Đặc điểm của thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và các tương đương trong tiếng Việt.Đặc điểm của thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và các tương đương trong tiếng Việt.Đặc điểm của thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và các tương đương trong tiếng Việt.Đặc điểm của thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và các tương đương trong tiếng Việt.Đặc điểm của thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và các tương đương trong tiếng Việt.Đặc điểm của thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và các tương đương trong tiếng Việt.Đặc điểm của thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và các tương đương trong tiếng Việt.Đặc điểm của thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và các tương đương trong tiếng Việt.Đặc điểm của thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và các tương đương trong tiếng Việt.Đặc điểm của thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và các tương đương trong tiếng Việt.Đặc điểm của thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và các tương đương trong tiếng Việt.Đặc điểm của thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và các tương đương trong tiếng Việt.
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ĐỨC TÚ
ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẬT NGỮ THỦY SẢN TIẾNG ANH
VÀ CÁC TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2022
Trang 2VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ĐỨC TÚ
ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẬT NGỮ THỦY SẢN TIẾNG ANH
VÀ CÁC TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 9222024
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ QUANG NĂNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án là công trình nghiên cứu khoa học nghiêmtúc của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu nêu trong Luận án chưa được công
bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Các số liệu và trích dẫn trongLuận án đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Đức Tú
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4.Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5.Đóng góp mới của luận án 6
6.Ý nghĩa đóng góp của luận án 6
7 Bố cục luận án 7
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ 8
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ thủy sản 17
1.2 Cơ sở lý thuyết liên quan đến luận án 20
1.2.1 Thuật ngữ và các tiêu chuẩn của thuật ngữ 20
1.2.2 Một số vấn đề về cấu tạo từ 28
1.2.3 Một số vấn đề về ngôn ngữ học đối chiếu 35
1.2.4 Thủy sản và khái niệm thuật ngữ thủy sản 39
1.3 Tiểu kết chương 1 42
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ THỦY SẢN TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT……….43
2.1 Xác lập danh sách thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và tiếng Việt 43
2.2 Đơn vị cấu tạo thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và tiếng Việt 43
2.2.1 Đơn vị cơ sở cấu tạo thuật ngữ thủy sản tiếng Anh 43
2.2.2 Đơn vị cơ sở cấu tạo thuật ngữ thủy sản tiếng Việt 44
2.3 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và tiếng Vệt 46
2.3.1 Đặc điểm cấu tạo TNTS tiếng Anh và tiếng Việt có hình thức là từ 47
2.3.2 Đặc điểm cấu tạo TNTS tiếng Anh và tiếng Việt có hình thức là cụm từ 57
2.4 Tương đồng và khác biệt về đặc điểm cấu tạo giữa TNTS tiếng Anh và tiếng Việt. 73 2.4.1 So sánh về số lượng yếu tố cấu tạo TNTS tiếng Anh và tiếng Việt 73
2.4.2 sánhSo về phương thức cấu tạo và từ loại của TNTS tiếng Anh và tiếng Việt 75
2.4.3.So sánh về mô hình cấu tạo của TNTS tiếng Anh và tiếng Việt 77
2.5 Tiểu kết chương 2 79
Chương 3: CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH THUẬT NGỮ THỦY SẢN TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 81
3.1 Con đường hình thành thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và tiếng Việt 81
3.1.1 Con đường hình thành thuật ngữ thủy sản tiếng Anh 81
3.1.2 Con đường hình thành thuật ngữ thủy sản tiếng Việt 87
Trang 53.1.3 So sánh con đường hình thành thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và tiếng Việt 94
3.2 Định danh ngôn ngữ và định danh TNTS tiếng Anh và tiếng Việt 96
3.2.1 Định danh và quá trình định danh ngôn ngữ 96
3.2.2 Định danh thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và tiếng Việt 98
3.2.3 So sánh đặc điểm định danh thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và tiếng Việt 115
3.3 Tiểu kết chương 3 118
Chương 4: TƯƠNG ĐƯƠNG THUẬT NGỮ THỦY SẢN ANH - VIỆT VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHUẨN HÓA . 120
4.1 Tương đương TNTS tiếng Anh và TNTS tiếng Việt 120
4.1.1 Khái niệm dịch thuật và tương đương dịch thuật 122
4.1.2 Dịch thuật ngữ và các kiểu tương đương trong dịch thuật ngữ 123
4.1.3 Các nguyên lý và phương pháp trong dịch thuật ngữ 124
4.1.4 Các kiểu tương đương thuật ngữ thủy sản Anh - Việt 127
4.2 Định hướng chuẩn hóa thuật ngữ thủy sản tiếng Việt 132
4.2.1 Cơ sở lý thuyết 132
4.2.2.Sự cần thiết của việc chuẩn hóa thuật ngữ thủy sản tiếng Việt 134
4.2.3 Một số đề xuất chuẩn hoá thuật ngữ thủy sản tiếng Việt cụ thể 138
4.3 Tiểu kết chương 4 144
KẾT LUẬN 146
CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
KHXH &NV Khoa học xã hội và Nhân văn
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Bảng tổng hợp về đặc điểm cấu tạo TNTS tiếng Anh có hình thức là từ
xét trên phương diện số lượng, phương thức cấu tạo, từ loại………… 51
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp về đặc điểm cấu tạo TNTS tiếng Anh có hình thức là từ
xét trên phương diện mô hình cấu tạo 52
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp về đặc điểm cấu tạo TNTS tiếng Việt có hình thức là từ
xét trên phương diện số lượng, phương thức cấu tạo, từ loại 56
Bảng 2.4: Bảng tổng hợp về đặc điểm cấu tạo TNTS tiếng Việt có hình thức là từ
xét trên phương diện mô hình cấu tạo 57
Bảng 2.5: Bảng tổng hợp về đặc điểm cấu tạo TNTS tiếng Anh có hình thức là cụm
từ xét trên phương diện số lượng, phương thức cấu tạo, từ loại 62
Bảng 2.6: Bảng tổng hợp về đặc điểm cấu tạo TNTS tiếng Anh có hình thức là cụm
từ xét trên phương diện mô hình cấu tạo 63
Bảng 2.7: Bảng tổng hợp về đặc điểm cấu tạo TNTS tiếng Việt có hình thức là cụm
từ xét trên phương diện số lượng, phương thức cấu tạo, từ loại 72
Bảng 2.8: Bảng tổng hợp về đặc điểm cấu tạo TNTS tiếng Việt có hình thức là cụm
từ xét trên phương diện mô hình cấu tạo 72
Bảng 2.9: Bảng tổng hợp số lượng yếu tố cấu tạo TNTS tiếng Anh và tiếng Việt 73
Bảng 2.10: Bảng tổng hợp các mô hình cấu tạo TNTS tiếng Anh và tiếng Việt 78
Bảng 3.1: Con đường hình thành thuật ngữ thủy sản tiếng Anh 87
Bảng 3.2: Con đường hình thành thuật ngữ thủy sản tiếng Việt 94
Bảng 3.3: Bảng tổng hợp các đặc trưng được chọn để định danh thuật ngữ chỉ nhóm
cá trong tiếng Anh và tiếng Việt 106
Bảng 3.4: Bảng tổng hợp các đặc trưng được chọn để định danh thuật ngữ chỉ nhóm
giáp xác trong tiếng Anh và tiếng Việt 109
Bảng 3.5: Bảng tổng hợp các đặc trưng được chọn để định danh thuật ngữ chỉ nhóm
thủy sản thân mềm/nhuyễn thể trong tiếng Anh và tiếng Việt 112
Bảng 3.6: Bảng tổng hợp các đặc trưng được chọn để định danh thuật ngữ chỉ nhóm
các loại thủy sản khác trong tiếng Anh và tiếng Việt 115
Bảng 3.7: Bảng tổng hợp số lượng đặc trưng được chọn để định danh các phạm trù
ngữ nghĩa thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và tiếng Việt: 116
Bảng 4.1: Các kiểu tương đương TNTS tiếng Anh và tiếng Việt xét theo đơn vị cấu tạo 128
Bảng 4.2: Các kiểu tương đương TNTS tiếng Anh và tiếng Việt xét theo số lượng
đơn vị tương đương 131
Bảng 4.3: Số lượng TNTS tiếng Việt chưa đạt chuẩn phân theo nhóm 137
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong ngôn ngữ khoa học, thuật ngữ là đơn vị từ vựng cơ bản và quan trọng nhất, bởi đó
là các từ ngữ biểu thị tri thức, khái niệm khoa học và là ngôn ngữ chuyên dùng trong phạm vi của các ngành khoa học và trong các lĩnh vực chuyên môn Thuật ngữ chính là nơi lưu giữ các tri thức khoa học, thể hiện trình độ phát triển của một ngành khoa học Chính vì thế, thuật ngữ được Lê Quang Thiêm (2011) ví như là một “kho báu” của tri thức: “Thuật ngữ không chỉ hiểu đơn giản là từ và ngữ chuyên môn dùng trong khoa học kĩ thuật, công nghệ, dịch vụ mà đó là hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học, là tri thức khoa học công nghệ, là trí tuệ dân tộc và nhân loại được chung đúc qua hình thức ngôn ngữ Bình diện nội dung thuật ngữ là tri thức, là trí tuệ đồng thời cũng là giá trị văn hóa dân tộc Với ý nghĩa ấy, thuật ngữ là “kho báu” [83, tr.8].
Trước kia, thuật ngữ được xếp vào lớp từ vựng bên cạnh các lớp từ khác như từ thông thường, từ nghề nghiệp, từ địa phương, tiếng lóng, Nhưng hiện nay, so với các lớp từ này thì thuật ngữ đã rất phát triển, trở thành bộ phận từ vựng rất lớn trong hệ thống ngôn ngữ Số lượng thuật ngữ tăng lên không ngừng cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật Đặc biệt trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay, sự giao lưu với nước ngoài ngày càng mở rộng, tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ chung của toàn thế giới, thì hệ thống thuật ngữ chuyên ngành tiếng Anh càng có điều kiện phát triển và đóng vai trò rất quan trọng trong việc truyền tải các khái niệm mới của nước ngoài vào Việt Nam Điều này rất quan trọng đối với việc nghiên cứu khoa học, giảng dạy và phổ biến tri thức, đặc biệt rất cần thiết cho sự phát triển, hiện đại hóa các ngành khoa học của Việt Nam, trong đó có ngành thủy sản.
Thủy sản là một ngành ra đời khá sớm Đây là một trong những ngành kinh tế kỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng vào sự phát triển kinh tế của đất nước cũng như cuộc sống của con người Chẳng hạn, các nguồn lợi thủy sản như cá, tôm, và các chế phẩm từ chúng là nguồn thực phẩm không thể thiếu trong đời sống hàng ngày Đây là ngành bao gồm các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, chếbiến các loại thủy sản và các hoạt động dịch vụ khác liên quan đến thủy sản Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay, ngành thủy sản đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế đất nước, góp phần vào tiến trình hội nhập quốc tế và thực hiện đường lối đối ngoại của các quốc gia Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu thủy sản luôn chiếm tỉ lệ cao trong tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, Do đó hiện nay, thủy sản đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.
Với lợi thế về đường bờ biển dài, nhiều cửa sông rạch, đảo vịnh, đảm bảo cho nguồn tài nguyên thủy hải sản vô cùng phong phú, với nhiều chủng loại thủy sản đa dạng được phân
8
Trang 9bố dựa trên sự khác biệt về đặc điểm địa lý và về khí hậu, Việt Nam được đánh giá là quốc gia giàu tiềm năng về thủy sản Đây là những điều kiện rất thuận lợi để ngành thủy sản nước ta ngày càng phát triển Tuy nhiên, để hiện đại hóa ngành mình, đòi hỏi ngành thủy sản phải ứng dụng nhiều thành tựu nghiên cứu khoa học của nước ngoài, trong đó không thể không dựa vào
hệ thống thuật ngữ thủy sản (TNTS) nước ngoài, đặc biệt là hệ thống TNTS tiếng Anh để phát triển và hoàn thiện hệ thống TNTS tiếng Việt, nhằm tạo ra một công cụ giao tiếp hiệu quả giữa các nhà chuyên môn trong lĩnh vực thủy sản, đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin chuyên ngành,
mở rộng tri thức khoa học cũng như trong dịch thuật, nghiên cứu, trao đổi thương mại, qua đó, góp phần đắc lực vào sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của ngành thủy sản trong nước Có thể nói, việc tiếp cận với các TNTS tiếng Anh sẽ giúp mở rộng khả năng tiếp cận được nguồn kiến thức hiện đại về lĩnh vực thủy sản nước ngoài, từ đó sẽ góp phần hỗ trợ và thúc đẩy vào việc phát triển ngành thủy sản ở Việt Nam.
Theo điều tra, khảo sát bước đầu cho thấy, cùng với sự phát triển của ngành thủy sản thì
hệ TNTS cũng vô cùng phong phú Đây là các từ ngữ biểu thị các khái niệm, đối tượng được sử dụng trong ngành thủy sản và một số ngành liên quan Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về TNTS tiếng Anh và tiếng Việt Do đó, chúng tôi lựa
chọn đề tài “Đặc điểm của thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và các tương đương trong tiếngViệt” để
nghiên cứu, tìm hiểu về hệ thuật ngữ này, qua đó hy vọng làm sáng tỏ các đặc điểm của hệ TNTS trong cả hai ngôn ngữ trên phương diện ngôn ngữ học.
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án xác định đối tượng nghiên cứu là các TNTS tiếng Anh và tiếng Việt Đó là các từ ngữ biểu thị các khái niệm, đối tượng được sử dụng trong ngành thủy sản, cụ thể là các thuật ngữ biểu thị các khái niệm, đối tượng về nguồn lợi thủy sản.
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vị nghiên cứu của luận án là nghiên cứu đối chiếu các đặc điểm của TNTS nhưng giới
hạn nhỏ lạị ở nhóm thuật ngữ chỉ nguồn lợi thủy sản tiếng Anh với tiếng Việt trên phương diện
ngôn ngữ học, bao gồm các đặc điểm về cấu tạo, con đường hình thành, đặc điểm định danh, các kiểu tương đương giữa thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và tiếng Việt và vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ thủy sản tiếng Việt.
