Để tập trung toàn bộ lực lượng vào sự nghiệp cứu nước và giải phóng dân tộc, Hộinghị quyết định thành lập một mặt trận có “một phương pháp hiệu triệu hết sức thốngthiết, làm sao đánh thứ
Trang 1MẶT TRẬN VIỆT MINH TÌM KIẾM, THIẾT LẬP VÀ PHỐI HỢP HOẠT ĐỘNG VỚI LỰC LƯỢNG ĐỒNG MINH CHỐNG PHÁT XÍT (1941-1945)
PGS,TS Nguyễn Thị Mai Hoa
1 Chủ trương đoàn kết với các lực lượng chống phát xít phục vụ nhiệm vụ giải phóng dân tộc của Mặt trận Việt Minh
Ngày 1-9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và ngày càng lan rộng, ảnhhưởng mạnh mẽ đến tình hình Việt Nam Tháng 6-1940, nước Pháp bị phát xít Đức chiếmđóng Tháng 9-1940, Nhật vào Đông Dương Pháp hàng Nhật và cùng với Nhật thống trị
và bóc lột nhân dân Đông Dương, làm cho nhân dân ba nước ở Đông Dương phải chịucảnh “một cổ hai tròng” Lúc này, nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt ra vô cùng bứcthiết
Từ ngày 8-12-1941, Anh, Mỹ và nhiều nước khác bắt đầu tấn công Nhật Bản,chiến tranh lan rộng khắp thế giới Nắm bắt tình hình, phục vụ cho mục tiêu giải phóngdân tộc, ngày 19-5-1941, với tư cách là đại biểu của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc
đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 Trên cơ sở phân tích tình hình thếgiới và trong nước một cách toàn diện và sâu sắc, Hội nghị chỉ rõ: Phe phát xít nhất địnhthua, Liên Xô và phe dân chủ nhất định thắng, cách mạng Việt Nam nhất định thànhcông Hội nghị đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề giải phóng dân tộc, coi đó là nhiệm vụ caonhất, bức thiết nhất của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn trước mắt; đồng thời, khẳngđịnh rằng, cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của phong trào dân chủ chốngphát xít
Để tập trung toàn bộ lực lượng vào sự nghiệp cứu nước và giải phóng dân tộc, Hộinghị quyết định thành lập một mặt trận có “một phương pháp hiệu triệu hết sức thốngthiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân”, vì thế mặt trậnnày “không thể gọi như trước là mặt trận thống nhất dân tộc phản đề Đông Dương, màphải đổi ra cái tên khác cho có tính chất dân tộc hơn, cho có một mãnh lực dễ hiệu triệuhơn và nhất là có thể thực hiện được trong tình thế hiện tại”1 – đó là Mặt trận Việt Namđộc lập đồng minh (gọi vắn tắt là Mặt trận Việt Minh), có nghĩa là liên minh vì nền độclập của nước Việt Nam2 Cái tên Việt Nam độc lập đồng minh thể hiện rất rõ rệt tư tưởng
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t 7, tr.119.
2 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, tập 3, tr.326.
Trang 2đại đoàn kết, thiết thực và hợp với nguyện vọng toàn dân; trong đó, Đảng Cộng sản ĐôngDương là một bộ phận của Mặt trận Việt Nam; đồng thời, Mặt trận Việt Minh cũng đượcđặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo Mặt trận ViệtMinh theo hai cách: 1- Nhân danh là một đoàn thể cứu quốc khác, ở đó Đảng có thể đưachính sách cách mạng của mình ra đề nghị với Việt Minh, lại có thể tham gia trực tiếp chỉhuy các cuộc tranh đấu của quần chúng trong Việt Minh; 2- Thông qua các đảng viên củaĐảng tham gia các đoàn thể cứu quốc như công, nông, phụ nữ, thanh niên ; từ đó, đemchính sách của Đảng tuyên truyền phổ biến trong Việt Minh1.
Ngày 19-5-1941, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh đã ra mắt quốc dân đồngbào, nêu lên chương trình cứu nước của mình, gồm: Tuyên ngôn, Chính cương và Điều
lệ Mặt trận Việt Minh chủ trương tập hợp hết thảy mọi tinh thần độc lập chân chính củagiống nòi, kết thành một khối cách mạng vô địch, để đập tan xiềng xích của Nhật, Pháp.Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủnghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng lên mộtnước Việt Nam tự do và độc lập Với những định hướng hoạt động đó, uy tín của ViệtMinh tăng rất nhanh, các tổ chức của nó phát triển rất mạnh mẽ và đến giữa năm 1945,Việt Minh đã có 5 triệu hội viên2 Các đoàn thể trong Việt Minh đều mang tên cứu quốc
nhằm đoàn kết mọi người Việt Nam có lòng yêu nước thương nòi “Trong khi tổ chứcmột đoàn thể cứu quốc điều cốt yếu là không phải những hội viên phải hiểu chủ nghĩacộng sản, mà điều cốt yếu hơn hết là họ có tinh thần cứu quốc và muốn tranh đấu cứuquốc”3
Chương trình Việt Minh nêu chủ trương thành lập một chính phủ nhân dân của
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Quốc dân đại hội cử ra và sẽ thi hành các nhiệm vụngoại giao, mà một trong những nhiệm vụ quan trọng là “mật thiết liên lạc với các dântộc bị áp bức và giai cấp vô sản trên thế giới”4 Hiệu triệu nhân dân đứng lên giành độclập cho xứ sở, Mặt trận Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các từng lớp nhân dânkhông phân biệt tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị, giai cấp , đoàn
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t 7, tr.121.
2 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Sđd, tập 3, tr.326.
3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t 7, tr 124-125.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t 7, tr 151.
