Mặc dù vậy, hiệnnay, thị trường này ở Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển,nhưng để phát triển một thị trường trái phiếu năng động thì việc nghiên cứu về thịtrườ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2008
Trang 2Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
MỤC LỤC
PH
Ầ N M Ở ĐẦ U 1
1 S Ự C Ầ N THI Ế T C Ủ A ĐỀ TÀI 1
2 M Ụ C Đ ÍCH NGHIÊN C Ứ U 2
3 ĐỐ I T ƯỢ NG VÀ PH Ạ M VI NGHIÊN C Ứ U 2
4 PH ƯƠ NG PHÁP NGHIÊN C Ứ U 2
CH ƯƠ NG 1: 3
KHUNG LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU 3
DOANH NGHIỆP 3
1.1 T ổ ng quan v ề trái phi ế u 3
1.1.1 Khái ni ệ m và đặ c tr ư ng c ủ a trái phi ế u 3
1.1.2 Phân lo ạ i trái phi ế u 4
1.1.3 Các y ế u t ố ả nh h ưở ng đế n giá trái phi ế u 5
1.1.3.1 Bi ế n độ ng lãi su ấ t th ị tr ườ ng 5
1.1.3.2 C ấ u trúc k ỳ h ạ n c ủ a lãi su ấ t 5
1.1.3.3 Quy ề n mua l ạ i, bán l ạ i tr ướ c h ạ n 9
1.1.3.4 Kh ả n ă ng chuy ể n đổ i thành c ổ phi ế u 9
1.1.3.5 Cung c ầ u th ị tr ườ ng 9
1.1.3.6 D ự ki ế n v ề l ạ m phát 9
1.1.4 Đị nh giá trái phi ế u 10
1.2 Trái phi ế u doanh nghi ệ p 13
1.2.1 Khái ni ệ m và đặ c đ i ể m c ủ a trái phi ế u doanh nghi ệ p 13
1.2.2 Phân lo ạ i trái phi ế u doanh nghi ệ p 13
1.2.3 Vai trò c ủ a trái phi ế u doanh nghi ệ p đố i v ớ i s ự phát tri ể n c ủ a các ch ủ th ể và toàn n ề n kinh t ế 15
1.2.4 Nhận dạng các rủi ro khi đầu tư, giao dịch trên thị trường trái phiếu.17 1.3 Th ị tr ườ ng trái phi ế u doanh nghi ệ p ở m ộ t s ố n ướ c và bài h ọ c kinh nghi ệ m
cho Vi ệ t Nam 19
1.3.1 Th ị tr ườ ng trái phi ế u doanh nghi ệ p M ỹ 19
Trang 31.3.2 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Hàn Quốc 20
1.3.3 Thị trường trái phiếu Malaysia 21
1.3.4 Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 25
Kết luận chương 1 26
THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 27
2.1 Thị trường tài chính Việt Nam 27
2.1.1 Bối cảnh kinh tế 27
2.1.2 Thực trạng thị trường tài chính Việt Nam 29
2.2 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam 35
2.2.1 Thực trạng thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam 35
2.2.2 Nguyên nhân 42
2.2.2.1 Nhận thức về chứng khoán và đặc biệt là về trái phiếu của doanh nghiệp còn hạn chế 42
2.2.2.2 Thiếu cung cầu về trái phiếu 43
2.2.2.3 Doanh nghiệp phát hành thiếu cơ sở để đưa ra mức lãi suất huy động do thị trường chưa có đường cong lãi suất chuẩn 43
2.2.2.4 Không có tổ chức xếp hạn tín dụng chuyên nghiệp 44
2.2.2.5 Khung pháp lý chưa được xây dựng hoàn chỉnh 46
2.2.2.6 Cơ sở hạ tầng của thị trường trái phiếu còn kém phát triển 47
2.2.3 Một số nét mới trong phát hành trái phiếu doanh nghiệp – Huy động vốn đối với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản 47
Kết luận chương 2 49
CHƯƠNG 3: 51
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP .51
3.1 Cơ hội và thách thức để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam 51
3.2 Giải phát phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam 51
3.2.1 Hoàn thiện khung pháp lý và hệ thống quản lý 51
Trang 43.2.2 Nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp và công chúng đầu tư về
chứng khoán nói chung và trái phiếu nói riêng 53
3.2.3 Giải pháp phát triển thị trường sơ cấp 53
3.2.3.1 Xây dựng đường cong lãi suất chuẩn cho thị trường 53
3.2.3.2 Thay đổi cách thức phát hành theo lô lớn 55
3.2.3.3Xây dựng hệ thống định mức tín nhiệm doanh nghiệp, trái phiếu 55 3.2.4 Giải pháp phát triển thị trường thứ cấp 62
3.2.4.1 Phát triển những nhà tạo lập thị trường 62
3.2.4.2 Xây dựng một trung tâm giao dịch riêng cho thị trường trái phiếu nói chung và thị trường trái phiếu doanh nghiệp nói riêng 64
3.2.4.3 Phát triển thị trường phi tập trung (OTC) 66
Kết luận chương 3 66
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ABMI : Sáng kiến thị trường trái phiếu Châu Á
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông nam á
CRVC : Trung tâm đánh giá tín nhiệm doanh nghiệm
DPM : Công ty Cổ phần phân đạm và hóa chất dầu khí
HaSTC : Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội
ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức
PPC : Công ty Cổ phần nhiệt điện Phả lại
PVD : Công ty Cổ phần Khoan và dịch vụ dầu khí
VLP : Công ty cổ phần du lịch và thương mại VinpearlVNINDEX : Chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 6MỤC LỤC HÌNH VẺ, ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU
Ch
ươ ng 1:
Hình l.l: Đường cong lãi suất dạng thông thường
Hình l.2: Đường cong lãi suất dạng dốc
Hình l.3: Đường cong lãi suất dạng đảo ngược
Hình l.4: Đường cong lãi suất dạng phẳng
Đồ thị l.l: Minh họa xu hướng biến động theo thời gian của giá trái phiếu theo 3 ví
dụ trên
Bảng l.l: Quy mô trái phiếu tại Hàn Quốc
Bảng l.2: Tỷ trọng trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp so với GDP của một số quốc gia (Số liệu đến tháng 3/2005)
Bảng l.3: Quy mô thị trường trái phiếu của một số quốc gia
Chương 2:
Bảng 2.l - Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ l997 - 2007 (%)
Bảng 2.2: Quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam đến l5/5/2008
Bảng 2.3: Quy mô giao dịch chứng khoán từ l/l/2007 đến 3l/l2/2007
Đồ thị 2.l: Quy mô khối lượng và giá trị niêm yết đến l5/5/2008
Đồ thị 2.2: Quy mô khối lượng, giá trị giao dịch chứng khoán l/l/2007-3l/l2/2007
Ch
ươ ng 3:
Bảng 3.l: Ký hiệu định mức tín nhiệm dài hạn doanh nghiệp
Bảng 3.2 : Các mã đánh giá trái phiếu cơ bản
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thông thường có ba cách để huy động vốn đầu tư là thông qua các khoản vaythương mại, phát hành trái phiếu và tiếp nhận vốn góp Các khoản vay thương mạithường bị giới hạn về hạn mức và thường phải có tài sản thế chấp Với phương thứchuy động vốn thông qua tiếp nhận vốn góp cho phép công ty tăng vốn mà khôngcần thiết phải gánh chịu bất kỳ nghĩa vụ nợ phải thanh toán tại một thời điểm xácđịnh nào nhưng quyền sở hữu có thể bị “pha loãng” Trong khi đó, đối với tráiphiếu, tổ chức phát hành có thể trực tiếp bán trái phiếu cho nhà đầu tư, làm giảmbớt các trung gian nên chi phí cho việc vay vốn cũng có xu hướng thấp hơn
Ba cách thức huy động vốn trên như chiếc kiềng ba chân, bảo đảm cho thịtrường tài chính – ngân hàng phát triển bền vững Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nayhai hình thức huy động vốn phổ biến là vay vốn thương mại và tiếp nhận vốn góp
mà chưa sử dụng nhiều hình thức huy động bằng phát hành trái phiếu Còn nhớcuộc khủng hoàng tài chính tiền tệ 1997 tại Châu Á cho thấy, khi thị trường tàichính – tiền tệ một quốc gia không phát triển đủ ba phương thức trên sẽ thiếu đi tínhvững chắc và dễ bị tổn thương khi gặp các cú sốc tài chính từ bên ngoài Đặc biệt,trong điều kiện hiện nay Việt Nam vừa mới gia nhập WTO và từng bước hội nhậpvới kinh tế thế giới, các nguồn vốn nước ngoài đang tiến tới chuyển hướng chảy vàoViệt Nam Điều này vừa có thuận lợi là cung cấp nguồn vốn cho đầu tư phát triểncủa đất nước nhưng cũng có khả năng ảnh hưởng tạo cú sốc hoặc thậm chí gâykhủng hoảng cho nền kinh tế khi các dòng vốn này đồng loạt rút khỏi quốc gia
Dễ nhận thấy nhất là hệ quả từ cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở Mỹ Khi rủi
ro xảy ra, các nhà đầu tư tài chính đã “chạy trốn” vào thị trường trái phiếu vì chúng
có độ rủi ro thấp và được ưu tiên thanh toán hơn
Do vậy, việc hình thành và phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp là mộtchiến lược mang tính sống còn của nền kinh tế trong điều kiện mở cửa thị trường tàichính như hiện nay
Trang 8Về mặt chính sách, việc phát triển thị trường trái phiếu nói chung và thị trườngtrái phiếu doanh nghiệp nói riêng đã được Chính phủ Việt Nam quan tâm và cụ thểhoá trong việc xây dựng chiến lược phát triển dài hạn đến 2020 Mặc dù vậy, hiệnnay, thị trường này ở Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển,nhưng để phát triển một thị trường trái phiếu năng động thì việc nghiên cứu về thịtrường trái phiếu doanh nghiệp trong điều kiện Việt Nam, kinh nghiệm các nước và
từ đó đưa ra những kiến nghị để phát triển thị trường là hết sức cần thiết
Xuất phát từ nguyên nhân này tác giả đã mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài:
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP.
