1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề du nhập kiến thức và địa phương hóa kiến thức ngành công tác xã hội: Bài học kinh nghiệm từ một số nước đang phát triển

11 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 39,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề du nhập kiến thức và địa phương hóa kiến thức ngành công tác xã hội: Bài học kinh nghiệm từ một số nước đang phát triển Tóm tắt Lý thuyết và mô hình Công tác xã hội CTXH của phươn

Trang 1

Vấn đề du nhập kiến thức và địa phương hóa kiến thức ngành công tác xã hội: Bài học kinh nghiệm từ một số nước đang phát triển

Tóm tắt

Lý thuyết và mô hình Công tác xã hội (CTXH) của phương Tây có ảnh hưởng mạnh

mẽ tới lĩnh vực CTXH của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Bài viết này muốn nhấn mạnh sự cần thiết của việc địa phương hóa các kiến thức CTXH phương Tây cho phù hợp với bối cảnh văn hóa, xã hội của nước bản địa Cụ thể, chúng tôi sẽ trao đổi về sự chiếm lĩnh của kiến thức CTXH phương Tây và quá trình du nhập kiến thức CTXH của các nước đang phát triển; cách thức mà một số nước đang phát triển đã thực hiện để địa phương hóa kiến thức phương Tây cho phù hợp với ngành CTXH tại quốc gia họ Một vài trao đổi, đề xuất cho việc phát triển CTXH tại Việt Nam bao gồm: (1) khuyến khích việc biên soạn các tài liệu, giáo trình bằng tiếng Việt và xuất bản các bài báo, nghiên cứu trong lĩnh vực CTXH; (2) thúc đẩy hơn nữa các nghiên cứu thực địa cũng như tăng cường các tranh luận, phê bình, phản biện chuyên môn; (3) hình thành một tạp chí chuyên ngành CTXH của Việt Nam; và (4) tập trung vào CTXH nông thôn và Phát triển cộng đồng

Western social work has a deep effect on the development of social work in developing countries, including Vietnam This paper intends to raise an awareness of indigenization of social work in developing countries in order to make imported knowledge fit local contexts In particular, we will discuss the dominance of western social work over the emerging social work at indigenous countries Then, we examine the responses of developing countries regarding indigenization of social work Finally, we introduce some sugessions for the development of social work in Vietnam, including: (1) accelerate the writing of local textbooks, teaching materials and publishing; (2) encourage more research in social work education and practice; (3) develop a local scholarly journal; and (4) focus on rural social work and community development

Giới thiệu

Công tác xã hội (CTXH) đã có lịch sử phát triển lâu đời, bắt đầu từ khoảng cuối thế kỷ 19, tại các nước phương Tây để giải quyết các vấn nạn xã hội phát sinh như là những hệ quả của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa tại các nước này (Gray và Coates, 2010; Walton và Abo El Nasr, 1988) Ở Việt Nam, ngành CTXH được coi là một ngành mới phát triển sau này (mãi tới năm 2004 CTXH mới chính thức được công nhận là một ngành đào tạo1 và năm 2010 CTXH mới được công nhận

là một nghề2) Không riêng gì ở Việt Nam, nhiều nước đang phát triển khác ở Châu Á, Châu Phi hay Nam Mỹ cũng mới phát triển ngành CTXH vào khoảng những năm 1950-1960 (Trần Văn Khảm, 2011; Gray và Coates, 2010) Một thực trạng chung của ngành CTXH tại các nước đang phát triển đó là vì ra đời sau, các ngành CTXH mới nổi, còn non trẻ này không tránh khỏi việc phải du nhập, sao chép kiến thức, mô hình

và kinh nghiệm đào tạo cũng như thực hành CTXH tại các nước đi trước ở phương

1 Ngày 11/10/2004 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quyết định ban hành mã ngành (QĐ số 35/2004/BGDĐT) công nhận ngành CTXH là một ngành đào tạo bậc đại học.

