DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ Thể loại 57 3.2 Thực trạng hình thức tập luyện và mức độ chuyên cần 59 3.3 Thực trạng hình thức tổ chức tập luyện Thể dục thể thao ngoại khóa của sinh viên Học viện
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục thể chất và thể dục thể thao trường học và phát triển các môn Võ cổ truyền Việt Nam
1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục thể chất và thể dục thể thao trường học
Thể dục thể thao trường học gồm hoạt động GDTC bắt buộc và hoạt động TDTT tự nguyện của học sinh, sinh viên ở các cấp học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, là bộ phận cơ bản và quan trọng của nền TDTT nước ta Nội dung này đã được làm rõ trong các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước về giáo dục thể chất và thể thao trường học [11],[67], khẳng định vai trò thiết yếu của GDTC và TDTT trong sự phát triển toàn diện của người học.
Điều 41 Hiến pháp năm 1992 khẳng định Nhà nước và xã hội cùng phát triển nền thể dục thể thao dân tộc, đồng thời gắn với khoa học và nhân dân; Nhà nước quản lý thống nhất sự nghiệp phát triển thể dục thể thao và quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học; đồng thời khuyến khích và hỗ trợ các hình thức tổ chức thể dục thể thao tự nguyện của cộng đồng, tạo điều kiện thiết yếu để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục thể thao quần chúng, chú trọng phát triển thể thao chuyên nghiệp và bồi dưỡng tài năng thể thao.
Hiến pháp sửa đổi năm 2013, Điều 37, quy định thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện toàn diện để học tập, lao động, giải trí và phát triển thể lực cũng như trí tuệ Đồng thời, thanh niên được bồi dưỡng đạo đức, gìn giữ truyền thống dân tộc và nâng cao ý thức công dân Từ đó, thanh niên được kỳ vọng dẫn đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc.
Chỉ thị số 36/CT/TW ngày 24/03/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục TDTT nhiệm vụ thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác giáo dục thể chất, cải tiến chương trình giảng dạy và xây dựng tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; đồng thời đẩy mạnh đào tạo giáo viên TDTT cho các trường học ở mọi cấp và huy động các nguồn lực CSVC cần thiết để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc tại tất cả các trường, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của học sinh, sinh viên và từ đó phát hiện, tuyển chọn nhiều tài năng thể thao cho quốc gia.
Các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và XI của Đảng đã xác định rõ những quan điểm cơ bản và chủ trương lớn về công tác thể dục thể thao (TDTT) trong thời kỳ đổi mới Chăm sóc sức khỏe và tăng cường thể chất của nhân dân được coi là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, sức khỏe cộng đồng và nguồn nhân lực cho sự phát triển đất nước Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ nền tảng TDTT hiện đại, đồng bộ và phổ cập được xem là động lực then chốt để phát triển phong trào thể thao, gắn với giáo dục, y tế và văn hóa, góp phần củng cố nền tảng xã hội và tăng cường vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Đất nước cần sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng và tinh thần phấn khởi của toàn dân; vận động TDTT được xem là biện pháp thiết thực để tăng cường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà Đó là những quan điểm của Đảng ta về phát triển sự nghiệp TDTT ở Việt Nam, nhấn mạnh vai trò của thể dục - thể thao trong nâng cao sức khỏe toàn dân, tăng cường thể lực và củng cố quốc phòng để bảo vệ và phát triển đất nước.
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III năm 1960 đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI năm 2011, các văn kiện và nghị quyết của Đại hội luôn nêu rõ quan điểm chỉ đạo công tác TDTT cho cả nhiệm kỳ; đồng thời, ở một số nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị, nghị quyết chuyên đề về công tác TDTT nhằm định hướng và nâng cao phong trào thể dục thể thao cả nước.
Lần đầu tiên hoạt động TDTT được hợp pháp hóa qua Pháp lệnh TDTT ban hành năm 2000, mở đường cho sự phát triển của TDTT ở nước ta Sau thời gian chuẩn bị kéo dài, năm 2006 Quốc hội đã thông qua Luật TDTT, đánh dấu một bước phát triển mới cho TDTT nước nhà Luật TDTT dành riêng một mục gồm sáu điều quy định công tác giáo dục thể chất (GDTC) và hoạt động thể thao trong nhà trường, tạo cơ sở pháp lý để tăng cường trách nhiệm đối với công tác TDTT nói chung và TDTT trường học nói riêng.
Nhà nước không chỉ lãnh đạo GD&TDTT bằng đường lối và chính sách mà còn đề ra các giải pháp chỉ đạo thực hiện hiệu quả, nổi bật là đẩy mạnh công tác xã hội hóa (XHH) GD và TDTT Với quan điểm GD và TDTT là sự nghiệp của toàn dân, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/NQ-CP (2005) về đẩy mạnh XHH các lĩnh vực GD và TDTT nhằm huy động nguồn lực của toàn xã hội cho sự nghiệp GD và TDTT Các văn bản này tạo cơ sở pháp lý để các ngành thúc đẩy XHH, giúp mọi thành phần xã hội nhận thức và tham gia tích cực, từ đó đầu tư nguồn lực để phát triển công tác GDTC và phong trào thể thao cho mọi người, nâng cao thành tích thể thao đỉnh cao và hội nhập quốc tế.
Theo Luật Thể dục, Thể thao được ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006:
GDTC và thể thao trong nhà trường bao gồm 2 nội dung chính:
Giáo dục thể chất là môn học chính khóa thuộc chương trình giáo dục, nhằm cung cấp kiến thức và kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động Hoạt động này góp phần hình thành thể lực, phát triển kỹ năng vận động và hỗ trợ thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Nội dung của môn học được biết đến với tên gọi Thể dục nội khóa.
Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học, được tổ chức theo phương thức NK và phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe, nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí và phát triển năng khiếu thể thao, được gọi là TDTT NK [57].
Nghị định số 11/2015/NĐ-CP ngày 31/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường: “GDTC trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, HS, SV các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập TDTT để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” [67]
Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 dành một phần quan trọng cho GDTC và hoạt động thể thao trường học, đồng thời nêu ra những tồn tại như công tác GDTC trong nhà trường chưa được coi trọng, nội dung chương trình GDTC nội khóa và hoạt động thể thao NK còn nghèo nàn, thiếu hấp dẫn khiến học sinh khó tham gia và duy trì sức khỏe, từ đó góp phần khiến thể lực và tầm vóc của Việt Nam thua kém so với một số nước khu vực; đề ra mục tiêu đến năm 2015 là 100% trường phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình GDTC nội khóa, 45% trường phổ thông có CLB TDTT và đủ CSVC phục vụ TDTT, có đủ GV và HDV TDTT, thực hiện tốt hoạt động thể thao NK, và 75% học sinh được đánh giá phân loại thể lực theo chuẩn rèn luyện thân thể.
