lên 1 công trình kiến trúc thuộc nền kiến trúc ấy như thế nào?2.5 điểm Câu 3: Lập bảng so sánh các đặc điểm giống và khác của 3 nền kiến trúc nền kiến trúc trước - nền kiến trúc chính đã
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KIẾN TRÚC
TIỂU LUẬN
(KẾT THÚC HỌC PHẦN LỊCH SỬ KIẾN TRÚC PHƯƠNG TÂY)
GVHD: PGS.TS.KTS LÊ THANH SƠNSVTH: TRẦN MINH ANH
LỚP KT18/A3MSSV: 18510101013
Trang 2KIẾN TRÚC HY LẠP CỔ ĐẠI
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:
SV chọnmột nền kiến trúc tiêu biểu trong LSKTPT để viết thu hoạch theo các nội dung:
Câu 1: Nêu ảnh hưởng cụ thể của: tín ngưỡng - tôn giáo - kinh tế - chính trị - xã hội lên
đặc điểm của nền kiến trúc ấy như thế nào?( 2.5 điểm)
Câu 2: Nêu ảnh hưởng cụ thể của các yếu tố: vật liệu xây dựng - tính năng kỹ thuật của vật
liệu xây dựng đó lên kỹ thuật xây dựng (trình độ kết cấu - kiến tạo) và thẩm mỹ lên 1 công
trình kiến trúc thuộc nền kiến trúc ấy như thế nào?(2.5 điểm)
Câu 3: Lập bảng so sánh các đặc điểm giống và khác của 3 nền kiến trúc (nền kiến trúc
trước - nền kiến trúc chính đã chọn từ câu 1 - nền kiến trúc sau đó) như thế nào?(2.5 điểm) Câu 4: Nêu ý kiến về: (2.5 điểm)
+ Những đặc điểm nào trên công trình kiến trúc ấy thể hiện sự kế thừa? Giải
thích tại sao?
+ Những đặc điểm nào trên công trình kiến trúc ấy thể hiện sự cách tân? Giải
thích tại sao?
Trang 3MỤC LỤC
Câu 1: Nêu ảnh hưởng cụ thể của: tín ngưỡng tôn giáo kinh tế chính trị
-xã hội lên đặc điểm của nền kiến trúc Hy Lạp cổ đại như thế nào?
1 Tín ngưỡng - Tôn giáo
Câu 2: Nêu ảnh hưởng cụ thể của các yếu tố: vật liệu xây dựng - tính năng
kỹ thuật của vật liệu xây dựng đó lên kỹ thuật xây dựng (trình độ kết cấu kiến tạo) và thẩm mỹ lên 1 công trình kiến trúc thuộc nền kiến trúc ấy như thế nào?
-1 Giới thiệu về sự ra đời vật liệu xây dựng của công trình kiến trúc Hy Lạp cổ đại
9
2 Nêu ảnh hưởng cụ thể của yếu tố vật liệu xây dựng và tính năng kỹ thuật của vật liệu
xây dựng đó lên kỹ thuật xây dựng (trình độ kết cấu - kiến tạo) và thẩm mỹ lên một
công trình kiến trúc thuộc nền kiến trúc ấy
Câu 3: Lập bảng so sánh các đặc điểm giống và khác của 3 nền kiến trúc
(nền kiến trúc trước - nền kiến trúc chính đã chọn từ câu 1 - nền kiến trúc sau đó) như thế nào?
1 Giống nhau
22
2 Khác nhau
23
Câu 4: Nêu ý kiến về: (2.5 điểm)
1 Những đặc điểm nào trên công trình kiến trúc ấy thể hiện sự kế thừa?
Giải thích tại sao?
31
2 Những đặc điểm nào trên công trình kiến trúc ấy thể hiện sự cách tân?
Giải thích tại sao?
33
Trang 4KIẾN TRÚC HY LẠP CỔ ĐẠI
Câu 1: Nêu ảnh hưởng cụ thể của: tín ngưỡng tôn giáo kinh tế chính trị
-xã hội lên đặc điểm của nền kiến trúc Hy Lạp cổ đại như thế nào?