Thủy sản là một lĩnh vực kinh tế với nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau Tuy nhiên, nói đến thủy sản đầu tiên phải nhắc đến những nguồn lợi thủy sản mang lại cho con người từ môi trường nước, được con người khai thác, sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu chế biến cho các ngành công nghiệp khác phục vụ cho đời sống con người, chẳng hạn như các loại cá, tôm, cua,
9
Trang 10ghẹ, ốc, ngao, sò, Có thể nói, nguồn lợi thủy sản là một tài nguyên vô cùng phong phú và quý giá đối với cuộc sống con người.
Cho nên, trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi không đi vào nghiên cứu thuật ngữ của tất cả những lĩnh vực hoạt động của ngành thủy sản Vì điều này e rằng quá sức với dung lượng
và khuôn khổ của luận án, mà chúng tôi chỉ tập trung xem xét thuật ngữ của những nguồn lợi thủy sản để có thể nghiên cứu sâu về chúng Đồng thời, qua khảo sát ngữ liệu cho thấy, đây là nhóm thuật ngữ có số lượng rất lớn và phong phú Mặt khác, xét về mặt chuyên môn, nguồn lợi thủy sản (chẳng hạn như các loại cá, tôm, cua, mực, ) chính là đối tượng trung tâm, mà các hoạt động trong ngành thủy sản hướng tới, ví dụ như nuôi tôm, cua, cá;khai thác, đánh bắt tôm, cua, cá; vận chuyển tôm, cua, cá; chế biến tôm, cua, cá; xuất khấu tôm, cua, cá hoặc các sản phẩm chế biến từ tôm, cua, cá,
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ sự tương đồng và khác biệt giữa hai hệ TNTS tiếng Anh và tiếng Việt về đặc điểm cấu tạo và định danh Ngoài ra, thông qua việc nghiên cứu
về hệ thuật ngữ này, luận án còn làm rõ các kiểu tương đương giữa thuật ngữ thủy sản tiếng Anh
và tiếng Việt qua đó góp phần chuyển dịch một cách chính xác thuật ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt, đồng thời đề xuất một số biện pháp chuẩn hóa một số thuật ngữ thủy sản tiếng Việt chưa đạt chuẩn.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án cần hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
-Khái quát tình hình nghiên cứu về thuật ngữ và thuật ngữ thủy sản.
-Xác lập cơ sở lý thuyết liên quan đến đối tượng và nội dung nghiên cứu của luận án thông qua việc
hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về thuật ngữ và TNTS, tìm hiểu một số vấn đề về cấu tạo từ, vấn đề ngôn ngữ học đối chiếu, định danh và tương đương dịch thuật Với vấn đề lý thuyết
về định danh và tương đương dịch thuật sẽ được gắn trực tiếp vào chương 3 và chương 4 nhằm giảm tải cho chương 1.
-Thống kê, lập danh sách các TNTS tiếng Anh và TNTS tiếng Việt tương đương làm cơ sở cho việc tìm hiểu các đặc điểm của chúng.
-Miêu tả và đối chiếu về đặc điểm cấu tạo, con đường hình thành và đặc điểm định danh của TNTS tiếng Anh và tiếng Việt.
- Làm rõ các tương đương dịch thuật từ TNTS tiếng Anh sang tiếng Việt.
Qua đó chỉ ra các vấn đề còn tồn tại của TNTS tiếng Việt và đề xuất chuẩn hóa.
10
Trang 114 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Tư liệu nghiên cứu
Để có được nguồn tư liệu nghiên cứu là các TNTS tiếng Anh và TNTS tiếng Việt làm ngữ liệu nghiên cứu, luận án đã dựa trên các tiêu chí xác định TNTS, từ đó tiến hành thu thập, lựa chọn thuật ngữ từ nhiều nguồn khác nhau Trước hết làtừ các cuốn từ điển Bởi vì hiện nay, TNTS tiếng Anh và tiếng Việt phần lớn đã được tập hợp trong một số cuốn từ điển Vì vậy, đây
là nguồn thu thập tư liệu chủ đạo của luận án.
Bên cạnh đó, luận án còn thu thập, lựa chọn các TNTS tiếng Anh và tiếng Việt tương đương từ các công trình nghiên cứu, sách, báo, tài liệu chuyên ngành, sổ ghi chép của ngư dân, văn bản, các website cả trong tiếng Anh và tiếng Việt liên quan đến chuyên ngành thủy sản.
Từ việc tiến hành đó, luận án đã thu thập được 1035 TNTS tiếng Anh và phần đối dịch là
1045 TNTS tiếng Việt.
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
(1) Phương pháp miêu tả: được dùng để miêu tả một cách khách quan các đặc điểm về cấu tạo, con
đường hình thành, đặc điểm định danh và thực trạng của TNTS tiếng Anh và tiếng Việt Đây là phương pháp làm căn cứ cho việc so sánh
-đối chiếu Thông qua việc miêu tả, sẽ giúp cho việc đối chiếu đảm bảo tính nhất quán và khách quan.
(2) Phương pháp phân tích thành tố: đây là phương pháp được nhiều nhà nghiên cứu vận dụng vào
phân tích không chỉ cấu trúc cú pháp mà còn phân tích cấu trúc của từ Do đó, luận án sử dụng phương pháp này để xác định, phân suất yếu tố cấu tạo TNTS, từ đó làm rõ nguyên tắc cấu tạo cũng như các mô hình cấu tạo TNTS.
Thành tố trực tiếp là đơn vị nhỏ nhất tham gia vào cấu tạo thuật ngữ Trong luận án,
thành tố trực tiếp tham gia vào cấu tạo TNTS được gọi là yếu tố (theo cách gọi của các nhà Ngôn ngữ học Nga - Xô Viết).
(3) Phương pháp so sánh đối chiếu: Đây là một trong những phương pháp chủ đạo của luận án.
Phương pháp này được được sử dụng nhằm đối chiếu giữa TNTS trong tiếng Anh với tiếng Việt
về mặt cấu tạo, con đường hình thành và đặc điểm định danh, qua đó tìm ra được sự giống nhau
và khác nhau của chúng ở các phương diện này, đồng thời giúp luận án làm sảng tỏ các kiểu tương đương giữa TNTS Anh - Việt Trong luận án này, phương pháp so sánh đối chiếu cụ thể
mà luận án sử dụng là phương pháp so sánh, đối chiếu 1 chiều Anh - Việt.
(4) Phương pháp phân tích từ vựng - ngữ nghĩa: được sử dụng để phân tích cấu trúc ngữ nghĩa, cụ
thể là áp dụng thao tác phân tích giữa chủng và loại để quy loại khái niệm của đối tượng được
11
Trang 12định danh và chọn đặc trưng định danh, qua đó xác định các phạm trù ngữ nghĩa và các đặc trưng định danh TNTS làm cơ sở xây dựng các mô hình định danh trong từng phạm trù ngữ nghĩa.
(5) Thủ pháp thống kê, phân loại được sử dụng để tìm ra đặc trưng về số lượng của các thuật ngữ
theo từng nhóm, hoặc bảng biểu để làm căn cứ, minh chứng cho những miêu tả, phân tích TNTS trong hai ngôn ngữ theo các tiêu chí nhất định.
5 Đóng góp mới của luận án
Tại Việt Nam, việc vận dụng những vấn đề lý thuyết chung về thuật ngữ vào nghiên cứu thuật ngữ của các ngành khoa học cụ thể bước đầu đạt được những kết quả nhất định Luận án này cũng đi theo hướng đó Tuy vậy, việc vận dụng những vấn đề lý luận chung vào nghiên cứu, tìm hiểu hệ thống TNTS tiếng Anh và các tương đương trong tiếng Việt dưới khía cạnh ngôn ngữ học nhằm chuyển dịch chính xác các TNTS tiếng Anh sang tiếng Việt và chuẩn hóa các TNTS Việt thì đây là công trình đầu tiên Do đó, đây có thể coi là điểm mới của luận án.
6 Ý nghĩa đóng góp của luận án
6.2 Đóng góp về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể giải quyết những vấn đề sau:
-Là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến TNTS có thể hiểu sâu hơn về đặc điểm của TNTS tiếng Anh và tiếng Việt.
-Là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc giảng dạy, dịch thuật, biên soạn các giáo trình, đặc biệt là các giáo trình tiếng Anh chuyên ngành thủy sản; là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu
về thuật ngữ học.
-Là cơ sở cho việc biên soạn từ điển thuật ngữ đối chiếu thủy sản Anh- Việt và từ điển tường giải TNTS tiếng Việt.
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương:
12
Trang 13Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Chương này, luận án
trình bày khái quát tình hình nghiên cứu thuật ngữ và TNTS, hệ thống hóa một số vấn đề lý thuyết chung về thuật ngữ, vấn đề cấu tạo từ tiếng Anh và tiếng Việt, ngôn ngữ học đối chiếu Đây chính là khung lý thuyết cho việc nghiên cứu các đặc điểm TNTS tiếng Anh và tiếng Việt.
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và tiếng Việt Chương
này luận án tập trung làm sáng tỏ đơn vị cấu tạo TNTS tiếng Anh và tiếng Việt trên các phương diện: số lượng yếu tố cấu tạo, phương thức cấu tạo, quan hệ ngữ pháp, đặc trưng từ loại, mô hình cấu tạo Trên cơ sở, rút ra những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm cấu tạo giữa TNTS tiếng Anh và tiếng Việt.
Chương 3: Con đường hình thành và đặc điểm định danh thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và tiếng Việt Chương này luận án làm rõ các con đường hình thành nên các thuật ngữ Về
mặt định danh, trên cơ sở lý thuyết định danh ngôn ngữ và thuật ngữ, luận án tập trung tìm hiểu các phạm trù định danh và các đặc trưng định danh được chọn để định danh của TNTS tiếng Anh và tiếng Việt Trên cơ sở đó, rút ra những điểm tương đồng và khác biệt về con đường hình thành và đặc điểm định danh giữa thuật ngữ thủy sản tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 4: Tương đương thuật ngữ thủy sản Anh - Việt và định hướng chuẩn hóa.
Đây là chương luận án tìm hiểu về các tương đương dịch thuật của các TNTS tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời đưa ra các đề xuất để chuẩn hóa các TNTS tiếng Việt chưa đạt chuẩn.
13
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương này, phần tổng quan, luận án khái quát lại những nét chính về lịch sử nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và Việt Nam cũng như tình hình nghiên cứu về TNTS tiếng Anh và tiếng Việt Phần cơ sở lý luận, luận án hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về thuật ngữ, TNTS, vấn đề cấu tạo từ và ngôn ngữ học đối chiếu Đây là khung lý thuyết cần thiết cho việc tìm hiểu các đặc điểm của TNTS ở những chương tiếp theo.
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ
1.1.1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở nước ngoài
Trên thế giới, thuật ngữ được hình thành từ rất sớm Do vậy, các nghiên cứu về thuật ngữ cũng xuất hiện khá sớm Cụ thể, khoảng kỷ 18 đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu đầu tiên về thuật ngữ khoa học của một số tác giả như: Carl von Linné, 1736; Beckmann, 1780; A.L Lavoisier, G.de Morveau, M.Berthellot và A.F.de Fourcoy, 1789, William Wehwell, 1840,
… Nhìn chung, các công trình nghiên cứu thời kỳ đầu này thường tập trung tìm hiểu vấn đề xây dựng thuật ngữ và đề ra các nguyên tắc xây dựng cho một số hệ thuật ngữ cụ thể Có thể nói, các nghiên cứu về thuật ngữ thời kỳ này tuy chỉ mang tính chất khám phá, sơ khai nhưng lại rất quan trọng vì đó là những nghiên cứu mang tính mở đường, khai lối cho công tác nghiên cứu thuật ngữ.
Công tác nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới được định hình rõ nét trong thế kỷ 20 Từ những năm 1930 trở đi, khoa học nghiên cứu về thuật ngữ ngày càng sáng rõ và có những bước phát triển mạnh mẽ khi xuất hiện một loạt các nghiên cứu về thuật ngữ của các học giả người
Áo, Liên Xô (cũ) và Cộng hòa Séc Tác giả Auger (1998) đã tổng kết quá trình nghiên cứu thuật
ngữ trên thế giới thành ba xu hướng chính: thuật ngữ được nghiên cứu theo sự điều chỉnh phù hợp
với hệ thống ngôn ngữ, thuật ngữ được nghiên cứu theo định hướng dịch và thuật ngữ được nghiên cứu theo định hướng kế hoạch hóa ngôn ngữ [dẫn theo 121, tr.4] Trong 3 hướng nghiên cứu trên,
đáng chú ý là hướng nghiên cứu: thuật ngữ đượcnghiên cứu theo sự điều chỉnh phù hợp với hệ
thống ngôn ngữ Bởi đây là hướng nghiên cứu thuật ngữ dưới góc độ ngôn ngữ học, đồng thời
hướng nghiên cứu này gắn liền với ba trường phái tiêu biểu trong nghiên cứu thuật ngữ được coi
là lớn nhất trên thế giới, gồm Áo, Xô Viết và Cộng hòa Séc.
(i) Công tác nghiên cứu thuật ngữ của Áo
Đại diện tiêu biểu của Áo đó là E.Wuster (1898-1977), người không chỉ mờ đường cho việc nghiên cứu thuật ngữ của Áo mà còn là người kiến tạo nên diện mạo của công tác nghiên
Trang 15cứu và phát triển thuật ngữ hiện đại ở thế kỷ 20 Trong tác phẩm nối tiếng của mình: Lí luận
chung về thuật ngữ (1931), Wuster xác lập các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ, xây dựng
lên các nguyên tắc cho việc nghiên cứu thuật ngữ, chỉ ra những điểm chính của phương pháp xử
lý dữ liệu thuật ngữ thông qua việc đề cập đến những khía cạnh ngôn ngữ học của hệ thống tên gọi của lĩnh vực kỹ thuật Có thể nói, các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ mà Wuster đề ra cũng là các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ của trường phái này, đồng thời có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc nghiên cứu thuật ngữ của các học giả sau này Với tác phẩm nổi tiếng này, Wuster đã được các nhà nghiên cứu đánh giá như là một cột mốc của ngôn ngữ học ứng dụng.