Để phát triển thể lực và tầm vóc người Việt Nam, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công cuộc CNH-HĐH, Thủ tướng đã phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực và tầm vóc giai đoạn 2011-2030, trong đó có giải pháp tăng cường GDTC Một trong những nội dung cốt lõi của chương trình là đảm bảo chất lượng dạy và học Thể dục chính khóa, tổ chức hoạt động thể thao ngoại khóa cho học sinh và xây dựng một chương trình GDTC hợp lý Đồng thời, đề án khuyến khích tận dụng các công trình TDTT trên địa bàn để phục vụ cho hoạt động GDTC trong trường học.
Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và đột phá phát triển TDTT đến năm 2020 nêu rõ mục tiêu tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ TDTT; tăng cường cơ sở vật chất, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ làm nền tảng cho sự phát triển mạnh và bền vững của TDTT Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết này, kèm theo Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 14/01/2013, khẳng định đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống.
Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục thể chất và thể thao trường học
1.2.1 Mục tiêu giáo dục Mục tiêu giáo dục là một hệ thống các chuẩn mực của một mẫu hình nhân cách cần hình thành ở một đối tượng người được giáo dục nhất định Đó là một hệ thống cụ thể các yêu cầu xã hội trong mỗi thời đại, trong từng giai đoạn xác định đối với nhân cách một loại đối tượng giáo dục Trải qua các giai đoạn phát triển xã hội, cách tiếp cận xác lập mục tiêu giáo dục đang có nhiều thay đổi
Trong một thời gian dài cho đến những năm 1940, dạy học coi việc trang bị kiến thức là nhiệm vụ cơ bản của quá trình giáo dục; dung lượng và mức độ đồng hóa kiến thức được xem là thước đo chính của hiệu quả dạy học thời kỳ này Đây là một cách tiếp cận truyền thống, điển hình ở thời kỳ Liên Xô cũ, nhấn mạnh việc tích lũy kiến thức nhiều hơn là phát triển kỹ năng hay tư duy độc lập của người học.
Việc dạy học hướng tới mục tiêu thật sự bắt nguồn từ những năm 1950 ở Mỹ, sau các kết quả nghiên cứu thuyết phục của Bloom, và việc này nhanh chóng được lan rộng sang nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Chuyển đổi này đánh dấu sự chuyển từ các phương pháp giảng dạy truyền thống sang một khung giáo dục nhấn mạnh mục tiêu và kết quả học tập cụ thể, từ đó hình thành nền tảng cho các chiến lược giảng dạy và đánh giá hiện đại ở quy mô toàn cầu.
1.2.2 Mục tiêu của giáo dục thể chất và thể thao trường học trong các trường Đại học - Cao đẳng
Mục tiêu chung của giáo dục đại học được nêu trong Luật Giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực có phẩm chất chính trị và đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có sức khỏe và kiến thức thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Các chương trình đào tạo tập trung phát triển kỹ năng thực hành và kiến thức chuyên môn, đảm bảo người học có thể đóng góp thực tiễn cho sự phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước.
- Nâng cao sức khoẻ, thể lực và năng lực vận động, tăng cường hiệu quả học tập, lao động, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc
Góp phần xây dựng đời sống văn hóa và tinh thần lành mạnh, ngăn ngừa các tệ nạn xã hội, đồng thời phát triển và bồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy sự tiến bộ toàn diện của xã hội.
Phấn đấu đưa việc dạy và học thể dục thành nề nếp trong các trường đại học - cao đẳng, nâng cao chất lượng giảng dạy thể dục ở giờ học nội khóa và ngoại khóa để phát triển thể lực toàn diện cho sinh viên Đồng thời tập trung phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao, xây dựng nền tảng vững chắc cho phong trào thể thao của trường Nhờ đó, nâng cao thành tích thể thao của sinh viên và tạo điều kiện cho họ phát huy tối đa tiềm năng của mình.
Để nâng cao chất lượng giáo dục thể chất, cần cải tiến phương pháp và hình thức giảng dạy, đồng thời tăng cường đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nhằm nâng cao năng lực cho giáo viên thể dục - thể thao Đồng thời phấn đấu đảm bảo điều kiện tối thiểu cho giáo dục thể chất ở mọi cấp học, bao gồm cơ sở vật chất đầy đủ, kinh phí ổn định và chế độ đãi ngộ hợp lý cho giáo viên, nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập [54],[67].
1.2.3 Nhiệm vụ của giáo dục thể chất trong các trường Đại học - Cao đẳng ở Việt Nam
Giáo dục thể chất trong các trường đại học là một thành phần quan trọng của sự nghiệp TDTT và sự nghiệp GD&ĐT, được tiến hành phù hợp với đặc điểm giải phẫu, tâm - sinh lý, giới tính và lứa tuổi của sinh viên cùng với một số yêu cầu khác Dựa trên nhiệm vụ chung của hệ thống GDTC, nhiệm vụ GDTC ở các trường đại học - cao đẳng được cụ thể hóa như sau: Nhiệm vụ bảo vệ và nâng cao sức khỏe là thúc đẩy sự phát triển hài hòa của cơ thể, hình thành thân thể cân đối, nâng cao các năng lực chức năng của cơ thể, tăng cường quá trình trao đổi chất và rèn luyện hệ thần kinh vững chắc.
Phát triển một cách vững chắc các tố chất thể lực và năng lực vận động cơ bản, xây dựng nền tảng thể dục toàn diện cho cơ thể Việc tăng cường thể lực giúp nâng cao hiệu suất làm việc của trí óc và thể xác, cải thiện sự tập trung và khả năng xử lý thông tin Chương trình luyện tập toàn diện nên kết hợp cardio, sức mạnh và linh hoạt, đồng thời chú trọng phục hồi nhằm duy trì sự bền bỉ về thể lực và tinh thần Khi thể chất được cải thiện, khả năng làm việc trí óc và thể lực sẽ nâng cao đồng thời, đáp ứng tốt hơn với yêu cầu của công việc và các hoạt động hàng ngày.
Trên cơ sở phát triển thể chất, tổ chức các hoạt động vui chơi lành mạnh, nghỉ ngơi tích cực và rèn luyện nhằm nâng cao khả năng chịu đựng, tăng cường đề kháng của cơ thể trước các ảnh hưởng bất lợi của môi trường bên ngoài và phòng chống bệnh tật Nhiệm vụ giáo dưỡng là trang bị cho sinh viên những tri thức về TDTT, cùng với các kỹ năng và kỹ xảo vận động cần thiết cho các hoạt động khác nhau trong cuộc sống.