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Phân tích các nguyên nhân làm cho thị trường trái phiếu của Việt Nam hiện nayvẫn chưa phát triển, chưa đóng vai trò tích cực cho nền kinh tế và đề xuất các giảipháp để xây dựng và phát triển thị trường ngày càng năng động, đóng vai trò quantrọng trong phát triển kinh tế đất nước
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến thực trạng hoạtđộng của thị trường sơ cấp (phát hành) và thị trường thứ cấp (giao dịch) và nhữngkinh nghiệm phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở các nước
Về thời gian: sưu tầm các số liệu chủ yếu từ năm 2000 đến nay
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp định tính, định lượng, thống
kê, so sánh
Thống kê lịch sử và tổng hợp để đánh giá quy mô thực trạng của thị trường
So sánh số liệu với các nước
Trang 9KHUNG LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU
DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về trái phiếu
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành(người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) mộtkhoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể và phải hoàn trảkhoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn
Một trái phiếu thông thường có ba đặc trưng chính:
+ Mệnh giá: là số tiền thanh toán cho người sở hữu trái phiếu tại thời điểm đáohạn của trái phiếu Số tiền gốc được ghi cụ thể trên mỗi trái phiếu Do đó, giá trị sốtiền gốc còn được gọi là giá trị đáo hạn (maturity value) hoặc giá “bề mặt” (facevalue) của trái phiếu Ví dụ: tiền gốc của mỗi trái phiếu do chính phủ Mỹ phát hànhthường là 1.000 USD, ở Việt Nam trái phiếu có mệnh giá là bội số của 100.000 đ.+ Lãi suất định kỳ (coupon): là tỷ lệ lãi hàng năm tính trên mệnh giá trái phiếu
mà tổ chức phát hành phải thanh toán cho người đầu tư trong suốt thời hạn của tráiphiếu
+ Thời hạn: là thời hạn trái phiếu từ ngày phát hành cho đến ngày đáo hạn.Ngoài những đặc điểm trên, mỗi đợt trái phiếu được phát hành có thể được gắnkèm theo những đặc tính riêng khác nữa nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một bênnào đó Cụ thể là:
+ Trái phiếu có thể mua lại cho phép người phát hành mua lại chứng khoántrước khi đáo hạn khi thấy cần thiết Đặc tính này có lợi cho người phát hành songlại bất lợi cho người đầu tư, nên loại trái phiếu này có thể có lãi suất cao hơn so vớinhững trái phiếu khác có cùng thời hạn
Trang 10+ Trái phiếu có thể bán lại: cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bánlại trái phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn Quyền chủ động trongtrường hợp này thuộc về nhà đầu tư, do đó lãi suất của trái phiếu này có thể thấphơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn.
+ Trái phiếu có thể chuyển đổi cho phép người nắm giữ nó có thể chuyển đổitrái phiếu thành cổ phiếu thường, tức là thay đổi tư cách từ người chủ nợ trở thànhngười chủ sở hữu của công ty
1.1.2 Phân loại trái phiếu
Phân loại theo nhà phát hành:
Phân loại trái phiếu theo nhà phát hành thì trái phiếu có hai loại trái phiếu chínhphủ và trái phiếu doanh nghiệp
- Trái phiếu chính phủ: là những trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm mụcđích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích, hoặc làm công
cụ điều tiết tiền tệ (thường là để điều tiết lạm phát) Trái phiếu chính phủ là loạichứng khoán hầu như không có rủi ro thanh toán và cũng là loại trái phiếu có tínhthanh khoản cao Do đặc điểm đó, lãi suất của trái phiếu chính phủ được xem là lãisuất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn.Các loại trái phiếu chính phủ bao gồm trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình…
- Trái phiếu doanh nghiệp: là các trái phiếu do các công ty phát hành để vayvốn dài hạn Trái phiếu doanh nghiệp có độ rủi ro cao hơn trái phiếu chính phủ, do
đó lãi suất trái phiếu doanh nghiệp cũng thường cao hơn lãi suất cùng kỳ của tráiphiếu chính phủ
Phân loại theo kỳ hạn:
- Trái phiếu ngắn hạn (Shorts) có thời hạn từ 1 đến 5 năm;
- Trái phiếu trung hạn (Mediums) có thời hạn từ 5 đến 15 năm;
- Trái phiếu dài hạn (Longs) có thời hạn hơn 15 năm;
Phân loại theo việc có ghi danh hay không:
Trang 11- Trái phiếu vô danh: là trái phiếu không mang tên trái chủ, cả trên chứng chỉcũng như trên sổ sách của người phát hành Những phiếu trả lãi đính theo tờ chứngchỉ, và khi đến hạn trả lãi, người giữ trái phiếu chỉ việc xé ra và mang tới ngân hàngnhận lãi Khi trái phiếu đáo hạn, người nắm giữ nó mang chứng chỉ tới ngân hàng
để nhận lại khoản cho vay
- Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ, trênchứng chỉ và trên sổ của người phát hành Hình thức ghi danh có thể chỉ thực hiệncho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danh toàn bộ, cả gốc lẫn lãi Dạng ghi danhtoàn bộ mà đang ngày càng phổ biến là hình thức ghi sổ Trái phiếu ghi sổ hoàntoàn không có dạng vật chất, quyền sở hữu được xác nhận bằng việc lưu giữ tên vàđịa chỉ của chủ sở hữu trên máy tính
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu
1.1.3.1 Biến động lãi suất thị trường
Lãi suất thị trường là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc định giá cácchứng khoán có lãi suất cố định Nếu lãi suất bắt đầu tăng thì lợi tức đối với tráiphiếu bắt đầu thay đổi Trong trường hợp này, vốn bắt đầu chảy vào nơi hứa hẹn cólợi nhuận cao, lúc đó giá của trái phiếu có lãi suất cố định giảm Nhìn ở khía cảnhkhác, nếu giá trái phiếu giảm do lạm phát tăng thì việc tăng lãi suất có thể được coi
là dấu hiệu của Chính phủ quyết định đẩy lùi lạm phát Ảnh hưởng tiêu cực của việctăng lãi suất được đền bù bằng việc triển vọng cải thiện tình hình lạm phát
1.1.3.2 Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất
Vòng đời, hay thời hạn của bất kỳ trái phiếu nào cũng đều được xác định cốđịnh ngay tại thời điểm phát hành Nó có thể là ngắn hạn (từ 1-5 năm), trung hạn (6đến 15 năm), đến dài hạn (từ 15 năm trở lên) Nói chung, thời hạn càng dài thì lãisuất đề ra càng tạo ra thêm nhiều rủi ro hơn khi đầu tư tiền của bạn trong thời gianquá dài như vậy Mối quan hệ giữa lãi suất và thời gian của trái phiếu được gọi làđường cong lãi suất
Trang 12Lãi suất
Thời hạn
Đồ thị biểu hiện mối quan hệ giữa lãi suất và thời hạn.Đồ thị này thể hiện cấutrúc thời hạn của lãi suất hay đường công lãi suất Thông thường đồ thị thể hiện cấutrúc thời hạn của lãi suất trái phiếu chính phủ Có 4 dạng đồ thị chính: dạng thôngthường, dạng dốc, dạng đảo ngược và dạng phẳng
(1) Dạng thông thường: Ở dạng này các lãi suất ngắn hạn là thấp nhất, sau
đó nó tăng dần lên và tới đoạn cuối thì đường cong gần như nằmngang Một đường cong lãi suất dạng thông thường cho thấy dấu hiệucủa một nền kinh tế lành mạnh, ổn định, tăng trưởng chậm nhưng đềuđặn, các thị trường cổ phiếu trái phiếu có xu hướng ổn định Đườngcong lãi suất là một chỉ báo không phải là một dự báo