Sơ lược về nền Kiến trúc Hy Lạp cổ đại (3000 - 30 TCN), Kiến trúc Hy Lạp cổ đại được chiathành 2 giai đoạn phát triển khác nhau:
+ Giai đoạn Tiền Hy Lạp (3000 - 1100 TCN)
(chia thành 3 giai đoạn: Aegea, Crete (3000 - 1400 TCN) và Mycenae (1500 - 1100 TCN))
+ Giai đoạn Hy Lạp chính thống (thế kỷ VIII - 30 TCN)
(chia thành 3 giai đoạn nhỏ: Archaic (thế kỷ VIII - V TCN), Hellenic (thế kỷ V - IV TCN) và Hellenistic (thế kỷ III - 30 TCN))
+ Giai đoạn từ 1100 - thế kỷ VIII TCN là giai đoạn nền văn minh Mycenae sụp đổ mộtcách bí ẩn, dẫn tới một thời kỳ khủng hoảng tại Hy Lạp, kéo dài trong khoảng 400năm với tên gọi “Kỷ nguyên bóng tối”
1 Tín ngưỡng - Tôn giáo.
Thời cổ đại, người Hy Lạp đều theo đa thần giáo Tín ngưỡng ở Hy Lạp là các vị thầnđều mang hình người đầy đủ với những đức tính tốt xấu của con người, gần gũi với con người.Các vị thần ở Hy Lạp hay còn có tên gọi khác là Thần thoại Hy Lạp là một phần của tôn giáo
Hy Lạp cổ đại và nay là một phần của một tôn giáo hiện đại, lưu hành ở Hy Lạp mà trên thế
giới gọi là Hellenismos Từ nguồn tư liệu, có thể thấy Thần thoại Hy Lạp xuất hiện vào thời
kỳ Tiền Hy Lạp ở giai đoạn Mycenae (1500 - 1100 TCN) nhưng cũng một vài tư liệu ghi chéprằng Thần thoại Hy Lạp bắt đầu xuất hiện vào cuối thời kỳ Hy Lạp cổ đại rơi vào “Kỷ nguyênbóng tối”, khoảng từ 900 - 800 TCN Người ta cũng không biết có bao nhiêu trong tín ngưỡngtôn giáo Hy Lạp là của Mycenae, còn bao nhiều là sản phẩm của thời tăm tối của Hy Lạp vàsau đó
Dù xuất hiện khá sớm nhưng vào giai đoạn Archaic (từ thế kỉ VIII - V TCN), kiến trúcvẫn chưa đạt được thành tựu đỉnh cao, ngoài sự phát triển các thức cột Doric ở Selinus vàAkragas Thế nhưng, vào giai đoạn Hellenic (từ thế kỷ V - IV TCN), sự tín ngưỡng của HyLạp - Thần thoại Hy Lạp - đã bắt đầu ảnh hưởng tới nền kiến trúc Hy Lạp cổ đại, cụ thể là họ
đã tạo ra những bức tượng điêu khắc các vị thần Hy Lạp, xây dựng lên các đền thờ thờ các vịthần, ví dụ như thần Zues, thần Poseidon, thần Athena, thần Hera,
Khi nhắc đến kiến trúc Hy Lạp không thể không kể đến những công trình mang đậmchất tôn giáo, đó là đền đài Đền thờ theo người Hy Lạp là nơi ở của thần thánh, đền thờ HyLạp có quy mô không to lớn nhưng lại có sự tuyệt mĩ trong công trình kiến trúc, đi từ bố cụcchung cho đến những chi tiết nhỏ bé Bố cục kiến trúc Hy Lạp nói lên sự sùng bái các vị thần
và thể hiện quan niệm tôn giáo của người Hy Lạp
Một số công trình kiến trúc Hy Lạp cổ đại được xây dựng để tôn thờ các vị thần :
Trang 5ĐỀN THỜ THẦN ZEUS
(470 - 465 TCN)