Có thể thấy, công tác nghiên cứu thuật ngữ của Áo đã xây dựng được hệ thống các nguyên tắc và các phương pháp tạo nền tảng vững chắc cho việc nghiên cứu thuật ngữ cả về mặt lý luận và thực tiễn Đặc điểm quan trọng nhất của trường phái này là tập trung vào các khái niệm, bản chất và hướng việc nghiên cứu thuật ngữ vào vấn đề chuẩn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu về chuyên môn trong việc đảm bảo sự giao tiếp hiệu quả và có thể truyền tải dễ dàng kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn Sau này, họ đã xuất bản một loạt các tài liệu về công tác chuẩn hóa thuật ngữ Hầu hết các nước Trung Âu và Bắc Âu đi theo hướng nghiên cứu của trường phái này, chẳng hạn: Đức, Na Uy, Thụy Sĩ, Đan Mạch,
(ii) Công tác nghiên cứu thuật ngữ của Séc
Nói tới công tác nghiên cứu thuật ngữ của Séc, trước tiên phải nhắc đến L.Drodz, đại diện tiêu biểu của trường phái này Drodz chính là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu thuật ngữ theo cách tiếp cận ngôn ngữ học chức năngcủa trường phái ngôn ngữ học Praha Do
đó, trong công tác nghiên cứu của trường phái này, họ đặc biệt chú trọng đến việc miêu tả cấu trúc và chức năng của các ngôn ngữ chuyên ngành nói chung và thuật ngữ nói riêng Theo trường phái này, các ngôn ngữ chuyên ngành mang phong cách chức năng nghề nghiệp tồn tại bên cạnh các phong cách khác Và thuật ngữ chính là những đơn vị tạo nên văn phong nghề nghiệp Thuật ngữ ra đời đề nhằm phục vụ cho chức năng đó.
Công tác nghiên cứu thuật ngữ của Séc cũng có điểm tương đồng với Áo bởi mối quan tâm nhất của họ cũng chính là vấn đề chuẩn hóa, chỉnh lý ngôn ngữ chuyên ngành và thuật ngữ.
(iii) Công tác nghiên cứu thuật ngữ của Nga - Xô Viết
Chịu ảnh hưởng bởi công trình nghiên cứu về thuật ngữ của của Wuster ngay từ thời kỳ đầu, mối quan tâm lớn nhất trong công tác nghiên cứu thuật ngữ của Nga - Xô Viết cũng là vấn
đề chuẩn hóa thuật ngữ Ngay sau khi công trình nổi tiếng của Wuster được dịch sang tiếng Nga, phong trào nghiên cứu thuật ngữ càng phát triển mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của rất nhiều các nhà nghiên cứu Do đó, từ những năm 1930 trở đi, công tác nghiên cứu thuật ngữ ở Liên Xô phát triển rất mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu to lớn Theo tổng kết của Nguyễn Văn Lợi (2010) về lĩnh vực thuật ngữ trong thế kỷ 20, Nga đã công bố 1600 bài báo; vài nghìn
Trang 16cuốn từ điển và rất nhiều giáo trình, sách chuyên khảo; luận án nghiên cứu về thuật ngữ Trong
đó rất nhiều công trình, sách, đã được dịch sang nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nước ngoài, trong đó có Việt Nam Đặc biệt rất nhiều hội thảo đã được tổ chức để bàn về những vấn liên quan đến công tác nghiên cứu thuật ngữ bao gồm cả công tác nghiên cứu thuật ngữ về mặt lý thuyết (chẳng hạn như vấn đề lý luận, phương pháp nghiên cứu, vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ, )
và công tác nghiên cứu thuật ngữ về mặt ứng dụng (chẳng hạn như những hoạt động thực tiễn
về thuật ngữ, vấn đề biên soạn từ điển thuật ngữ,
Đặc biệt, công tác nghiên cứu, phát triển thuật ngữ của Xô Viết đã có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới ngôn ngữ học, trong đó có rất nhiều nhà ngôn ngữ học đã tham gia tích cực vào công tác nghiên cứu thuật ngữ ngay từ thời kỳ đầu, chẳng hạn như A.A.Reformatskij, V.V.Vinogradov, G.O.Vinokur,…
Đại diện tiêu biểu của trường phái này là D.S.Lotte Ông là người đứng đầu trong công tác phát triển hệ thuật ngữ hiện đại và là người có ảnh hưởng lớn đến công tác phát triển thuật ngữ về mặt lý thuyết.
Có thể thấy, phong trảo nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới phát triển rất mạnh mẽ, đặc biệt trong thế kỷ 20 với ba trường phái nghiên cứu thuật ngữ tiêu biểu: Áo, Nga - Xô Viết và Áo.
Họ cùng chung quan điểm nghiên cứu thuật ngữ dựa trên ngôn ngữ học Xem thuật ngữ chính là một phương tiện để diễn đạt và giao tiếp trong lĩnh vực chuyên môn Từ đó, họ đã xác lập lên hệ thống cơ sở lý thuyết và những nguyên lý mang tính phương pháp chi phối những ứng dụng của thuật ngữ.
1.1.1.2 Khái quát tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam
Quá trình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam có thể chia thành các giai đoạn theo tiến trình lịch sử như sau:
(i) Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến 1945
Ở Việt Nam, do điều kiện lịch sử nên thuật ngữ khoa học ra đời khá muộn Đầu thế kỷ
20 thuật ngữ mới xuất hiện Tuy nhiên, công tác nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam cũng được quan tâm, chú ý ngay sau đó.
Từ những năm 1939 trở đi, công tác nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam chính thức được định hình rõ nét Điều này được đánh dấu bằng sự xuất hiện một loạt các bài báo thể hiện quan
điểm của các học giả thảo luận sôi nổi về một số vấn đề của thuật ngữ đăng trên tạp chí Khoa
học và Khoa học tạp chí Chẳng hạn, vấn đề đặt (xây dựng) thuật ngữ, vấn đề tiếp nhận thuật
Trang 17nổi tiếng của mình: Danh từ khoa học, Hoàng Xuân Hãn đã xác lập 8 yêu cầu (tức tiêu chuẩn)
đối với việc xây dựng thuật ngữ khoa học Từ đó ông đúc kết ra 3 phương thức xây dựng thuật ngữ khoa học, gồm: dựa vào từ thông thường, vay mượn tiếng Hán và phiên âm từ các tiếng Ấn
Âu Có thể nói, Danh từ khoa học của Hoàng Xuân Hãn chính là cuốn từ điển thuật ngữ đầu
tiên của nước ta, cụ thể đó là cuốn từ điển đối chiếu Pháp - Việt về một số ngành khoa học tự nhiên như toán, lý, hóa, cơ, thiên văn,trong đó chứa đựng khoảng 10 nghìn thuật ngữ tiếng Pháp và chừng đó thuật ngữ tiếng Việt tương đương.
Tiếp thu quan điểm của Hoàng Xuân Hãn trong việc xây dựng thuật ngữ, ngay sau đó một số học giả khác cũng bắt tay vào biên soạn một số cuốn từ điển đối chiếu Pháp - Việt khác
như: Danh từ thực vật học của Nguyễn Hữu Quán và Lê Văn Can (1945), Danh từ vạn vật học của Đào Văn Tiến (1945), Danh từ y học của Lê Khắc Thiên và Phạm Khắc Quảng,
(ii) Giai đoạn 1945 đến 1954
Mặc dù từ năm 1945 nước ta giành được độc lập, nhưng ngay sau đó, nước ta lại bước vào giai đoạn kháng chiến chống Pháp Vì thế, giai đoạn này, việc nghiên cứu thuật ngữ hầu như không phát triển, chỉ có thêm một vài cuốn thuật ngữ chuyên môn được biên soạn.
(iii) Giai đoạn 1954 đến trước 1986
Sau 1954, miền Bắc được giải phóng, bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Các ngành kinh tế - kỹ thuật dần được hình thành và khôi phục đã nảy sinh nhu cầu xây dựng thuật ngữ trong từng lĩnh vực để góp phần phục vụ cho công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước Vì thế, thời kỳ này công tác nghiên cứu thuật ngữ khá phát triển cả về lý luận và thực tiễn biên soạn các từ điển thuật ngữ.
Đặc biệt từ những năm 60 - 70 trở đi, vấn đề thuật ngữ trở thành mối quan tâm rất lớn của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Giai đoạn này, hệ thuật ngữ tiếng Việt phát triển khá mạnh, đặc biệt là thuật ngữ khoa học của các ngành khoa học kỹ thuật và các ngành khoa học cơ bản.
Số lượng các thuật ngữ này hầu hết được quy tụ trong các cuốn từ điển thuật ngữ đối chiếu.
Tuy nhiên tình trạng không thống nhất trong cách đặt thuật ngữ cũng như trong cách phiên thuật ngữ nước ngoài vẫn còn khá phổ biến Vì thế, vấn đề trọng tâm trong nghiên cứu thuật ngữ về mặt lý thuyết ở thời kỳ này là vấn đề xây dựng các tiêu chuẩn thuật ngữ phù hợp.
Để giải quyết vấn đề này, năm 1964, Ủy ban khoa học Nhà nước đã tổ chức một Hội nghị lớn bàn về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học, với các nội dung thảo luận: xác định tiêu chuẩn của thuật ngữ, phương thức đặt thuật ngữ, việc vay mượn, xử lý thuật ngữ nước ngoài, Hộinghị đã thu hút được đông đảo sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ, các nhà khoa học, chuyên môn, kỹ
sư, giáo viên,… trong cả nước Điều này đã tạo nên một không khí sôi nổi trong giới nghiên cứu
về thuật ngữ của những năm 60 -70 Trong việc bàn về các tiêu chuẩn của thuật ngữ, hầu hết các
nhà nghiên cứu đã đi đến sự thống nhất với 3 tiêu chuẩn của thuật ngữ thời đó: khoa học, dân
Trang 18tộc, đại chúng Trong việc bàn về nguyên tắc phiên thuật ngữ nước ngoài, hầu hết các nhà
nghiên cứu cũng đã đi đến sự nhất trí với những nguyên tắc trong đề án Quy tắc phiên thuật ngữ
khoa học nước ngoài ra tiếng Việt do Ủy ban khoa học xã hội công bố Nhờ có được sự thống nhất
về các tiêu chuẩn của thuật ngữ và các quy định, nguyên tắc phiên âm tiếng nước ngoài nên vấn đề
lý luận về thuật ngữ đã phần nào được giải quyết Điều này đã góp phần đẩy mạnh việc xây dựng các hệ thống thuật ngữ và biên soạn từ điển thuật ngữ giai đoạn này phát triển mạnh mẽ.
Sau năm 1975, cũng là thời kỳ đất nước thống nhất nên công tác nghiên cứu thuật ngữ không ngừng phát triển Nhiều hội nghị bàn về các vấn đề lý luận thuật ngữ tiếp tục được duy trì, tổ chức Chẳng hạn, trong hai năm 1978 và 1979 có đến 4 hội nghị khoa học về chuẩn mực hóa chính tả và thuật ngữ đã được tổ chức Những vấn đề được tập trung thảo luận và tiếp tục làm rõ gồm: khái niệm thuật ngữ, tiêu chuẩn của thuật ngữ, phương thức xây dựng thuật ngữ, vấn đề vay mượn thuật ngữ nước ngoài, vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ,… Trong đó, đáng chú ý là nhiều quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã được được đăng tải trên một số tạp chí
chuyên ngành Tiêu biểu là các bài báo của Lê Khả Kế Lưu Vân Lăng và Nguyễn Như Ý,
Hoàng Văn Hành, Hoàng Phê, Lê Văn Thới, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Như Ý,… Cho đến nay, những quan điểm của các nhà nghiên cứu trên vẫn được các nhà nghiên cứu sau này kế thừa và phát triển.
Đáng chú ý trong giai đoạn này, Hội đồng chuẩn hóa chính tả và Hội đồng chuẩn hóa thuật ngữ (1984) được thành lập, điều này đã giúp cho việc phiên chuyển thuật ngữ có đường hướng thống nhất và phù hợp với sự phát triển của thời đại Cụ thể là "chọn biện pháp phiên chuyển theo chữ là chính" Nhưng trên thực tế, do sự phát triển nhanh chóng của các thuật ngữ nước ngoài nên cách xử lý thuật ngữ nước ngoài nhìn chung vẫn chưa được thống nhất giữa các nhà nghiên cứu cũng như trong các văn bản.
(iv) Giai đoạn 1986 đến nay
Từ năm 1986 đến nay, công tác nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với các thời kỳ trước Giai đoạn này, công tác nghiên cứu thuật ngữ được định hình theo hai hướng.