Cung cấp các tri thức và rèn luyện thói quen giữ vệ sinh môi trường, vệ sinh tập luyện, nếp sống văn minh, lành mạnh
Phát triển hứng thú và nhu cầu rèn luyện thân thể cường tráng, hình thành thói quen tự tập luyện
Trang bị kiến thức về tổ chức và phương pháp tiến hành một buổi tập luyện TDTT là nền tảng quan trọng cho hoạt động giáo dục thể dục thể thao trong trường học Nhiệm vụ giáo dục, như một mặt của giáo dục toàn diện, góp phần hình thành thói quen đạo đức, phát triển trí tuệ và thẩm mỹ, đồng thời chuẩn bị thể lực cho thanh niên, sinh viên để bước vào cuộc sống lao động sản xuất và công tác, và phải gắn với các yêu cầu cụ thể cũng như các hoạt động chung của nhà trường Nhiệm vụ tiếp tục bồi dưỡng và phát triển nhân tài thể thao nhấn mạnh việc phát hiện, nuôi dưỡng những tài năng, năng khiếu trong các trường đại học - cao đẳng; đồng thời, trong điều kiện khả năng của mình, giáo dục thể chất có nhiệm vụ bồi dưỡng nhân tài thể thao cho đất nước hoặc thông báo cho các tổ chức, cơ quan có trách nhiệm để kịp thời bồi dưỡng nhân tài thể thao.
Một số vấn đề cơ bản về công tác thể dục thể thao ngoại khóa trong trường học các cấp
1.3.1 Khái quát về hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa trong trường học các cấp
Hoạt động TDTT NK là hoạt động thể thao trong nhà trường, mang tính tự nguyện của người học và được tổ chức theo phương thức NK, phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi, sức khỏe và điều kiện của cơ sở đào tạo, nhằm tạo điều kiện cho người học vui chơi, giải trí và phát triển năng khiếu thể thao.
Giờ học GDTC nội khóa và hoạt động TDTT nội khóa đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao sức khỏe và thể lực cho học sinh, đồng thời giáo dục phẩm chất ý chí và nhân cách Đây là môi trường thuận lợi để phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao từ sớm, giúp học sinh phát triển toàn diện Trong thời đại khoa học và công nghệ hiện đại, TDTT nội khóa còn mang ý nghĩa tích cực đối với cộng đồng, hướng thế hệ trẻ đến các hoạt động thể thao lành mạnh và góp phần đẩy lùi tệ nạn xã hội.
Hoạt động TDTT NK là hoạt động thể dục thể thao tự nguyện, diễn ra dưới hình thức có người hướng dẫn hoặc tự tập, được tổ chức ngoài giờ học nội khóa và có nội dung phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và điều kiện cơ sở vật chất của cơ sở đào tạo cũng như sức khỏe của sinh viên.
Hoạt động TDTT NK đóng vai trò quan trọng trong giáo dục, giúp phát triển thể chất, tinh thần và kỹ năng cho học sinh Các hoạt động ngoại khóa kết hợp với các hoạt động dạy học cấu thành một cấu trúc giáo dục trường học hoàn chỉnh, góp phần thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Nhờ sự liên kết giữa nội dung giảng dạy và hoạt động thể thao, trường học tạo ra môi trường học tập tích cực và bền vững, hướng học sinh tới phát triển toàn diện.
TDTT NK và GDTC nội khóa tạo thành một thể thống nhất của TDTT trường học, tồn tại song song và hỗ trợ, bổ sung cho nhau để đảm bảo mọi mặt của hoạt động giáo dục thể chất được phát huy; đây là yếu tố không thể thiếu, giúp nâng cao chất lượng TDTT ở trường và phát triển thể lực của học sinh.
Việc tổ chức TDTT cho sinh viên là hoạt động thiết thực nhằm thỏa mãn nhu cầu vận động, hình thành chế độ học tập - nghỉ ngơi hợp lý và tạo môi trường vận động, vui chơi, giải trí lành mạnh, giúp sinh viên hướng tới các hoạt động tích cực và tránh xa tệ nạn xã hội Trong suốt 6 năm học đại học, sinh viên chỉ có khoảng 90 tiết thể dục nội khóa, trong khi thời gian dành cho luyện tập TDTT còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác, cho thấy sự thiếu hụt hoạt động thể thao bổ ích ảnh hưởng đến sức khỏe và hiệu quả học tập Vì vậy, cần tăng cường tổ chức TDTT ngoài giờ học, mở rộng nội dung và thời lượng tập luyện, cải thiện cơ sở vật chất và quản lý chương trình để đáp ứng nhu cầu vận động của sinh viên và nâng cao sức khỏe, thể lực và kết quả học tập.
Nhu cầu về hoạt động thể chất và GDTC tăng lên gấp nhiều lần, và WHO cảnh báo: “Giảm hoạt động thể chất và chương trình GDTC trong trường học là một xu hướng đáng báo động trên toàn thế giới” Do đó, việc bổ sung hoạt động TDTT để thỏa mãn nhu cầu này là rất cần thiết Theo các tác giả A.D.Nôvicôp, L.P.Matvêep, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và lượng thông tin ngày càng nhiều làm cho lao động học tập của học sinh ở các cấp ngày càng nặng nhọc, căng thẳng.
TDTT là phương tiện hợp lý để giảm tải áp lực học tập, tạo chế độ hoạt động và nghỉ ngơi tích cực, đồng thời giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động của học sinh, sinh viên ở mọi thời kỳ học tập tại trường Việc xây dựng môi trường TDTT NK lành mạnh giúp định hướng sinh viên vào các hoạt động tích cực và tránh xa các tệ nạn xã hội, đây là vấn đề rất quan trọng và cấp thiết [48].
Về nguyên tắc tổ chức hoạt động TDTT NK, nhiều tác giả như Trịnh Trung Hiếu, V.P Philin và các công trình của Nguyễn Đức Thành, Đỗ Ngọc Cương, Mai Thị Thu Hà đã đề cập, nhưng nhìn chung nguyên tắc cơ bản là trong quá trình tổ chức và hướng dẫn TDTT NK cần nắm vững đặc điểm phát triển tâm–sinh lý của đối tượng (lứa tuổi, giới tính, sức khỏe, nhu cầu, sở thích thể thao…) cũng như các điều kiện cần và đủ để thực hiện công tác này Cần lưu ý một số nguyên tắc nền tảng như tính phù hợp, an toàn, tiến bộ và sự đa dạng của nội dung, đồng thời vận dụng linh hoạt vào từng đối tượng và hoàn cảnh để đạt hiệu quả cao.