Hình 1.1: Đường cong lãi suất dạng thông thường
(2) Dạng dốc: Bình thường thì chênh lệch giữa các mức lãi suất ngắn hạn
và dài hạn vào khoảng 3%, nhưng khi chênh lệch này tăng lên đến4%-5% thì nó tạo thành một đường cong dốc hơn Một đường congdốc như vậy cho thấy những người nắm giữ trái phiếu dài hạn tin rằngnền kinh tế sẽ cải thiện trong tương lai gần Loại đường cong nàythường xuất hiện sau các cuộc suy thoái, khi nền kinh tế ổn định vàbắt đầu mở rộng
Trang 13Lãi suất
Thời hạn
Hình 1.2: Đường cong lãi suất dạng dốc
(3) Dạng đảo ngược: Nếu khoản vay trong ngắn hạn trả lãi suất cao hơn
khoản vay dài hạn thì đường cong lãi suất sẽ có dạng đảo ngược và đó
là tín hiệu của thời kỳ thu hẹp của nền kinh tế Đường cong lãi suất cóthể đảo ngược vì các lý do sau: nhu cầu cao bất thường đối với quỹngắn hạn, do một trục trặc nào đó về tính thanh khoản ngắn hạn củacác công cụ của chính phủ hoặc doanh nghiệp; gia tăng áp lực lạmphát trong ngắn hạn; chính sách tiền tệ thắt chặt của ngân hàng trungương Trong những tháng đầu năm 2008, trên thị trường vốn của ViệtNam, lãi suất trong ngắn hạn lại cao hơn trong dài hạn Cụ thể, lãi suấthuy động kỳ hạn 1 tháng là 1%/tháng, trong khi lãi suất huy động kỳhạn dài hơn là 12 tháng chỉ là 0,09% Và mọi người có thể nhận thấynền kinh tế Việt Nam đang bị lạm phát với tốc độ cao (2 con số),Chính phủ chủ trương thắt chặt tiền tệ, việc vay vốn để đầu tư dườngnhư khó khăn hơn
Trang 14(4) Dạng phẳng: Trước khi đảo ngược đường cong lãi suất có thể có dạng
phẳng Mặc dù dạng phẳng của đường cong lãi suất có thể được coi làmột cảnh báo sớm của sự đảo ngược nhưng cũng có khi đường cong
sẽ trở lại dạng thông thường chứ không đảo ngược Đường cong dạngphẳng cũng thường kéo theo sự suy thoái kinh tế
Hình 1.4: Đường cong lãi suất dạng phẳng
Đường cong lãi suất có thể giúp cho các nhà đầu tư lựa chọn các khoảng thờigian đáo hạn cho các chứng khoán có thu nhập cố định của mình Xem xét đườngcong lãi suất hiện thời các nhà đầu tư sẽ có được thông tin về các mức lãi suất ở
Trang 15những thời hạn khác nhau, có thể giúp họ đưa ra những quyết định đối với thời gianđáo hạn Nếu các nhà đầu tư tin rằng lãi suất sẽ ổn định hoặc giảm xuống thì họ cóthể đầu tư vào trái phiếu 20 năm có lãi suất cao nhất, nếu họ tin rằng lãi suất sẽ tăngthì đầu tư vào các công cụ ngắn hạn có lãi suất cao nhất sẽ là khôn ngoan.
1.1.3.3 Quyền mua lại, bán lại trước hạn
Trái phiếu kèm theo quyền được mua lại cho phép người phát hành mua lạichứng khoán trước khi đáo hạn khi thấy cần thiết Đặc tính này có lợi cho ngườiphát hành song lại bất lợi cho người đầu tư, nên loại trái phiếu này có thể có lãi suấtcao hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn Trái phiếu kèm theo quyềnđược bán lại trước hạn cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại tráiphiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn Quyền chủ động trong trườnghợp này thuộc về nhà đầu tư, do đó lãi suất của trái phiếu này có thể thấp hơn so vớinhững trái phiếu khác có cùng thời hạn
1.1.3.4 Khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu
Trái phiếu có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu trong tương lai thì có giá caohơn trái phiếu không có khả năng chuyển đổi
1.1.3.5 Cung cầu thị trường
Cũng như các hàng hoá khác, giá trị trái phiếu bị ảnh hưởng bởi cung cầu thịtrường Khi cung lớn hơn cầu trái phiếu thì giá trái phiếu giảm Đơn giản các yếu tốkhác, khi cung nhỏ hơn cầu trái phiếu thì giá trái phiếu tăng
1.1.3.6 Dự kiến về lạm phát
Nếu lạm phát dự kiến có khả năng tăng thì lãi cố định thanh toán cho trái phiếu
là lãi suất danh nghĩa và như vậy sẽ kém hấp dẫn hơn so với các tài sản khác có khảnăng loại trừ yếu tố lạm phát Do đó, giá của trái phiếu có lãi suất cố định sẽ giảm
Và ngược lại, nếu dự kiến lạm phát giảm thì giá của trái phiếu có lãi suất định định
sẽ tăng
Trang 161.1.4 Định giá trái phiếu
Ở dạng thông thường, trái phiếu có mệnh giá, thời hạn và lãi suất cuống phiếuxác định, không kèm các điều kiện có thể chuyển đổi, có thể mua lại hay bán lại …,khi đó giá trị trái phiếu được tính bằng tổng giá trị hiện tại của toàn bộ các khoảntiền người phát hành phải thanh toán cho người sở hữu trái phiếu, bao gồm tiền lãiđịnh kỳ và tiền gốc trả tại ngày đáo hạn Để xác định được giá trái phiếu tại thờiđiểm hiện tại, chúng ta cần thực hiện chiết khấu toàn bộ dòng tiền sẽ thanh toán chongười sở hữu trái phiếu trong tương lai với lãi suất hiện tại Lãi suất chiết khấu tráiphiếu chính là lãi suất tới hạn của trái phiếu hay lãi suất vay vốn bình quân của thịtrường Ví dụ 1 dưới đây minh hoạ việc xác định giá trị trái phiếu tại thời điểm hiệntại
C1…Cn: Lãi cuống phiếu
r: Lãi chiết khấu, lãi suất thị trường
M: Mệnh giá trái phiếu
Ví
d ụ 1:
Tập đoàn HP phát hành trái phiếu với mệnh giá $1.000 Lãi suất danh nghĩa là5.5%/năm, dẫn tới tiền lãi danh nghĩa thường niên là $55 Lãi suất vay vốn bìnhquân thị trường là 3.5%/năm Thời hạn trái phiếu là 3 năm
Giá trị trái phiếu bằng giá trị hiện tại của toàn bộ dòng tiền sẽ thanh toán chongười sở hữu trái phiếu với lãi suất chiết khấu là 3.5%:
Trang 17Như vậy với các điều kiện như trên trái phiếu mệnh giá $1.000 của tập đoàn
HP sẽ được bán tại thời điểm hiện tại với giá $1.056,03
Mối quan hệ giữa lãi suất thị trường và giá trái phiếu
Theo ví dụ 1, chúng ta thấy giá trái phiếu và lãi suất bình quân thị trường có mốiquan hệ mật thiết với nhau Chúng ta xem xét các ví dụ tiếp theo để thấy rõ mốiquan hệ này
Ví
d ụ 2: Cũng với trái phiếu do tập đoàn HP phát hành theo ví dụ 1, nhưng lãi suấtvay vốn bình quân thị trường lúc này là 8,5%/năm Chúng ta xác định giá trị tráiphiếu tại thời điểm hiện tại như sau:
sở hữu trái phiếu sẽ phải trả một giá cao hơn mệnh giá của trái phiếu Phần chênhlệch cao giá hay còn gọi là phần phụ trội được sử dụng để bù đắp cho người pháthành là tập đoàn HP do trả lãi cao hơn lãi suất thị trường Ngược lại, ví dụ 2 cho
Trang 18thấy khi lãi suất thị trường (8,5%) lớn hơn lãi suất danh nghĩa (5,5%), giá trái phiếu
sẽ thấp hơn mệnh giá Nhà đầu tư sẽ được bù đắp do hưởng lãi suất thấp hơn lãi suấtthị trường bằng việc mua trái phiếu thấp hơn mệnh giá, phần chênh lệch giá thấphơn mệnh giá được gọi là phần chiết khấu Ví dụ 3 chỉ rõ rằng khi lãi suất thị trườngbằng lãi suất danh nghĩa, giá trái phiếu bằng chính mệnh giá của nó Lưu ý rằng lãisuất thị trường được sử dụng ở đây là lãi suất thực, có nghĩa là lãi suất vay vốn đãđiều chỉnh các nhân tố ảnh hưởng như tỷ lệ lạm phát
Đồ thị1.1: Minh họa xu hướng biến động theo thời gian của giá trái phiếu theo 3
ví dụ trên
Trong đ ó: Năm thứ 0 thể hiện thời điểm hiện tại
Trong mối quan hệ giữa lãi suất thị trường và giá trái phiếu, chúng ta thấy tráichủ sẽ phải chịu rủi ro về mặt lãi suất khi sở hữu trái phiếu Giá trái phiếu sẽ biếnđộng khi lãi suất thị trường biến động Nhà đầu tư chỉ mua trái phiếu khi nhận địnhrằng lãi suất thị trường sẽ giảm trong tương lai Khi đó lợi tức thu được từ đầu tưtrái phiếu sẽ bao gồm hai phần, tiền lãi định kỳ và chênh lệch giá nếu bán trái phiếu