Hướng thứ nhất, những vấn đề lý luận chung về thuật ngữ vẫn tiếp tục được đặt ra nghiên cứu Đáng chú ý là những vấn đề lý luận về thuật ngữ giai đoạn này đã được tổng kết, hệ
thống hóa trong một số chuyên khảo, đề tài khoa học cấp Bộ, cấp Nhà nước tiêu biểu như: Sự
phát triển từ vựng tiếng Việt nửa sau thế kỷ XX của Hà Quang Năng (2009, chuyên khảo), trong
đó, tác giả đã dành riêng chương 3 để tổng kết quá trình hình thành và phát triển của thuật ngữ khoa học trong nửa sau thế kỷ 20 Bởi theo tác giả, giai đoạn này thực sự là thời gian hình thành
và phát triển mạnh mẽ của hệ thống thuật ngữ nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển khoa học ở Việt
Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Những vấn đề thời sự của chuẩn hóa
Trang 19tiếng Việt của Nguyễn Đức Tồn (2011, đề tài khoa học cấp Bộ), trong đó tác giả cũng dành
riêng chương 4 nhằm tổng kết một số vấn đề lý luận thuật ngữ gắn với thời kỳ hội nhập và toàn
cầu hóa của đất nước Thuật ngữ học, những vấn đề lý luận và thực tiễn (2012, đề tài khoa học
cấp Bộ - Chuyên khảo) của Hà Quang Năng chủ biên, trong đó không chỉ tiếp tục bàn về những vấn đề lý luận của thuật ngữ học lý thuyết, mà đáng chú ý là những vấn đề lý luận của thuật ngữ học ứng dụng đã được nghiên cứu, đề cập Ngoài ra, chuyên khảo còn giới thiệu, tổng kết quá
trình nghiên cứu thuật ngữ học ở trên thế giới, đặc biệt là ở Nga Nghiên cứu hệ thuật ngữ tiếng
Việt hiện đại nhằm góp phần xây dựng nền văn hóa tri thức Việt Nam (2015, đề tài khoa học cấp
Nhà nước) đã in thành chuyên khảo: Sự phát triển hệ thuật ngữ tiếng Việt theo định hướng văn
hóa (từ 1907 - 2005) của Lê Quang Thiêm (năm 2018) Trong chuyên khảo, tác giả đã tập trung
miêu tả, đánh giá sự hình thành và phát triển của thuật ngữ tiếng Việt gắn với định hướng phát triển nền văn hóa tri thức của Việt Nam, đồng thời tác giả đã xem xét thuật ngữ từ nhiều bình diện khác nhau: vừa là phân ngành của thuật ngữ học chuyên nghiên cứu về thuật ngữ, nhưng vừa mang đặc điểm liên ngành giữa ngôn ngữ - tri thức - văn hóa - giáo dục Gần đây còn có
công trình Thuật ngữ học tiếng Việt hiện đại (2016, chuyên khảo) của NguyễnĐức Tồn, chủ
biên, trong đó tác giả cũng tập trung vào những vấn đề lý luận cơ bản của thuật ngữ và xem xét đặc điểm của một số hệ thống thuật ngữ của một số ngành gắn với thời kỳ công nghiệp và hiện đại hóa đất nước.
Ngoài những công trình mang tính hệ thống trên, giai đoạn này còn có nhiều bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành bàn sâu về một số vấn đề lý luận của thuật ngữ hiện đại Mỗi bài báo thường giải quyết một vấn đề cụ thể hoặc một khía cạnh khác nhau về thuật ngữ rất
bổ ích Theo thời gian, một số bài báo tiêu biểu có thể kể đến như: Thuật ngữ Việt Nam đầu thế
kỷ XX trong liên hệ với văn hóa và phát triển của Lê Quang thiêm (Khoa học, 2000), Chuẩn hóa thuật ngữ, nhìn lại từ góc độ bối cảnh xã hội của Nguyễn Văn Khang (Ngôn ngữ, 2000), Một số vấn đề của thuật ngữ tiếng Việt trong thời kỳ đổi mới và hội nhập của Dương Kỳ Đức
(Ngôn ngữ & Đời sống, 2009), Một số vấn đề về nghiên cứu, xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ
tiếng Việt trong thời kỳ hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay của Nguyễn Đức Tồn (Ngôn ngữ, 2010
& 2011); Đặc điểm định danh thuật ngữ của Hà Quang Năng (Từ điển học & Bách khoa thư, 2013), Đặc trưng nghĩa của thuật ngữ của Lê Quang Thiêm (Từ điển học và Bách khoa thư, 2015); Thuật ngữ đồng âm thuộc các ngành khoa học khác nhau trong tiếng Việt của Lê Quang Thiêm (Ngôn ngữ & Đời sống, 2015), Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường: một trong các con
đường tạo thành thuật ngữ tiếng Việt của Lê Thị Lan Anh (Ngôn ngữ & Đời sống, 2015); Về tính ngắn gọn của thuật ngữ của Quách Thị Gấm (Ngôn ngữ & Đời sống, 2018),…
Hướng thứ hai là đi vào nghiên cứu đặc điểm thuật ngữ của từng chuyên ngành cụ thể nhằm góp phần chỉnh lý và thống nhất thuật ngữ của từng chuyên ngành, đáp ứng nhu cầu phát
Trang 20triển khoa học của thời kỳ công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế Có thể nói, đây là hướng nghiên cứu chủ đạo trong công tác nghiên cứu thuật ngữ ở thời điểm hiện nay Theo thống kê sơ
bộ, cho đến nay đã có khoảng 25 công trình nghiên cứu chuyên sâu về hệ thuật ngữ của từng ngành hoặc chuyên ngành (Luận án Tiến sĩ) Ngoài ra còn rất nhiều hệ thuật ngữ bước đầu được nghiên cứu (dưới dạng các Luận văn Thạc sĩ) Chẳng hạn, theo thời gian có thể kể một số công
trình như: Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt: đặc điểm và cấu tạo của của Quang Hào (1991),
Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thương mạiNhật - Việt của Nguyễn Thị Bích Hà (2004), Nghiên cứu thuật ngữ điện tử - tin học viễn thông của Nguyễn Thị Kim Thanh (2005), Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh và cách phiên chuyển sang tiếng Việt của Vương Thu Minh (2005), Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ Luật sở hữu trí tuệ tiếng Việt của Mai Thị Loan
(2012), Thuật ngữ khoa học kĩ thuật xây dựng trong tiếng Việt của Vũ Thị Thu Huyên (2013),
Nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ thống thuật ngữ khoa học tự nhiên (trên tư liệu thuật ngữ Toán - Cơ - Tin học, Vật lý) của Ngô Phi Hùng (2014), Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tiếng Việt của Quách Thị Gấm (2015), Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt của Nguyễn Quang Hùng (2016) Đối chiếu thuật ngữ phụ sản trong tiếng Anh và tiếng Việt của Phí Việt Hà (2017).
Đặc biệt, chỉ tính trong 2 năm 2018 - 2019 đã có khoảng trên 10 công trình nghiên cứu về
thuật ngữ đã được bảo vệ thành công, như: Đối chiếu thuật ngữ cơ khí trong tiếng Anh và tiếng
Việt của Trần Ngọc Đức (2018), Đặc điểm thuật ngữ hành chính tiếng Việt của Phạm Thị Hồng
Thắm (2018), Đối chiếu thuật ngữ thời trang Anh - Việt của Hoàng Thị Huệ (2019), Đối chiếu
thuật ngữ xã hội học Anh - Việt của Ngô Thị Thanh Vân (2019), Thuật ngữ về thị trường chứng khoán trong tiếng Việt của Chu Thị Hoàng Giang (2019), Thuật ngữ ngân hàng trong tiếng Anh và tương đương của chúng trong tiếng Việt của Đỗ Hạnh Dung (2019), Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt của Lê Thị Mỹ Hạnh (2019), Đối chiếu thuật ngữ Marketing Anh - Việt của Hà Thị Hương Sơn (2019), Đối chiếu thuật ngữ dầu khí Anh - Việt của
Nguyễn Thị Thu Hà (2019), Đặc điểm thuật ngữ đông y trong tiếng Việt của Nguyễn Chi Lê
(2019),
Điểm chung của các nghiên cứu “trường hợp” về thuật ngữ này là trên cơ sở kiểm kê vốn liếng thuật ngữ hiện có, các tác giả đi sâu vào miêu tả, phân tích các đặc điểm của chúng từ góc
độ ngôn ngữ học và trên các phương diện cơ bản như: đặc điểm cấu tạo, cách thức định danh,
từ đó đề xuất vấn đề chỉnh lý, thống nhất thuật ngữ hoặc đề xuất cách chuyển dịch thuật ngữ từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt phù hợp.
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ thủy sản
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ thủy sản trong tiếng Anh
Trang 21Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, tiếng Anh có vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực như kinh tế, văn hóa và xã hội, là công cụ giao tiếp và ngôn ngữ quốc tế Việc nghiên cứu thuật ngữ tiếng Anh trong các lĩnh vực đời sống xã hội nói chung ngày càng mở rộng và được chú trọng.
Đối với thủy sản, trên thế giới ngay từ thời cổ đại và thời Trung cổ, các sản phẩm từ thủy sản đã có vai trò quan trọng trong đời sống của con người, vì chúng được coi là có giá trị dinh dưỡng cao, mang lại sức khỏe cho con người Trong thế kỷ 20, thủy sản đã trở thành ngành sản xuất có sự phát triển mạnh mẽ Do đó, các công trình, tài liệu có tính nghiệp vụ về các vấn
đề liên quan đến nguồn lợi thủy sản, vấn đề bảo tồn các nguồn lợi thủy sản, môi trường thủy
sản, các công nghệ, kỹ thuật liên quan đến thủy sản,… rất phong phú Chẳng hạn như: Marine
Protected Areas and Sustainable Fisheries,1995; Precautionary approach to fisheries Part 1: guidelines on the precautionary approach to capture fisheries and species introductions, 1995; Non native marine species in British waters: a review and directory, 1997; Fisheries Management and Nature Conservation in the Marine Environment, 1999; A fishery manager’s guidebook Management measures and their application, 2002, Có thể nói, các tài liệu, công
trình này có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ, hướng dẫn sản xuất và nuôi trồng, khai thác
và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Tuy nhiên, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy, cho đến nay hầu như vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về mặt lý luận thuật ngữ thủy sản trong tiếng Anh Thuật ngữ thủy sản trong tiếng Anh chủ yếu được nghiên cứu về mặt ứng dụng, cụ thể là được tập hợp, biên soạn thành một số từ điển, hoặc bảng chú giải nhằm giải thích ý nghĩa của chúng Chẳng hạn:
Fisheries Management Glossary (Thuật ngữ quản lý thủy sản) do Trung tâm quốc tế
Yokohama, Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản biên soạn (2007), giải nghĩa khoảng khoảng 100 thuật ngữ liên quan đến mảng thuật ngữ quản lý thủy sản.
A Glossary of Fisheries Science (Thuật ngữ về khoa học thủy sản) của hai tác giả Oseph
Gough và Dr Trevor Kenchington biên soạn (1995) Đây là cuốntừ điển được biên soạn công phu, giải nghĩa khoảng gần 200 thuật ngữ chuyên sâu về thủy sản Phần 1 bao gồm các thuật ngữ liên quan đến lĩnh vực thủy sản được định nghĩa ngắn gọn để giúp độc giả có thể nắm bắt nghĩa một cách nhanh nhất Phần 2 cuốn sách đưa ra những lời giải thích chi tiết (có những mục
có độ dài từ 1-2 trang), cung cấp nhiều thông tin tri thức bách khoa nhằm phục vụ như là một công cụ giảng dạy, nghiên cứu.
A Glossary of Marine Nature Conservation and Fisheries (Thuật ngữ về bảo tồn thiên
nhiên biển và thủy sản) của tác giả Dr Stephen J Lockwood (chủ biên) xuất bản năm 2000 Công trình được biên soạn dựa trên nhiều nguồn tài liệu tham khảo của quốc gia và quốc tế, các
Trang 22cơ quan, tổ chức phi chính phủ và các báo cáo của chính phủ liên quan đến ngành thủy sản Công trình do một tập thể tác giả uy tín biên soạn, trong đó chủ biên là cán bộ cấp cao trong ngành thủy sản Trong một số mục từ, lời giải thích được trích dẫn ít nhiều nguyên văn từ các văn bản nhằm tăng thêm tính khách quan, chính xác cho lời giải nghĩa thuật ngữ.
FAO Glossary of Aquaculture (Từ điển thuật ngữ nuôi trồng thủy sản của FAO) Đây là
công trình nổi tiếng trên thế giới Công trình được biên soạn bằng tiếng Anh do André Coche biên soạn, chứa hơn 2600 thuật ngữ liên quan đến lĩnh vực nuôi trồng thủy sản Đây có thể nói là tài liệu tham khảo vô cùng hữu ích và rất có giá trị cho toàn cộng đồng nuôi trồng thủy sản và các lĩnh vực liên quan đến thủy sản trên toàn thế giới Nội dung từng mục từ cung cấp nhiều thông tin, bao gồm: thuật ngữ, định nghĩa, lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, từ đồng nghĩa, thuật ngữ liên quan, hình ảnh và nguồn thông tin Công trình này đã được dịch sang nhiều thứ tiếng khác nhau trong đó có tiếng Việt.
Ngoài ra còn có: Glossary of Fisheries Management and Science Terms (Bảng chú giải thuật ngữ Khoa học và Quản lý Thủy sản), Glossary of technical terms in Fisheries Resources
Management (Bảng chú giải thuật ngữ kỹ thuật trong Quản lý Nguồn lợi Thủy sản), A Glossary
of Marine Nature Conservation and Fisheries (Bảng chú giải thuật ngữ về thiên nhiên biển, sự
bảo tồn và thủy sản),…
Nhìn chung, các công trình liên quan đến thuật ngữ thủy sản trong tiếng Anh hầu hết là về mảng ứng dụng Cụ thể, đây đều là những công trình mang tínhtập hợp TNTS dưới dạng từ điển, sách hướng dẫn để giải nghĩa chúng Chưa có công trình nào nghiên cứu lý luận về hệ thuật ngữ này.
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ thủy sản trong tiếng Việt
Tương tự với tiếng Anh, trong tiếng Việt cũng có một tình trạng chung là cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu về thuật ngữ mang tính lý luận về thủy sản Thay vào đó, là các tài liệu, công trình nghiên cứu mang tính nghiệp vụ về ngành thủy sản rất phong phú Chẳng hạn như các tài liệu cung cấp tri thức về các loài thủy sản, các phương pháp, kỹ thuật nuôi trồng
và đánh bắt thủy sản nước mặn và nước ngọt, kỹ thuật và phương pháp chế biến sản phẩm thủy sản,… Trong số đó, khá nhiều tài liệu được dịch từ tiếng nước ngoài, điều đó đã giúp cho ngành thủy sản có một hệ thống tài liệu nghiệp vụ rất đa dạng và phong phú.
