1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Đánh giá kết quả tham gia các FTA của Việt Nam

21 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 103,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là thị trường xuất khẩu lớn thứ 5 và thị trường nhập khẩu lớn thứ 2, Hàn Quốc luôn là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam, chỉ sau Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản.. Kotra cho biết xuất

Trang 1

1 Đánh giá kết quả tham gia các FTA của Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, mở rộng tự do hóa thương mại, làn sóng ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đang trở nên mạnh mẽ trên khắp thế giới và trở thành một xu thế mới trong quan hệ kinh tế quốc tế Không nằm ngoài xu thế đó, trong những năm qua Việt Nam đã rất nỗ lực, tích cực tham gia ký kết nhiều Hiệp định FTA, mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế - xã hội Đến nay, Việt Nam đã chính thức tham gia, đã ký kết 10 FTA: bao gồm:

- 6 FTA ký kết với tư cách là thành viên ASEAN (gồm AFTA, 5 FTA giữa ASEAN và các đối tác: Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Úc và Niu Dilân).

- 4 FTA đàm phán với tư cách là một bên độc lập (gồm FTA với các đối tác: Chile, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh Kinh tế Á Âu).

- Vừa hoàn tất đàm phán 2 FTA (gồm FTA với Liên minh Châu Âu và Hiệp định Đối tác Chiến lược xuyên Thái Bình Dương - TPP)

- Đang tiếp tục đàm phán 3 FTA, gồm: FTA ASEAN– Hồng Kông (Trung Quốc), FTA với Khối thương mại tự do Châu Âu (EFTA), Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

Đặc biệt, từ giữa năm 2012, tiến trình đàm phán tham gia các Hiệp định FTA

đã được đẩy mạnh hơn Đến cuối năm 2014, Việt Nam và các đối tác đã kết thúc đàm phán 3 Hiệp định FTA song phương và đa phương: Hiệp định FTA Việt Nam với EU (EVFTA), với Hàn Quốc (VKFTA), với Liên minh Hải quan Nga - Belarus

- Kazakhstan (VCUFTA) Đây là dấu ấn rất quan trọng của Việt Nam trên con đường hội nhập ngày càng sâu hơn với kinh tế thế giới.

Đánh giá về kết quả tham gia một số FTA của Việt Nam như sau:

I.1 FTA ASEAN- Hàn Quốc

a Thương mại song phương

Trang 2

Là thị trường xuất khẩu lớn thứ 5 và thị trường nhập khẩu lớn thứ 2, Hàn Quốc luôn là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam, chỉ sau Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản Tốc độ tăng trưởng bình quân kim ngạch thương mại song phương Việt Nam-Hàn Quốc trong 10 năm qua (2001-2010) là rất cao, đạt trên 23% Trong 11 tháng năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu 2,7 tỷ USD hàng hóa sang thị trường Hàn quốc, chiếm 4,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, tăng 45,94% so với 11 tháng năm 2009.

Hiệp định giữa Hàn Quốc và các thành viên ASEAN bắt đầu có hiệu lực trong lĩnh vực thương mại hàng hóa năm 2007, dịch vụ và đầu tư năm 2009 ASEAN - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - bao gồm 10 nước: Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam Hàn Quốc xóa bỏ 70% các loại thuế nhập khẩu năm 2007 và hoàn tất cam kết cắt giảm thuế sớm trong năm 2010 cho 10 thành viên ASEAN, trong khi Việt Nam đặt mục tiêu hoàn tất cam kết cắt giảm thuế từ mức hiện hành 7- 20% xuống còn 5-0% vào năm 2018 Việc cắt giảm này sẽ có hiệu lực đối với ½ tổng số các dòng thuế vào năm 2015 Việt Nam có mức thâm hụt thương mại cao với Hàn Quốc Tuy nhiên, Việt Nam hy vọng rằng Hiệp định này sẽ mang lại FDI và sẽ góp phần làm giảm thâm hụt cũng như tăng cường xuất khẩu.