Trang 3kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp - Nhật Việt Minh chủ trương sẵn sàng bắt tay các dântộc bị áp bức châu Á, nhất là các dân tộc Tàu, Triều Tiên, Diến Điện, Ấn Độ,đặng cùng các dân tộc ấy thành lập mặt trận liên minh chống đế quốc phát xít ViệtMinh cũng không quên “kêu gọi dân chúng cần lao Nhật Bản và những người Pháp dânchủ hãy cùng dân tộc Việt Nam thống nhất hành động đánh đổ phát xít Nhật và bọnPháp gian”1 Để thực hiện nhiệm vụ đánh đuổi Pháp – Nhật, Việt Minh vận động nhândân hành động với khẩu hiệu: “Phản Pháp - kháng Nhật - liên Hoa - độc lập”2; tuy nhiên,giương cao khẩu hiệu ấy, Việt Minh phân biệt rõ nhân dân lao động các nước nói trên với
kẻ thù cần đánh đuổi
Quán triệt các quan điểm, nguyên tắc đoàn kết quốc tế trên cơ sở của chủ nghĩa yêunước và chủ nghĩa dân tộc chân chính, Việt Minh tiến hành liên minh quốc tế để thựchiện đường lối, chính sách của mình, tiến lên giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc,giành chính quyền về tay nhân dân, vì quyền lợi thiết thân của nhân dân Việt Nam Nắmvững quan điểm dựa vào sức mình là chính, không trông chờ, ỷ lại vào bên ngoài, ViệtMinh khẩn trương liên lạc với các lực lượng chống phát xít, tranh thủ sự đồng tình ủng
hộ, sự giúp đỡ của họ trong công cuộc giải phóng dân tộc cũng như chống phát xít Nhật
Là một tổ chức ngoại vi của Đảng Cộng sản Đông Dương, sự lãnh đạo của Đảng đốivới Mặt trận Việt Minh là tất yếu, song hết sức bí mật thông qua Tổng bộ Việt Minh Đểtập hợp lực lượng, tranh thủ Mỹ, Trung Hoa dân quốc và sau này là chính quyền DeGaulle chống phát xít Nhật- Pháp, thực hiện các chủ trương của Đảng Cộng sản ĐôngDương, Mặt trận Việt Minh không đưa ra các đường lối mang màu sắc chủ nghĩa xã hộihay chủ nghĩa cộng sản mà giương cao ngọn cờ dân tộc, tuyên bố thành lập chính quyềndân chủ cộng hòa Với những định hướng đối ngoại được xác định rõ ràng và cụ thể, ViệtMinh tích cực tìm kiếm và thiết lập quan hệ với các lực lượng chống phát xít trên thếgiới, nhằm phối hợp hành động và tranh thủ sự ủng hộ của những lực lượng này cho côngcuộc giải phóng dân tộc
Như vậy, việc thành lập Mặt trận Việt Minh có một ý nghĩa hết sức quan trọng, nhất
là về đối ngoại Ở vào thời điểm lịch sử đó, Mặt trận Việt Minh là một hình thức tập hợplực lượng phù hợp, rộng rãi, đông đảo Mặt trận Việt Minh ra đời đã khắc phục được hạn
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t 7, tr.461
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t 7, tr.123.
Trang 4chế của các hình thức mặt trận trước đó trong việc thực hiện cuộc liên hiệp toàn dân tộcvới các lực lượng yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới, nhằm chống Pháp, đuổiNhật giành độc lập cho xứ sở Mặt trận là một đoàn thể hỗ trợ trực tiếp và đắc lực choĐảng Cộng sản Đông Dương giao thiệp với các nước Đồng Minh, quan hệ với các lựclượng dân chủ, tiến bộ trong khu vực và trên thế giới
2- Tìm kiếm, thiết lập quan hệ và phối hợp hoạt động với Trung Hoa dân quốc và Mỹ
Một trong những lực lượng Đồng Minh chống phát xít được Mặt trận Việt Minh
tìm kiếm cơ hội thiết lập quan hệ là Trung Hoa dân quốc.
Ngay từ những tháng cuối năm 1940, theo dõi những diến biến mới nhất của cuộcChiến tranh thế giới thứ hai, Hồ Chí Minh đã xác định “phong trào giải phóng của ViệtNam là đội quân đồng minh trong cuộc kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc”1; đồngthời, chỉ rõ: “Phong trào dân tộc Việt Nam hiện nay đang lên mạnh, ai cũng biết cả Côngcuộc giải phóng của Việt Nam không thể tách rời ba điều quan trọng: 1- Liên Hoa; 2-Kháng Nhật; 3- Bài Pháp”2
Trong những năm cuối của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, theo đề nghị củaTổng thống Mỹ F.D.Roosevelt, ngày 02-01-1942, lực lượng Đồng Minh quyết định thànhlập mặt trận Trung Quốc bao gồm Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan do Tưởng GiớiThạch làm thống soái tối cao Về phía Trung Hoa dân Quốc, “sự quan tâm của ngườiTrung Quốc đến tình hình ở Đông Dương thuộc Pháp đã được thúc đẩy bởi sự xuất hiệncủa lực lượng vũ trang Nhật Bản trong khu vực"3 Đến đầu năm 1940, những hoạt độngquân sự Nhật Bản đã bắt đầu tràn xuống phía Nam, từ thung lũng sông Dương Tử vàotrong khu vực xung quanh Quảng Châu cũng như Đảo Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa ởBiển Đông Hoạt động của lực lượng quân sự Nhật Bản khiến cho Trung Hoa dân Quốc
lo ngại và tìm cách đối phó Tuy nhiên, lợi dụng việc chống Nhật, Trung Hoa dân quốccòn có kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” với ý đồ đưa quân đội sang đánh quân đội NhậtBản và thiết lập quyền cai trị của họ đối với Việt Nam Trong bối cảnh ấy, Việt Minhnhận thấy rằng cần phải tranh thủ Trung Hoa dân quốc, tạo dựng mối quan hệ để vừa
1 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Sđd, t 3, tr 209.