Trang 19trước thời điểm đáo hạn Như vậy, thời gian đáo hạn của trái phiếu càng dài thì rủi
ro lãi suất càng lớn do nhà đầu tư càng gặp khó khăn trong việc dự đoán sự biếnđộng của lãi suất
1.2 Trái phiếu doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của trái phiếu doanh nghiệp
Trái phiếu doanh nghiệp là một loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp pháthành, xác nhận nghĩa vụ trả cả gốc và lãi của doanh nghiệp phát hành đối với người
sở hữu trái phiếu
Trái phiếu doanh nghiệp có đặc điểm chung sau: Trái chủ được trả lãi định kỳ
và trả gốc khi đáo hạn, song không được tham dự vào các quyết định của doanhnghiệp, nhưng cũng có loại trái phiếu không được trả lãi định kỳ, người mua đượcmua dưới mệnh giá và khi đáo hạn được nhận lại mệnh giá Khi doanh nghiệp giảithể hoặc thanh lý, trái phiếu được ưu tiên thanh toán trước các cổ phiếu Có nhữngđiều kiện cụ thể kèm theo, hoặc nhiều hình thức đảm bảo cho khoản vay
1.2.2 Phân loại trái phiếu doanh nghiệp
Tuỳ theo cách thức phân loại mà trái phiếu doanh nghiệp được phân thànhnhiều loại, nhưng cơ bản trái phiếu doanh nghiệp bao gồm những loại sau:
+ Trái phiếu thu nhập (Income Bonds): là trái phiếu mà việc thanh toán lãi
phụ thuộc vào lợi nhuận của doanh nghiệp Loại trái phiếu này thường được pháthành khi doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính hoặc cần huy động vốn vào dự án.Trái phiếu này giống với cổ phiếu ưu đãi nhưng lãi trả cho trái chủ được chiết khấuthuế thu nhập doanh nghiệp (trả trước thuế) còn cổ phiếu thì lãi trả cho trái chủkhông được chiết khấu thuế thu nhập doanh nghiệp (trả sau thuế)
+ Trái phiếu có đảm bảo (Mortgage Bonds): là trái phiếu được đảm bảo
bằng những tài sản thế chấp cụ thể, thường là bất động sản và các thiết bị Ngườinắm giữ trái phiếu này được bảo vệ ở một mức độ cao trong trường hợp công ty phásản, vì họ có quyền đòi nợ đối với một tài sản cụ thể
Trang 20+ Trái phiếu không bảo đảm (Debenture): Trái phiếu tín chấp không được
đảm bảo bằng tài sản mà được đảm bảo bằng tín chấp của công ty Nếu công ty bịphá sản, những trái chủ của trái phiếu này được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ
có bảo đảm, nhưng trước cổ đông Các trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi chophép trái chủ được quyền chuyển trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty pháthành Tuỳ theo quy định, việc chuyển đổi có thể được tiến hành vào bất cứ thờiđiểm nào, hoặc chỉ vào những thời điểm cụ thể xác định
+ Trái phiếu có thể chuyển đổi (Convertible Bonds): là trái phiếu có thể
chuyển đổi thành cổ phiếu thường với giá cổ phiếu được ấn định trước gọi là giáchuyển đổi Đây là loại trái phiếu được ưa chuộng vì khi giá cổ phiếu lên cao, ngườinắm giữ loại trái phiếu này sẽ thực hiện chuyển đổi và hưởng chênh lệch giá
+ Trái phiếu chuộc lại (Callable Bonds): Trái phiếu này kèm với điều khoản
doanh nghiệp sẽ mua lại sau một thời gian với giá chuộc lại thường cao hơn mệnhgiá Nhà đầu tư có thể chọn lựa có chấp nhận sự chuộc lại hay không
+ Trái phiếu có lãi suất cố định (Straight Bonds): là loại trái phiếu truyền
thống phát hành ở hầu hết các thị trường chứng khoán thế giới Với đặc điểm trả lãisuất ổn định định kỳ 6 tháng hoặc 1 một lần Nó ràng buộc nghĩa vụ phải trả lãitrong suốt thời gian trái phiếu lưu hành
+ Trái phiếu có lãi suất thả nổi (Floating Rate Bonds): Là loại trái phiếu mà
lãi suất của nó được điều chỉnh theo sự thay đổi của lãi suất thị trường Đặc điểmnày đã đảm bảo được quyền lợi của nhà đầu tư và doanh nghiệp trong điều kiện thịtrường không ổn định Thông thường cứ 6 tháng một lần căn cứ vào lãi suất tiền gửingắn hạn để điều chỉnh lãi suất trái phiếu cho phù hợp
+ Trái phiếu chiết khấu (Coupon Bonds): là loại trái phiếu không trả lãi định
kỳ Căn cứ vào lãi suất thị trường lúc phát hành để định ra giá của trái phiếu Giánày thấp hơn mệnh giá gọi là giá chiết khấu Khi đáo hạn, trái chủ được hoàn lạiđúng bằng với mệnh giá của trái phiếu
Trang 211.2.3 Vai trò của trái phiếu doanh nghiệp đối với sự phát triển của các chủ thể
và toàn nền kinh tế
Cung cấp công cụ huy động vốn khác cho doanh nghiệp.
Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010 đặt ra mục tiêu tổng sản phẩmquốc nội năm 2010 tăng gấp đôi so với năm 2000 Riêng giai đoạn 2006-2010 phảiđạt tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 7,5% - 8% năm và phấn đấu đạt trên 8%/năm Đểđạt được mục tiêu này, tổng mức huy động vốn cho đầu tư phát triển phải đạtkhoảng 140 tỷ USD (tương đương 40% GDP) Trong đó, tỷ lệ huy động vốn trongnước là 65 - 67%, nước ngoài là 33 - 35%1 Các nghiên cứu cũng cho thấy để pháttriển kinh tế thì thị trường vốn phải phát triển Để tăng trưởng 1% thì phải cần đến0,527% vốn Điều này cũng cho thấy vốn rất quan trọng đối với nền kinh tế
Khác với những kênh huy động vốn truyền thống là phụ thuộc rất nhiều vàonhững xét duyệt mang tính áp đặt, chủ quan của tổ chức cho vay, việc phát hành tráiphiếu sẽ cho phép doanh nghiệp chủ động trong kế hoạch sản xuất kinh doanh,phương thức và thời gian trả nợ Chưa kể khoản vay theo phương thức này thườnglớn gấp nhiều lần so với kênh vay vốn truyền thống, lại đảm bảo kịp thời nhu cầu vềvốn cho doanh nghiệp Nhất là trong thời điểm hiện nay, khi mà các ngân hàngthương mại đang phải đồng loạt tăng vốn dưới nhiều hình thức trước thực trạng nhucầu về vốn tăng quá nhanh của doanh nghiệp
Để giảm sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng và nguồn vốn từ bên ngoài, tránh
sự pha loãng của việc phát hành cổ phiếu, và được phép của Chính phủ, một số loạitrái phiếu doanh nghiệp cũng được phát hành để huy động vốn trong xã hội, như:trái phiếu của Tổng công ty Điện lực Việt Nam, trái phiếu của Tổng công ty Dầukhí Tính đến nay, số vốn trái phiếu doanh nghiệp phát hành cũng lên tới vài nghìn
tỷ đồng Mặc dù hiện nay, việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp vẫn còn hạn chế
và tập trung ở các doanh nghiệp nhà nước lớn nhưng rõ ràng trái phiếu doanhnghiệp đã là một kênh huy động vốn mới và hiệu quả cho doanh nghiệp
Tạo hàng hoá cho thị trường trái phiếu.
1 Nguồn: Bộ Tài Chính.
Trang 22Nếu như thời gian trước đây nói đến trái phiếu người ta dường như chỉ nghĩđến trái phiếu chính phủ thì giờ đây người ta bắt đầu làm quen với một loại tráiphiếu khác là trái phiếu doanh nghiệp Trái phiếu doanh nghiệp ra đời đã làm đadạng thêm hàng hoá trên thị trường trái phiếu Nhà đầu tư ngoài việc lựa chọn tráiphiếu chính phủ có độ rủi ro hầu như bằng không nhưng lãi suất thấp, cổ phiếu cóthể có lãi suất cao hơn nhưng dễ biến động trên thị trường, có thể lựa chọn tráiphiếu doanh nghiệp có lãi suất và mức độ rủi ro phù hợp.