Đền thờ thần Zeus là trung tâm tôngiáo của Hy Lạp cổ đại đồng thời cũng làmột trong những ngôi đền lớn nhất ở HyLạp cổ đại Đền thờ thần Zeus được xâydựng vào năm 470 trước Công nguyên vàđược hoàn thành vào năm 465 trước Côngnguyên và phong cách của đền dựa theo đềnthờ Doric
Diện tích nền có chiều dài là 64 mét
và chiều rộng là 28 mét, với 6 cột theo chiềurộng và 13 cột theo chiều dài, bên trong hộitrường là bức tượng thần Zeus, cao hơn 12mét, được bao bọc bởi 7 thức cột Corinthian
ĐỀN THỜ PARTHEON - THẦN ATHEAN (448 - 432 TCN)
Đền Partheon là một biểu tượng vĩđại của sự kết thúc Hy Lạp cổ đại và nềndân chủ Athena được xây dựng khởi côngvào năm 447 TCN và hoàn thành vào năm
432 TCN Không gian bên trong ngôi đềngồm phòng lớn đặt tượng thờ nữ thầnAthena cao 6 mét Athena - nữ thần của sựthông thái, vị thần bảo hộ của thủ đô Athenacủa Hy Lạp
Công trình có mặt bằng hình chữnhật với chiều dài là 70 mét và chiều rộng là
31 mét, chia làm bốn phần chính: Tiền sảnh,Gian thờ tế, Chổ để châu báu và Hậu cảnh.Công trình được xây theo lối kiến trúc cộtDoric và kiểu Peripteral với 46 cột lớn, mặtchính gồm 8 cột, mặt bên 17 cột
ĐỀN THỜ THẦN APOLLO
( giữa thế kỷ V TCN)
Đền thờ Apollo ở Bassae là mộttrong những đền thờ cổ đại có quy mô rộnglớn và được bảo tồn khá tốt Đền thờ này cókiến trúc rất đặc biệt, là sự kết hợp của cáckiến trúc Doric, Ionic và Corinthian
Bên trong đền thờ là 10 thức cộtIonic ở những vùng trũng và một chiếc cộtkiểu Corinthian ở cuối dãy phía Nam Cònbên ngoài đền thờ là cột trụ thiết kế theokiểu Doric chạy dọc theo chiều dài và 6chiếc cột theo chiều ngang
Trang 62 Kinh tế
Vào thời kỳ Mycenae ( 1500 - 1100 TCN) là thời kì mà các hoạt động kinh tế - xã hội
Hy Lạp đã đạt tới trình độ và mức độ phân hóa cao Cụ thể là sản xuất nông nghiệp tập trungchủ yếu vào bộ ba: lúa, dầu oliu và nho, tuy nhiên công thương nghiệp với các nhà xưởng cótrình độ chuyên môn hóa cao mới là động lực chính của nền kinh tế Mycenae
Vào khoảng thế kỷ VIII TCN, Hy Lạp bắt đầu thoát ra khỏi “Kỷ nguyên bóng tối”bước vào Thời kỳ Cổ điển Hy Lạp cổ đại lúc này này bị phân chia thành nhiều cộng đồng tựquản nhỏ, kinh tế đặc biệt là ngoại thương được đẩy mạnh với các cơ sở thương mại đượcthành lập tại rất nhiều nơi Cùng với sự phát triển và phục hồi về mặt kinh tế, dân số đã tăngtrưởng vượt quá giới hạn cung cấp của đất trồng trọ, đã dẫn tới dòng người Hy Lạp di cư khắpcác vùng tại Địa Trung Hải Trong đó hai thành bang Athena và Sparta là có ảnh hưởng đặcbiệt trong lịch sử của Hy Lạp
