước, nhiệm kỳ của Quốc hội vàHội đồng nhân dân các cấp không trùng nhau, mà thường chênh nhaukhoảng 2 năm (chẳng hạn nhiệm kỳ hiện tại của Quốc hội là 2002-2007 còncủa Hội đồng nhân dân là 1999-2004) Điều đó có nghĩa là ở nước ta cứkhoảng hơn 2 năm lại tiến hành một cuộc bầu cử Trong công tác tham giabầu cử, quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được quyđịnh cụ thể tại các văn bản pháp luật về bầu cử Do đó, khi các văn bản đóđược sửa đổi thì đương nhiên các văn bản hướng dẫn của Uỷ ban Trungương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng phải sửa đổi, và trên thực tế đó cũng
là một khó khăn cho Mặt trận Mặt khác, với bộ máy đông đảo và chuyênnghiệp của các cơ quan Nhà nước thì hơn 2 năm tổ chức một cuộc bầu cửcũng không có nhiều khó khăn Nhưng với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thìđây cũng là trở ngại đáng kể Thử lấy một vài con số để chứng minh điềunày: biên chế của cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Namhiện nay là 139 người (số người chỉ tương đương một cục hoặc một việncủa Nhà nước); biên chế của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh phổ biến từ
17 đến 20 người, không bằng một sở; biên chế Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấphuyện phổ biến từ 3 đến 5 người, không bằng một phòng cấp huyện; còn ởcấp xã thì có 3 người nhưng chỉ có 1 người (cấp trưởng) được hưởng phụcấp, còn lại kiêm nhiệm hoặc không có phụ cấp Các tổ chức thành viên củaMặt trận cũng có tình trạng tương tự Với lực lượng như vậy, rõ ràng phảitham gia tổ chức nhiều cuộc bầu cử trong một thời gian ngắn với nhiềunhiệm vụ quan trọng, cấp bách thì quả là quá sức Một điểm nữa cũng cầnnêu là hầu như trước một cuộc bầu cử nào, Quốc hội cũng đều tiến hành sửađổi luật về bầu cử; duy chỉ có cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm
1999 là không sửa mà vẫn sử dụng Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
Trang 39năm 1994 Việc này cũng đã dẫn đến một số khó khăn trong cuộc bầu cử đó,nhất là vấn đề cử tri ở xã có được giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồngnhân dân xã không Quy chế thực hiện dân chủ ở xã ban hành kèm theoNghị định 29/NĐ-CP của Chính phủ năm 1998 thì quy định như vậy nhưngLuật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 1994 thì chưa có quy định đó.Trong cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 3 cấp năm 1999, ở một vàiđịa phương, một số kẻ quá khích lợi dụng sự thiếu thống nhất của các vănbản pháp luật nêu trên để kích động một bộ phận nhân dân có các hành vigây khó khăn cuộc bầu cử ở cấp xã.
Để hạn chế những khó khăn trên, năm 2011, Nhà nước đã thống nhấthai cuộc bầu cử làm một là cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu
cử đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016 để tránh tổ chức nhiềucuộc bầu cử gây tốn kém Đây là một sự đổi mới tiêu biểu trong kỳ bầu cửnày
Trong công tác bầu cử, những nhiệm vụ tiêu biểu cần sự phối hợp chặtchẽ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan chức năng trong việctuyên truyền, vận động nhân dân phát huy cao nhất tính dân chủ, thực hiệnquyền và nghĩa vụ của mình trong việc lựa chọn những người đại biểu xứngđáng đại diện cho nhân dân tham gia đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồngnhân dân các cấp thể hiện ở các mảng công việc sau:
- Tổ chức hiệp thương, lựa chọn giới thiệu những người ứng cử đạibiểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;
- Phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức các hội nghị cử tri nơi cưtrú, các cuộc tiếp xúc giữa cử tri với những người ứng cử
- Tham gia tuyên truyền, vận động cử tri thực hiện pháp luật về bầu cử;
Trang 402.1.1.1 Về công tác tổ chức hiệp thương, lựa chọn giới thiệu những người ứng cử Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp:
Cơ chế bầu cử của nước ta có những điểm khác biệt so với nhiềunước trên thế giới và trong khu vực Nước ta chỉ có một tổ chức duy nhất cóquyền giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhândân, đó là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Do vậy, việc giới thiệu người ứng cửĐại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân nhất thiết phải theonguyên tắc hiệp thương dân chủ
Nguyên tắc hiệp thương dân chủ là nguyên tắc chủ đạo trong tổ chức
và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và được cụ thể hoá trong quátrình thực hiện nhiệm vụ lựa chọn, giới thiệu người ứng cử vào các cơ quanquyền lực Nhà nước Việc pháp luật quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cóquyền hiệp thương giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồngnhân dân chính là do hai yếu tố:
Thứ nhất, do tính chất liên minh, liên hiệp rộng rãi của tổ chức Mặt trận Tổquốc Việt Nam
Thứ hai, xuất phát từ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam – hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một tổ chức tập hợp các thành viên là tổchức chính trị, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội… có số lượng đảngviên, đoàn viên, hội viên đông đảo nhất của đất nước (hiện tại bao gồm 46 tổchức thành viên), do đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò quan trọng vànhững điều kiện cơ bản để thay mặt nhân dân giới thiệu người ứng cử đại biểuQuốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân
Mặt trận các cấp từ Trung ương đến địa phương đã tiến hành các hoạtđộng theo một trình tự chặt chẽ để lựa chọn, giới thiệu người ứng cử, đó là:xác định cơ cấu thành phần người ứng cử, tổ chức giới thiệu sơ bộ ngườiứng cử, tổ chức nhận xét người được giới thiệu ứng cử và cuối cùng là hiệp