2 Ngày 25/8/2010 Bộ Nội Vụ đã ban hành mã nghề CTXH (Thông tư số 08/2010/TT-BNV)

Trang 2

Tây, đặc biệt là từ Mỹ (Gray, 2010; Gray và Coastes, 2010; Tsui và Yan, 2010; Walton và Abo El Nasr, 1988; Trần Đình Tuấn, 2009) Việc các nước đang phát triển

du nhập kiến thức khoa học từ các nước phát triển hơn cũng là điều tất yếu, dễ hiểu xảy ra không chỉ đối với lĩnh vực CTXH mà còn với nhiều lĩnh vực, ngành nghề khoa học khác Tuy vậy, theo nghiên cứu của nhiều học giả như Gray (2010), Tsui và Yan (2010), Yip (2005), Hwedie (1993), Walton và Abo El Nasr (1988), Midgley (1983) cho thấy việc sao chép, áp dụng những kiến thức, lý thuyết và mô hình CTXH của phương Tây một các rập khuôn vào tình hình thực tế địa phương của các nước đang phát triển đã bộc lộ nhiều thiếu sót, bất cập; từ đó đòi hỏi phải địa phương hóa, bản địa hóa những kiến thức phương Tây cho phù hợp với bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị của nước bản địa

Khái niệm địa phương hóa (indigenization) lần đầu tiên được sử dụng trong báo cáo của Liên Hiệp Quốc năm 1971 về cuộc khảo sát quốc tế mà nó phản ánh sự không phù hợp của các lý thuyết CTXH của Mỹ khi áp dụng vào các nước khác Từ

đó thuật ngữ “địa phương hóa” được các nhà CTXH tại các nước đang phát triển sử dụng phổ biến trong các bài báo, tạp chí hay hội thảo chuyên ngành (Walton và Abo

El Nasr, 1988) Midgley (1983, p.170) đã đưa ra định nghĩa về địa phương hóa trong

lĩnh vực CTXH như sau: “CTXH chuyên nghiệp là phải phù hợp với nhu cầu tại từng

quốc gia khác nhau và việc đào tạo công tác xã hội phải phù hợp và đáp ứng các nhu cầu của công tác xã hội thực hành trong thực tế” Nói cách khác, địa phương hóa

được hiểu là quá trình các nước đang phát triển khi du nhập kiến thức CTXH từ các nước phát triển cần có những điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp với bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị cũng như đáp ứng được các nhu cầu về CTXH của nước bản địa (Walton và Abo El Nasr, 1988; Gray, 2010) Địa phương hóa đòi hỏi một sự nhạy bén và ý thức về văn hóa và bối cảnh của địa phương khi giới thiệu hay áp dụng các lý thuyết, mô hình CTXH của các nước khác vào địa phương

Yunong và Xiong (2008) đã tranh luận rằng việc coi trọng văn hóa bản xứ và xem xét tính tương thích, phù hợp khi áp dụng các kiến thức, lý thuyết vào mỗi trường hợp cụ thể là yêu cầu tất yếu và là nguyên tắc hành động của CTXH Vậy có cần thiết phải nêu lên và đề cao “lý thuyết địa phương hóa” này hay không? Hay đó chỉ là một luận điểm dư thừa và không có giá trị xây dựng? Lập luận của Yunong và Xiong (2008) về mặt lý thuyết hoàn toàn lôgic và hợp lý Tuy vậy, vấn đề cần quan tâm ở đây là thực tế đã chứng minh nhiều nước với ngành CTXH non trẻ đã bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các lý thuyết, giá trị, nguyên tắc của CTXH phương Tây (Gray, 2010; Midgley, 1983) Ví dụ, Zhanghua và Liqun (2013) đã phản ánh tình trạng phổ biến

của việc mà họ gọi là “using as is” tại Trung Quốc, đó là việc sử dụng nguyên bản các

lý thuyết, giáo trình, mô hình can thiệp của CTXH phương Tây mà không có sự điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh Trung Quốc Điều này một phần vì sự chiếm lĩnh quá mạnh mẽ, sâu sắc của kiến thức phương Tây, đặc biệt là của Mỹ đối với các nước đang phát triển, “phương Tây là chuẩn mực”, hay thái độ “sính ngoại” và tin vào những giá trị, niềm tin có tính phổ chúng, toàn cầu, đúng với mọi dân tộc (universal values and belief) (Gray và Coates, 2010)