Đất đai Hy Lạp không được phì nhiêu, không thuận lợi cho viêc trồng cây lương thực,địa hình lại còn bị chia cắt thành nhiều vùng đồng bằng nhỏ hẹp nên người Hy Lạp phải tậndụng những dải đất ven sông hoặc chạy dọc theo các sườn núi, vùng duyên hải và các đồngbằng nhỏ cho việc canh tác nông nghiệp Cây trông chủ yếu là lúa mạch, lúa mì, ô liu, nho vàcác loại rau xanh
Hy Lạp có nhiều vũng, vịnh thuận lợi cho việc xây dựng hải cảng nên người Hy Lạpkhai thác triệt để nhằm đẩy mạnh hoạt động mậu dịch với các quốc gia khác trên thế giới,cùng với việc tiếp thu những tư tưởng mới từ đó thúc đẩy ngành thương nghiệp phát triểnmạnh mẽ Ở đây còn có hiều khoáng sản dễ khai thác như đồng, vàng bạc tạo điều kiệnthuận lợi cho nghề luyện kim và buôn bán Do đó kinh tế Hy Lạp cổ đại chú trọng phát triểncông, thương nghiệp hơn nông nghiệp, nhất là buôn bán đường biển
Tiền xu được sử dụng đầu tiên tại Lydia,
một vương quốc nhỏ ở miền bắc Anatolia, vào
cuối thế kỷ thứ VII TCN Khái niệm dùng tiền
này nhanh chóng lan đến các thuộc địa của Hy
Lạp và sau đó tồn tại trong suốt nền văn hóa Hy
Lạp Các đồng tiền phổ biến nhất được làm bằng
bạc, các đồng xu bản vị bạc của Athens được gọi
là glaukes, có nghĩa là “cú” bởi vì được khắc
hình con cú - biểu tượng của Athena
3 Chính trị
Vào thế kỷ thứ V TCN, biến đổi chính trị vĩ đại xảy ra tại các thành quốc Hy Lạp Sựthay đổi ấy là một biến đổi dựa trên dân chủ và được ví như tầm quan trọng của sự kiện nàyvới “sự phát minh ra vòng xe hoặc cuộc khám phá ra Tân Thế Giới” Thời ấy Hy Lạp khôngchỉ là một nước, mà là kết hợp giữa một số thành quốc độc lập gọi là Polis
Hy Lạp cổ đại bao gồm nhiều hơn hoặc ít hơn hàng trăm thành bang độc lập (Polis).Đây là một tình huống không giống như hầu hết các xã hội đương thời khác, mà hoặc một bộtộc, hay một vương quốc cai trị một vùng lãnh thổ tương đối lớn Chắc chắn vị trí địa lý của
Hy Lạp - chia cắt và phân chia bởi những ngọn đồi, núi và con sông - góp phần vào tính rờirạc của Hy Lạp cổ đại
Trang 7Một mặt, người Hy Lạp cổ đại đã không có nghi ngờ rằng họ là “một dân tộc, họ cócùng tôn giáo, văn hóa cơ bản giống nhau và cùng một ngôn ngữ” Hơn nữa, người Hy Lạp đãrất ý thức về nguồn gốc bộ lạc của họ, Herodotus đã có thể để phân loại rộng rãi các thànhbang theo bộ lạc Tuy nhiên, mặc dù những mối quan hệ cao hơn này tồn tại, chúng dườngnhư hiếm khi có một vai tò quan trọng trong chính trị Hy Lạp Sự đôc lập của những Polisđược bảo vệ rất mãnh liệt, thống nhất đất nước là một cái gì đó hiếm khi có trong dự tính củangười Hy Lạp cỏ đại Ngay cả khi, trong cuộc xâm lược Hy Lạp lần thứ hai của người Ba Tư,một nhóm các thành bang đã tự mình liên minh bảo vệ Hy Lạp, phần lớn các polei vẫn trunglập và sau khi đánh bại Ba Tư, các đồng minh nhanh chóng quay ra tranh giành.