Tuy đã có những bước phát triển nhanh từ năm 2006 đến nay nhưng hiện nayquy mô của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn khá nhỏ với tổnggiá trị khoảng 16 ngàn tỷ đồng, tương đương với 20% tổng giá trị trái phiếu, 1,5%GDP, chưa tương xứng với nhu cầu vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Hiệnnay, Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp huy động vốn trực tiếp trên thịtrường chứng khoán, hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào cấp vốn qua kênh tín dụng
và phát hành trái phiếu là một hình thức nhiều tiềm năng
Tạo ra hình thức đầu tư mới hiệu quả, giảm thiểu rủi ro.
Cho đến nay, tổng giá trị trái phiếu phát hành khoảng 70.000-80.000 tỷ đồng,trong đó 80% là trái phiếu do Chính phủ phát hành Nguồn vốn từ việc phát hànhtrái phiếu chủ yếu được dùng cho phát triển hạ tầng cơ sở như giao thông, thủy lợi,cho ngành đóng tàu, dầu khí Sự tăng trưởng của nền kinh tế đã thể hiện phần nàohiệu quả của việc phát hành và sử dụng các nguồn vốn đó Song tôi muốn đề cậpđến một ý nghĩa khác của việc phát hành trái phiếu, đó là giảm thiểu rủi ro
Đối với ngành ngân hàng và thị trường tài chính: Nền kinh tế chỉ dựa vào hệthống ngân hàng sẽ tạo ra sai lệch kép, đó là sai lệch kỳ hạn (dùng vốn ngắn hạn tàitrợ cho dài hạn) và sai lệch đồng tiền (vay nước ngoài nhiều dẫn đến bị ảnh hưởngkhi bị tác động bởi tỷ giá)
Đối với nhà đầu tư: Trái phiếu doanh nghiệp ra đời không chỉ là một kênh huyđộng vốn mới cho doanh nghiệp mà còn là một hình thức đầu tư mới cho các nhàđầu tư, đa dạng hoá danh mục đầu tư ngoài chọn lựa cổ phiếu, gửi tiết kiệm ngânhàng… Việc phát hành cổ phiếu ồ ạt để huy động vốn của các công ty cổ phần thời
Trang 23gian qua đã làm cho nhà đầu tư nhận thấy quyền lợi của họ đang bị pha loãng, cung
cổ phiếu tăng cao so với cầu nên thị trường chứng khoán Việt Nam tăng nóng vàocuối năm 2006 đầu năm 2007 và đang bắt đầu tuột dốc Đến 23/5/2008 chỉ sốVNINDEX chỉ còn 428,17 điểm Trong tình hình thị trường như vậy thì trái phiếudoanh nghiệp, thường có độ an toàn cao hơn cổ phiếu vì có sự biến động về giá hơn
cổ phiếu nhưng vẫn đảm bảo một mức lợi nhuận hợp lý và được ưu tiên nhận lạivốn nếu công ty bị phá sản, dường như là nơi trú ẩn khá an toàn
Đa dạng hoá sản phẩm tài chính.
Như theo phân loại trái phiếu doanh nghiệp ở phần trên chúng ta có thể thấytrái phiếu doanh nghiệp khá đa dạng, linh hoạt, đáp ứng các nhu cầu cụ thể của nhàđầu tư, người đi vay và góp phần tái phân phối vốn một cách hiệu quả hơn Nhà đầu
tư có thể cho vay trong hiện tại để trở thành chủ sở hữu trong tương lai thì có thểlựa chọn đầu tư vào trái phiếu chuyển đổi Hoặc người đi vay cũng có thể tránh sựràng buộc cứng nhắc của các hợp đồng vay bằng cách phát hành cho phép họ quyềnmua lại trước hạn trái phiếu để tránh những biến động lãi suất
Thúc đẩy phát triển và hoàn thiện thị trường tài chính.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp ra đời và phát triển, đặc biệt là khi thịtrường trường thứ cấp phát triển tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của phân phối vàtái phân phối nguồn lực tài chính trong nền kinh tế Do đó, sẽ góp phần hoàn thiệnthị trường tài chính
1.2.4 Nhận dạng các rủi ro khi đầu tư, giao dịch trên thị trường trái phiếu.
Cũng như tất cả các loại chứng khoán nói chung, trái phiếu cũng ẩn chứa hai loại rủi ro chung là rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống Đối với trái phiếu có một
số loại rủi ro đặc thù sau đây:
1.2.4.1 Rủi ro lãi suất
Giá của một trái phiếu điển hình sẽ thay đổi ngược chiều với sự thay đổi của lãisuất: khi lãi suất tăng thì giá trái phiếu sẽ giảm, khi lãi suất giảm thì giá trái phiếu sẽtăng Nếu người đầu tư phải bán trái phiếu trước khi nó đáo hạn trong điều kiện lãisuất tăng lên thì người đầu tư sẽ bị lỗ vốn, tức là bán trái phiếu dưới giá mua Rủi ro
Trang 24này gọi là rủi ro lãi suất Tất cả các loại trái phiếu, trừ trái phiếu có lãi suất thả nổi,đều phải chịu rủi ro lãi suất.
Mức độ nhạy cảm của giá trái phiếu trước những thay đổi trong lãi suất thịtrường phụ thuộc vào những đặc tính khác nhau của đợt phát hành, như lãi cuốngphiếu và thời gian đáo hạn Nó cũng phụ thuộc vào những lựa chọn kèm theo đợtphát hành (điều khoản mua lại và bán lại)
1.2.4.2 Rủi ro tái đầu tư
Khoản thu nhập bổ sung từ việc tái đầu tư đó, còn gọi là lãi của lãi, phụ thuộcvào mức lãi suất hiện hành tại thời điểm tái đầu tư, cũng như vào chiến lược tái đầu
tư Khả năng thay đổi của lãi suất tái đầu tư của một chiến lược xác định do sự thayđổi của lãi suất thị trường, từ đó dẫn tới tính không chắc chắn của lợi tức dự kiếnnhận được từ trái phiếu, được gọi là rủi ro tái đầu tư Đó là rủi ro khi lãi suất để táiđầu tư các dòng tiền giữa kỳ bị giảm xuống
Rủi ro lãi suất và rủi ro tái đầu tư có những hiệu ứng triệt tiêu nhau Rủi ro lãisuất là rủi ro lãi suất tăng làm giảm giá trái phiếu, còn rủi ro đầu tư là rủi ro lãi suấtgiảm
1.2.4.3 Rủi ro thanh toán
Rủi ro thanh toán còn gọi là rủi ro tín dụng, là rủi ro mà người phát hành mộttrái phiếu có thể vỡ nợ, tức là mất khả năng thanh toán đúng hạn các khoản lãi vàgốc của đợt phát hành Trái phiếu chính phủ được coi là không có rủi ro thanh toán.Trái phiếu doanh nghiệp khác nhau sẽ có mức độ rủi ro khác nhau Rủi ro thanhtoán được xác định bằng mức xếp hạng tín dụng do các công ty định mức tín nhiệm
ấn định căn cứ vào khả năng thu nhập, khả năng thanh toán, trình độ quản lý…
1.2.4.4 Rủi ro lạm phát
Rủi ro lạm phát phát sinh do sự biến đổi trong giá trị của các dòng tiền mà mộtchứng khoán đem lại do lạm phát Ví dụ nếu như các nhà đầu tư mua trái phiếu cólãi suất 8% nhưng tỷ lệ lạm phát là 9% thì sức mua của dòng tiền này thực sự đãgiảm sút Chỉ trừ trái phiếu có lãi suất thả nổi có thể không chịu ảnh hưởng của lạmphát hoặc ảnh hưởng ít hơn, các trái phiếu khác có lãi suất cố định đều có nguy cơ
Trang 25phải chịu rủi ro này Trong tình hình Việt Nam hiện nay, khi lãi suất 6 tháng đầunăm 2008 ước tính là khoảng trên dưới 12% thì những trái phiếu có lãi suất cố địnhthấp hơn mức này đều bị tác động của rủi ro lạm phát.
1.2.4.5 Rủi ro tỷ giá hối đoái
Nếu nhà đầu tư nước ngoài mua trái phiếu Việt Nam nhưng được thanh toánbằng tiền đồng thì khi đồng Việt Nam giảm giá so với đôla Mỹ thì nhà đầu tư sẽ bịthiệt và họ sẽ có lợi trong trường hợp đồng Việt Nam tăng giá so với đôla Mỹ
1.2.4.6 Rủi ro thanh khoản
Là rủi ro liệu trái phiếu có bán được hay không khi nhà đầu tư cần vốn vàmuốn chuyển sang tiền mặt Nếu nhà đầu tư dự định nắm giữ trái phiếu cho tới khiđáo hạn thì rủi ro ngày không quan trọng lắm
1.3 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở một số nước và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam.