Về mặt nghiên cứu ứng dụng, hiện nay cũng đã có một số công trình nghiên cứu về
TNTS dưới dạng từ điển, cẩm nang tra cứu: Từ điển thuật ngữ nuôi trồng thủy sản của FAO
năm 2008 (2008), Bách khoa thủy sản (2007), Danh mục các loài nuôi biển và nước lợ ở Việt Nam,…
Đầu tiên phải nhắc tới Từ điển thuật ngữ nuôi trồng thủy sản của FAO năm 2008 Đây là
cuốn từ điển được dịch từ tài liệu tiếng Anh của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp
Trang 23quốc (FAO) do NXb Nông nghiệp ấn hành năm 2009 Công trình xuất bản với mong muốn giúp cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và các chuyên gia cũng như những người nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam mở rộng sự trao đổi thông tin, mở rộng khả năng tiếp cận nguồn kiến thức
về nuôi trồng thủy sản Từ điển có 2951 thuật ngữ tiếng Anh và tương đương gần đó thuật ngữ tiếng việt, bao gồm các thuật ngữ về nuôi trồng thủy hải sản nước mặn, ngọt và nước lợ cũng như chế biến và nuôi trồng Nội dung các thuật ngữ được giải thích ngắn gọn, dễ hiểu.
Bách khoa thủy sản, Nxb Nông nghiệp ấn hành năm 2007, công trình do một tập thể các nhà
khoa học trong và ngoài ngành thủy sản uy tín biên soạn Đây cũng là một công trình được biên soạn công phu, bao quát hầu hết các lĩnh vực cơ bản trong ngành thủy sản: môi trường, nguồn lợi thủy sản, khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản, bảo quản và chế biến thủy sản, kinh tế xã hội nghề cá Nội dung các mục từ cung cấp nhiều thông tin tri thức bổ ích, được bố cục thuận tiện cho người sử dụng.
Ngoài ra còn có một số cẩm nang tra cứu, chẳng hạn như: Danh mục các loài nuôi biển
và nước lợ ở Việt Nam (2012), Cuốn cẩm nang này đã cho thấy tính đa dạng và phong phú các
loài nuôi ở nước ngoài có phân bố ở biển Việt Nam Cụ thể, công trình giới thiệu 85 loài chia thành 5 nhóm chính: nhóm cá, nhóm nhuyễn thể, nhóm giáp xác, nhóm rong và nhóm các loài khác Đây là tài liệu liệu rất hữu ích giúp cho công tác quy hoạch nuôi trồng thủy sản có thể lựa chọn cơ cấu giống nuôi phù hợp cho từng vùng sinh thái khác nhau.
Như vậy, qua tổng quan cho thấy, các nghiên cứu về lý luận thuật ngữ thủy sản cho đến nay chưa có công trình nào đề cập đến, mà TNTS chủ yếu là các nghiên cứu ứng dụng, cụ thể là biên soạn các loại từ điển, cầm nang làm công cụ tra cứu.
1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.2.1 Thuật ngữ và các tiêu chuẩn của thuật ngữ
1.2.1.1 Khái niệm về thuật ngữ
Trong lịch sử hình thành và phát triển của thuật ngữ học, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau Superanskaia (2007) đã lý giải cho điều này bởi thuật ngữ đã từng
là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học trước khi bộ môn thuật ngữ học ra đời, cho nên mỗi ngành khoa học tiếp cận thuật ngữ ở những góc độ khác nhau là điều dễ hiểu.
Luận án này có nhiệm vụ nghiên cứu các đặc điểm TNTS tiếng Anh và tiếng Việt trên phương diện ngôn ngữ học, cụ thể là đi sâu tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, định danh và vấn đề chuẩn hóa hệ thuật ngữ này Cho nên, trong việc tìm hiểu khái niệm thuật ngữ, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu khái niệm thuật ngữ theo quan niệm từ ngôn ngữ học, để từ đó có thể áp dụng và đưa ra khái niệm về TNTS phục vụ cho việc nghiên cứu luận án.
Từ phương diện ngôn ngữ học, có thể thấy thuật ngữ được hiểu khá thống nhất Hầu hết các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho rằng, thuật ngữ có chức năng biểu thị khái niệm của các
Trang 24ngành khoa học và chuyên môn Dưới đây, chúng tôi sẽ tìm hiểu chi tiết quan niệm thuật ngữ của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước từ phương diện ngôn ngữ học.
(i) Quan niệm thuật ngữ của các nhà Ngôn ngữ học nước ngoài
Đề cập đến quan điểm định nghĩa thuật ngữ, trước hết phải kể đến các học giả Xô Viết
-Nga Trong Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, các nhà ngôn ngữ học như O.S Akhmanova, V.P.
Danilenko, cho rằng “Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn (ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kỹ thuật, v.v ) được sáng tạo ra (được tiếp nhận, được vay mượn v.v ) để biểu hiện chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn” [102, tr.3] Còn V.P.Danilenko (1977) cũng quan niệm: “Thuật ngữ dù là từ (ghép hoặc đơn) hay cụm từ đều là một kí hiệu mà một khái niệm tương ứng với nó” ( ) “Bản chất của thuật ngữ với tư cách là một khái niệm hoàn toàn không trùng với từ thông thường của ngôn ngữ toàn dân” ( ) “Thuật ngữ gọi tên khái niệm chuyên môn” [13].
Cùng chung quan điểm trên, trong Đại bách khoa toàn thư Xô Viết (1976), các tác giả
cũng đưa ra khái niệm thuật ngữ trong mối quan hệ với khái niệm: “Thuật ngữ là một từ hoặc là một cụm từ chỉ ra một cách chính xác khái niệm và quan hệ của nó với những khái niệm khác trong giới hạn của phạm vi chuyên ngành Thuật ngữ là cái biểu thị vốn đã chuyên biệt hóa, hạn định hóa về sự vật, hiện tượng, thuộc tính và quan hệ của chúng trong phạm vi chuyên môn đó” [Dẫn theo 102, tr.8].
Tương tự, D.S Lotte (1978) còn chỉ ra hai mặt của thuật ngữ, trong đó 1 mặt của thuật ngữ chính là khái niệm Cụ thể, hai mặt của một thuật ngữ gồm: tổ hợp âm thanh hoặc thành phần âm thanh và ý nghĩa gắn liền với tổ hợp âm thanh trong phạm vi một hệ thống khái niệm.
Ở các nước phương Tây, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cũng định nghĩa thuật ngữ theo hướng này, điển hình như E.Oeser và G Budin đã chỉ ra vai trò quan trọng của khái niệm mà thuật ngữ biểu thị: “Thuật ngữ là một tập hợp các khái niệm, trong mỗi lĩnh vực chuyên ngành đều có các mô hình cấu trúc đại diện cho các tập hợp các khái niệm Kiến thức khoa học được sắp xếp thành các cấu trúc khái niệm các phương tiện biểu đạt ngôn ngữ và kí hiệu tương ứng được sử dụng trong văn phong khoa học để thông tin với người khác về kết quả khoa học và bình luận các ngôn bản khác” [Dẫn theo 19, tr.11] Dafydd, G (1999) cũng nhận định thuật ngữ với quan điểm trên khi cho rằng thuật ngữ là một tập hợp cáckhái niệm và biểu đạt của nó, bao gồm các kí tự, các thuật ngữ và đơn vị cụm từ trong một lĩnh vực chuyên ngành đặc biệt Tương
tự, Sager cũng cho rằng, thuật ngữ là các ký hiệu biểu hiện của khái niệm [124, tr.22] Định nghĩa này cho thấy, khái niệm là cái có trước và thuật ngữ được tạo ra sau để biểu thị khái niệm
đó Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO cũng đưa ra định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm, cụ thể:
“Thuật ngữ là sự quy biểu (designation) của một khái niệm xác định (designed concept) trong một ngôn ngữ chuyên ngành bởi một biểu thức ngôn ngữ (linguistic expression)” [128, tr.5].
Trang 25Như vậy, quạn điểm này cũng cho thấy rằng, một thuật ngữ có thể bao gồm một (thuật ngữ đơn) hoặc nhiều hơn một từ (thuật ngữ phức) hoặc thậm chí có thể bao gồm cả kí hiệu Các tác giả Besse, Nkwenti - Azeh và Sager (1997) cho rằng “một đơn vị từ vựng gồm một hoặc nhiều hơn một từ biểu hiện một khái niệm trong một lĩnh vực.” [119, tr.152].
(ii) Quan niệm thuật ngữ của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam
Ở Việt Nam, hầu hết các nhà ngôn ngữ học đồng quan điểm với cách định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài Chẳng hạn như Nguyễn Văn Tu (1968), Đỗ Hữu Châu (1962), Lưu Vân Lăng và Nguyễn Như Ý (1971), Hoàng Văn Hành (1983), Nguyễn Thiện Giáp (1985), Vũ Đức Nghiệu, Hà Quang Năng (2009), Nguyễn Đức Tồn (2010),… Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Tu (1960) là người đầu tiên đưa ra khái niệm về thuật ngữ.
Cụ thể, tác giả đã định nghĩa như sau: “Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong các ngành khoa học kỹ thuật, chính trị ngoại giao, nghệ thuật, và có một ý nghĩa đặc biệt, biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên" [98, tr.176] Có thể thấy, định nghĩa trên
đã khẳng định chức năng biểu thị khái niệm khoa học của thuật ngữ, ngoài ra nó còn biểu thị cả sự
vật Đây là định nghĩa thuật ngữ được Nguyễn Văn Tu đề cập trong giáo trình Khái luận ngôn ngữ
học (1960).
Cùng thời kỳ của Nguyễn Văn Tu, tác giả Đỗ Hữu Châu (1962) cũng là một trong những
người đầu tiên đưa ra định nghĩa thuật ngữ Cụ thể trong Giáo trình Việt ngữ (1962), Đỗ Hữu
Châu cũng cho rằng thuật ngữ trước tiên biểu thị khái niệm khoa học, sau đó nó còn gọi tên cả
sự vật, hiện tượng khoa học: "Thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kỹ thuật nào đấy Có thuật ngữ của ngành vật lý,ngành hóa học, toán học, thương mại, ngoại giao, v.v Đặc tính của những từ này
là phải cố gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm, hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kỹ thuật nhất định" [7, tr.367].
Các tác giả sau này, khi nghiên cứu cũng đưa ra định nghĩa về thuật ngữ, trong đó cũng đề cao vai trò biểu thị khái niệm của thuật ngữ Chẳng hạn, Hoàng Văn Hành (1983) cho rằng:
“Thuật ngữ là những từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc một hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ” [31, tr.26] Hoặc quan niệm thuật ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (1985) cũng tương tự: "Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các khái niệm và các đối tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn của con người" [23, tr.474] Đây là định nghĩa được tác giả đưa ra trong
giáo trình Từ vựng tiếng Việt (1985) Trong định nghĩa này, Nguyễn Thiện Giáp còn nhấn mạnh
“Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ” Trong khi đi sâu vào tìm hiểu đặc điểm của thuật ngữ, tác giả còn cho rằng thuật ngữ có thể được cấu tạo dựa trên cơ sở các từ hoặc
Trang 26hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể; nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các
từ tạo nên chúng.
Trong các nghiên cứu chuyên sâu về các hệ thuật ngữ chuyên ngành cụ thể trong những năm gần đây và hiện nay, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy, mặc dù có một số tác giả dẫn ra nhiều quan điểm thuật ngữ trên nhiều phương diện khác nhau, nhưng sau đó họ đều thống nhất quan niệm thuật ngữ dựa trên quan điểm ngôn ngữ học và đều xác định thuật ngữ trong mối với khái niệm, nghĩa là đều cho rằng chức năng quan trọng nhất của thuật ngữ là biểu thị khái niệm
và các đối tượng chuyên môn Từ đó, đa số các nhà nghiên cứu xác lập khái niệm thuật ngữ của mình trong mối quan hệ với khái niệm mà thuật ngữ biểu thị hoặc trích dẫn ra định nghĩa của một số tác giả đi trước, chẳng hạn như Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Văn Hành để lấy đó làm cơ
sở nghiên cứu.
Đi theo hướng trên, trong luận án này chúng tôi cũng đồng quan điểm với các nhà nghiên cứu xác định thuật ngữ trong mối quan hệ với khái niệm mà thuậtngữ biểu thị và dựa trên định nghĩa về thuật ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (1985) để làm cơ sở cho việc nghiên cứu TNTS của luận án.
1.2.1.2 Các đặc điểm và yêu cầu của thuật ngữ
Những đặc điểm và yêu cầu của thuật ngữ là một vấn đề được các nhà nghiên cứu thuật ngữ đặc biệt quan tâm bởi đây chính là cơ sở cho việc xây dựng, thống nhất cũng như chuẩn hóa thuật ngữ Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều thống nhất các tiêu chuẩn cần có của thuật
ngữ hiện nay, gồm: tính khoa học (bao gồm: tính chính xác, tính hệ thống, tính ngắn gọn), tính
Tuy nhiên, để bảo đảm tính chính xác thì đòi hỏi mỗi thuật ngữ chỉ biểu thị một khái niệm và ngược lại, mỗi khái niệm chỉ được gọi tên bằng một và chỉ một thuật ngữ mà thội Điều này đòi hỏi thuật ngữ phải có tính đơn nghĩa Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh, trong thực tế, có những
Trang 27thuật ngữ gọi tên khái niệm đúng, có những thuật ngữ gọi tên khái niệm sai lầm Nhưng điều quan trọng là ở chỗ các thuật ngữ phải biểu thị cho đúng các khái niệm (đúng hoặc sai) mà chúng gọi tên “Một thuật ngữ chính xác là một thuật ngữ khi nói ra, viết ra, người nghe, người đọc hiểu một và chỉ một khái niệm khoa học (đúng hoặc sai) ứng với nó mà thôi” [8, tr.243].
Trang 28Có thể thấy tính đơn nghĩa là một yếu tố quan trọng để đảm bảo tính chính xác của thuật ngữ Để đạt được tính đơn nghĩa thì rõ ràng cần phải loại bỏ hiện tượng thuật ngữ đồng nghĩa.
Tuy nhiên trên thực tế chúng ta không thể tuyệt đối hóa nguyên tắc này bởi do sự phát triển của khoa học, có thể có thuật ngữ cũ vẫn cùng tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định với thuật ngữ mới Mặt khác, giữa các ngành khoa học khác nhau vẫn có hiện tượng sử dụng chung
một thuật ngữ, điển hình là thuật ngữ function trong tiếng Anh được dùng với nhiều ngành khoa học khác nhau gắn với các khái niệm khác nhau: chức năng trong y học, hàm trong toán học.