2 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Sđd, t 3, tr 213.
3 William J Duiker (2000), Ho Chi Minh: A Life, Ibid, p.243.
Trang 5tranh thủ vừa kiềm chế quốc gia này Nguyễn Ái Quốc nhận thấy cần có một tổ chức hợppháp trong chế độ của Trung Hoa dân quốc ở Hoa Nam1, thông qua tổ chức của người
Việt Nam khi đó đang được phép hoạt động công khai là Việt Nam độc lập đồng minh hội
do Hồ Học Lãm đứng đầu2, giữ mối liên lạc với Trung Hoa dân quốc, đề phòng khi “Hoa
quân nhập Việt” thì với danh nghĩa Việt Nam độc lập Đồng minh hội ở trong nước có thể
buộc họ phải “đàng hoàng nói chuyện với chúng ta”3 Hồ Chí Minh cử đại biểu ở hảingoại và đại biểu Việt Minh ở trong nước tham gia thành lập “Hội Giải phóng” cùng vớiQuốc dân Đảng (Trung Quốc) Hồ Chí Minh giải thích: “Mục đích ta tham gia tổ chứcnày Hội giải phóng này cố để hợp pháp hóa những hoạt động của chúng ta ở ngoài và cốt
để tranh thủ sự viện trợ ở ngoài về vật chất cũng như về tinh thần được chừng nào haychừng ấy, nhưng Việt Nam độc lập đồng minh vẫn là một tổ chức hoàn toàn độc lập”4.Nhờ lợi dụng danh nghĩa của Hội, nên nhiều lần Việt Minh đã ngăn chặn được những kếhoạch bất lợi đối với Việt Nam của Quốc dân Đảng Sau khi Hội Giải phóng được thànhlập, cán bộ Việt Minh từ Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên và một số ít ở dưới xuôisang Trung Quốc để dự các lớp huấn luyện như lớp bộc phá, lớp quân sự
Trong quan hệ với Quốc dân Đảng, Hồ Chí Minh lưu ý những cán bộ Việt Minh:
“Việc giao thiệp với Quốc dân Đảng, không mong chi nhiều Điều chủ yếu là làm sao cho
họ không cản trở công việc của ta”5; đặc biệt, cũng cần phải hết sức bí mật, “sách vở, tàiliệu phải hết sức cẩn thận Mua sách, báo về chủ nghĩa cộng sản, đọc xong hủy đi trướckhi về nhà Trong lúc giao dịch với bọn Quốc dân Đảng tuyệt đối không để lộ mình làcộng sản”6 Việt Minh ý thức đầy đủ rằng đối với chính phủ Tưởng Giới Thạch “dù cóvào Việt Nam để đánh Nhật cũng chỉ là đồng minh tạm thời, về bản chất chúng vẫn là kẻ
1 Hoa Nam là khu vực kiểm soát của Trung Hoa dân quốc, còn gọi là Đệ tứ chiến khu.
2 Hồ Học Lãm là một nhà yêu nước, tham gia phong trào Đông Du (1906-1908), từng làm sĩ quan trong quân đội Trung Hoa dân quốc Năm 1936, ông lập ra Việt Nam độc lập đồng minh hội, đăng ký hoạt động hợp pháp ở Trung Quốc
3 Viện Quan hệ quốc tế, Bộ Ngoại giao (1995), Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, Nxb Sự thật, Hà
Nội, 1995, tr 17.
4 Đầu nguồn (1975), Hồi ký về Bác Hồ, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.124.
5 Võ Nguyên Giáp (1977), Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, Hà Nội, tr 35-36
6 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2006), Hồ Chí Minh-Biên niên tiểu sử, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, tr.111.
Trang 6thù Phải thấy hết tính chất phản động của nó, nếu không thấy thì nguy hiểm Chúng nókhông vào Việt Nam càng tốt cho ta hơn”1.
Để tạo danh nghĩa hoạt động, cần tận dụng danh nghĩa hợp pháp của Việt Nam độclập đồng minh hội; do đó, Văn phòng làm việc của Việt Nam độc lập đồng minh hội ởQuế Lâm do ông Hồ Học Lãm làm Chủ nhiệm và Phạm Văn Đồng (bí danh Lâm BáKiệt) làm Phó Chủ nhiệm được lập ra, để quan hệ với Tư lệnh trưởng Đệ tứ chiến khuTrương Phát Khuê và Chủ nhiệm hành dinh khu Tây Nam của Trung Hoa dân quốcTướng Lý Tế Thâm Hồ Chí Minh giải thích: “Làm như thế, không những hợp pháp hóađược tổ chức của chúng ta ở đây mà vấn đề quan trọng hơn là chúng ta còn có thể ở đâylâu dài làm nhiều việc khác, giữ được mối quan hệ của chúng ta với Trung Quốc, nhất làvới Đệ tứ chiến khu”2 Ngoài ra, đây cũng là một nước cờ nhằm ứng phó với kế hoạch
“Hoa quân nhập Việt” của chính phủ Tưởng Giới Thạch, để khi họ thực hiện “nhập Việt”,thì với danh nghĩa Việt Nam độc lập đồng minh hội, Việt Minh có thể đàng hoàng buộc họphải nói chuyện và có thể ngăn chặn được kế hoạch của họ3
Năm 1943, khi Tướng Trương Phát Khuê, Tư lệnh Khu Đệ tứ chiến khu (TrungHoa dân quốc) ra lệnh thả Hồ Chí Minh, Tư lệnh họ Trương nhận thấy rằng “Hồ ChíMinh có thể hữu ích trong việc xây dựng một tổ chức ở Đông Dương, có thể sử dụng nhưmột quân cờ trong đàm phán với người Pháp sau chiến tranh”4
Mặc dù biết rằng khó có thể trông cậy ở chính phủ Trung Hoa Dân quốc, vì “họ sẽnói như xẻ cửa, xẻ nhà cho ta đấy, nhưng đang chuẩn bị để nuốt tươi chúng ta Phải giữgìn cẩn thận, các đồng chí đang ở trước miệng hùm nọc rắn cả đấy”5, song để tranh thủhợp tác với Trung Hoa dân quốc, sau khi được trả tự do (9-1943), Hồ Chí Minh tiếp xúcvới một số tướng lĩnh trong Chính phủ Trung Hoa dân quốc, tham gia một số hoạt độngcủa Việt Nam cách mạng đồng minh hội Theo yêu cầu của Tướng Trương Phát Khuê, HồChí Minh nhận chức Phó Chủ tịch Việt Nam cách mạng đồng minh hội với trợ cấp