1.3.1 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Mỹ
Kể từ những năm 1920, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Mỹ đã trở thành thịtrường phát hành trái phiếu phi chính phủ lớn nhất thế giới Phần lớn các công tynày đều áp dụng phương thức phát hành trái phiếu này để huy động vốn, chủ yếu làcác trái phiếu có thời gian đáo hạn từ 2-50 năm
Ngày nay, trái phiếu doanh nghiệp là một trong những khu vực lớn nhất trên thịtrường trái phiếu Mỹ cả về số lượng doanh nghiệp phát hành cũng như về giá trị tráiphiếu đang lưu hành tính theo đồng đôla Mỹ,
Trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp Mỹ có một khu vực thị trường đặc biệtdành cho các công ty nước ngoài phát hành trái phiếu bằng đồng USD là thị trườngtrái phiếu Yankee
Ở Mỹ tồn tại hai loại thị trường thứ cấp đối với trái phiếu công ty là Sở Giaodịch (Sở giao dịch chứng khoán New York và Sở giao dịch chứng khoán Mỹ) và thịtrường OTC Trên thị trường OTC chủ yếu diễn ra các giao dịch trái phiếu doanhnghiệp có khối lớn lượng giữa các nhà đầu tư có tổ chức và nhà quản lý quỹ chuyênnghiệp
Trang 26Đến cuối tháng 3 năm 2005, trái phiếu doanh nghiệp Mỹ chiếm 22% GDP của
cả nước
1.3.2 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Hàn Quốc
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Hàn Quốc đã bắt đầu khơi nguồn từ đầunhững năm 1970 với hầu hết được bảo lãnh bởi ngân hàng, công ty chứng khoán vàquỹ bảo lãnh
Tại Hàn Quốc số trái phiếu đang lưu hành của các công ty phi tài chính cao hơn
số trái phiếu không có bảo đảm do khu vực ngân hàng phát hành, chiếm hơn 70%tổng số trái phiếu công ty trong những năm 1995-1997 Lượng cung trái phiếudoanh nghiệp tương đối lớn cho thấy có khá nhiều các công ty lớn có danh tiếng ởnước này
Hàn Quốc sau năm 1997, việc bùng nổ việc sử dụng trái phiếu doanh nghiệp đểhuy động vốn cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các công ty tín thác đầu tư HànQuốc đã có những thay đổi mang tính cách mạng trên thị trường trái phiếu chínhphủ để tạo chuẩn cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp như:
Thủ tục phát hành mới (thiết lập hệ thống đấu giá mới thay thế cho hệ thống cũ,xóa bỏ thông lệ thỏa thuận thông tin về thời hạn phát hành.)
Tính đều đặn trong phát hành (trái phiếu chính phủ được phát hành đều đặnhàng tháng)
Bảng 1.1: Quy mô trái phiếu tại Hàn Quốc
Đvt: nghìn tỷ KRW
Năm Năm 2000 Năm 2002 Năm 2004 Năm 2006
Trang 271.3.3 Thị trường trái phiếu Malaysia
Sự phát triển của thị trường trái phiếu Malaysia bắt đầu từ những năm 1970 khi
mà Chính phủ bắt đầu phát hành trái phiếu để đáp ứng nhu cầu tài trợ rất lớn cho sựphát triển của đất nước vào giai đoạn này Vào giữa những năm 1980, khu vực tưnhân đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của nền kinh tế Malaysia.Trong suốt thời gian này, khu vực tư nhân được sự tín nhiệm lớn từ ngân hàng.Điều này đã dẫn đến việc Chính phủ quyết tâm theo đuổi việc phát triển thị trườngtrái phiếu doanh nghiệp như là một chiến lược quan trọng Cuộc khủng hoảng tàichính Châu Á năm 1997 cũng do việc dựa quá mức vào các khoản vay ngân hàng.Bài học từ cuộc khủng hoảng khiến Chính phủ phải nổ lực để phát triển thị trườngtrái phiếu để cung cấp cho khu vực tư nhân nguồn lực tài chính thay thế và giảmviệc tài trợ không phù hợp Các nỗ lực phát triển thị trường trái phiếu đã mang lạikết quả tốt
Với mục đích tạo ra một đường cong lãi suất chuẩn theo thị trường cho thị
trường trái phiếu, cuối năm 1997 Malaysia đã áp dụng một chương trình phát hành trái phiếu chuẩn đều đặn hàng quý với thời hạn 3,5,7 và 10 năm
Bảng 1.2: Tỷ trọng trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp so với GDP của một số quốc gia (Số liệu đến tháng 3/2005)
Trái phiếuchính phủ Trái phiếu doanhnghiệp Trái phiếu của cáctổ chức tài chính
**: số liệu doanh nghiệp đã bao gốm các tổ chức tài chính
Nguồn: Asian Development Bank, Asia Bonds online
Trang 28Bảng 1.3: Quy mô thị trường trái phiếu của một số quốc gia
Nguồn: Asia Development Bank, Asian Bonds online
Ngày 26/2/2008, trong khuôn khổ hoạt động hợp tác tài chính khu vực ASEAN
và ASEAN + 3 nhằm chuẩn bị cho Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN lần thứ
12 và Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN + 3 diễn ra tại Đà Nẵng vào tháng4/2008, “Sáng kiến thị trường trái phiếu châu Á” (ABMI) đã được đưa ra tại cuộchọp tổ chức Hà Nội
Mục tiêu của ABMI là nhằm phát triển những thị trường trái phiếu hiệu quả ởChâu Á, tận dụng tốt hơn nguồn vốn để đầu tư cho khu vực này và tăng cường hỗtrợ kết nối tài chính trong khu vực
Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), thị trường trái phiếunội tệ tại khu vực Đông Á (bao gồm: Trung Quốc, vùng lãnh thổ Hồng Kông,Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam) đã cóbước phát triển vượt bậc
Thị trường trái phiếu Chính phủ trong năm 2007 tăng 21% Thị trường tráiphiếu doanh nghiệp mặc dù tăng nhanh hơn so với năm 2006 và phản ánh chấtlượng tín dụng và tính đa dạng cao hơn nhưng lại chậm hơn thị trường trái phiếuChính phủ Trong 9 quốc gia và vùng lãnh thổ mới nổi ở khu vực Đông Á, ViệtNam là nước có thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ phát triển với tốc độ nhanh
Trang 29nhất trong năm 2007, đạt 98,11%; Trung Quốc đứng thứ hai về tốc độ tăng trưởng,đạt 33,42%.
Tuy nhiên, xét về tổng giá trị trái phiếu huy động được trong năm 2007, TrungQuốc lại đứng hàng đầu với 1.689,83 tỷ USD; Hàn Quốc đứng thứ hai với 1.313,81
tỷ USD và Việt Nam đứng cuối bảng với 9,79 tỷ USD
Bên cạnh đó, nguồn vốn từ thị trường trái phiếu của khu vực này ngày càngchiếm tỷ trọng cao trong GDP Đến cuối năm 2007, lượng vốn huy động được từ thịtrường này chiếm 59% tổng GDP của cả khu vực Hàn Quốc là quốc gia nổi bậtnhất với tỷ trọng nguồn vốn thu được từ thị trường trong nước chiếm đến 139%GDP Đứng thứ hai là Malaysia với tỷ trọng đạt 86,29% và Việt Nam đạt tỷ trọng ít
ỏi nhất với con số 13,72%
Năm 2007 cũng chứng kiến những thay đổi về thể chế và quy tắc hoạt độngtrên thị trường này Hàn Quốc đã thông qua đạo luật củng cố thị trường vốn (CapitalMarkets Consolidation Act) nhằm hợp lý hóa các quy định về tài chính và cho phépcác luồng vốn vào thị trường dễ hơn Bên cạnh đó, quốc gia này cũng tích cực nângcao tính minh bạch, các yêu cầu về xác định giá trái phiếu và khuyến khích cải cáchtài chính
Việt Nam thắt chặt các tiêu chuẩn phát hành, trong khi cung cấp thêm quyềnphát hành cho khu vực tư nhân và cho phép thực hiện hoán đổi nghĩa vụ nợ tín dụng
để đánh giá rủi ro tốt hơn Trung Quốc và Indonesia thúc đẩy phát hành trái phiếuthông qua việc ưu tiên tài chính cho những kế hoạch của nhà nước Tuy nhiên, bấtchấp tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao, lạm phát và mối đe dọa từ “cú sốc” bên ngoàidẫn đến sự biến đổi của đường cong lãi suất trái phiếu Yếu tố có tác động rõ nétnhất là sự sụp đổ ngày càng rộng lớn của thị trường thế chấp nợ dưới chuẩn
Thị trường bất động sản Mỹ đang suy thoái và kết quả là tình trạng rối loạn tàichính tác động đến nền kinh tế nhiều hơn dự đoán, các ngân hàng Mỹ ngày càng lệthuộc nhiều hơn vào các quỹ hỗ trợ Các thị trường vốn toàn cầu lâm vào cuộc “đại
hạ giá” trong khi những tác động không rõ ràng tiếp tục làm lung lay niềm tin củanhiều doanh nghiệp và cá nhân Các khoản nợ tăng khi tín dụng bị “thắt chặt”
Trang 30Tại hội nghị này, đại biểu từ các nước ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản, HànQuốc (ASEAN + 3) đã nêu ra hai nhóm hành động ngắn hạn để duy trì tính ổn địnhcủa các định chế tài chính nói riêng và thị trường tài chính nói chung Thứ nhất, cácquốc gia nên tích cực xem xét lại các khoản nợ đồng thời tăng cường hoạt động củangân hàng trung ương nhằm tăng tính thanh khoản cho thị trường và giảm căngthẳng trên thị trường tiền tệ và liên ngân hàng Thứ hai, các định chế tài chính tiếptục thực hiện giảm thiểu những rắc rối về thông tin có liên quan đến giá trị của cácsản phẩm tài chính cấu trúc, các công cụ ngoại bảng và tăng cường năng lực hoạtđộng của các ngân hàng nhằm cung cấp một nền tảng vững chắc để thực hiện côngtác đánh giá.