Thương mại giữa Hàn Quốc và Việt Nam nhảy vọt lên 9 tỷ USD năm 2009

từ mức 490 triệu USD năm 1992, trong khi tổng đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam đạt trên 11 tỷ USD tính đến tháng 10/2008 Đến cuối năm 2010, thương mại song phương dự kiến sẽ tăng trên 10 tỷ USD và lên đến 20 tỷ USD vào năm 2015 Sau khi có Hiệp định, giá trị trao đổi thương mại đã có bước nhảy vọt cả về xuất khẩu và nhập khẩu Theo thống kê của cơ quan hải quan, thương mại song phương đạt 4,2 tỷ USD năm 2005, 4,7 tỷ USD năm 2006, 6,6 tỷ USD năm 2007 và 9,9 tỷ USD năm 2008 bất kể những khó khăn phát sinh do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn

Trang 3

cầu (bảng 1) Năm 2009, tổng kim ngạch thương mại hai chiều giảm 8,5% xuống còn 9 tỷ USD do những tác động trực tiếp của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu.

Bảng 1: Thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Hàn Quốc 2004-2009 (triệu USD)

Việt Nam bị thâm hụt trong thương mại hàng hóa với Hàn Quốc lên tới 4,8

tỷ USD năm 2009, còn cao hơn tổng xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc trong suốt giai đoạn 2005-2008 Hàn Quốc là nước nhập khẩu đứng thứ 7 về hàng hóa của Việt Nam, tuy nhiên đồng thời là nước xuất khẩu thứ nhất sang Việt Nam Hàn Quốc là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam năm 2009 Năm 2009, gần 9.800 doanh nghiệp Việt Nam có doanh thu thương mại với Hàn Quốc

Theo thông kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch thương mại hai chiều lên tới 4.3 tỷ USD ngay từ đầu năm 2010 cho đến hết tháng 5, tăng 41,2% so với cùng kỳ năm 2009 Cụ thể, Việt Nam nhập 3,4 tỷ USD hàng hóa từ Hàn Quốc, chiếm tới 10,8% tổng giá trị nhập khẩu, trong khi xuất khẩu được 900 triệu USD sang Hàn Quốc, tăng 32,4% tính theo mức hàng năm và chiếm 3,6% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam 28 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc đạt gần 26% mức nhập khẩu từ Hàn Quốc năm 2009 Xuất khẩu của Việt Nam tăng 32,5% trong

7 tháng đầu năm 2010 trong khi mức tăng trưởng xuất khẩu bình quân của các

Trang 4

nước thành viên ASEAN khác chỉ khoảng 24% trong cùng thời kỳ Xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc tăng 16,3% năm 2009.

b Xu hướng và cơ cấu FDI của Hàn Quốc vào Việt Nam

Các công ty của Hàn Quốc đã đăng ký tới 20,15 tỷ USD cho hơn 2.200 dự

án trong giai đoạn từ năm 1988 đến tháng 7/2009.

Theo một báo cáo của KOTRA, hơn 1.000 doanh nghiệp Hàn Quốc hiện đang chủ động tìm kiếm cơ hội kinh doanh và đầu tư ở Việt Nam và tạo ra hơn 200.000 việc làm Hơn 500.000 người Hàn Quốc đang cư trú ở Việt Nam Chỉ riêng năm 2006 đã có khoảng 430.000 du khách Hàn Quốc tới Việt Nam Hai nước đang tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ thông tin và kỹ thuật cao Việt Nam mong muốn tăng cường hợp tác với Hàn Quốc trong các lĩnh vực chủ chốt như đóng tàu, luyện thép, hóa chất, ô tô, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng

Năm 2006, các công ty dệt may Hàn Quốc gia tăng mạnh đầu tư vào Việt Nam tới 53,7% so với năm trước Sự gia tăng này khiến Việt Nam trở thành điểm đến đầu tư lớn thứ hai của ngành dệt may Hàn Quốc, chỉ sau Trung Quốc Trong số

20 nhà xuất khẩu dệt may hàng đầu của Việt Nam, 6 công ty đến từ Hàn Quốc Sự gia tăng mạnh đầu tư vào ngành dệt may của Việt Nam có thể bởi các lý do chi phí lao động rẻ, đội ngũ lao động có tay nghề của Việt Nam, nhiều ưu đãi đối với đầu

tư nước ngoài và ý chí mạnh mẽ của chính phủ Việt Nam trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Năm 2008, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn thứ hai vào ngành dệt may của Việt Nam chỉ sau Đài Loan, với tổng mức đầu tư là 737 triệu USD Hàn Quốc là nước nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ 6 của Việt Nam trong năm

2008, với tổng doanh thu đạt 139 triệu USD Trong nửa đầu năm 2009, bất kể khủng hoảng kinh tế, nhập khẩu của Hàn Quốc từ Việt Nam lên tới 77 triệu USD, tăng 43% so với cùng kỳ năm trước.