1 Viện Quan hệ quốc tế, Bộ Ngoại giao (1995), Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, Sđd, tr 17
2 Dẫn theo Vũ Khoan (2010), Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.16.
3 Dẫn theo Vũ Khoan (2010), Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, Sđd, tr.16.
4 Sanford B Hunt, IV, B.A (2004): Dropping the baton: decisions in United States policy on Indochina,
1943-1945, Ibid, p.71-72.
5 Hoàng Quốc Việt (1985), Chặng đường nóng bỏng, Nxb Lao động, Hà Nội, tr 270.
Trang 7100.000 đồng tiền Trung Quốc/tháng6 Nhà sử học Nguyễn Thế Anh giải thích sự kiệnnày như sau: “Cách mạng đồng minh hội được thành lập và được đặt dưới sự lãnh đạocủa Nguyễn Hải Thần Song các vị lãnh tụ của các phe phái khác nhau muốn có tự dohành động riêng, và liên minh mới thành lập tỏ ra không đủ khả năng giữ vai trò chính trị
mà chính phủ Trung Hoa muốn giao phó cho nó Vì vậy, chính phủ Trung Hoa phải nhờđến Nguyễn Ái Quốc, bấy giờ đổi tên là Hồ Chí Minh; Hồ Chí Minh được cử đến để điềukhiển Việt Nam cách mạng đồng minh Hội với điều kiện phải giúp chính phủ Trung Hoa
và phái bộ Hoa Kỳ ở Trung Hoa thiết lập một mạng lưới tình báo ở Việt Nam Nhờ vậy,
Hồ Chí Minh không những lợi dụng được các phương tiện tại chính cung hiến bởi chínhphủ Trung Hoa, mà còn có thể cầm đầu một sự liên minh giữa các đảng phái khác nhaunữa”2
Ngày 23-11-1943, Hồ Chí Minh rời khỏi Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu đến ởtrong nhà Tổng bộ Việt Nam cách mạng đồng minh hội đặt tại đường Ngư Phong ( LiễuChâu), tại đây, Hồ Chí Minh có điều kiện khá tự do tiếp xúc với các đại biểu của nhiều lựclượng cách mạng Việt Nam và Trung Quốc
Đầu năm 1944, phân tích xu thế của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, Hồ ChíMinh khẳng định thắng lợi sẽ thuộc về phe Đồng minh và dự báo: Với sự hiệp đồng củacác nước Đồng minh, trên dưới một năm nữa, Trung Quốc có thể đánh thắng Nhật Bản;chiến tranh thế giới như vậy có thể kết thúc Việt Nam chắc chắn trong một thời giankhông xa lắm sẽ hoàn toàn đánh thắng thực dân Pháp mà giành được độc lập hoàn toàn
Đó là điều không một lực lượng nào có thể ngăn trở được Hai nước Trung - Việt có quan
hệ hết sức mật thiết Trung Quốc là một lực lượng hoà bình to lớn, là đảm bảo chắc chắncho Việt Nam chúng tôi hoà bình kiến quốc Từ nay về sau chúng tôi sẽ được sự giúp đỡhuynh đệ của Trung Quốc sau chiến tranh, đó là điều chắc chắn…3
Cuối tháng 2-1944, Hồ Chí Minh dự Hội nghị trù bị Đại hội đại biểu toàn quốccủa Việt Nam cách mạng đồng minh hội Tại Hội nghị này, Hồ Chí Minh đề nghị mở
1 Ronald H Spector (2005), Advice and Support: The Early Years, 1941-1960 (United States Army in Vietnam), University Press of the Pacific, p.38 Xem thêm: Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr 98; The Pentagon Papers Gravel Edition (1971),Chapter I, "Background to the Crisis,