TDTT NK phù hợp với xu hướng phát triển chung và mang lại hiệu quả thực tiễn, đáp ứng nhu cầu và sở thích của đối tượng, đồng thời thể hiện tính tự nguyện, tự giác và được triển khai với chương trình, kế hoạch cụ thể; có thể lồng ghép yếu tố khoa học giữa tập luyện và thi đấu phong trào, cũng như hoạt động xã hội hóa công tác TDTT NK để đảm bảo tính phổ thông đại chúng Tại các trường cao đẳng và đại học, hoạt động TDTT NK thể hiện đầy đủ đặc điểm của loại hình này và được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Các tác giả như Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn cho rằng các buổi tập TDTT NK thường có cấu trúc đơn giản và nội dung hẹp hơn so với giờ học chính khóa, đòi hỏi ý thức kỷ luật, tính độc lập và sự sáng tạo cao; nội dung buổi tập phụ thuộc chủ yếu vào sở thích cá nhân Trong khi đó, Lê Văn Lẫm và Phạm Xuân Thành nhấn mạnh khi tổ chức TDTT NK cần cân nhắc tính mềm hóa giữa bắt buộc và tự nguyện, phát triển nội dung phong phú và linh hoạt, không gian tiến hành rộng và hình thức đa dạng có thể theo cá nhân, nhóm, khóa, trường hoặc CLB; thời gian hoạt động có thể diễn ra bất cứ lúc nào trong ngày tùy điều kiện của sinh viên, và người tham gia có thể tự tập luyện hoặc được hướng dẫn bởi GV, HLV hoặc HDV, nhằm phát huy tối đa nhu cầu và sự tham gia của từng người mà không bị giới hạn bởi chương trình giảng dạy của Bộ GD&ĐT.
1.3.2 Các quan điểm đánh giá chất lượng hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa trong trường học các cấp
1.3.2.1 Các quan điểm về đánh giá và đánh giá giáo dục
“Đánh giá” là một khái niệm cơ bản của khoa học sư phạm Có nhiều cách định nghĩa về “đánh giá”
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Đánh giá: 1 Định giá tiền Đánh giá hàng hoá 2
Nhận xét, bình phẩm về giá trị.”
Đánh giá là hoạt động nhận thức của con người nhằm phán xét một hay nhiều đặc điểm của sự vật, hiện tượng hoặc con người mà ta quan tâm, dựa trên những quan niệm và chuẩn mực mà người đánh giá tuân theo; sự đánh giá có thể đến từ một nhóm, một cộng đồng hoặc thậm chí từ toàn xã hội.
Ngoài ra, để tránh nhầm lẫn, người ta còn phân biệt “đánh giá” với “đo” và
Khái niệm đo bắt nguồn từ vật lý: đo là quá trình so sánh đại lượng cần đo với một đại lượng được coi là đơn vị để đo Trong khoa học xã hội, đo là khái niệm phổ biến dùng để chỉ sự so sánh một đối tượng hoặc hiện tượng với một thước đo chuẩn mực và trình bày kết quả ở dạng định lượng.
Đánh giá là một dạng thông tin phản hồi quan trọng cho quản lý giáo dục Đó là quá trình thu thập và xử lý dữ liệu nhằm hỗ trợ việc lập kế hoạch và ra quyết định của nhà quản lý giáo dục Đánh giá trong giáo dục được hiểu là quá trình thu thập và phân tích kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng và nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả của giáo dục Dữ liệu đánh giá được căn cứ vào mục tiêu dạy học, từ đó làm cơ sở cho các chủ trương, giải pháp và hành động giáo dục tiếp theo.
Đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học là quá trình thu thập và xử lý thông tin nhằm tạo cơ sở cho những quyết định về mục tiêu, chương trình, phương pháp dạy học và các hoạt động liên quan của nhà trường và ngành Giáo dục; đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện các mục tiêu học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, đồng thời giúp học sinh nhận thức và nâng cao trình độ để học tập ngày càng tiến bộ hơn.
Theo Thông tư số 16/2015/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 8 năm 2015 về quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của người học được đào tạo trình độ đại học chính quy, văn bản này thiết lập khung chuẩn đánh giá toàn diện các hoạt động rèn luyện của sinh viên, gắn kết giữa ý thức chấp hành nội quy, tham gia hoạt động rèn luyện và kết quả học tập cùng sự phát triển năng lực Nội dung đánh giá được quy định gồm các tiêu chí, phương pháp và hình thức đánh giá, thang điểm, thời gian, cũng như cơ quan chịu trách nhiệm, nhằm đảm bảo tính công bằng, khách quan và phù hợp với mục tiêu đào tạo đại học Thông tư cũng hướng dẫn cách quản lý dữ liệu đánh giá, xếp loại kết quả rèn luyện và công nhận kết quả cho người học, từ đó thúc đẩy chất lượng giáo dục đại học chính quy và sự tiến bộ của sinh viên.
Khái quát về Võ cổ truyền Việt Nam
Võ cổ truyền Việt Nam (VCTVN), theo Từ điển bách khoa toàn thư, là khái niệm dùng để chỉ các hệ phái võ thuật được lưu truyền xuyên suốt qua trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, do người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng đòn, thế, bài quyền, bài binh khí và kỹ thuật chiến đấu đặc thù Nhờ những kỹ pháp này, Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước trong suốt quá trình lịch sử.
Võ cổ truyền Việt Nam là môn võ thuật do chính người Việt sáng tạo và phát triển, góp phần hình thành hệ thống võ công riêng của dân tộc Nó đáp ứng cả nhu cầu chiến đấu để sinh tồn lẫn rèn luyện sức khỏe cho lao động hàng ngày, đồng thời hun đúc tinh thần thượng võ và ý chí kiên cường Là di sản văn hóa phi vật thể vô cùng quý báu của đất nước, võ cổ truyền Việt Nam được lưu truyền qua nhiều thế hệ và tiếp tục được gìn giữ, quảng bá và kế thừa trong đời sống và truyền thống dân tộc.
Như vậy, dựa trên quan điểm thể thao hiện đại, VCTVN là những kỹ thuật chiến đấu bằng tay, chân và binh khí các loại
Võ thuật Việt Nam (VCTVN) là khái niệm tổng thể của hệ thống võ thuật Việt Nam, bao gồm các phái võ, các bài thảo và các võ sư sáng lập, phát triển trên đất nước Việt Nam hoặc do người Việt sáng lập và xây dựng ở nước ngoài từ xưa đến nay Võ thuật Việt Nam có những đặc trưng riêng biệt khi so sánh với các võ phái nước ngoài Nội hàm của võ thuật Việt Nam rộng hơn khái niệm VCTVN, có thể bao gồm cả những môn phái mới được công nhận hiện tại và cả những võ phái đã phát triển suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam [40].
Võ đạo Việt Nam là một tập hợp các khái niệm triết học xuyên suốt võ thuật, là nhánh của triết học đạo đức con người và chịu ảnh hưởng từ các hệ tư tưởng Phương Đông như Âm dương – ngũ hành, đức trị của Nho giáo, pháp trị của Pháp gia; đồng thời còn chịu ảnh hưởng của các tư tưởng Phương Tây như Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó hình thành triết lý Võ đạo có tác động sâu sắc đến văn hóa Việt Nam, văn hóa thể chất và thể thao dân tộc Võ đạo được xem như lối sống lý tưởng của các võ sĩ yêu nước; nhằm duy trì võ thuật trong thời bình qua các thời đại, các võ sư trau dồi kỹ thuật bằng các chương trình huấn luyện về võ nghệ và võ lý Người Việt Nam mong muốn đạt được một trạng thái tinh thần lý tưởng dựa trên những dạy của Thiền và Khổng Tử.