Trang 5

AKFTA đã mang lại cơ hội cho Việt Nam xuất khẩu nhiều hơn linh kiện điện thoại,

gỗ dăm keo (wood chips) và các sản phẩm này cũng làm gia tăng đầu tư từ Hàn Quốc Kotra cho biết xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc về các mặt hàng này tăng tương ứng 98,6 và 600% từ tháng 1 đến tháng 7/2010 trong khi các mặt hàng truyền thống như thủy sản, giày dép và nông sản tăng ổn định Đến nay, hãng điện

tử khổng lồ Samsung của Hàn Quốc đã xuất khẩu 1 tỷ USD trị giá hàng hóa từ nhà máy sản xuất điện thoại di động của hãng đặt tại tỉnh Bắc Ninh có vốn đầu tư 670 triệu USD và đã bắt đầu hoạt động từ tháng 9/2009 Việt Nam được coi là đối tác tốt nhất của Hàn Quốc trong khu vực Đông Nam Á.

I.2. Hiệp định FTA Việt Nam – Chi Lê

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, 7 tháng đầu năm 2014, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Chi Lê đạt trên 250 triệu USD, tăng 102% so với cùng kỳ năm 2013 và kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Chi Lê đạt 203 triệu USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2013 Đây là lần đầu tiên Việt Nam vươn lên vị trí xuất siêu, chấm dứt một giai đoàn dài nhập siêu từ Chi Lê.

Bảng 1: Diễn biến xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Chi Lê năm 2007 đến 2013

Trang 6

Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam

Như vậy, Hiệp định FTA Việt Nam – Chi Lê có hiệu lực từ ngày 1/1/2014 đã tạo ra bước đột phá cho hàng hoá của Việt Nam thâm nhập không chỉ thị trường Chi Lê mà còn lan toả ra cả khu vực Mỹ Latinh cũng như hàng hoá Chi Lê thâm nhập thị trường Việt Nam và ASEAN.

Trước đây, dù chưa có hiệp định thương mại tự do, hàng hoá của Viêt Nam phải chịu thuế nhập khẩu vào Chi Lê (trung bình là 6%) và hàng hóa của Chi Lê nhập khẩu vào Việt Nam còn phải chịu thuế suất cao, song kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều giữa hai nước đã liên tục tăng trưởng, ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới trong mấy năm vừa qua, từ mức 157 triệu USD năm 2007 lên 473 triệu USD năm 2011 Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Chi Lê hiện nay chủ yếu là giày dép và quần áo, chiếm khoảng 63% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang chi Lê (số liệu năm 2011) Danh mục xuất khẩu của Việt Nam sang Chi Lê hiện có tới trên 40 mặt hàng Tuy nhiên, trừ giầy dép và quần áo ra, giá trị kim ngạch của các nhóm hàng khác còn rất nhỏ, chỉ từ vài nghìn đến trên trăm

Trang 7

nghìn USD/năm và chỉ chiếm 37% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Chi Lê.

Kim ngạch xuất khẩu của Chi Lê sang Việt Nam năm 2011 đạt 335,7 triệu USD, bằng 0,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của Chi Lê và 0,31% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam Các mặt hàng xuất khẩu chính của Chi Lê sang Việt Nam gồm: đồng và quặng đồng và các khoảng sản khác (chiếm gần 80%…% tổng kim ngạch xuất khẩu của Chi Lê sang Việt Nam); gỗ thông và bột giấy; bột cá; hoa quả tươi;

cá hồi; rượu vang Các mặt hàng xuất khẩu của Chi Lê vào thị trường Việt Nam tăng trung bình 37%/năm trong vòng 5 năm qua Riêng rượu vang của Chi Lê đã

có thị phần lớn thứ hai tại thị trường Việt Nam (sau rượu vang Pháp).