1940-50”), Volume 1, Boston: Beacon Press, p.11
2 Nguyễn Thế Anh (1970), Việt Nam thời Pháp thuộc, Nxb Lửa thiêng, Sài Gòn, tr.355-356.
3 Viện Hồ Chí Minh (2006), Hồ Chí Minh - biên niên tiểu sử, Sđd, t.2, tr 101
Trang 8rộng thành phần Đại hội, trong đó có đại biểu của Việt Minh và các tổ chức của ViệtMinh ở trong nước tham dự; đề nghị đổi tên Đại hội đại biểu toàn quốc của Việt Namcách mạng đồng minh hội thành Đại hội đại biểu các tổ chức cách mạng Việt Nam ở hảingoại1 Đề nghị đó được Tướng Trương Phát Khuê tán thành và uỷ thác cho Hồ Chí Minhkhởi thảo kế hoạch triệu tập Đại hội này2
Tháng 3-1944, với tư cách đại biểu của Việt Minh, Hồ Chí Minh dự Đại hội cácđoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Lễ đường Bộ Tư lệnh Chiến khu IV ởLiễu Châu (Quảng Tây, Trung Quốc) Nhận thấy đây là một cơ hội tốt trong việc tranh
thủ Trung Hoa dân quốc và Đồng Minh, đọc Báo cáo của Phân hội Việt Nam thuộc Hội Quốc tế chống xâm lược, Hồ Chí Minh bày tỏ hy vọng đoàn kết thực sự các lực lượng
cách mạng, tranh thủ sự giúp đỡ ở nước ngoài làm cho “sự nghiệp cách mạng của dân tộcViệt Nam nhất định sẽ sớm thành công”3 Cũng tại Đại hội này, trong Báo cáo về tình hình các đảng phái trong nước, Hồ Chí Minh khẳng định rằng, mọi đảng phái ở Việt
Nam “đều cùng nhau tranh đấu và cùng nhau hy sinh”4 và “ngoài công việc cứu nước rathì lý luận gì, công tác gì, cũng không được nhân dân ủng hộ”5 Cho rằng, ở Việt Namkhông cần nêu khẩu hiệu “Đoàn kết các đảng phái”, vì điều này đã trở thành hiện thực,
mà cần phải mở rộng khối đoàn kết đến toàn dân, Hồ Chí Minh đề cao chủ trương tranhthủ “sự giúp đỡ của các nước Đồng Minh, trước hết là của Trung Quốc, đặng hoàn thành
sự nghiệp giải phóng dân tộc”6 Nhằm tranh thủ sự đồng thuận của các lực lượng Đồngminh trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, Hồ Chí Minh phân tích: “Mọi ngườiđều phải theo trào lưu cách mạng thế giới: Nước Trung Quốc tam dân chủ nghĩa, nướcAnh đế quốc chủ nghĩa, nước Nga Xôviết cộng sản chủ nghĩa, nước Mỹ tư bản chủ nghĩađều có thể hợp tác với nhau để chiến thắng quân thù Các đảng phái ở Trung Quốc đều
1 Van Khanh Nguyen (2016), The Vietnam Nationalist Party (1927-1954), Springer, Singapore, p.104.
2 Viện Hồ Chí Minh (2006), Hồ Chí Minh - biên niên tiểu sử, t 2 Sđd, tr 199.
3 Hồ Chí Minh (2011) Toàn tập, Sđd, t 3, tr 489
4 Hồ Chí Minh (2011) Toàn tập, Sđd, t 3, tr 498.
5 Hồ Chí Minh (2011) Toàn tập, Sđd, t 3, tr 498.
6 Hồ Chí Minh (2011) Toàn tập, Sđd, t 3, tr 498.
Trang 9tập hợp chung quanh Quốc dân Đảng Trung Quốc để chống Nhật cứu nước Nước Pháp
tự do có Đảng Cộng sản Pháp tham gia; nước Đức tự do có Đảng Cộng sản Đức thamgia, cùng nhau ra sức cứu Tổ quốc, cứu đồng bào Việt Nam là một bộ phận của thế giới,cũng không thể đi ngược dòng lịch sử được”1 Theo Hồ Chí Minh, nhiệm vụ lúc này làphải “mở rộng khối đoàn kết toàn dân để đạt tới mục đích: Bên trong có lực lượng củamình, bên ngoài tranh thủ sự giúp đỡ của các nước Đồng minh, trước hết là của TrungQuốc, đặng hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc”2 Nhằm tranh thủ sự ủng hộ củachính phủ Tưởng Giới Thạch, Hồ Chí Minh khôn khéo phát biểu: “Chúng tôi cũng đã học
ở Trung Quốc một bài học quý báu, nếu tự mình không có thực lực gì làm cơ sở thìkhông thể nói đến ngoại giao gì cả”3 Hồ Chí Minh khẳng định: “Về phần chúng tôi, lúcnào cũng tin tưởng vững chắc ở nền đạo đức cổ truyền của nhân dân Trung Quốc là bênhvực kẻ yếu, giúp đỡ người gặp nguy nan, cứu kẻ sắp bị tiêu diệt, đồng thời chúng tôi tintưởng sắt đá vào quốc sách của Trung Quốc là: liên hiệp các nước tiểu dân tộc trên thếgiới để cùng chung chiến đấu”4 Sau cuộc họp này, Tưởng Giới Thạch đã chấp nhận đểViệt Minh đứng trong Mặt trận liên minh Trung - Việt chống chủ nghĩa phát xít Về Việt
Nam, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc tháng 10-1944, Hồ Chí Minh viết: “Nhân dịp ở
ngoài mà tôi hiểu rõ tình hình thế giới và chính sách của các nước hữu bang, trước hết làTrung Quốc”- điều này có tác dụng to lớn trong việc Việt Minh tiếp tục đề ra các đối sáchvới lực lượng Đồng minh mà trước tiên là với Trung Hoa dân quốc trong quá trình liênminh và giải liên minh
Như vậy, trong quan hệ giữa Việt Minh với Trung Hoa dân quốc, một mặt, ViệtMinh nhận thấy điểm tương đồng trong mục tiêu chống phát xít cần khai thác để hạn chếmặt tiêu cực của họ, thực hiện sự đoàn kết quốc tế của Việt Minh theo phương châm
“thêm bầu bạn bớt kẻ thù”, xem đó như một điều kiện để tranh thủ các nước Đồng minh;mặt khác, Việt Minh cũng thấy rõ bản chất và ý đồ xâm lược Việt Nam của Trung Hoadân quốc, nên hết sức cảnh giác Hồ Chí Minh căn dặn các đồng chí của mình: “Không
1 Hồ Chí Minh (2011) Toàn tập, Sđd, t 3, tr 498-499.
2 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Sđd, t 3, tr 493.
3 Dẫn theo Vũ Khoan (2010), Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, Sđd, tr.35.
4 Vũ Khoan (2010), Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, Sđd, tr.34.
Trang 10nên ảo tưởng vào Tưởng Giới Thạch nhưng phải lấy Trung Quốc làm cái cầu để tranh thủcác nước Đồng minh và đưa ra khẩu hiệu “Hoa - Việt thân thiện”1.