ABMI lần này cũng chỉ ra viễn cảnh phát triển của khu vực Rủi ro suy thoáikinh tế Mỹ ngày càng cao Thị trường tài chính bất ổn định kéo dài Áp lực lạm pháttiếp tục đè nén Chính phủ các nước Các ngân hàng tiếp tục chịu áp lực từ sự bất ổncủa thị trường tín dụng dưới chuẩn của Mỹ Tín dụng bị siết chặt hơn Các điều kiệntài chính toàn cầu sẽ ngày càng xấu đi nếu khủng hoảng nợ dưới chuẩn vẫn tiếp tụclan rộng và khủng hoảng tài chính dự báo sẽ tiếp tục tác động đến kinh tế vĩ môtrầm trọng hơn mà không một khu vực nào có thể trốn tránh hoàn toàn
Do đó, ABMI đề xuất những vấn đề chính sách cần được xem xét
Thứ nhất, tăng cường đánh giá và quản lý rủi ro trong các định chế tài chính,các ngân hàng trung ương, các cơ quan kiểm soát và các tổ chức định mức tínnhiệm
Thứ hai, nâng cao tính minh bạch của thị trường thông qua việc cung cấp thêmthông tin đánh giá rủi ro, bao gồm các sản phẩm chuyển rủi ro và các công cụ ngoạibảng Đồng thời, nâng cao môi trường hoạt động cho các thị trường trái phiếu nội
tệ Tăng cường hợp tác khu vực và tăng cường chia sẻ thông tin để giám sát và kiểmsoát các định chế tài chính, đồng thời, tiếp tục củng cố và phát triển năng lực phảnứng nhanh với những biến động cũng là những hành động cần thiết
Trang 31Người đi vay cuối cùng (Các công ty phi TC)
Ngân hàng
Các tổ chức phát hành trái phiếu (ngân hàng, định chế TC khác)Nhà đầu tư có tổ chức (Ngân hàng, quỹ hưu
trí)Các tổ chức bảo lãnh phát hành (Ngân hàng và các định chế TC khác
Người tiết kiệm cuối cùng (hộ gia đình, công ty)
1.3.4 Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Một số vấn đề rút ra
- Nguyên tắc cơ bản ảnh hưởng tới hoạt động của thị trường sơ cấp tại các
nước phát triển tương đối giống nhau Thị trường trái phiếu được tổ chức thông qua
việc thiết lập mạng lưới các công ty tài chính hoạt động với tư cách là các nhà phân
phối sơ cấp trái phiếu
- Các giao dịch trên thị trường thứ cấp chủ yếu là thị trường phi tập trung
OTC Ở Mỹ giao dịch trái phiếu doanh nghiệp chủ yếu là trên thị trường OTC mặc
dù các trái phiếu này vẫn đuợc niêm yết trên Sở giao dịch
- Thị trường tài chính ở các nước đang phát triển có thể mang một cầu trúc
trung gian, trong đó thị trường trái phiếu doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng là 2
bộ phận song song tồn tại và bổ sung cho nhau
Kinh nghiệm cho Việt Nam:
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 đã mang lại những bài học
kinh nghiệm quý báu cho các nước Châu Á trên con đường đi tới sự phát triển Nó
đem lại cái nhìn mới, suy nghĩ mới về vai trò của thị trường trái phiếu doanh nghiệp
và mối liên hệ tương quan giữa hai bộ phận của hệ thống tài chính, hai nguồn tài trợ
vốn nợ cho các doanh nghiệp là hệ thống ngân hàng và thị trường trái phiếu Để
Trang 32tránh các cuộc khủng hoảng và đổ vỡ trong tương lai do sự suy yếu và quá tải tronghọat động của hệ thống ngân hàng, thị trường trái phiếu doanh nghiệp phải đạt đếnmột mức độ phát triển nhất định để có thể phát huy vai trò tích cực của mình Trên
cơ sở thực trạng của thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở một số nước Châu Á và
Mỹ như phần trên, có thể thấy cùng với việc xây dựng và hoàn thiện đường cong lãilãi suất chuẩn từ trái phiếu chính phủ, điều kiện quan trọng đối với sự phát triển củathị trường là các yếu tố cơ sở hạ tầng của thị trường bao gồm:
- Hệ thống thông tin và công bố thông tin
và có tính rủi ro thấp, góp phần phát triển hiệu quả thị trường vốn Nhà đầu tư khiđầu tư trên thị trường trái phiếu sẽ được hưởng những lợi ích gì và sẽ đối mặt vớinhững rủi ro nào Kinh nghiệm một số quốc gia và đề xuất của Sáng kiến thị trườngphát triển Châu Á đều cũng đưa ra những bài học cho Việt Nam về các vấn đề nhưminh bạch thông tin, phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm…
Trang 33THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
2.1 Thị trường tài chính Việt Nam
2.1.1 Bối cảnh kinh tế
Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc cải cách kinh tế, Việt Nam đã gặt háinhững kết quả nhất định Tốc độ tăng trưởng bình quân 8%/năm, nằm trong tốp cácnước có tốc độ tăng trưởng cao của khu vực và thế giới Tổng giá trị quốc nội GDP(tính theo phương pháp tỷ giá hối đoái chính thức – official exchange rate) năm
2006 là 60.999 triệu USD2, năm 2007 tiếp tục tăng với mức tăng 8,44%, đạt kếhoạch đề ra (8,0 - 8,5%), cao hơn năm 2006 (8,17%) và là mức cao nhất trong vòng
11 năm gần đây Với tốc độ này, Việt Nam đứng vị trí thứ 3 về tốc độ tăng GDPnăm 2007 của các nước châu Á sau Trung Quốc (11,3%) và Ấn Độ (khoảng 9%) vàcao nhất trong các nước ASEAN (6,1%) Tốc độ tăng trưởng GDP cả 3 khu vựckinh tế chủ yếu đều đạt mức khá: Khu vực nông - lâm nghiệp và thủy sản ước tăng3,0%/ so với mức 3,32% cùng kỳ 2006, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng10,33% (riêng công nghiệp tăng 10,32%)/ so với mức 10,4% và 10,32% cùng kỳ vàkhu vực dịch vụ tăng 8,5%/ so với mức 8,29% của năm 2006 (tính theo giá so sánhnăm 1994)
Bảng 2.1 - Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ 1997 - 2007 (%)
Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 GDP 8,15 5,76 4,77 6,79 6,89 7,08 7,34 7,79 8,44 8,17 8,44
NLTS 4,33 3,53 5,53 4,63 2,89 4,17 3,62 4,36 4,02 3,3 3,0
DV 7,14 5,08 2,25 5,32 6,10 6,54 6,45 7,26 8,48 8,29 8,5
(Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2006, tr 69)
Các yếu tố đóng vai trò cơ bản trong nền kinh tế như giá cả, tỷ giá, lãi suất tuy còn hạn chế nhất định nhưng đã ngày càng có tính thị trường hơn
2 World Development Indicators database, World Bank, 11 April 2008.
Trang 34Kênh đầu tư trực tiếp đã khởi sắc từ vài năm trước, sang đến năm 2007 đạt kỷlục mới ở cả về lượng vốn đăng ký mới, cả về lượng vốn thực hiện Tổng số vốnđầu tư nước ngoài (FDI) năm 2007 của nước ta đạt 20,3 tỷ USD là mức cao nhất từtrước đến nay.