Như vậy, mặc dù nhận thức về sự phù hợp văn hóa, môi trường bản địa là một yêu cầu trong CTXH chuyên nghiệp nhưng thực tế nhiều nhà giáo dục và thực hành

Trang 3

CTXH ở các nước đang phát triển trong quá trình du nhập kiến thức phương Tây đã không ý thức đầy đủ hay không băn khoăn liệu những lý thuyết, giá trị, triết lý, mô hình hay giáo trình CTXH phương Tây có phù hợp, hiệu quả khi áp dụng vào lĩnh vực CTXH tại địa phương? Liệu những kiến thức CTXH ở phương Tây có giúp giải quyết các vấn đề, nhu cầu xã hội cụ thể tại quốc gia họ hay không? Một cách vô ý hay cố ý các nhà CTXH đã thiếu đi những nghiên cứu, sáng tạo ra những lý thuyết, mô hình CTXH xuất phát từ chính bối cảnh văn hóa, xã hội của địa phương Phải nói rằng thực trạng này là điểm chung của nhiều ngành CTXH mới phát triển, trong đó có Việt Nam Đối với các nước này, việc xây dựng và hoàn thiện một ngành CTXH chuyên nghiệp phù hợp, hiệu quả dựa trên bối cảnh văn hóa xã hội của dân tộc là một đòi hỏi nhưng cũng là một thách thức Hơn nữa, khi địa phương hóa kiến thức phương Tây, các nước này cũng gặp khó khăn trong việc trả lời cho câu hỏi “Bằng cách nào và ở mức độ nào các kiến thức phương Tây nên được áp dụng vào ngành CTXH địa phương?” (Yip, 2005) Các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Hồng Kông, Israel, Ai Cập đã trải qua quá trình du nhập và địa phương hóa các kiến thức phương Tây cho phù hợp với quốc gia họ (Yip 2005; Yinchao, 1995; Zhanghua và Liqun, 2013; Nagpaul, 1993; Walton và Abo El Nasr, 1988) Việt Nam cũng là một nước đang phát triển với ngành CTXH non trẻ và có nhiều điểm tương đồng với các quốc gia này (Tsui và Yan, 2010) nên việc học hỏi kinh nghiệm xây dựng và phát triển ngành CTXH từ họ sẽ cho chúng ta những bài học hữu ích đối với sự phát triển ngành CTXH

ở Việt Nam

Trong nội dung bài viết này, chúng tôi muốn trao đổi về sự chiếm lĩnh của kiến thức CTXH phương Tây và quá trình du nhập kiến thức CTXH của các nước đang phát triển Cách thức mà một số nước đang phát triển đã thực hiện để địa phương hóa kiến thức phương Tây cho phù hợp với ngành CTXH tại quốc gia họ cũng sẽ được bàn luận và cuối cùng là một vài trao đổi, đề xuất cho việc đào tạo ngành CTXH tại Việt Nam

Sự chiếm lĩnh của kiến thức CTXH phương Tây đối với các nước đang phát triển

Mặc dù khác nhau về thời điểm manh nha, về bối cảnh chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội mà từ đó CTXH được xây dựng nên, tuy nhiên, dù ở đâu, CTXH vẫn mang đậm tính nhân văn với mục đích chính là thúc đẩy quyền con người và công bằng xã hội Cho đến nay, người ta chưa bao giờ phủ nhận vai trò của CTXH trong việc giải quyết các vấn đề mà mỗi quốc gia phải đối mặt, những chuyển động tích cực

mà nó tạo ra đối với đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng động, cả ở các quốc gia phát triển và đang phát triển Tuy nhiên, sự du nhập một cách ồ ạt và khá rập khuôn đã tạo nên tình trạng kiến thức CTXH phương Tây có xu hướng thống trị đối với các nền CTXH đi sau và nó đã tạo ra những khó khăn cho các nhân viên xã hội bản địa trong việc áp dụng các kiến thức này (Nagpaul, 1993; Rankopo và Hwedie, 2011; Zhanghua

và Liqun, 2013)