Tóm lại, Việt Minh nhận thức rõ ràng yêu cầu, sự cần thiết phải duy trì quan hệvới Trung Hoa Dân quốc trong cuộc chiến chống phát xít, lấy Trung Hoa Dân quốc làmcầu nối để tranh thủ các nước Đồng minh; đồng thời, luôn nhận thức rõ những kế hoạch
ẩn sâu của họ (ý đồ đến và ở lại Việt Nam lâu dài) Năm 1945, Cách mạng tháng Támthành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, quan hệ đồng minh giữa Việt Namvới chính quyền Quốc dân đảng trở nên đối lập Dưới danh nghĩa của quân Đồng Minhvào giải giáp quân đội Nhật, tháng 9-1945, 20 vạn quân do Tướng Lư Hán chỉ huy cùngViệt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (ViệtCách) do Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh đứng đầu thực hiện
kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” nhằm lật đổ chính quyền cách mạng Việt Nam, đưa lựclượng Việt Quốc, Việt Cách vào bộ máy quyền lực
Ngoài tiếp xúc và thiết lập quan hệ với Trung Hoa Dân quốc, một trong những lực
lượng Đồng Minh mà Việt Minh hết sức quan tâm đó là nước Mỹ Trước Chiến tranh thế
giới hai, “như hầu hết người Mỹ, Franklin D Roosevelt ít quan tâm hoặc biết đến ĐôngDương thuộc Pháp”2 Thật vậy, Việt Nam cũng như các thuộc địa của Pháp ở ĐôngDương nằm ở ngoại vi quan hệ đối ngoại của Mỹ Theo Dixee Bartholomew-Feis, nước
Mỹ và F.D.Roosevelt luôn dành mối quan tâm hàng đầu cho châu Âu và khu vực MỹLatinh kề cận3 Những chú ý đầu tiên của chính quyền F.D.Roosevelt đến tình hình ĐôngDương liên quan tới sự kiện Pháp - Nhật tranh chấp quần đảo Hoàng Sa (1939), dù thái
độ lúc đó của Mỹ là ôn hòa và trung lập Cùng với sự kiện này, Đông Dương thuộc Pháp
đã chiếm một vị trí nhất định trong tiềm thức của Tổng thống và nhân viên Bộ Ngoại giao
Mỹ nhưng chỉ với tư cách là “một khu vực địa lý không thể phủ nhận dưới sự kiểm soát
1 Nguyễn Đình Bin (chủ biên, 2002), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.
40
2 Dixee Bartholomew-Feis (2006), The OSS and Ho Chi Minh, Ibid, p.197.
3 Dixee Bartholomew-Feis (2006), The OSS and Ho Chi Minh, Ibid, p.199.
Trang 11của Pháp và có ý nghĩa quan trọng đối với chính phủ Tưởng Giới Thạch"4 Vấn đề ĐôngDương trở nên đậm nét hơn trong nhận thức của Mỹ, quan trọng thứ hai chỉ sau vấn đềTrung Hoa Dân Quốc khi Pháp đầu hàng Đức (1940) dẫn đến khả năng Đông Dương cóthể rơi vào tay một thành viên phe Trục là Nhật Bản, nhất là khi nước Nhật ngày càng lấntới, đưa thêm yêu sách về chia sẻ quyền lực tại khu vực này và không ngừng gia tăng sức
ép lên Chính phủ Vichy Hơn thế, Nhật Bản đã trở nên nguy hiểm hơn đối với Hoa Kỳ khi
ký Hiệp ước ba bên với Đức và Ý (9-1940); qua đó liên kết những cuộc xung đột ở châu
Âu và châu Á không chỉ chống Liên Xô mà còn nhằm cả vào Mỹ Chiến tranh với NhậtBản (chiến tranh Thái Bình Dương) càng củng cố thêm tầm quan trọng địa chính trị củaViệt Nam đối với Mỹ Mỹ nhận thức Việt Nam từ vị trí bàn đạp để Nhật Bản tấn
công Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia, Trung Quốc; đồng thời, coi việc
chiếm Đông Dương của Nhật như là một bước tiếp theo quan trọng hơn nhằm nắm quyềnkiểm soát vùng biển phía Nam, bao gồm các con đường thương mại hết sức quan trọngđối với Hoa Kỳ và nhằm kiểm soát các sản phẩm chiến lược đối với phát triển kinh tếnhư cao su2, thiếc, dầu mỏ…Sự quan tâm của Mỹ đối với Đông Dương xuất phát từ yêucầu đảm bảo thắng lợi của phe Đồng Minh trước khối Trục, được giới hạn chủ yếu trongphạm vi bảo vệ những vùng đất này khỏi sự chiếm đoạt của các nước phát xít Với kếhoạch quản thác quốc tế cho Đông Dương, F.D.Roosevelt hy vọng nó “sẽ cho phép Mỹthiết lập các căn cứ hải quân, không quân dài hạn tại những vị trí chiến lược trên TháiBình Dương và bất kỳ những nơi không tồn tại mối ác cảm truyền thống đối với quanđiểm chính trị dựa vào sức mạnh của Mỹ"3 Bên cạnh đó, trong một nỗ cung cấp viện trợcho Pháp trong cuộc chiến chống Nhật Bản; đồng thời, ngăn cản cố gắng giành lại thuộcđịa của nước này, Mỹ cần càng nhiều càng tốt những thông tin xác thực về tình hìnhĐông Dương Các hoạt động tình báo của Hoa Kỳ nhắm đến Đông Dương thực sự bắtđầu ở Trung Quốc vào tháng 5 năm 1942 khi Đại úy Hải Quân Mỹ Milton Edward
1 Dixee Bartholomew-Feis (2006), The OSS and Ho Chi Minh, Ibid, p.199.
2 Lưu ý thêm rằng, trước Chiến tranh thế giới 2, 50% lượng cao su nguyên chất của Mỹ là được nhập khẩu từ Đông Dương Sự kiểm soát của Nhật Bản đối với khu vực này đã làm mất đi nguồn tài nguyên chiến lược quan trọng của Hoa Kỳ.