Cùng với tăng vốn FDI, lượng kiều hối đổ về Việt Nam tiếp tục tăng cao Dựkiến cả năm 2007, lượng kiều hối của người Việt Nam ở nước ngoài gửi về quakênh chính thức đạt 5,5 tỷ USD so với mức 4,7 tỷ USD năm 2006 và gấp 157 lầnnăm 2001 Tốc độ tăng bình quân 37%/năm đưa lượng kiều hối gửi qua kênh chínhthức được thực hiện từ năm 1991 đến 2007 lên con số 29,4 tỷ USD, chiếm 70% vốnFDI, tính từ năm 1998 và cao gấp rưỡi vốn ODA được giải ngân kể từ 1993 Nguồnvốn kiều hối năm 2007 chủ yếu là giúp người thân trong nước đầu tư chứng khoán,kinh doanh địa ốc, một phần mua sắm tài sản, hàng hóa, lễ hội vào dịp cuối năm.Vốn đầu tư gián tiếp từ thị trường chứng khoán cả năm ước đạt từ 4,5 đến 5 tỷUSD năm 2007 Lượng vốn đăng ký của những dự án mới đã đạt 9,75 tỷ USD, cộngvới lượng vốn đăng ký bổ sung của những dự án đã được cấp phép từ các năm trước1,51 tỷ USD, đưa tổng lượng vốn đăng ký tháng 10 qua đạt 11,26 tỷ USD, tăng tới36,4% so với cùng kỳ năm trước Lượng vốn thực hiện ước đạt 3,71 tỷ USD, tăng18,7% Khả năng cả năm sẽ đạt trên 13,5 tỷ USD vốn đăng ký và trên 4,5 tỷ USDthực hiện, cao nhất từ trước tới nay và cao hơn kỷ lục đã đạt được trong năm trước(tương ứng là 12 tỷ USD và gần 4 tỷ USD)
Kênh đầu tư gián tiếp xuất hiện từ một vài năm nay, khi thị trường chứngkhoán Việt Nam phát triển cả về số công ty niêm yết, cả về giá trị vốn hóa thịtrường (tính đến 30.9.2007, tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM đã đạt 323.311
tỷ đồng, tương đương với 20 tỷ USD) Theo tính toán sơ bộ, tổng giá trị vốn hóa thịtrường của các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài đạt khoảng 4,8 tỷ USD, cộng vớikhoảng 1,4 tỷ USD đầu tư gián tiếp vào bất động sản thành 6,2 tỷ USD Sự ra đời
và phát triển của thị trường chứng khoán đã mở ra nhiều kênh huy động vốn mớicho doanh nghiệp như phát hành cổ phiếu, trái phiếu
Trang 35Bên cạnh những bước chuyển tích cực trong nước, Việt Nam cũng không đứngngoài xu hướng phát triển chung của thế giới, cụ thể trong năm 2007 Việt Nam đãtrở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO, thành viên thường trựchội đồng bảo an Liên hiệp quốc …
Sự hội nhập này sẽ mang lại cho Việt Nam những cơ hội cũng như đặt rakhông ít thách thức Bên cạnh những cơ hội về thu hút vốn đầu tư trực tiếp cũngnhư gián tiếp, tăng giá trị xuất khẩu…Việt Nam ngày càng chịu ảnh hưởng từ cácyếu tố bên ngoài Từ cuối năm 2007 và đến đầu năm 2008, kinh tế thế giới xuấthiện nhiều yếu tố bất ổn, giá dầu tăng có lúc lên đến 129 USD/thùng, đồng USDmất giá mạnh khiến các nhà đầu tư quay sang đầu tư vàng khiến giá của kim loạiquý này cũng tăng đột biến Cả thế giới đối diện với tình trạng lạm phát nghiêmtrọng nhất trong vài năm gần đây
2.1.2 Thực trạng thị trường tài chính Việt Nam
Thị trường tài chính là nơi nguồn tài chính được chuyển từ nơi dư thừa vốn
sang nơi thiếu vốn Căn cứ vào bản chất, chức năng cũng như phương thức hoạtđộng, thị trường tài chính có thể phân chia thành hai loại chủ yếu, bao gồm thịtrường tiền tệ và thị trường vốn
Thị trường tiền tệ là thị trường trao đổi vốn ngắn hạn như các khoản vay
liên ngân hàng hoặc mua bán các chứng khoán ngắn hạn như tín phiếu kho bạcchứng chỉ tiền gửi Thời gian đáo hạn của các chứng khoán trên thị trường tiền tệthường dưới một năm Thị trường mua bán tín phiếu kho bạc thường được tổ chứcthành thị trường tập trung, và Ngân hàng Trung ương lấy tín phiếu kho bạc làmcông cụ thị trường mở điều hành chính sách tiền tệ Hầu hết các nước đang pháttriển đã áp dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở để bổ sung cho công cụ chínhsách tiền tệ trực tiếp Thị trường chứng chỉ tiền gửi là thị trường phi tập trung, muabán chứng chỉ tiền gửi giữa các ngân hàng thương mại
Thị trường vốn (Capital market) là thị trường huy động vốn dài hạn, chủ
yếu thông qua phát hành chứng khoán Vì vậy, thị trường vốn thường đồng nghĩa
Trang 36với thị trường chứng khoán (Securities market) Thị trường chứng khoán được coi
là thị trường huy động vốn trực tiếp, không qua trung gian; khác với hoạt độngngân hàng là hoạt động cung cấp vốn gián tiếp, từ người tiết kiệm sang các nhàdoanh nghiệp, thông qua tổ chức trung gian là ngân hàng Ngân hàng cung cấp vốnchủ yếu là ngắn hạn cho các doanh nghiệp, còn vốn dài hạn thông thường phải huyđộng qua thị trường chứng khoán Đối với các công ty có triển vọng phát triểnnhanh, vì có sản phẩm mới, có công nghệ cao và có sức cạnh tranh trên thị trườngchứng khoán là nơi cung cấp vốn dài hạn hiệu quả nhất, các doanh nghiệp nàymuốn phát triển phải dựa vào thị trường chứng khoán
Hầu hết các nhà đầu tư, công ty chứng khoán nước ngoài đều có chung nhậnđịnh thị trường tài chính Việt Nam, đặc biệt là thị trường chứng khoán, đang hấpdẫn các nhà đầu tư Ông Andy Ho, thuộc tập đoàn Vina Capital cho rằng hệ thốngchính trị của Việt Nam ổn định nhất trong khu vực châu Á Với nền chính trị ổnđịnh, các công ty niêm yết cũng như chưa niêm yết sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh.Bên cạnh đó tiềm năng về thị trường tài chính của Việt Nam còn khá hấp dẫn “Vớidân số trên 84 triệu người, nhưng Việt Nam mới chỉ có 5% dân số có tài khoản tạingân hàng, như vậy tiềm năng về tài chính của Việt Nam rất lớn, đang là đích nhắmcủa các nhà đầu tư, tổ chức tài chính nước ngoài” - ông Louis Nguyen, Giám đốcLion Capital cho biết
Thị trường chứng khoán, một bộ phận chủ yếu của thị trường vốn sau hơn 7năm hoạt động kể từ khi hình thành từ tháng 7/2000 với những giai đoạn thăngtrầm, từ lúc sơ khai “đìu hiu” đến giai đoạn phát triển nóng vào cuối 2006 và đầu
2007 và hiện chỉ số chứng khoán đang suy giảm mạnh, tuy nhiên so với giai đoạnđầu thì thị trường đã có những bước phát triển cả về chất và lượng
Hồ Chí Minh đã bắt đầu giao dịch từ 20/7/2000 nhưng đến gần cuối năm 2006 Luậtchứng khoán mới ra đời Luật chứng khoán đã được Quốc hội khóa XI thông qua23/6/2006 có hiệu lực từ 1/1/2007 là sự kiện ghi nhớ trong lịch sử phát triển thịtrường chứng khoán Việt Nam Ngay sau đó là sự ra đời của Nghị định
Trang 3714/2007/NĐ-CP ngày 19/1/2007 về việc quy định chi tiết thi hành một số điều củaLuật chứng khoán Cùng với các văn bản khác như Nghị định 36/2007/NĐ-CP ngày8/3/2007 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứngkhoán, Quyết định 63/2007/QQD-TTg ngày 10/5/2007 về quy định chức năngnhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu của UBCK nhà nước thuộc Bộ Tài Chính… thì đếnnay về cơ bản thị trường chứng khoán đã có hành lang pháp lý để hoạt động.
Trung tâm giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh đến thời điểm 15/5/2008 đã có 151 cổphiếu và 375 trái phiếu được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh (trước đây là trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ ChíMinh);136 cổ phiếu và 204 trái phiếu niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứngkhoán Hà Nội
cao gấp hơn 2 lần cuối năm 2006 và gấp 15 lần năm 2005 Tổng khối lượng chứngkhoán niêm yết trên HoSE và HaSTC lên đến 8,4 tỷ
lên đến 224.265 tỷ đồng Trong đó Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM có 109.303
tỷ đồng, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội có 114.961 tỷ đồng chứng khoánniêm yết