Cơ cấu kinh tế, xuất nhập khẩu của Việt Nam và Chi Lê có ít những mặt hàng cạnh tranh nhau, chủ yếu có tính bổ sung cho nhau Hiệp định thương mại tự

do Việt Nam -Chi Lê có hiệu lực chắc chắn sẽ tạo ra những cơ hội to lớn cho tăng trưởng thương mại giữa hai nước Các mặt hàng như giầy dép, quần áo, đồ gỗ, cà phê của Việt Nam cũng như cá hồi, nho, sê-ri, gỗ thông và bột giấy của Chi Lê được dự báo sẽ có cơ hội tăng kim ngạch do được giảm thuế nhập khẩu Ngoài ra, Việt Nam còn được kỳ vọng là cửa ngõ cho hàng hóa Chi Lê thâm nhập thị trường ASEAN và Chi Lê là cửa ngõ cho hàng Việt Nam vào Mỹ Latinh.

Đáng chú ý là các tập đoàn siêu thị lớn của Chi Lê như: Tập đoàn Cencosud, Felabella Tập đoàn Sodimac đang triển khai các dự án đầu tư hàng tỉ USD sang các nước Nam Mỹ khác (như: Achentia, Braxin, Côlômbia, Pêru, …) Thực tế, đã

có nhiều mặt hàng của Việt Nam theo chân các tập đoàn này để có mặt ở các nước Nam Mỹ khác (như mặt hàng: quần áo, giầy ép, đồ nhựa, hàng thủ công mỹ nghệ… ) Vì vậy, hoàn toàn có thể khẳng định, khi hàng hóa của Việt Nam đã khai

Trang 8

thông được thị trường Chi Lê thì sẽ có sức lan tỏa ra các nước khác của khu vực

Mỹ Latinh.

I.3. Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA)

Nhật Bản là một trong những thị trường lớn nhất thế giới và là thị trường thương mại quan trọng của Việt Nam Trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với các thị trường trên thế giới thì Nhật Bản chiếm tỷ trọng lên đến 10% Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) là hiệp định thương mại

tự do song phương đầu tiên kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, với các nội dung toàn diện về tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư , VJEPA mở ra những cơ hội mới cho hàng hóa Việt Nam vào thị trường Nhật Bản.

Về tổng thể, vào năm cuối của lộ trình giảm thuế (2026), tức là sau 16 năm thực hiện VJEPA, Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan đối với 90,64% số dòng thuế, trong đó xóa bỏ thuế quan ngay tại thời điểm VJEPA có hiệu lực đối với 29,14% số dòng thuế.

Theo nội dung FTA Việt Nam - Nhật Bản, thuế suất bình quân đối với hàng Việt Nam xuất khẩu vào Nhật Bản sẽ giảm dần xuống 2,8% vào năm 2018 Khi Hiệp định có hiệu lực, ít nhất 86% hàng nông - lâm - thủy sản và 97% hàng công nghiệp Việt Nam xuất sang Nhật Bản được hưởng ưu đãi thuế Đổi lại, thuế suất bình quân đối với hàng nhập khẩu từ Nhật Bản vào Việt Nam sẽ giảm dần, xuống còn 7% vào năm 2018 Các mặt hàng thủy sản, nông sản, dệt may, sắt thép, hóa chất, linh kiện điện tử có mức cam kết tự do hóa mạnh mẽ nhất Trong vòng 10 năm, theo thỏa thuận, Việt Nam và Nhật Bản cơ bản hoàn tất lộ trình giảm thuế để xây dựng một khu vực thương mại tự do song phương hoàn chỉnh Theo đó,

Trang 9

94,53%kimngạch xuất khẩu của ViệtNam và 87,6% kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản sẽ được miễn thuế nhập khẩu.

Việc xóa bỏ phần lớn hàng rào thuế quan đã và đang mở ra cơ hội lớn cho hàng Việt thâm nhập vào thị trường Nhật Bản, đồng thời cũng giúp các doanh nghiệp (DN) nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ sản xuất.