3 Dixee Bartholomew-Feis (2006), The OSS and Ho Chi Minh, Ibid, p.201.
Trang 12Miles đã đến Trung Quốc với nhiệm vụ thiết lập cơ sở tình báo, chuẩn bị những điều kiệncho các cuộc đổ bộ của Hải quân Hoa Kỳ những năm sau đó1.
Về phía Việt Minh, sự quan tâm đối với Mỹ được đẩy lên một bước mới từ cuốinăm 1942, khi Chiến tranh thế giới thứ hai có những biến chuyển hết sức nhanh chóng,nhất là khi chiến tranh tại khu vực Thái Bình Dương đang ngày càng khốc liệt Sau khichính thức tham gia cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, Đông Dương được Mỹ đặt trongkhu vực tác chiến của quân đội Mỹ chống phát xít Nhật thuộc mặt trận Trung Quốc doTưởng Giới Thạch làm Tổng tư lệnh Tuy hiểu rằng, dù nhiều lần nhắc đến chế độ quảnthác quốc tế đối với Đông Dương, song trên thực tế, F.D.Roosevelt đã không hành độngquyết liệt và “không có một bằng chứng nào cho thấy Tổng thống F.D.Roosevelt từng ralệnh hoặc yêu cầu soạn thảo các kế hoạch cụ thể nhằm thiết lập chế độ ủy trị cho ĐôngDương”2, song Việt Minh nhận thấy đây là cơ hội tốt cho việc tranh thủ sự ủng hộ củangười Mỹ đối với công cuộc giải phóng dân tộc của mình Đặc biệt, nắm bắt nhu cầu tintức của người Mỹ về tình hình trên bán đảo Đông Dương, Hồ Chí Minh và Việt Minh chủtrương chủ động bắt liên lạc và đứng hẳn về phía với Mỹ và phe Đồng Minh, thể hiệnquyết tâm chống phát xít Nhật Mặt trận Việt Minh cần phải có chân trong phe ĐồngMinh chống phát xít để cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc được hợp thức hóa trên trườngquốc tế, tạo điều kiện thuận lợi tranh thủ dư luận thế giới cho công cuộc giải phóng dântộc và sự thừa nhận nền độc lập sau khi cách mạng thành công Trong lúc đó, diễn ra một
sự kiện dường như có thể mới ra một cơ hội cho việc thực hiện mục tiêu nêu trên của ViệtMinh liên quan đến việc giải cứu một phi công Mỹ Mùa Đông năm 1944, một chiếc phi
cơ của không quân Mỹ bị quân Nhật bắn rơi trên địa phận xã Đề Thám (huyện Hòa An,tỉnh Cao Bằng, Trung úy phi công William Shaw phải nhảy dù xuống một vùng núi gần
đó3 Trong khi đang bị cả quân đội Nhật Bản và Pháp lùng bắt, phi công Shaw đã đượcmột người dân địa phương giúp đỡ và dẫn đường thoát ra khỏi vùng nguy hiểm, đến ấn
1 Ronald H Spector (2005), Advice and Support: The Early Years, 1941-1960, Ibid, p.24.
2 Sanford B Hunt, IV, B.A (2004): Dropping the baton: decisions in United States policy on Indochina,
1943-1945, A Thesis in History, Texas Tech University, p.97.
3 Peter Neville (2007), Britain in Vietnam: Prelude to Disaster, 1945–46, Routledge, p.48.
Trang 13náu ở một hang núi1 Dưới sự sắp xếp của một cán bộ Việt Minh, Trung úy Shaw đượcđưa tới gặp Phạm Văn Đồng và ông lập tức cử người đưa Trung úy Shaw đi gặp Hồ ChíMinh (lúc này đang ở tại biên giới Việt Nam- Trung Quốc)2 Hồ Chí Minh tìm cách đưaphi công W Shaw về Trung Quốc cho Tập đoàn không quân số 14 Mỹ (ở Côn Minh lúc
đó có Bộ Tổng tham mưu lục quân của Tướng Hà Ứng Khâm, Bộ Tư lệnh Không Quân
Mỹ, phái đoàn quân sự Anh và một phái đoàn quân sự Pháp) Người Mỹ đã bày tỏ lòngbiết ơn đối với Việt Minh và Hồ Chí Minh, ngỏ ý tặng thuốc men, tiền bạc Theo DixeeBartholomew-Feis, Hồ Chí Minh đã từ chối đề nghị này và chỉ yêu cầu được gặp viên
tướng lừng danh của Không đoàn Hổ bay (The Flying Tigers) Claire L Chennault3, song
đã bị từ chối, “Shaw lên tầu hồi hương và sự kiện này dường như đã chìm sâu vào lịch sửchiến tranh”4 Có hai lý do chính giải thích cho sự từ chối nói trên: Thứ nhất, “các hoạtđộng quân sự và tình báo của Hoa Kỳ trong năm 1943 và hầu hết năm 1944 đã khôngthực sự tập trung vào Đông Dương”5; thứ hai, “cuộc đảo chính của Nhật chưa xảy ra vàmạng lưới của GBT vẫn còn mạnh”6 Mọi việc chỉ thay đổi một cách bất ngờ sau đó khingười Nhật tiến hành chiến dịch Meigo, đảo chính Pháp vào ngày 9-3-1945, kiểm soáthoàn toàn Đông Dương Người Mỹ bối rối khi phát hiện ra rằng mạng lưới GBT mà họdày công thiết lập và hằng tự hào về nó đã hoàn toàn biến mất, bỗng chốc “Đông Dươngthuộc Pháp không còn tồn tại”- như cách nói một cách hình tượng của DixeeBartholomew-Feis Sau sự kiện ngày 9-3-1945, OSS (The Office of Strategic Services)
1 Sau sự kiện này và để tranh thủ sự ủng hộ của người Mỹ, báo "Việt Nam độc lập"- cơ quan ngôn luận của Mặt trận Việt Minh đã có một phụ bản rất độc đáo, một tranh vẽ gồm 8 bức hình liên hoàn, hướng dẫn người dân cách thức cứu phi công Mỹ 8 bức hình mô tả theo trình tự các bước cần thiết cần thực hiện từ lúc phát hiện ra máy bay Mỹ bị bắn rơi, thấy dù của Phi công rơi xuống đến lúc giúp phi công cất dù, cải trang rồi đưa vào chiến khu giao cho đoàn thể Phía trên những bức tranh có vẽ hai lá cờ của Hoa Kỳ và cờ của Việt Minh, còn giữa hai lá cờ có một câu thơ:
"Quân đội Mỹ là bạn ta/Cứu Phi công Mỹ mới là Việt Minh".