Như vậy, đặc thù chính của hệ thống chính trị của Hy Lạp cổ đại, trước hết là tính chấtrời rạc của nó, và thứ hai là sự tập trung đặc biệt vào các trung tâm thành thị trong số cácquốc gia nhỏ bé Các đặc thù của hệ thống Hy Lạp tiếp tục chứng minh bằng các thuộc địa mà
họ thiết lập trên khắp vùng biển Địa Trung Hải, mặc dù chúng có thể coi như một polei HyLạp nhất định như thành bang của “mẹ” chúng, chúng đã là một thành bang hoàn toàn độc lập
4.Xã hội
Vào thời kỳ Mycenae, xã hội đã phân hóa ra vua chúa, quan lại, nhân dân, thợ thủcông và nô lệ, phân chia ruộng đất ra hai phần là kitimena tức là vùng đất của cung điện vàkekemenha là vùng đất làng xã Vào thế kỷ thứ VI TCN, lúc này dù Hy Lạp bị chia ra nhiềuthành bang khác nhau nhưng đơn vị hành chính cơ bản của Hy Lạp là các thành bang (Polis)hoặc có tên khác dễ hiểu hơn là thị quốc - tức các quốc gia của lãnh thổ chỉ bằng một thànhthị
Những nét đặc trưng của xã hội Hy Lạp cổ đai là sự phân chia giữa người tự do và nô
lệ, vai trò khác nhau giữa nam giới và nữ giới, sự ít phân biệt địa vị xã hội dựa trên gốc gác rađời và sự quan trọng của tôn giáo Lối sống của người Athena là phổ biến trong thế giưới HyLạp so với chế độ đặc biệt của Sparta Cấu trúc xã hội chỉ có những người tự do mới có quyềnlàm cư dân thành phố và được bảo vệ đầy đủ bởi pháp luật trong một thành bang Trong hầuhết các thành bang, không giống như La Mã, sự nổi trội trong xã hội không cho phép nhữngquyền lợi đặc biệt Chẳng hạn, sinh ra trong một gia đình nào đó không có nghĩa là có quyềnlực nào đó trong chính quyền Tai Athena, dân chúng được chia thành bốn tầng lớp dựa theo
sự giàu có Người ta có thể thay đổi tầng lớp của mình nếu có nhiều tiền hơn Tại Sparta, tất
cả các nam công dân của thành phố đều được xác định là “bình đẳng” nếu họ kết thúc việchọc hành của họ Tuy vậy, các vua người Sparta lãnh đạo tôn giáo và quân đội của thành bangthường đến từ hai gia đình khác nhau
Nô lệ không có quyền lực và địa vị Họ có quyền có gia đình và tài sản riêng, tuynhiên không có quyền chính trị Năm 600 TCN chế độ chiếm hữu nô lệ trải rộng khắp Hy Lạp.Đến thế kỷ thứ V TCN, nô lệ chiếm đến một phần ba số dân ở một số thành bang Nô lệ nênngoài Sparta hầu như không bao giờ trỗi dậy bởi vì học thuộc nhiều quốc tịch khác nhau Hầuhết các gia đình đều sở hữu nô lệ làm người giúp việc nhà và lao động chân tay, ngay cảnhững gia dình cũng có thể có một hay hai nô lệ Những người sở hữu không bao giờ đượcphép đánh đập hay giết hại nô lệ Những người sở hữu thường hứa sẽ trả tự do cho những nô
lệ trong tương lai để họ làm việc chăm chỉ hơn Không như ở La Mã, những người nô lệ đượctrả tự do không thể trở thành những công dân thành phố
Thay vào đó họ gia nhập vào thành phần các metic, bao gồm những người từ nước
ngoài hay những thành bang khác được cho phép sinh sống trong thành bang này Nhữngthành bang cũng được pháp luật cho phép sở hữu nô lệ Những nô lệ cộng đồng có sự độc lậplớn hơn so với những nô lệ do các gia đình sở hữu, tự kiếm sống và làm các công việc chuyên
Trang 8môn Trong Athena, những nô lệ cộng đồng được đào tạo để theo sõi việc làm ra tiền giả,trong khi những nô lệ tại các đền thờ thì làm việc như những kẻ phục dịch của vị thần trongđền.