Soi dọi tính chính xác vào trong hệ TNTS cho thấy, hầu hết các thuật ngữ thủy sản đều đạt được tiêu chuẩn này, bởi vì mỗi thuật ngữ thủy sản chỉ biểu thị một khái niệm (tức chỉ có một nghĩa) Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số trường hợp một khái niệm được biểu thị bằng hai hoặc ba thuật ngữ khác nhau (đồng nghĩa) Các thuật ngữ này sẽ được tìm hiểu sâu hơn ở chương 4 khi luận án bàn về vấn đề chuẩn hóa TNTS tiếng Việt.
- Tính hệ thống
Đây cũng là một tiêu chuẩn quan trọng và bắt buộc cần có của thuật ngữ Các thuật ngữ của một lĩnh vực nhất định thường không tồn tại độc lập mà tập hợp thành một hệ thống có tổ chức, tôn ti thứ bậc khác nhau.
Theo D.S Lotte (1978), hệ thống thuật ngữ có tính khoa học không thể là tổng thể giản đơn các từ ngữ mà là hệ thống các từ ngữ liên hệ nhất định với nhau, có lẽ chính đây là tính hệ thống các thuật ngữ trong hệ thống thuật ngữ Nguyễn Thiện Giáp (1985) đã chỉ rõ tầm quan trọng của mối liên hệ giữa các thuật ngữ trong một hệ thống như sau: “Mỗi lĩnh vực khoa học đều có một hệ thống các khái niệm chặt chẽ, hữu hạn được thể hiện bằng hệ thống các thuật ngữ của mình Như vậy, mỗi thuật ngữ đều chiếm một vị trí trong hệ thống khái niệm, đều nằm trong một hệ thống thuật ngữ nhất định Giá trị của mỗi thuật ngữ được xác định bởi mối quan
hệ của nó với những thuật ngữ khác cùng trong hệ thống Nếu tách một thuật ngữ ra khỏi hệ thống thì nội dung thuật ngữ của nó không còn nữa ( ) Tính hệ thống về mặt nội dung của thuật ngữ kéo theo tính hệ thống về hình thức ( ) Muốn thuật ngữ “không cản trở đối với cách hiểu”, lại thể hiện đượcvị trí trong hệ thống thuật ngữ thì qua hình thức của thuật ngữ phải có thể khu biệt nó
về chất với các thuật ngữ khác loạt, đồng thời có thể khu biệt nó về mặt quan hệ so với những khái niệm khác cùng loại ” [23, tr 272-273].
Tính hệ thống được thể hiện ở 2 mặt: hệ thống khái niệm (mặt nội dung) và hệ thống cái biểu thị (mặt hình thức) Đi sâu vào bản chất của tính hệ thống
D.S Lotte (1978) chỉ rõ“Nói đến tính chất hệ thống của thuật ngữ khoa học, chúng ta cần phải
chú ý đến cả hai mặt: hệ thống thuật ngữ và hệ thống ký hiệu” và “Nói đến việc xây dựng một
hệ thống thuật ngữ khoa học của một ngành nào đó thì không thể không nói đến việc xây dựng một sự tương ứng giữa hệ thống khái niệm hệ thống kí hiệu [57, tr.22].
Trang 29Tương tự ở Việt Nam, Lưu Vân Lăng (1977) cũng là người đi sâu tìm hiểu tính hệ thống của thuật ngữ Ông cũng cho rằng, “Khi xây dựng hệ thống thuật ngữ, trước khi đặt hệ thống ký hiệu (về hình thức) cần phải xác định cho được hệ thống khái niệm (về nội dung) của nó, đảm bảo đúng mối quan hệ logic nội dung
-hình thức Không thể tách rời từng khái niệm ra để đặt thuật ngữ, mà phải hình dung, xác định
vị trí của nó trong toàn bộ hệ thống khái niệm” [52, tr.6] Có thể thấy, tính hệ thống là tính chất rất quan trọng của thuật ngữ, bởi lẽ nhờ vào tính hệ thống mà chúng ta thấy rõ khả năng phái sinh của thuật ngữ là rất phong phú.
- Tính ngắn gọn
Tính chính xác của thuật ngữ không chỉ thể hiện mặt ngữ nghĩa mà còn thể thể hiện ở hình thức phải ngắn gọn Tính ngắn gọn góp phần đảm bảo được sự chặt chẽ trong cấu tạo của thuật ngữ cũng như tính chất định danh của thuật ngữ Vì vậy, nếu thuật ngữ là những cụm từ dài dòng thường mang tính chất miêu tả hay định nghĩa khái niệm, không còn là định danh khái niệm.
Về mặt số lượng yếu tố, A.A Reformatxki (1978) đã đưa ra tiêu chuẩn cụ thể về số lượng yếu tố cấu tạo thuật ngữ Theo đó, để đạt tính ngắn gọn thuật ngữ thường chỉ hai, ba hoặc tối đa
là bốn yếu tố Vì thuật ngữ quá dài sẽ dễ gây ra các yếu tố dư thừa, giảm tính chính xác của thuật ngữ [72].
Tuy nhiên theo chúng tôi, cần xác định lại tính ngắn gọn cho chính xác và phù hợp với thời đại Tính ngắn gọn không phải đòi hỏi máy móc thuật ngữ phải ít yếu tố cấu tạo (tất nhiên điều này là lý tưởng) Budagov R A (1976) xác định:“Tính ngắn gọn của thuật ngữ cần được hiểu là trong thành phần cấu tạo thuật ngữ chỉ cần chứa một số lượng đặc trưng tối thiểu cần thiết nhưng vẫn đủ để đồng nhất hóa và khu biệt các khái niệm được phản ảnh bằng thuật ngữ đó.” [5, tr.331-224] Quan điểm này đã được một số nhà nghiên cứu của Việt Nam như Đỗ Hữu Châu, 1981 [8, tr 244], Vương Toàn, 2007 [97, tr.65],… ủng hộ, kế thừa trong nghiên cứu của mình.
Trong việc xác định tính ngắn gọn của thuật ngữ, đáng chú ý là quan điểm của A.V Superanskaja, (2007), cụ thể tác giả đã đưa ra tiêu chuẩn về độ dài tối ưu của thuật ngữ mà không đưa ra số lượng cụ thể bao nhiêu yếu tố [75] Bởi vì một thuật ngữ có thể bao gồm một hoặc một tập hợp nhiều đặc trưng của khái niệm Vì thế, một thuật ngữ nếu có bao nhiêu đặc trưng biểu thị khái niệm thì cũng phải cần đến bấy nhiêu yếu tố để thể hiện các đặc trưng của khái niệm đó, miễn làm sao chúng không có yếu tố dư thừa nào.
Có thể nói, quan điểm về tính ngắn gọn của thuật ngữ mà A.V Superanskaja, (2007) khá
mở và rất phù hợp với thời hiện đại bởi vì “do hiện nay tính chuyên sâu cũng như sự phát triển của các ngành khoa học ngày càng cao nên hệ thống thuật ngữ của chúng sẽ có xu thế xuất hiện nhiều thuật ngữ có cấu tạo gồm nhiều yếu tố Điều này là tất yếu và rất cần thiết cho việc biểu
Trang 30đạt đầy đủ nội dung của các thuật ngữ mang tính chuyên sâu của các ngành khoa học hiện nay” [21, tr.19].
(ii) Tính quốc tế
Xét từ góc độ ngữ nghĩa thì tính quốc tế của thuật ngữ là điều hiển nhiên, bởi lẽ thuật ngữ biểu thị các khái niệm khoa học, mà khái niệm khoa học được coi là tri thức chung, là tài sản chung cho những người nói các thứ tiếng khác nhau.
Hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng, tính quốc tế của thuật ngữ được thể hiện ở hình thái bên trong của thuật ngữ Cụ thể là ở cách chọn đặc trưng của sự vật, khái niệm, làm cơ sở định danh khi đặt thuật ngữ Điều đó có nghĩa là các ngôn ngữ khác nhau khi định danh cùng một khái niệm hay đối tượng của một lĩnh vực khoa học hay chuyên môn chọn cùng một đặc trưng nào đó làm cơ sở định danh, đưa đặc trưng đó vào tên gọi hay thuật ngữ làm thành hình thái bêntrong của tên gọi hay thuật ngữ ấy Điều này thể hiện rõ ràng qua việc vay mượn thuật ngữ bằng hình thức sao phỏng từ một thuật ngữ của một ngôn ngữ khác giữa các ngôn ngữ khác
nhau về cả nguồn gốc và loại hình Ví dụ: standardization of terms (tiếng Anh) và chuẩn hóa
thuật ngữ (tiếng Việt).
Còn xét về hình thức cấu tạo, tính quốc tế của thuật ngữ chỉ mang tính tương đối, do hầu như không có thuật ngữ nào có được sự thống nhất hình thức ở tất cả các ngôn ngữ [25, tr 31] Mặt khác, cùng biểu thị một khái niệm khoa học, nhưng rõ ràng mỗi quốc gia sử dụng ngôn ngữ khác nhau cũng như sử dụng các yếu tố và phương thức cấu tạo từ vốn có khác nhau.
(iii) Tính dân tộc
Tuy thuật ngữ biểu thị các sự vật, hiện tượng hay đối tượng của một ngành khoa học nào
đó nhưng xét rộng ra thì chúng vẫn là một bộ phận khăng khít của hệ thống từ vựng trong một ngôn ngữ nhất định Cho nên, thuật ngữ vẫn là một bộ phận không thể tách rời của một ngôn ngữ dân tộc Vì vậy, rõ ràng thuật ngữ phải mang những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ dân tộc.
Tính dân tộc của thuật ngữ thể hiện ở mặt hình thức của thuật ngữ, cụ thể ở các mặt: từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm của ngôn ngữ Theo Lê Khả Kế, thuật ngữ tiếng Việt mang màu sắc
dân tộc thể hiện cụ thể ở những điểm sau: Về từ vựng (yếu tố cấu tạo thuật ngữ thường là thuần Việt hoặc Hán Việt hoặc đã được Việt hóa); Về ngữ pháp (trật tự ghép các yếu tố tạo nên thuật ngữ theo cấu trúc cú pháp tiếng Việt); Về ngữ âm và chữ viết (phù hợp với đặc điểm tiếng nói,
chữ viết của dân tộc, và dễ hiểu, dễ viết, dễ đọc) [45, tr.35].
Như vậy, tính quốc tế và tính dân tộc không hề mâu thuẫn với nhau mà tồn tại song song Thuật ngữ có tính quốc tế vì biểu hiện các khái niệm khoa học chung cho cả nhân loại, nhưng lại vừa có tính dân tộc do sử dụng các yếu tố ngôn ngữ (từ vựng, ngữ âm, văn tự, cú pháp) của một dân tộc nào đó.
Trang 311.2.2 Một số vấn đề về cấu tạo từ
Thuật ngữ trước hết cũng thuộc về lớp từ vựng của một ngôn ngữ nhất định G.O.Vinokur cho rằng:”Thuật ngữ - đấy không phải là những từ đặc biệt, mà chỉ là những từ có chức năng đặc biệt” và đó là chức năng gọi tên (tức biểu thị kháiniệm) [Dẫn theo 43, tr.4] Tương tự, K Kageura cũng nhận định, về hình thức, thuật ngữ là các từ ngữ, chỉ có điều chúng được đặc trưng bởi chức năng biểu thị khái niệm khoa học [130, tr.51] Như vậy có thể thấy, về hình hình thức, thuật ngữ chính là những đơn vị từ vựng Do đó, nguyên tắc cấu tạo từ vựng cũng là cơ sở
để hình thành nguyên tắc cấu tạo thuật ngữ Vì vậy, để có cơ sở tìm hiểu cấu tạo TNTS Tiếng Anh và tiếng Việt, trước hết luận án sẽ tìm hiểu đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Anh và tiếng Việt cũng như phương thức cậu tạo từ của hai ngôn ngữ này Đây cũng là cơ sở để xác định đơn vị nhỏ nhất câu tạo nên TNTS tiếng Anh và tiếng Việt.
1.2.2.1 Đơn vị cơ sở cấu tạo từ và phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh
(i) Đơn vị cơ sở cấu tạo từ tiếng Anh
Xét mặt loại hình, tiếng Anh là loại ngôn ngữ khuất chiết (hòa kết ), trong đó quan hệ ngữ pháp được diễn đạt ở ngay trong bản thân từ Trong từ, có sự đối lập rõ rệt giữa căn tố và phụ tố; phụ tố (và nói chung là tất cả mọi hình vị trong từ) kết hợp chặt chẽ với nhau, hòa làm một khối; giữa phụ tố và các ý nghĩa mà chúng diễn đạt không có sự tương ứng đơn giản kiểu một đối một: một phụ tố - một ý nghĩa [115, tr,39 - 40].
Trong tiếng Anh, Đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Anh là một trong những vấn đề cơ bản và được nhiều nhà ngôn ngữ quan tâm nghiên cứu Đồng thời, đơn vị cấu cấu tạo từ trong tiếng Anh được gọi bằng bằng thuật ngữ hình vị (morpheme)
Qua các nghiên cứu có thể nhận thấy có 3 quan điểm khác nhau về hình vị trong tiếng Anh Quan niệm thứ nhất xem hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của từ Tiêu biểu cho quan niệm này là Baudouin de Courtenay (cũng là một trong những người đưa ra khái niệm về hình
vị sớm nhất\) Theo tác giả, “Chuỗi lời nói chia ra câu hay mệnh đề, câu chia ra thực từ, từ chia
ra thành hình vị” Như vậy, nếu phân tích từ thành những bộ phận nhỏ hơn ta thu được các hình
vị Đồng thời, hình vị là bộ phận của từ và là bộ phận có nghĩa nhỏ nhất” Quan điểm này cũng cho thấy, hình vị không phải là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, mà từ mới là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ Hình vị chỉ bao gồm chính tố và các phụ tố ở trong từ.