2 Hồ Chí Minh còn tặng người phi công Mỹ - Trung úy Shaw bản "Chương trình Việt Minh" đã được Hồ Chí Minh thân chinh dịch ra tiếng Anh.
3 Dixee Bartholomew-Feis (2006), The OSS and Ho Chi Minh, Ibid, p 201.
4 Dixee Bartholomew-Feis (2006), The OSS and Ho Chi Minh, Ibid, p 201.
5 Sanford B Hunt, IV, B.A (2004): Dropping the baton: decisions in United States policy on Indochina,
1943-1945, Ibid, p.71.
6 Dixee Bartholomew-Feis (2006), The OSS and Ho Chi Minh, Ibid, p 301.
Trang 14và GBT gặp vô vàn khó khăn trong thu thập tin tức tình báo tại Đông Dương và “sau đóFenn nhận được chỉ thị phải khởi động một mạng lưới tình báo mới, sử dụng người bản
xứ nếu cần thiết”1 Chỉ thị đó khiến cuộc giải cứu viên phi công Mỹ dễ dàng bị gạt sangmột bên vào cuối năm 1944 giờ đã quay trở lại với tầm quan trọng mới vào đầu năm
1945 Những dòng nhật ký của Trung úy Shaw và những thiện cảm giành cho Việt Minh2
đã tác động mạnh tới người Mỹ, góp phần không nhỏ vào thay đổi nhận thức của người
Mỹ về Việt Minh Trong báo cáo gửi Wedemeyer, Claire L.Chennault bày tỏ quan điểm:
“Tôi nhiệt liệt ủng hộ việc duy trì mối quan hệ tốt đẹp với bất kỳ tổ chức nào tại ĐôngDương thuộc Pháp giúp đỡ một cách hiệu quả việc giải thoát lính Mỹ, có thể yêu cầu sựtrợ giúp tại nước đó bất chấp thái độ chính trị của họ"3 Theo đánh giá của OSS thì “ViệtMinh như một bộ máy kháng chiến hiệu quả duy nhất ở Việt Nam”4, là một lực lượng cóthể tin cậy được trong cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít Theo phân tích của DixeeBartholomew-Feis thì “chính sự trở về an toàn của Trung uý Shaw dường như là cầu nốicho cuộc gặp gỡ sau này của Hồ Chí Minh với những thành viên chủ chốt trong cộngđồng Mỹ tại Côn Minh”5 Chính Fenn sau này đã gọi cuộc giải cứu Shaw là "chiếc chìakhoá thần kỳ mở toang những cánh cửa kiên cố” 6
Thêm vào đó, tại Côn Minh, các tháng 3 và 4-1945, nhân danh Việt Minh, Hồ ChíMinh tích cực tiếp xúc với cơ quan cứu trợ không quân Mỹ (AGAS), Trung úy CharlesFenn7, Tướng Chenault và Thiếu tá tình báo Mỹ A Patti8 …, vận động công nhận tổ
1 Dixee Bartholomew-Feis (2006),The OSS and Ho Chi Minh, Ibid, p 300.
2 Trung úy Shaw viết như sau: “Việt Minh hùng mạnh thế nào, tôi không biết Nhưng như những gì tôi đã chứng kiến thì tổ chức này rất được nhân dân ủng hộ Đi đến đâu tôi cũng được dân lành chào với hai tiếng "Việt Minh! Việt Minh!" và họ làm tất cả để giúp những người yêu nước, cho dù có bị ngăn cấm và đàn áp” ( Dixee
Bartholomew-Feis (2006),The OSS and Ho Chi Minh, Ibid, p 215).
3 Dixee Bartholomew-Feis (2006),The OSS and Ho Chi Minh, Ibid, p 213.
4 The Pentagon Papers Gravel Edition (1971),Chapter I, "Background to the Crisis, 1940-50”), Volume 1, Boston:
Beacon Press, p.11.
5 Dixee Bartholomew-Feis (2006),The OSS and Ho Chi Minh, Ibid, p 217.
6 Dixee Bartholomew-Feis (2006),The OSS and Ho Chi Minh, Ibid, p 217.
7 Charles Fenn sinh năm 1909 tại Vương quốc Anh, di cư tới Mỹ, định cư tại Philadelphia Lúc đầu Charles Fenn là
phóng viên ảnh cho tạp chí ảnh Friday và đến năm 1940 lên đường sang Trung Quốc đưa tin về sự chiếm đóng của
Nhật Bản Giữa năm 1941, Charles Fenn trở thành phóng viên và nhiếp ảnh gia chiến trường cho hãng AP, tham gia OSS vào năm 1943, trở thành trung uý thuỷ quân lục chiến làm việc trong OSS và sau đó là GBT.