Trong giai đoạn 2008-2014, Nhật Bản xếp thứ 4 trong các thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam; trong đó, xếp thứ 2 về xuất khẩu và xếp thứ 3 về nhập khẩu Số liệu thống kê sơ bộ mới nhất của Tổng cục Hải quan , 8 tháng đầu năm

2015, tổng kim ngạch thương mại giữa 2 nước đạt gần 19 tỷ USD, giảm 21% so với cùng kỳ của năm 2014 Trong đó, tổng trị giá hàng hóa các công ty Việt Nam nhập khẩu hàng hóa xuất xứ từ Nhật Bản là 9,7 tỷ USD, tăng mạnh 22% so với năm 2014 và chiếm 9% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ Nhóm hàng máy móc, thiết bị và dụng cụ phụ tùng khác được nhập nhiều nhất trong 8 tháng năm 2015 với trị giá 3,2 tỷ USD tăng 39% so với cùng kỳ năm trước Bên cạnh đó, các nhóm mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu vào Việt Nam khá cao, chiếm hơn 33% tổng kim ngạch nhập khẩu vào Việt Nam của các mặt hàng có xuất xứ từ Nhật Bản.

Ở chiều ngược lại, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của các công ty Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong 8 tháng năm 2015 đạt gần 9,3 tỷ USD, giảm 6% so với cùng kỳ năm trước đó và chiếm 9% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Trong 8 tháng từ đầu năm 2015, Nhật Bản là thị trường tiêu thụ quan trọng đối với các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như: hàng dệt may (đạt 1,7

tỷ USD, tăng 6% so với năm 2014); dầu thô (đạt 489 triệu USD, giảm 62% so với năm 2014); hàng thủy sản đạt 650 triệu USD …

Trang 10

Nhìn chung, lợi ích của doanh nghiệp Việt Nam thu được từ việc thực hiện Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản về đối tác kinh tế (VJEPA) và FTA đã tham gia trong những năm qua chưa phản ánh được tiềm năng thương mại trong nước Nguyên nhân là tỷ lệ vận dụng các hiệp định thương mại FTA của các doanh nghiệp tại Việt Nam còn thấp, thường từ 25 – 36%.

I.4 Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA)

Trung Quốc hiện là thị trường xuất nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam Theo cam kết mở cửa của ACFTA, Việt Nam sẽ xóa bỏ thuế quan của 90% số dòng thuế trong vòng 10 năm Việt Nam được giữ lại 456 dòng thuế gồm những mặt hàng nhạy cảm và Trung Quốc có khả năng cạnh tranh rất cao như: trứng gia cầm, đường, thuốc lá, động cơ, phương tiện vận tải, xăng dầu, sắt thép, vật liệu xây dựng, một số mặt hàng liên quan đến an ninh quốc phòng Trong khi đó, Trung Quốc xóa bỏ thuế quan 95% số dòng thuế ngay từ năm 2011, số dòng thuế nhạy cảm còn lại cũng được cam kết cắt giảm về 5% đến 50% vào cuối lộ trình là năm 2018.

Hiện tại, Trung Quốc cắt giảm cho Việt Nam 7.845 dòng thuế, chiếm 95,35% tổng số dòng thuế và chiếm 91,59% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam Số dòng thuế còn lại sẽ được cắt giảm về 5% - 50% vào cuối năm 2018 Một số mặt hàng Trung Quốc vẫn duy trì thuế suất gồm ngũ cốc và các sản phẩm từ ngũ cốc,

cà phê, gia vị, xăng dầu, phân bón, nhựa nguyên liệu, vải may mặc, nguyên liệu dệt may, da giày, động cơ, máy móc thiết bị, ô tô, động cơ, bộ phận phụ tùng ô tô, đồ nội thất

Như vậy, xét về tổng quan, các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều lợi thế hơn khi xuất khẩu vào Trung Quốc Tuy nhiên dù có nhiều lợi thế hơn nhưng nhập siêu từ Trung Quốc mỗi năm một lớn.

Ngày đăng: 05/09/2022, 15:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w