Việc luyện tập võ nghệ đã tiến hóa từ chỗ chỉ học các tư thế để làm chủ kỹ thuật chiến đấu đến chỗ luyện tập gian khổ nhằm đạt được một tinh thần minh mẫn trong một thân thể tráng kiện Ở mọi thời đại, người võ sĩ yêu nước được kỳ vọng thể hiện “văn võ song toàn” và “uống nước nhớ nguồn”, nhắc nhở về nguồn cội và trách nhiệm đối với quê hương.
“trọng nhân nghĩa”, võ đạo là một lối sống lý tưởng mà mọi tầng lớp nhân dân không thể thiếu được [32],[40],[50],[71]
Triết lý võ đạo là nền tảng của đạo đức trong sáng, đức cao cả và tâm hồn cao thượng, thể hiện qua sự khoan dung và độ lượng của người có võ Vì vậy, VCTVN luôn đặt giáo dục và truyền thụ võ đạo lên hàng đầu; võ thuật được đưa vào nội dung của giáo dục thể chất dành cho học sinh, sinh viên (HSSV), góp phần hình thành con người phát triển toàn diện và phục vụ cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Đạo đức nói chung, võ đạo nói riêng là phạm trù của tư duy ý thức thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội, có mối quan hệ với xã hội và bao quát các đức tính Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín - Dũng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Võ đạo là cái “đạo” của người học võ, là một lối sống lý tưởng của các võ sĩ từ xưa đến nay; cái “đạo” của con người sống trong trời đất, được thể hiện một cách sinh động qua bản sắc văn hóa, truyền thống, phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế - xã hội và cốt cách của con người học võ, cùng với quá trình giáo dục và tự giáo dục gắn với các mối quan hệ con người, giữa con người với cộng đồng, xã hội nhằm hướng tới chân - thiện - mỹ [32],[50]
Như vậy, từ các phân tích về võ, đạo nêu trên, có thể khái niệm: Võ đạo là một lối sống lý tưởng của các võ sĩ, võ sư yêu nước và là con đường để duy trì võ thuật trong thời bình trong các thời đại
1.5.2 Mục đích của việc tập luyện Võ cổ truyền Việt Nam Ngày nay, lực lượng đông đảo võ sinh tập luyện ở các Võ đường, CLB võ thuật cổ truyền, hầu hết là thanh niên, thiếu niên và trong vài năm trở lại đây còn có cả các em nhi đồng ở tuổi mẫu giáo
Với sự tăng trưởng quy mô và số lượng võ sinh, các võ đường cần xây dựng kế hoạch chiến lược cụ thể và triển khai các biện pháp nâng cao trình độ cho học viên, không chỉ về kỹ thuật mà còn về giáo dục đạo đức võ thuật Điều này đòi hỏi đầu tư bài bản vào chương trình giảng dạy, tài liệu tham khảo và hoạt động rèn luyện đạo đức, nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện của võ sinh, duy trì văn hóa võ thuật tích cực và an toàn cho cộng đồng võ thuật.
Học võ thuật không đơn thuần là tập TDTT mà còn là rèn luyện đạo đức
Võ thuật không đơn thuần là công cụ tự vệ - chiến đấu (bao gồm các phương pháp, kỹ thuật) mà còn là văn hoá của dân tộc
Chính vì vậy, người học VCTVN cần xác định mục đích của việc học võ phải bao gồm 4 nội dung chủ yếu là:
- Rèn luyện thân thể cường tráng, sức khoẻ bền bỉ;
- Xây dựng và nâng cao kỹ năng tự vệ trong chiến đấu, khả năng vượt khó trong cuộc sống;
- Tu dưỡng hoàn thiện đạo đức bản thân;
- Góp phần bảo tồn và phát triển di sản dân tộc [45tr 47]
1.5.3 Đặc điểm, phân loại, nội dung cơ bản về môn Võ cổ truyền Việt Nam 1.5.3.1 Đặc điểm tập luyện, thi đấu môn Võ cổ truyền Việt Nam Đặc điểm về kỹ thuật: Trong môn thể thao VCTVN, do có sự đa dạng của các loại hình kỹ thuật đánh võ như căn bản công, quyền thuật và đối kháng đã tạo nên những đặc điểm rất khác biệt giữa chúng về cấu trúc động tác, cơ cấu phối hợp lực cho đến tác dụng chiến thuật của từng loại kỹ thuật Các kỹ thuật đánh võ trong môn VCTVN có một số đặc điểm sau [32],[45],[70]:
Trong phân môn Quyền thuật, đòn đánh dù có lực nhưng không va chạm với đối thủ vì chỉ tác động lên một đối tượng ảo nên không có đối lực và chỉ chịu lực cản của gió; ngược lại, ở phân môn Đối kháng, đòn đánh va chạm với đối thủ thật sự và chịu đối lực là trọng lượng của họ, với 4 điểm chạm (hai tay và hai chân) tác dụng vào vùng hợp lệ và được tính điểm theo quy tắc: đòn tay 1 điểm, đòn chân 2 điểm và đòn ngã 3 điểm.
Việc sử dụng kỹ thuật của vận động viên phụ thuộc vào mục tiêu của từng phân môn Trong Quyền thuật, kỹ thuật mang tính biểu diễn nghệ thuật và đa dạng về hình thức chiến đấu Trong Đối kháng, kỹ thuật có tính thi đấu và chiến đấu quyết liệt theo luật định cho phép, do đó các động tác tấn công, phòng thủ và phản công phải biến hóa linh hoạt theo từng tình huống trận đấu.
Việc lựa chọn đòn đánh kỹ thuật trong Đối kháng luôn biến chuyển theo tình huống giữa hai đối thủ, dựa trên từng bài Quyền tay không hoặc Quyền binh khí hoặc hiệp đấu luyện tập, nhằm đảm bảo sự ổn định, phô diễn sức mạnh, nhịp điệu, điểm dừng và thần thái của cá nhân hay tập thể trên sàn thi đấu [28],[70] Trong tập luyện và thi đấu võ thuật nói chung và đối kháng ở VCTVN nói riêng, chiến thuật đóng vai trò vô cùng quan trọng; để triển khai một chiến thuật thi đấu hiệu quả, võ sĩ phải nắm vững luật thi đấu, điều lệ và các chiến thuật hiện đại đang được áp dụng ở đấu trường đỉnh cao, đồng thời không ngừng hoàn thiện và thuần thục các kỹ năng cơ bản để có thể áp dụng linh hoạt trong mọi tình huống [28],[45] Trên võ đài, các đối thủ cũng cần dựa vào HLV để đánh giá đối thủ nhằm tìm ra chiến thuật thi đấu hợp lý nhất.