Hầu hết sách về công tác xã hội đang được sử dụng tại các nước đang phát triển đều là sách của Mỹ, và có rất ít tài liệu giảng dạy bản địa (Brigham, 1982; Zhanghua

và Liqun, 2013; Nagpaul, 1993) Một số ít sách xuất bản trong nước cũng được viết dựa trên việc tổng hợp từ sách nước ngoài, không xuất phát từ kết quả nghiên cứu và thực hành CTXH trong nước, ít tập trung vào phân tích vấn đề, bối cảnh, nền tảng

Trang 4

riêng của quốc gia và nhìn chung ít được đánh giá cao, ít được sử dụng như tài liệu chính Thậm chí, các học giả ở những nước đang phát triển sao chép cả phương pháp khoa học phương Tây mặc cho các yếu tố văn hóa bản địa không thể hòa hợp (Sin,

2008, được trích trong Gray và Coates, 2010), hay việc đặt tên và thiết kế nội dung các khóa học cũng chịu ảnh hưởng của phương Tây (Hwedie và Rankopo, 2011) Tính phù hợp không chỉ là yếu tố duy nhất cần được xem xét với các tài liệu giảng dạy này mà khả năng tiếp cận cũng trở thành vấn đề lớn giảng viên, sinh viên và người thực hành CTXH phải đối mặt Trong khi một số quốc gia đang phát triển sử dụng tiếng Anh, thì một số quốc gia khác chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ Số lượng giảng viên, sinh viên và nhân viên xã hội có đủ trình độ tiếng Anh để hiểu được nội dung trình bày trong các tài liệu này rất ít Tình trạng chung tại các trường đào tạo CTXH tại Việt Nam hiện nay, giảng viên phải dành khá nhiều thời gian cho việc dịch một số nội dung trong các sách nước ngoài dùng làm tài liệu giảng dạy, và đó gần như trở thành nguồn tài liệu chủ yếu mà sinh viên tiếp cận được vì: (1) sách Việt Nam ít; (2) sinh viên không đủ khả năng tiếng Anh để đọc sách nước ngoài; (3) sách nước ngoài

có giá rất cao

Ngoài sách, chương trình đào tạo ở cả bậc học cử nhân và thạc sỹ hầu hết được vay mượn và chịu ảnh hưởng từ phương Tây, chủ yếu là Mỹ (Brigham, 1982; Zhanghua và Liqun, 2013) Dĩ nhiên, các chương trình đào tạo này được xây dựng trên nền tảng chính trị - kinh tế - văn hóa – xã hội phương Tây, và nó phù hợp với phương Tây hơn là các nước đang phát triển Vì thế, chương trình đào tạo (chỉ tính các học phần chuyên ngành) giữa các trường, thậm chí giữa các nước thường có nhiều điểm giống nhau, không tạo ra được bản sắc riêng gắn liền với bối cảnh và nhu cầu địa phương

Thống kê của Nagpaul (1993) cho biết đã có hàng ngàn nhân viên xã hội từ các nước khác nhau được đào tạo tại Mỹ, họ đã mang theo triết lý, khái niệm, nguyên tắc, phương pháp và cả các hiểu biết về vấn đề của xã hội Mỹ trở về giảng dạy tại các nước đang phát triển Trong quá trình học, họ không được cung cấp các đào tạo và kinh nghiệm để có thể sử dụng kiến thức trong các xã hội ở các mức độ phát triển khác nhau Các học giả Hoa Kỳ và các trung tâm nghiên cứu của các trường CTXH cũng chưa từng thực hiện nghiên cứu nào về việc áp dụng triết lý, khái niệm, nguyên tắc và phương pháp CTXH Hoa Kỳ vào xã hội Châu Á (Gray và Coates, 2010) Điều này tạo nên một thực tế là các giảng viên và nhân viên CTXH này có rất nhiều kiến thức nhưng lại ít kinh nghiệm về bối cảnh và đối tượng mà họ sẽ áp dụng kiến thức