Sparta có một dạng nô lệ đặc biệt gọi là helot Helot là những tù nhân của cuộc chiến
Hy Lạp do các thành bang sở hữu và đưa vào các gia đình He lot chuyên đi kiếm thực phẩm
và làm những công việc vặt nội trợ cho các gia đình, cho phép phụ nữ có thể tập trung nuôidạy con cái tốt hơn và nam giới có thời gian để huấn luyện thành lính hoplote Những ông chủcủa họ thường xuyên đối xử rất khắc nghiệt với họ nên rất hay có những cuộc nổi dậy
*Xung đột xã hội và chính trị:
Những thành phố Hy Lạp cổ ban đầu theo chế độ quân chủ, mặc dù rất nhiều thànhphố khá nhỏ và danh xưng “vua” (basileus) dành cho người đứng đầu những thành phố này làquá trang trọng Hy Lạp cổ đại không có nhiều đất canh tác và quyền lực nằm trong tay thiểu
số tầng lớp địa chủ, những người nảy hình thành nên một tầng lớp quý tộc chiến binh thườngxuyên gây chiến giữa các thành phố để giành đất và nhanh chóng chấm dứt chế độ quân chủ.Cũng khoảng thời gian này nổi lên một tầng lớp thương nhân (với sự xuất hiện của tiền xuvào khoảng 680 TCN) dẫn đến mâu thuẫn giai cấp tại các thành phố lớn Từ năm 650 TCNtrở đi, các tầng lớp quý tộc đánh nhau không để bị lật đổ và thay thế bởi những lãnh chúathường dân, gọi là tyranoi
Vào thế kỷ thứ VI TCN có một số thành phố đã nổi lên tại Hy Lạp cổ: Athena, Sparta,Corinth và Thebes Mỗi thành phố đó đều kiểm soát những vùng nông thô phụ cận và nhữngthành thị nhỏ quanh nó Athena và Corint cũng ganh đua nhau để chi phối nền chính trị HyLạp liên tục nhiều thế hệ
Tại Sparta, tầng lớp quý tộc sở hữu đất đai nắm quyền lực, và hiến pháp do Lycurgus(Sparta) đưa ra (vào khoảng 650 TCN) đã củng cố chặt chẽ quyền lực của tầng lớp này đồngthời đem lại cjp Sparta một chế độ quân phiệt dưới một nền quân chủ lưỡng chế Sparta chiphối các thành phố khác của bán đảo Peloponnesus, ngoại trừ Argus và Achaia
Tại Athena, ngược lại, chế độ quân chủ được bãi bỏ vào năm 683 TCN, và những cảicách của Solon đã lập nên một hệ thống chính phủ ôn hòa của tầng lớp quý tộc Tiếp sau đó ;àchính thể chuyên chế của Peisistratos với những người con trai của ông, những người này đãbiến Athena thành một trung tâm quyền lực mạnh về hàng hải và thương mại
Trang 9Câu 2: Nêu ảnh hưởng cụ thể của các yếu tố: vật liệu xây dựng - tính năng
kỹ thuật của vật liệu xây dựng đó lên kỹ thuật xây dựng (trình độ kết cấu kiến tạo) và thẩm mỹ lên 1 công trình kiến trúc thuộc nền kiến trúc ấy như thế nào?
-1 Giới thiệu về sự ra đời vật liệu xây dựng của công trình kiến trúc Hy Lạp cổ đại:
Sự đổi mới quan trọng nhất của đền đài Hy Lạp cổ đại được ghi nhận vào thời điểmthế kỷ VI TCN, khi vật liệu gỗ được thay thế bằng vật liệu đá Trước khi đền thờ Hy Lạp cổđại được hình thành bằng đá, trong một thời gian dài nó đã dùng kết cấu gỗ, cho nên dễ bịmục, mọt và dễ cháy Những viên ngói bằng đất sét nung có niên đại sử dụng và phát triểnvào thế kỷ VII TCN, đã góp phần bảo vệ kết cấu gỗ bên dưới và làm cho mái đền thoải hơn.Việc chuyển các bộ phận kiến trúc làm bằng gỗ sang làm bằng đá là một bước tiến đáng kểcủa nghệ thuật, tạo dựng không gian kiến trúc lúc bấy giờ của Hy Lạp nói riêng và nhân loạinói chung
Đá được khẳng định là vật liệu xây dựng chính của đền đài Hy Lạp cổ đại, song cùngvới kiểu dáng đền có hành lang cột bao quanh, cùng với sự phát triển của kết cấu cột, dầm,điềm mái, đã tạo nên bộ mặt truyền thống của kiến trúc đền đài Đến thế kỷ VI TCN, kiểucác xây dựng đã tương đối ổn đinh, kiểu cách này dựa trên một hệ thống cấu trúc gọi là thứccột Với ba loại thức cột - Doric, Ionic, Corinthian - đã khẳng định phong cách kiến trúc HyLạp cổ đại
Trang 102 Nêu ảnh hưởng cụ thể của yếu tố vật liệu xây dựng và tính năng kỹ thuật của vật liệu
xây dựng đó lên kỹ thuật xây dựng (trình độ kết cấu - kiến tạo) và thẩm mỹ lên một công trình kiến trúc thuộc nền kiến trúc ấy.