Để xây dựng chiến thuật thi đấu môn VCTVN, cần lưu ý cấu trúc động tác kỹ thuật và sự vận dụng sáng tạo chúng theo luật thi đấu mới nhất; quản lý và phân bổ thể lực hợp lý suốt trận để xác định rõ thời điểm tấn công gây áp lực tâm lý lên đối thủ, đồng thời thực hiện các động tác giả nhằm khiến đối thủ khó nhận diện Để giành kết quả chiến thuật, VCTVN đòi hỏi sự phối hợp hài hòa giữa tư tưởng chỉ đạo, trình độ kỹ thuật, chiến thuật thi đấu, trình độ thể lực và trạng thái tâm lý.
Đặc điểm thể chất lứa tuổi 18 - 22
Huyết áp tâm thu trung bình ở nữ khoảng 110,2 mmHg và ở nam khoảng 117,5 mmHg Giá trị dung tích sống trung bình ở nam khoảng 4124 ml và ở nữ khoảng 2871 ml Cùng với sự phát triển chung của khối lượng và chức năng tim, ở tuổi thanh niên còn có hiện tượng phì đại tâm thất trái Sự thích ứng của tim dần hoàn thiện hơn Tần số co bóp của tim giảm xuống còn 70–75 lần/phút, huyết áp khoảng 115 mmHg.
Quá trình phát triển của cơ quan hô hấp được hoàn thiện, dung tích sống của phổi đạt khoảng 3–3,5 l; hệ hô hấp được điều hòa bởi hệ thần kinh hô hấp ngày càng hoàn chỉnh, giúp quá trình trao đổi chất diễn ra mạnh mẽ hơn Ở Việt Nam, dung tích sống trung bình ở lứa tuổi 18–22 là khoảng 3500 ml ở nam và 2600 ml ở nữ.
Hệ thần kinh tiếp tục phát triển trí tuệ và đạt tới sự hoàn thiện của chức năng phân tích, cho phép não bộ xử lý thông tin nhanh và hiệu quả hơn Từ đó, khát vọng đạt kết quả cao trong mọi hoạt động được nuôi dưỡng mạnh mẽ, đặc biệt trong TDTT.
Bên cạnh đo đạc và đánh giá sự phát triển bên ngoài, để xác định chính xác trình độ thể lực và khả năng hoạt động thể lực, cần tiến hành kiểm tra chức năng của các hệ cơ quan chủ chốt trong cơ thể.
1.6.2 Đặc điểm phát triển tổ chất thể lực ở lứa tuổi 18-22
Tố chất thể lực là tổng hòa các phẩm chất của cơ thể được biểu hiện trong điều kiện cuộc sống, lao động, học tập, tập luyện, nghiên cứu khoa học, vui chơi giải trí và hoạt động TDTT Khả năng vận động là biểu hiện bên ngoài của tố chất thể lực; TDTT là phương tiện để nâng cao khả năng vận động và góp phần cải thiện thể chất con người Hoạt động TDTT có thể phát triển nhiều mặt của năng lực hoạt động thể lực, và các mặt khác nhau đó được gọi là tố chất vận động.
Trong TDTT và hoạt động thể thao nói chung, tố chất thể lực là nội dung quan trọng bậc nhất, quyết định hiệu quả luyện tập và thành tích của người tập, kể cả sinh viên Bên cạnh tri thức, đạo đức, ý chí, kỹ thuật và chiến thuật, thể lực vẫn được xem là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu Rèn luyện thể lực là đặc điểm cơ bản, nổi bật của quá trình giáo dục thể chất và thể thao, giúp cải thiện chức năng sinh lý và khả năng vận động Có năm tố chất thể lực cơ bản là: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo (khả năng phối hợp vận động) và độ mềm dẻo.
1.6.2.1 Tố chất sức nhanh Sức nhanh là một tố chất quan trọng, là năng lực của cơ thể vận động tốc độ nhanh, là năng lực thực hiện động tác trong khoảng thời gian ngắn nhất, được quy định chủ yếu và trực tiếp bởi đặc tính tốc độ động tác cũng như thời gian phản ứng vận động Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương tác độc lập nhau, đặc biệt, những chỉ số về thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tốc độ động tác Những hình thức trên là thể hiện các năng lực tốc độ khác nhau Sức nhanh phụ thuộc vào sự phối hợp của hệ thống thần kinh cơ, sức mạnh nhanh, khả năng đàn hồi cơ bắp, khả năng huy động các nguồn năng lượng phù hợp, các phẩm chất ý chí… Tố chất nhanh phát triển tương đối sớm, từ lứa tuổi 10 - 13, nếu không được tập luyện đầy đủ và tập luyện tốt thì đến giai đoạn 16 - 18 tuổi sẽ rất khó phát triển nâng cao Vì vậy, khi ở lứa tuổi này không có điều kiện tập luyện thường xuyên, thì sang lứa tuổi 18 - 21, cần chú ý trong quá trình tập luyện sao cho phù hợp Phương pháp cơ bản để phát triển sức nhanh là phương pháp tập luyện lặp lại và dãn cách có cường độ gần tối đa và tối đa Người tập luyện phải có sự nỗ lực hết mình (với tần số và biên độ động tác phù hợp), để đạt tốc độ vận động lớn nhất và cố gắng vượt qua tốc độ đó
1.6.2.2 Tố chất sức mạnh Sức mạnh là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc đề kháng lại nó bằng nỗ lực của cơ bắp Trong bất kỳ hoạt động nào của con người, đều có sự tham gia hoạt động của cơ bắp Đây là tố chất quan trọng hàng đầu và tỷ lệ nghịch với tốc độ động tác Sức mạnh được phân chia thành: sức mạnh đơn thuần (khả năng sinh lực trong các động tác chậm hoặc tĩnh), sức mạnh tốc độ (khả năng sinh lực trong các động tác nhanh) Sức mạnh tốc độ còn được chia nhỏ tuỳ theo chế độ vận động thành sức mạnh động lực và sức mạnh hoãn xung Những yếu tố ảnh hưởng đến sức mạnh gồm: cấu trúc của hệ thống cơ bắp (số lượng, độ dày sợi cơ, độ đàn hồi cơ bắp), khả năng điều tiết của hệ thống thần kinh, các phẩm chất tâm lý, năng lực huy động nguồn năng lượng yếm khí Trong hoạt động vận động nói chung và hoạt động thể thao nói riêng, sức mạnh luôn có mối quan hệ với các tố chất thể lực khác, nhất là sức nhanh và sức bền Do đó, năng lực sức mạnh được phân chia thành ba hình thức sau: sức mạnh tối đa sức mạnh tốc độ và sức mạnh bền Sức mạnh cũng là tiền đề rất quan trọng để nâng cao thành tích TDTT 18 - 22 là lứa tuổi thuận lợi cho cơ bắp phát triển tốt nhất Vì vậy, trong quá trình rèn luyện tố chất sức mạnh cần chú ý luyện tập phù hợp để phát huy một cách tốt nhất