Quan niệm thứ hai coi hình vị là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ Đây là quan niệm của các nhà ngôn ngữ học cấu trúc Mỹ, tiêu biểu là L Bloomfield Theo tác giả, “Hình vị là một nhát cắt âm thanh nhỏ nhất có sự tương ứng giữa âm và nghĩa, phân biệt được với nhát cắt khác cũng
là hình vị; hình vị là hình thức ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa” Quan niệm này cho thấy, hình vị
không chỉ bao gồm các chính tố, các phụ tố mà còn bao gồm cả các hư từ như in, out, on, of,
Trang 32and, và các từ đơn như: man, book, table, house, room, Hình vị chính là đơn vị giới hạn cuối
cùng khi phân thành tố cấu tạo của từ Còn từ chỉ được xem là hình thái tự do nhỏ nhất và từ đóng vai trò như đơn vị cơ bản trong thành phần của câu Đây cũng chính là cơ sở phát triển cho việc nghiên cứu hình thái học sau này.
Trong công trình Language, L Bloomfield (1933) đã đi sâu phân loại hình vị thành hai
loại cơ bản: hình vị tự do/độc lập (free/independent morpheme) và hình vị hạn chế/ràng buộc (bound/dependent morpheme) Từ 2 loại cơ bản này, lại được tiếp tục phân nhỏ thành các loại hình vị tiếp theo Đồng thời, việc tổ hợp các hình vị thành lập từ có thể theo nhiều mô nhiều hình khác nhau: một hình vị tự do = từ; một hình hạn chế + một hình thức tự do = từ; một hình
vị tự do + một hình vị hạn chế = từ; một hình vị tự do + một hình vị tự do = từ.
Cụ thể, đi sâu vào chi tiết, hình vị trong tiếng Anh được phân thành hai loại cơ bản:
Hình vị độc lập, còn gọi hình vị tự do (free morphemes) là hình vị có thể đứng độc lập
giống như một từ đơn hoàn chỉnh, đồng thời nghĩa của chúng không bị thay đổi hoặc phụ thuộc vào các từ khác xuất hiện trong cùng một câu/phát ngôn Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu khẳng định, thực chất từ đơn trong tiếng Anh chính là hình vị (hình vị độc lập), trong đó mỗi từ
là một hình vị Ví dụ: dog, cat, play, good,… Hình vị tự do được chia nhỏ thành:
-Hình vị mang tính chất từ vựng (lexical words): bao gồm danh từ (nouns), động từ (verbs), tính từ
(adjective) và trạng từ (adverbs) Ví dụ: dog, cat, play, good,…
-Hình vị chức năng: bản thân những từ này thực hiện những chức năng ngữ pháp, bao gồm: giới
từ (prepositions), hạn định từ (determiners), đại từ (pronouns), trợ động từ (auxilary verbs) Ví
dụ: this, that, he, she,
Hình vị phụ thuộc hay hình vị ràng buộc (bound morphemes) là hình vị không thể đứng
độc lập, mà phải kết hợp với những hình vị khác để tạo lập nên từ Ví dụ như: -s, -er, -est:, dis-, un-,… Loại hình vị này có thể phân nhỏ thành các loại hình vị khác nhau, bao gồm hình vị biến
tố và hình vị phái sinh:
-Hình vị biến tố hay hình vị chức năng (inflectional morphemes) là loại hình vị có nhiệm vụ bổ sung
những thông tin về ngữ pháp cho từ Bản chất của loại hình vị này chỉ là làm biến đổi dạng thức của từ để biểu thị quan hệ giữa các từ trong câu/ phát ngôn chứ không có chức năng tạo lập từ Trong tiếng Anh có đến 8 hình vị chức năng và chúng đều là hậu tố (prefixes) Chẳng hạn: gắn với
danh từ, gồm: -s: thể hiện số nhiều (ví dụ: dogs, cats,…), -'s: thể hiện sở hữu cách.
-Hình vị phái sinh (derivational morphemes) là hình vị có chức năng tạo lập từ mới, cụ thể chúng
được ghép vào một từ hoặc một hình vị khác để tạo ra từ mới.
Trong tiếng Anh, dựa trên vị trí của chúng trong từ, hình vị phái sinh bao gồm 2 loại:
chính tố (hay căn tố/gốc từ) và phụ tố Chính tố là loại hình vị có ý nghĩa từ vựng, nhưng chưa
Trang 33được xác định từ loại giống như từ Trong từ, mặc dù chính tố là vị trí trung tâm, là điểm xuất phát để tạo nghĩa cho từ, nhưng chính tố không thể tồn tại độc lập (đứng một mình) mà phải gắn
với một hình vị ràng buộc khác để tạo lập từ ví dụ: -ceive (conceive, deceive, receive, ), -fer (transfer, refer,…) Phụ tố là hình vị phụ thuộc, được dùng kết hợp với căn tố để tạo lập từ phái
sinh Như vậy, các phụ tố đều có chức năng cấu tạo từ Đồng thời, khi tham gia cấu tạo từ, mỗi phụ tố có một ý nghĩa riêng và có cách kết hợp ổn định Trong phụ tố, tùy theo vị trí của chúng trong từ mà có sự phân biệt tiền tố (prefixes) và hậu tố (suffixes).
Tiền tố là hình vị phụ thuộc, không tồn tại độc lập, đứng trước căn tố để tạo lập từ Ví
dụ, tiến tố dis- + agree (v) → disagree (v), un- + easy (adj) -> uneasy (adj), en- + able (adj)
→ enable (v),… Tương tự, hậu tố cũng là hình vị phụ thuộc, không tồn tại độc lập, nhưng đứng
trước căn tố và cùng để tạo lập từ Trong tiếng Anh, hậu tố là hình vị phổ biến, có tần suất xuất
hiện cao trong ngôn ngữ Ví dụ: live (n) + -ly → lively (adj, nation (n) + -al > national (adj),
yellow(a) + -ish →yellowish (a),
(ii) Phương thức cấu tạo từ tiếng Anh
Hiên nay hầu hết các nhà ngôn ngữ học Anh đều dựa theo quan điểm về hình vị của trường phái cấu trúc luận Mỹ của L.Bloomfield để làm cơ sở nghiên cứu các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh hiện đại Các nhà nghiên cứu hình thái học tiếng Anh căn cứ vào khả năng hình thành từ và các tổ hợp các hình vị nêu trên để phân loại thành những phương thức cấu tạo.
Cụ thể, trong việc nghiên cứu từ tiếng Anh hiện đại, khá nhiều nhà nghiên cứu tiêu biểu như Norman C Stageberg, 1965) (An Introductory English grammar), Howard Jackson, 1982 (Analyzing English), Irina V Arnold, 1986 (The English Word), Andrew Carstairs and Mc Carthy , 2002 (An Introduction to English Morphology), Ingo Plag, 2003 (Word formation in English) , Geert Booij, 2005 (The Grammar of Words),… đều chung quan điểm cho rằng trong tiếng Anh, từ được cấu tạo chủ yếu bằng 3 phương thức: phương thức tiếp tố/ phụ tố (affixation) phương thức phái sinh không dùng phụ tố (derivation without affixation) và phương thức ghép (compounding).
(1) Phương thức phụ tố
Phương thức cấu tạo này là sự kết hợp giữa một căn tố và một phụ tố Các phụ tố là các hình vị phụ thuộc và dựa trên vị trí của các phụ tố, gồm có các tiền tố (prefix), hậu tố (suffix) và
trung tố (infix) Tiền tố là hình vị được thêm vào đầu từ vựng ví dụ như aquaculture,
overfishing,… Hậu tố là những hình vị được thêm vào cuối từ ví dụ như fisher, fishing, trapping, v.v.
(2) Phương thức tạo từ phái sinh không dùng phụ tố
Trang 34Đó là phương thức cấu tạo từ trong đó các từ được tạo ra bằng cách chuyển loại từ, rút gọn, trộn từ và viết tắt (i) Chuyển loại từ là từ đồng nghĩa nhưng khác nhau về chức năng, ví
dụ: I eat fish, trong ví dụ này fish có chức năng là danh từ Nhưng trong ví dụ: Fishers fish by
plunge baskets, fish lại là động từ (ii) Rút gọn là lược bỏ một số yếu tố trong từ gốc để tạo từ
phái sinh ví dụ: overfish lược bỏ over (iii) Viết tắt là lấy một hay hai chữ cái đầu của thuật ngữ chẳng hạn như Indo- Pacific Spanish mackerel, Indo - pacific sailfish,…
(3) Phương thức ghép
Đây là phương thức cũng khá phổ biến trong cấu tạo từ tiếng Anh Cụ thể, từ được tạo
thành bởi ghép hai gốc từ tự do với nhau, từ đó tạo nên một từ mới Ví dụ: round + scad =
roundscad, horse + head = horsehead, sun+fish = sunfish, sword +fish = swordfish,…Về mặt
hình thức, các từ ghép có thể viết liền, viết tách rời hay sử dụng gạch nối ở giữa hai gốc từ Đồng thời có nhiều cách ghép khác nhau để tạo từ mới như: danh từ + danh từ, danh từ + giới
từ, động từ
+ danh từ,….
1.2.2.2 Đơn vị cơ sở cấu tạo từ và phương thức cấu tạo từ tiếng Việt
(i) Đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt
Trong tiếng Việt, các nhà nghiên cứu cũng cho rằng, từ là đơn vị hiển nhiên của ngôn ngữ
và là đơn vị cơ bản ngôn ngữ Nhưng khác với tiếng Anh, tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Hiện nay, trong tiếng Việt có hai quan niệm cơ bản khác nhau về đơn vị cấu tạo từ Quan niệm thứ nhất, đơn vị cơ sở để cấu tạo từ là “tiếng” Đại diện tiêu biểu cho quan niệm này là Nguyễn Tài Cẩn: về mặt hình thức, tiếng trùng với âm tiết (đoạn phát âm tự nhiên nhỏ nhất của con người), còn về mặt nội dung, tiếng là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa trong tiếng
Việt Theo quan niệm này: trăng trắng, bâng khuâng, xây dựng, kỹ thuật, là các từ được cấu
tạo từ 2 tiếng Có thể nói quan niệm đơn vị cơ sở để cấu tạo từ là “tiếng” ở trong tiếng Việt này
trùng với quan niệm về morphem (hình vị) của L.Bloomfiend khi ông cũng quan niệm morphem
là bất cứ đoạn âm thanh nhỏ nhất có nghĩa nào của ngôn ngữ.
Quan niệm thứ hai, đơn vị cơ sở cấu tạo từ là hình vị Đại diện tiêu biểu cho quan niệm này là Đỗ Hữu Châu Theo quan niệm này, hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa Một tiếng (hay một âm tiết) có nghĩa được gọi là hình vị Như vậy, theo quan niệm này đơn vị cấu tạo từ không hoàn toàn trùng với âm tiết (tất nhiên trên thực tế đại đa số chúng trùng nhau) Điều này thể
hiện ở những trường hợp một hình vị có thể có hai hoặc 3 âm tiết, ví dụ: bồ hóng, mỳ chính, cà
phê, a - pa - tít, a-xít,…Quan niệm về hình vị này tương đồng với quan niệm hình vị của
Baudouin de Courtenay khi coi hình vị là bộ phận nhỏ nhất có nghĩa của từ.
Trang 35Theo quan điểm này, một từ có thể được tạo nên từ một hoặc một số hình vị kết hợp với
nhau theo các nguyên tắc nhất định Chẳng hạn, từ có một hình vị; cá tôm, cua, ốc, ngao, mực,
ghẹ, hàu, sam…; từ có hai hình vị: cá đuối, cua đá, mực lá, Chúng tôi đồng quan điểm với Đỗ
Hữu Châu, coi đơn vị cơ sở cấu tạo từ là hình vị Dưới đây chúng tôi sẽ tìm hiểu phương thức cấu tạo từ tiếng Việt theo quan niệm thứ hai này.
(ii) Phương thức tạo từ tiếng Việt
Trong tiếng Việt có 3 phương thức cấu tạo từ cơ bản, hay nói cách khác từ trong tiếng Việt được tạo thành theo ba phương thức chủ yếu sau: từ hoá hình vị, ghép và láy.
(1) Phương thức từ hóa hình vị
Đó phương thức tác động vào một hình vị, làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì vào hình thức của hình vị đó [8, tr.28].
Ví dụ cá, tôm cua mực, sam, hàu,…là những từ được hình thành từ phtừ hóa các hình vị cá,
tôm cua mực, sam, hàu.
Khi trở thành các từ (từ đơn) chúng hoạt động độc lập trong câu Nhưng khi chúng tham
ra cấu tạo từ ghép hay từ láy, thì lúc đó các đơn vị này sẽ có tư cách là hình vị cấu tạo từ.
(2) Phương thức ghép
Đây là phương thức tác động vào hai hoặc nhiều hình vị có nghĩa, bằng cách kết hợp chúng với nhau để tạo ra một từ mới mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa như một từ [8, tr.9].
Mô hình của phương thức ghép là: Hình vị A, B từ ghép AB
Ví dụ: tôm + sú → tôm sú; lươn + đồng → lươn đồng, hải + sâm → hải sâm, tu + hài
như một từ [8, tr.29] Ví dụ xanh xanh, đo đỏ, bâng khuâng, dễ dàng,…
Các từ được tạo ra theo phương thức này chủ yếu là lớp từ được dùng trong phong cách văn học - nghệ thuật Với thuật ngữ khoa học, phương thức này ít được sử dụng.
Như vậy từ 3 phương thức cấu tạo từ này sẽ cho 3 loại từ khác nhau: từ đơn, từ ghép và từ láy:
Từ đơn là những từ có cấu tạo từ một yếu tố (hình vị) độc lập.
Từ láy là từ được cấu tạo từ 2 yếu tố trở lên, trong đó yếu tố sau lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức ngữ âm của yếu tố trước.
Trang 36Từ ghép được chia thành 2 loại: ghép đẳng lập và ghép chính phụ dựa trên quan hệ giữa các đơn vị cấu tạo Từ ghép đẳng lập là từ có các đơn vị cấu tạo có ý nghĩa từ vựng, có quan hệ bình đẳng về nghĩa, không phụ thuộc nhau Từ ghép chính phụ là loại từ trong đó đơn vị cấu tạo này phụ thuộc đơn vị cấu tạo kia, đơn vị phụ thuộc có đặc điểm khu biệt và phân loại chính.