(*Đền thờ Parthenon (447 - 432 TCN) - thuộc nền kiến trúc Hy Lạp cổ đại.)
Đền thờ Parthenon khởi công xây dựng vào năm 447 TCN và hoàn thành vào năm 432 TCN
Kiến trúc còn lại của Đền thờ Parthenon qua nhiều thập kỉ
Trang 11Đền thờ Parthenon sử dụngvật liệu xây dựng chủ yếu là đá cẩm thạch (hay còn gọi
là marble) được coi như là đỉnh cao của nghệ thuật Hy Lạp cỏ đại - ca ngợi như là thành tựu
của kiến trúc Hy Lạp
Từ thời xa xưa,đá marble đã là vật liệu phổ biến ở các vùng đất Hy Lạp, một loại đá
rực rỡ, phát sáng lần đầu tiên được khai thác trong điêu khắc thời tiền sử vào Hậu thời kỳ đồ
đá mới (5300 - 4500 TCN) nhưng rõ ràng nhất là vào thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyêntrong Thời kỳ đồ đồng Aegean
Kết cấu và vật liệu xây dựng của Đền thờ Parthenon
Trang 12(tiền sảnh), Naos (gian thờ thần Athena),
Opictodom (phòng để châu báu),
Opisthodomos (hậu sảnh) Công trình được
xây theo lối kiến trúc cột Doric và kiểu
Peripteral với 46 cột lớn, mặt chính gồm 8
cột, mặt bên 17 cột
Thức cột Doric ra đời sớm nhất, từ
thế kỷ VII TCN, thức cột Doric do người
Doria sáng tạo ra, sau đó phát triển mạnh ở
Peloponnese, Nam Italia và Sicile, những
thành bang này lúc đó làm nông nghiệp,
triều cống quả thực cho quý tộc và người
thợ ở đây trong cảm hứng tự do sáng tạo có
bị hạn chế hơn những khu vực khác của Hy
Lạp cổ đại Vì vậy, thức cột Doric toát lên
vẻ mạnh chắc, nghiêm túc và suy tư
Thức cột Doric có cột đặt thẳng lên
bệ nhà (stylobate) của đền, lần lượt từ chân
cột lên đến mái có các thành phần sau đây: Cột Doric của Đền Parthenon
+ Thân cột (Fut) với 20 gờ đứng (Cannelure)làm nhấn mạnh chiều cao của thân cột.+ Đầu cột (Sappitro) gồm một tấm vuông(Abaque) phía trên và một mũ đỡ (Echine)cong lượn phía dưới
Trên các đầu cột có dầm ngang (Architrave)chạy phía trên, những dầm này dùng để liênkết các đầu cột lầm cho công trình trở thànhmột khung cứng, đồng thời dùng để đỡ mộtbăng ngang (Frisc) bên trên rất giàu trang trí,được cấu tạo xen kẽ bởi những hình chữnhật hơi nhô ra (Triglyphes) có khắc vẽ lạinhững rãnh cột và những mảnh vuông lùivào (Metope), những diện của Metope nàyhoặc được trang trí phù điêu hết sức côngphu hoặc để trơn đơn gỉản
Tiếp đến bên trên là một điềm ngangđưa ra khỏi mặt đứng (Corniche) và phầndiềm mái trêncùng hình tam giác đều(Fronton) với những hình điêu khắc lớn nổitiếng miêu tả chủ đề lịch sử
Trang 13Khi xây dựng Đền thờ Parthenon,người ta ghép các tảng đá vừa khít với nhaunhư thể là một mà không cần dùng chất kếtdính nào Đây là điểm đặc biệt nhất củacông trình nghệ thuật này Bên cạnh đó, cáckhối đá tạo nên công trình đều mang tínhduy nhất, không thể thay thế, không thểhoán đổi vị trí cho nhau Mỗi khối đá đều cóthông số kĩ thuật riêng, sao cho khi ghép lạichúng vừa khít, khoảng hở chỉ ở mức1/10mm.