1.6.2.3 Tố chất sức bền Sức bền là khả năng khắc phục mệt mỏi nhằm hoạt động trong thời gian dài với cường độ nhất định và có hiệu quả Sức bền đảm bảo cho người tập luyện đạt được một cường độ tốt nhất (nhịp độ thi đấu, tốc độ, dùng lực…) trong thời gian vận động kéo dài Sức bền còn đảm bảo chất lượng động tác cao và giải quyết hoàn hảo các hành vi động tác phức tạp và vượt qua khối lượng vận động lớn trong quá trình tập luyện Trong sinh lý TDTT, sức bền thường được đặc trưng cho khả năng thực hiện các hoạt động thể lực kéo dài liên tục từ 2 đến 3 phút trở lên với sự tham gia của một khối lượng lớn cơ bắp, nhờ sự hấp thụ oxy để cung cấp năng lượng cho cơ chủ yếu hoặc hoàn toàn bằng con đường ưa khí Sức bền được chia thành nhiều loại như: sức bền chung, sức bền chuyên môn, sức bền tốc độ, sức mạnh bền Ở lứa tuổi 18 - 22, tập luyện sức bền đòi hỏi sự nỗ lực lớn không những bằng cơ bắp mà còn bằng ý chí khắc phục khó khăn, gian khổ, ngại khó, lười biếng tập luyện… Bên cạnh đó, còn có vai trò của nhận thức: tự giác tập luyện, hiểu rõ tác dụng, lợi ích khi tập luyện TDTT một cách khoa học Vì vậy giáo viên cần giáo dục nhận thức cho SV hiểu và nắm rõ được tác dụng của mỗi bài tập khi tham gia tập luyện
1.6.2.4 Tố chất mềm dẻo Mềm dẻo là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn Biên độ tối đa của động tác là thước đo của khả năng mềm dẻo Thông thường, độ linh hoạt của các khớp càng lớn thì khả năng mềm dẻo của cơ thể càng lớn Năng lực mềm dẻo được chia thành hai loại đó là: mềm dẻo tích cực và mềm dẻo thụ động Tố chất mềm dẻo được phát triển rất sớm ở lứa tuổi thiếu niên - nhi đồng, đặc biệt là lứa tuổi từ
Ở lứa tuổi 11-14, khi hệ vận động chưa phát triển hoàn chỉnh, việc rèn luyện năng lực mềm dẻo gặp nhiều khó khăn vì xương, cơ, khớp, dây chằng và hệ thần kinh đã phát triển ở mức tương đối đầy đủ Vì vậy, trong tập luyện tố chất thể lực này cần chú ý đến biên độ động tác và các yêu cầu thực hiện phải phù hợp với lứa tuổi nhằm phòng ngừa chấn thương có thể xảy ra trong quá trình học tập và tập luyện Tuy nhiên, nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển đầy đủ sẽ dẫn tới hạn chế và khó khăn trong quá trình phát triển các năng lực thể thao, cũng như ảnh hưởng đến cuộc sống, học tập và luyện tập.
1.6.2.5 Tố chất khéo léo (khả năng phối hợp vận động) Khéo léo là khả năng thực hiện động tác phức tạp và khả năng hình thành nhanh những động tác mới phù hợp với yêu cầu vận động Năng lực phối hợp vận động là các tiền đề để thực hiện thành công một hoạt động thể thao nhất định Năng lực này được xác định trước hết ở khả năng điều khiển động tác và được hình thành, phát triển trong tập luyện Năng lực phối hợp vận động có mối liên hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý và các năng lực khác như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền Khéo léo thường được coi là tố chất vận động loại hai, phụ thuộc vào mức độ phát triển của các tố chất khác như: sức nhanh, sức mạnh và sức bền Mức độ phát triển khéo léo liên quan chặt chẽ với trạng thái chức năng của hệ thần kinh trung ương, vì vậy rất có ưu thế phát triển ở độ tuổi SV Tập luyện các bài tập chuyên môn có thể làm tăng sự phối hợp hoạt động các vùng não khác nhau, do đó hoàn thiện sự phối hợp với các nhóm cơ hưởng ứng cũng như nhóm cơ đối kháng.
Các công trình nghiên cứu có liên quan
Canney I (1982) với công trình Rèn luyện sức khỏe và thể chất trong võ thuật là điển hình cho hướng nghiên cứu về học thuật, cơ sở lý luận, lịch sử hình thành và tác dụng của võ thuật trong cuộc sống Tác giả phân tích sâu và làm rõ khái niệm võ thuật, cho rằng võ thuật là những kỹ thuật chiến đấu khác nhau xuất phát từ Viễn Đông Võ thuật được phát triển thành các môn thể thao từ cuối thế kỷ XIX, và công trình của ông đi sâu chứng minh tác dụng của tập luyện võ thuật đối với sức khỏe và sự phát triển thể chất của con người [78].
Năm 2000, Trương Phát Cường và Hình Văn Hoa của Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu điều tra thể chất quốc gia Trung Quốc, do Beijing Sport University xuất bản Nghiên cứu đã xác định các chỉ tiêu kiểm tra và tiêu chuẩn đánh giá cho từng lứa tuổi [77] Đây là công trình được nhiều quốc gia quan tâm và triển khai trên phạm vi toàn quốc.
Vào năm 2009, nghiên cứu về đề tài “Sự tham gia của SV vào các hoạt động thể thao” do Don J Webber và Andrew Mearman từ Đại học West of England thực hiện đã đi đến kết luận rằng các trường đại học có nhiều chính sách khuyến khích sinh viên tham gia thể thao và các hoạt động TDTT Những chính sách này được thiết kế để tăng cường sự tham gia của sinh viên bằng cách cải thiện cơ sở vật chất, triển khai các chương trình khuyến khích và xây dựng môi trường học tập tích cực cho hoạt động thể thao trong khuôn viên trường.
Các chính sách này nhằm tăng cường tổ chức các hoạt động thể thao và thay đổi nhận thức của sinh viên về TDTT Đặc biệt, chúng tập trung cung cấp các môn thể thao mang tính xã hội, có yếu tố cạnh tranh và được tổ chức một cách chặt chẽ.
Hướng nghiên cứu phát triển chương trình giáo dục:
Trong công trình Xây dựng và đánh giá chương trình đào tạo và môn học của Robert M Diamond (1997), tác giả trình bày các vấn đề học thuật liên quan đến thiết kế chương trình đào tạo và môn học theo quan điểm lấy người học làm trung tâm Ông phân tích mối quan hệ giữa mục tiêu môn học, nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy, đồng thời xem xét cách thực thi đánh giá và quá trình cải tiến chương trình Có thể thấy Diamond giải quyết các vấn đề cốt lõi của việc xây dựng chương trình đào tạo và môn học bằng cách định hướng vào người học và tăng cường tính tích cực của họ trong quá trình học Bài viết nhấn mạnh vai trò của đánh giá thường xuyên và cải tiến liên tục để nâng cao chất lượng giáo dục.