Đơn vị chính luôn có ý nghĩa từ vựng ví dụ như máy, cá, đỏ, Đơn vị chính trong từ ghép
thường đứng trước, đơn vị phụ thuộc thường đứng sau Với từ Hán Việt thì đơn vị chính đứng
sau, đơn vị phụ thuộc đứng trước Ví dụ, lục quân, hải phận, v.v.
Với từ loại tiếng Việt là ngữ (gồm cụm từ hay tổ hợp từ) thì thường chia thành ngữ cố định và ngữ tự do Ngữ cố định là đơn vị do một số từ kết hợp lại và tồn tại như một đơn vị có
sẵn của từ có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa ổn định, ví dụ: vây chấm, vây hồng, Trong tiếng
Việt, dựa trên từ loại của thành tố chính, ngữ được phân chia thành ngữ danh từ, ngữ động từ, ngữ tính từ.
1.2.3 Một số vấn về ngôn ngữ học đối chiếu
1.2.3.1 Khái niệm ngôn ngữ học đối chiếu
Ngôn ngữ học đối chiếu là một phân ngành của ngôn ngữ học hiện đại, bắt đầu phát triển từ những năm 1940 của thế kỷ 20 Hiện nay, ngôn ngữ học đối chiếu đã được mở rộng, bao gồm cả đối chiếu về mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa - ngữdụng Trong những năm gần đây, việc đối chiếu các ngôn ngữ còn hướng tới những ứng dụng trong lĩnh vực dạy tiếng, dịch thuật,
Theo Burgaski, ngôn ngữ học đối chiếu là việc nghiên cứu một cách có hệ thống và đồng đại những điểm tương đồng cũng như khác biệt trong câu trúc và cách sử dụng của hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ nào đó phục vụ các mục đích về mặt lý thuyết hoặc thực tiễn." [126, tr.394].
Đồng quan điểm, Bùi Mạnh Hùng (2008) cho rằng ngôn ngữ học đối chiếu nghiên cứu
so sánh hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ bất kỳ để xác định những điểm giống nhau và khác nhau giữa các ngôn ngữ đó không tính đến vấn đề các ngôn ngữ được so sánh có quan hệ cội nguồn hay thuộc cùng một loại hình hay không Nguyên tắc nghiên cứu chủ yếu của ngôn ngữ học đối chiếu là nghiên cứu đồng đại [38, tr.9].
Trong luận án này, chúng tôi sử dụng phương pháp đối chiếu một chiều, nghĩa là đối chiếu tiếng Anh sang tiếng Việt, trong đó tiếng Anh làm ngôn ngữ cơ sở (ngôn ngữ nguồn) và tiếng Việt làm ngôn ngữ phương tiện (ngôn ngữ đích) Từ đó chúng tôi sẽ lần lượt đối chiếu các kiểu tương đương giữa hai ngôn ngữ trên, qua đó nhằm tìm ra được sự tương đồng và khác biệt giữa chúng.
1.2.3.2 Một số đặc điểm của ngôn ngữ học đối chiếu
(i) Về nguyên tắc nghiên cứu đối chiếu
Trang 37Khá nhiều tác giả quan tâm đến các nguyên tắc đối chiếu Chẳng hạn, theo Bùi Mạnh Hùng (2008), trong đối chiếu cần đảm bảo 5 nguyên tắc gồm: (i) Các phương tiện trong hai ngôn ngữ đối chiếu phải được miêu tả một cách đầy đủ, chính xác và sâu sắc trước khi tiến hành đối chiếu; (ii) Việc nghiên cứu đối chiếu phải được đặt trong hệ thống chứ không chỉ chú ý tới các phương tiện ngôn ngữ một cách tách biệt; (iii) Các phương tiện nghiên cứu phải được xem xét trong cả hệ thống ngôn ngữ và hoạt động giao tiếp để có thể đưa ra sự đối chiếu đầy đủ cả trong phạm vi hệ thống và cách thức hoạt động của các yếu tố đối chiếu; (iv) Đảm bảo tính nhất quán trong việc vận dụng các khái niệm và mô hình lý thuyết để miêu tả các ngôn ngữ được đối chiếu; (v) Phải tính đến mức độ gần gũi về loại hình giữa các ngôn ngữ cần đối chiếu [38, tr.131-146] Một số tác giả khácnhư Byung-gon (1992), Ellis (1994) cũng đề xuất những nguyên tắc đối chiếu tương tự.
(ii) Về phạm vi đối chiếu
Trên lý thuyết, các nhà nghiên cứu nhận định có hai phạm vi đối chiếu: đối chiếu hệ thống (đối chiếu tổng thể hai ngôn ngữ với nhau) và đối chiếu bộ phận (đối chiếu các đơn vị, phạm trù, hiện tượng cụ thể của hai ngôn ngữ).
Thực tế cho thấy, việc đối chiếu hai ngôn ngữ chủ yếu được tiến hành ở cấp độ bộ phận.
T Krzeszowski đã phân biệt ba phạm trù đối chiếu: (i) Đối chiếu những hệ thống tương đương trong hai ngôn ngữ; (ii) Đối chiếu các kết cấu tương đương; (iii) Đối chiếu các quy tắc tương đương [Dẫn theo 38, tr.117] Tuy nhiên, cách phân biệt này lại bỏ sót các vấn đề thuộc về lời nói Lê Quang Thiêm (1989) đưa ra 6 phạm vi đối chiếu: đối chiếu phạm trù, đối chiếu cấu trúc
hệ thống, đối chiếu chức năng và hoạt động, đối chiếu phong cách, đối chiếu lịch sử
-phát triển [80, tr.333-335] Trong khi đó, Bùi Mạnh Hùng (2008) lưu ý rằng sự phân chia phạm
vi đối chiếu phải căn cứ trên cơ sở phân biệt các bình diện phân tích ngôn ngữ (ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng và ngữ dụng).
(iii) Về các bước trong nghiên cứu đối chiếu
Một nghiên cứu đối chiếu thường gồm ba bước: miêu tả - xác định các yếu tố có thể đối chiếu - đối chiếu” [Dẫn theo 126, tr.395].
Trước tiên, các hiện tượng ngôn ngữ đem ra đối chiếu sẽ được miêu tả trong các ngôn ngữ liên quan Các kết quả miêu tả sau đó sẽ được đặt cạnh nhau để tìm ra những yếu tố có thể đối chiếu Bước cuối cùng là đối chiếu T Krzeszowski đã khái quát thành 3 khả năng có thể xảy ra khi đối chiếu hai ngôn ngữ: (i) Có sự tương đồng về một số phương diện giữa một yếu tố/ vấn đề nào đó trong ngôn ngữ thứ nhất và cái tương đương của nó trong ngôn ngữ thứ hai; (ii) Có sự khác biệt về một số phương diện giữa một yếu tố/ vấn đề nào đó trong ngôn ngữ thứ nhất và cái tương đương của nó trong ngôn ngữ thứ hai; (iii) Yếu tố nào đó trong ngôn ngữ thứ
Trang 38nhất không có cái tương đương trong ngôn ngữ thứ hai [38 ,tr.156] Thực tế đối chiếu các ngôn ngữ cho thấy cả ba khả năng trên hoàn toàn có thể xảy ra.
Trang 39(iv) Về cơ sở đối chiếu
Cơ sở đối chiếu là khái niệm trung tâm của ngôn ngữ học đối chiếu, bởi đây chính lá các tiêu chí được sử dụng trong so sánh Cơ sở đối chiếu khác sự giống nhau và sự tương đương Sự giống nhau là kết quả quá trình so sánh, còn cơ sở đối chiếu là cơ sở của so sánh Tương đương
là một khái niệm được xác lập trên cơ sở quan hệ, liên quan đến giá trị, khả năng thay thế Trong đối chiếu ngôn ngữ, tương đương là mối quan hệ giữa các đơn vị, cấu trúc ngôn ngữ cho
ta cơ sở để xác định vì sao những đối tượng này được chọn để so sánh: vì chỉ có những đối tượng tương đương với nhau mới có thể so sánh được với nhau.
Trong nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ, cơ sở đối chiếu thường xoay quanh các loại tương đương cơ bản: tương đương hình thức, tương đương nghĩa, tương đương dịch và tương đương ngữ dụng [Dẫn theo 38, tr.102-105].
(v) Các cách tiếp cận cơ bản trong nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ
Có hai cách tiếp cận chủ yếu trong nghiên cứu đối chiếu hai ngôn ngữ: nghiên cứu đối chiếu hai chiều (hoặc nhiều chiều) và đối chiếu một chiều.
Nghiên cứu đối chiếu hai chiều hay nhiều chiều là nghiên cứu đối chiếu các hiện tượng yếu tố của hai hay nhiều ngôn ngữ trong mối quan hệ qua lại trên một cơ sở đối chiếu nhất định Theo cách tiếp cận này, sau khi lựa chọn cơ sở đối chiếu, các hình thức thể hiện cơ sở đối chiếu này trong hai hay nhiều ngôn ngữ được nghiên cứu để từ đó phân tích những điểm giống nhau
và khác nhau Trong quy trình này, không có ngôn ngữ nào là ngôn ngữ đích và cũng không có ngôn ngữ nào là ngôn ngữ xuất phát.
Nghiên cứu đối chiếu một chiều lại nghiên cứu, xem xét ý nghĩa của một phương tiện nào đó trong ngôn ngữ này và xác định những phương tiện biểu hiện ý nghĩa tương ứng trong ngôn ngữ khác Khi tiếp cận theo hướng này, người nghiên cứu phải lựa chọn một ngôn ngữ làm ngôn ngữ xuất phát và một ngôn ngữ làm ngôn ngữ đích Người nghiên cứu có thể bắt đầu bằng việc miêu tả các hình thức trong ngôn ngữ thứ nhất rồi đối chiếu với những cái tương đương trong ngôn ngữ thứ hai hoặc ngược lại Mỗi cách tiếp cận có những ưu điểm riêng, việc lựa chọn hướng tiếp cận sẽ phụ thuộc vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
(vi) Các bình diện nghiên cứu đối chiếu
Trong nghiên cứu đối chiếu, bình diện nào, cấp độ nào của hệ thống ngôn ngữ và lời nói
có thể miêu tả được đều có thể nghiên cứu đối chiếu được Việc nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ có thể thực hiện ở tất cả các bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ dụng, phong cách, cấu trúc văn bản,
Đối với nghiên cứu đối chiếu từ vựng, các nghiên cứu hiện nay thường theo hướng nghiên cứu đối chiếu các trường từ vựng trong các ngôn ngữ Theo hướng này, các nhà nghiên
Trang 40cứu thường đối chiếu về số lượng, cấu trúc nghĩa, đặc điểm trong định danh, đặc điểm cấu tạo, đặc điểm phân bố trong văn bản,
1.2.4 Thủy sản và thuật ngữ thủy sản
Để có thể đưa ra được khái niệm TNTS mang tính chất để làm việc, trước hết phải dựa vào lịch sử phát triển của ngành thủy sản và những lĩnh vực hoạt động của thủy sản hiện nay.
1.2.4.1 Lịch sử phát triển ngành thủy sản
Thủy sản là ngành kinh tế kỹ thuật sản suất, kinh doanh dựa trên các hoạt động khai thác nguồn tài nguyên sẵn có (hay gọi là nguồn lợi thủy sản) kết hợp với việc nuôi trồng, chế biến thủy sản và các dịch vụ liên quan đến thủy sản bao gồm: dịch vụ mua bán, vận chuyển sản phẩm thủy sản; cung ứng vật tư (tàu, thuyền, v.v.) phục vụ hoạt động đánh bắt thủy sản trên biển; dịch vụ cung ứng giống, thức ăn, vật tư, kỹ thuật cho hoạt động nuôi trồng thủy sản; dịch
vụ xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản.
Hoạt động sản xuất, kinh doanh thủy sản dựa trên việc khai thác có hiệu quả, bền vững nguồn lợi thuỷ sinh, tiềm năng các vùng nước Vì vậy, ngành thủy sản có mối liên hệ chặt chẽ với sản xuất nông nghiệp, vận tải du lịch, công nghiệp chế biến.
Thủy sản ban đầu là một bộ phận của ngành nông nghiệp ra đời từ khá sớm và với tên gọi
là nghề cá Trước năm 1950, hoạt động nghề cá chỉ được xem như một nghề phụ trong nông nghiệp Từ sau những năm 1950, nghề cá ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Cùng với đó, nghề cá đã được Đảng và Nhà nước ta bắt đầu quan tâm đầu tư phát triển và đã dần hình thành và phát triển như một ngành kinh tế - kỹ thuật của đất nước Thời kỳ này,đã hình thành các tổ chức nghề cá công nghiệp như các tập đoàn đánh cá với đoàn tàu đánh cá Hạ Long, Việt - Đức, Việt -Trung, nhà máy cá hộp Hạ Long,… Năm 1960, Tổng cục Thủy sản được thành lập, đánh dấu sự ra đời của ngành Thủy sản Việt Nam như một chỉnh thể ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng của đất nước Sau khi đất nước thống nhất, ngành Thủy sản cũng bước sang giai đoạn phát triển mới trên phạm vi cả nước Năm 1976, thành lập Bộ Hải sản, đánh dấu tầm cao mới của ngành cũng như khẳng định vị trí trong nền kinh tế quốc dân Năm
1981, Bộ Hải sản được tổ chức lại thành Bộ Thủy sản Từ đây ngành Thủy sản bước vào giai đoạn phát triển toàn diện cả về khai thác, nuôi trồng, hậu cần dịch vụ, chế biến và xuất khẩu, đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, mở rộng hợp tác quốc tế Bước vào thời kỳ đổi mới đến nay, thuỷ sản được coi là một ngành đi tiên phong trong quá trình đổi mới, hội nhập và chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta.
1.2.4.2 Các lĩnh vực hoạt động của ngành thủy sản
Theo các tài liệu chuyên ngành, đặc biệt là trong bộ Luật Thủy sản, quyết định của Chính phủ, đã nêu rõ các lĩnh vực hoạt động cơ bản của thủy sản bao gồm: hoạt động bảo vệ và phát