Cột đá được dùng vào kiến trúc đềnđài trước tiên, ban đầu người ta đục cả khối
đá dài làm cột, sau đó để tiện cho thi công
và vận chuyển, cột được chia thành từngkhúc tròn, giữa các khúc tròn có sự liên kếtgiữa 2 khối vuông nhỏ và một thanh queđược làm bằng gỗ Theo thời gian, hầu hếtcác bộ phận khác của đền đài Hy Lạp đềuđược xây dựng bằng đá Ngay cả các bộphận đá làm phù điêu vẫn có thể có cách làmmàu sắc tươi tắn, rực rỡ Để được như vậyngười ta thực hiện những bước sau: trên mặt
đá quét một lớp bột đá cẩm thạch, sau đóquét tiếp một lớp sáp nóng có pha màu sắc
Trang 14
Để có những khối đá hình chữ nhậtvuông vắn như vậy, người Hy Lạp bắt đầubằng việc khai thác, vận chuyển đá từ các
mỏ đá ở núi Pentelicon và tiến hành đẽo gọthình dáng, cụ thể như sau:
Người ra sử dụng một hệ thống gồmnêm và đòn bẩy sắt, chày vồ và sức ngườinạy cả tảng đá ra khỏi tầng đá Nơi nào cóthể thì người ta tận dụng các kẽ nứt tự nhiên
để công tác nạy dời đá dễ dàng hơn Chènnêm vào trong các hốc ở rìa tảng đá muốnlấy, dùng chày vỗ búa mạnh lên nêm Cáckhúc đá nặng đến 5 - 10 tấn và mũ cột 8 - 9tần cần sử dụng các thanh trượt để kéo cáctảng đá khổng lồ ra khỏi khu mỏ đá Người
ta sử dụng xe bò và la để tải đá từ mỏ về đồiAcropolis
Trang 15Nếu không tạo dáng đá tại khu mỏ thì phải thực hiện công việc này ngay tại hiệntrường theo mục địch và vị trí sơ đồ tổng thể Kết quả, không hề có chuyện các tảng đá giốngnhau Những người thợ xây có tay nghề chỉ hoàn thiện mặt dưới của các đoạn ngắn lắp cột vàcác chi tiết khác trong phần đá xây dựng những mẩu lồi, những chỗ nhỏ nhô ra có tính toántrên tảng đá, dùng làm tay nắm khi di chuyển và nâng nhấc đá, khi đá vào đúng vị trí, người ta
sẽ gọt phần lồi này đi Sau đó những người thợ xây lại tiếp tục hoàn thiện Thế nhưng, phảihoàn tất mũ cột trước khi nhấc vào đúng vị trí
Cách người Hy Lạp đặt các khối Architrave (dầm chính) lên cột Doric
* Frieze ( Diềm mái )
Phần Frieze hay còn gọi là phần
diềm mái, được phân chia thành 2 loại: đan
xen giữa các tấm metope và các tấm triglyph.
Đền thờ Parthenon có khoảng 92
metope, các điêu khắc metope có niên đại
khoảng 446 - 440 TCN, thiết kế của chúng
được cho là do nhà điêu khắc Kalamis
Những phù điêu trên các tấm metope diễn tả
lại thắng lợi của người Hy Lạp, mang đậm ý
nghĩa biểu tượng về tôn giáo và chính trị
Theo các tài liệu ghi chép lại, các
metope về phía Đông của đền Parthenon,
miêu tả Gigantomachy (trận đánh thần thoại
giữa các vị thần trên đỉnh Olympus và các
người khổng lồ) Các metope phía Tây diễn
tả Amazonomachy (trận đánh thần thoại của
dân thành Athena chống lại người Amazon)
Các metope phía Nam miêu tả Thessalian
Centauromachy (trận đánh của người Lapith
được giúp bởi Theseus chống lại nhân mã,
một sinh vật nửa người nửa ngựa Trên mặt
phía Bắc của đền Parthenon có lẽ miêu tả
trận cướp phá Troia
Trang 16Một trong số metope ở hướng Đông
Một trong số metope ở hướng Tây
Một trong số metope ở hướng Nam
Một trong số metope ở hướng Bắc