Trong công trình "Chương trình: Những cơ sở nguyên tắc, và chính sách xây dựng" (Allan C Ornstein và Francis P Hunkins, 1998), các tác giả tổng quát khá toàn diện ba nhóm vấn đề chủ đạo của quản trị và phát triển chương trình giáo dục: (1) Các cơ sở xây dựng chương trình gồm cơ sở triết học, lịch sử, tâm lý học và xã hội cùng hệ thống lý luận của chương trình; (2) Phát triển chương trình giáo dục thông qua ba bước thiết kế xây dựng, thực thi và đánh giá chương trình; (3) Các chính sách và khuynh hướng phát triển chương trình được trình bày như cơ sở định hướng cho quyết định và thực tiễn giáo dục [82].
Trong cuốn Thiết kế môn học trong giáo dục học đại học (1999), tác giả Susan Tooshey trình bày một mô hình thiết kế môn học dành cho giáo dục đại học và các phương pháp thiết kế môn học, đồng thời đề xuất chiến lược giảng dạy để thực thi chương trình môn học một cách hiệu quả Các yếu tố được nêu ra giúp kết nối mục tiêu học tập, nội dung và đánh giá trong quá trình thiết kế, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy và kết quả học tập cho sinh viên.
Trong công trình rất nổi tiếng “Xây dựng chương trình học” của tác giả Piter
F Oliva, tác giả đã phân tích một cách toàn diện về triết lý, mục đích giáo dục; các vấn đề lý luận và quá trình xây dựng chương trình giáo dục (thiết kế, thực thi, đánh giá); các mô hình xây dựng chương trình học; phân tích mối quan hệ giữa chương trình học và giảng dạy Đặc biệt, tác giả đã đưa ra quan điểm về phát triển chương trình, một mô hình phát triển được cho là toàn diện nhất, bởi lẽ mô hình của tác giả đã gắn kết quá trình phát triển chương trình với quá trình giảng dạy [49]
Vấn đề thiết kế và đánh giá chương trình giáo dục cũng như chương trình môn học đã được phân tích và làm sáng tỏ trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học và chuyên gia về chương trình, nổi bật với các tác phẩm của Hilda Taba (1962) "Xây dựng chương trình: Lý thuyết và thực tiễn", Kelly A V (1977) "Chương trình: Những vấn đề lý luận và thực tiễn", và Tanner, Diniel và Laurel (1995) "Xây dựng chương trình: từ lý thuyết đến thực tiễn" Những công trình này làm rõ mối quan hệ giữa mục tiêu giảng dạy, nội dung và phương pháp triển khai, đồng thời đề xuất khung thiết kế và quy trình đánh giá phù hợp cho các chương trình giáo dục và môn học.
Các tác giả nước ngoài đã thực hiện các nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về giáo dục thể chất (GDTC), đồng thời tham gia xây dựng và phát triển chương trình đào tạo và chương trình môn học từ lý luận đến thực tiễn Hướng tiếp cận này tập trung vào lấy người học làm trung tâm và tăng cường sự tích cực của người học trong quá trình triển khai chương trình, nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập.
1.7.2 Các công trình nghiên cứu trong nước Các công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận, lịch sử hình thành, quá trình phát triển VCTVN - môn thể thao dân tộc trong nền TDTT mới:
Có nhiều công trình và sách liên quan đến vấn đề này Đầu tiên phải kể đến cuốn sách của tác giả Trần Quốc Vượng: "Tìm hiểu truyền thống thượng võ của dân tộc" (1969) [74], và cuốn "Truyền thống thượng võ Việt Nam qua nghệ thuật tạo hình" cũng được nhắc tới như một nguồn tham khảo quan trọng Hai tác phẩm này làm nổi bật sự tồn tại và phát triển của truyền thống thượng võ trong lịch sử và văn hóa Việt Nam, đồng thời cho thấy cách thức thể hiện hình tượng thượng võ qua nghệ thuật tạo hình Việc tham khảo các nguồn này giúp khẳng định vai trò của võ học và hình tượng thượng võ trong bối cảnh xã hội Việt Nam, góp phần định hình các nghiên cứu về võ thuật và nghệ thuật sau này.
Vào năm 1976, tác giả tập trung phân tích và làm rõ khái niệm truyền thống thượng võ, tinh thần thượng võ Việt Nam, đồng thời chỉ ra cách nó được mô phỏng trong lĩnh vực nghệ thuật tạo hình Bài viết nhấn mạnh sự liên kết giữa võ học truyền thống và ý thức nghệ thuật, cho thấy thượng võ không chỉ là kỹ năng chiến đấu mà còn là một tinh thần bền bỉ, phản ánh trong văn hóa và các tác phẩm mỹ thuật Nhờ đó, khái niệm truyền thống thượng võ và tinh thần thượng võ Việt Nam được làm sáng rõ và có thể trở thành nguồn cảm hứng cho các tác phẩm nghệ thuật tạo hình cũng như cho các phân tích, nghiên cứu về nghệ thuật và văn hóa.
Trong cuốn sách "Tự học Võ cổ truyền Việt Nam – Võ Bình Định" (Lạc Hà, 1988), tác giả lần đầu thể hiện sự khuyến khích, cổ vũ và hướng dẫn cách luyện tập Võ cổ truyền Việt Nam, khẳng định môn võ này mang lại lợi ích thiết thực và có ý nghĩa dân tộc, văn hóa, vượt ra ngoài phạm vi vốn có của nó.
Các công trình tiêu biểu của tác giả Mai Văn Muôn được đăng tải và xuất bản từ năm 1991 đến 2006 gồm Lược sử Võ cổ truyền Việt Nam (1991) cùng các cộng sự, Thể thao dân tộc ở Việt Nam (1992), luận án tiến sĩ khoa học giáo dục năm 1995 với đề tài Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành, phát triển một số môn thể thao dân tộc ở Việt Nam, Cơ sở lý luận của các phương pháp tập luyện thể chất cổ truyền Phương Đông (Mai Văn Muôn và Bùi Đăng Tuấn, 2001) và Bước đầu tìm hiểu Võ học Việt Nam (2006) Ngoài ra, tác giả công bố các công trình “Võ thuật cổ truyền Việt Nam” trên 8 số của Tạp chí Nghiên cứu Võ thuật; “Một số phương pháp nghiên cứu trong việc tìm hiểu thể thao dân tộc Việt Nam” trên Bản tin Khoa học TDTT (số 1, 1993) do Viện Khoa học TDTT phát hành Các công trình của tác giả và cộng sự tổng kết thực tiễn, khái quát lịch sử và là những tài liệu quý giá, có giá trị và ý nghĩa lớn, làm nền tảng tham khảo cho các đề tài nghiên cứu sau này liên quan đến Võ cổ truyền Việt Nam và các môn thể thao dân tộc.