Thực tế đáng buồn của đào tạo CTXH tại các nước đang phát triển là “Sinh viên được

đào tạo để áp dụng các mục đích của CTXH theo cùng một cách với các sinh viên ở các nước phương Tây – họ nghiên cứu cùng những cuốn sách, đọc cùng các tạp chí

và được dạy cùng những lý thuyết và phương pháp Họ tìm việc làm trong các tổ chức phúc lợi công cộng và từ thiện, nơi nỗ lực giải quyết với các vấn đề xã hội theo cùng một cách như các tổ chức phúc lợi phương Tây” (Walton và Abo El Nasr, 1988,

p.137)

Trong khi đó, ngay tại các nước phương Tây như Mỹ, Anh, Canada, Úc hay New Zealand đã và đang hình thành những phê phán đối với việc đào tạo và thực hành CTXH mà ở đó quá chú trọng đến CTXH với cá nhân và thiếu sự quan tâm đến các

Trang 5

chương trình can thiệp cộng đồng (Harlow, et al., 2012; Preston, et al., 2014) Như đã

đề cập ở trên, CTXH ở các nước phương Tây chủ yếu tập trung vào công tác xã hội lâm sàng, trị liệu (clinical social work) đối với các cá nhân (caseworks) và chú trọng đến các lĩnh vực như: sức khỏe tâm thần; chăm sóc sức khỏe; vấn đề nghiện rượu, chất kích thích; trẻ em; người già Việc quá chú trọng vào những can thiệp ở mức độ

vi mô và chỉ tập trung vào một số lĩnh vực chuyên biệt đã khiến CTXH ở các nước này bị phân khúc và dành ít sự quan tâm, đầu tư cho phát triển cộng đồng cũng như việc tạo ra những thay đổi, chuyển biến xã hội ở tầm vĩ mô (Harlow, et al., 2012; Preston, et al., 2014)

Các dịch vụ an sinh xã hội ở các nước phương Tây này được thực hiện chủ yếu bởi lực lượng tư nhân và các tổ chức phi lợi nhuận Vai trò của chính phủ chủ yếu là điều phối, cung cấp ngân khoản tài trợ, và lập chính sách Đây có thể coi là một điểm tích cực của hệ thống an sinh xã hội ở phương Tây khi mà huy động được trách nhiệm

xã hội và xã hội hóa các dịch vụ xã hội Tuy vậy, việc tư nhân hóa đối với các nhà cung cấp dịch vụ xã hội cũng nhận được nhiều chỉ trích về những mặt trái của nó Cụ thể, tư nhân hóa đã dẫn đến việc chạy theo thị trường và năng xuất trở thành giá trị được coi trọng đối với các nhà cung cấp dịch vụ hơn là yếu tố phát triển và lợi ích thực sự của thân chủ Nói cách khác, số lượng các thân chủ mà họ làm việc với quan trọng hơn chất lượng hay sự thay đổi thực sự của thân chủ; các vấn đề xã hội mà khiến các tổ chức phi lợi nhuận và các đơn vị đào tạo, nghiên cứu thu hút được nhiều nguồn tài trợ (tức có giá trị thị trường) ví dụ như CTXH về sức khỏe tâm thần hay CTXH với nghiện chất kích thích, người già sẽ được chú trọng, đầu tư (Harlow, et al., 2012; Preston, et al., 2014) Abramovitz(2012) cho rằng điều này dẫn đến việc không đảm bảo giá trị công bằng xã hội, một mục đích cốt lõi của lĩnh vực CTXH

Quá trình địa phương hóa kiến thức CTXH tại các nước đang phát triển

Các nước đang phát triển cần nhận thức về sự thống trị của kiến thức phương Tây và tự thoát ra khỏi những giả định và định kiến văn hóa trong các lý thuyết và mô hình thực hành đầu tiên trên thế giới (Gray và Fook, 2004, được trích trong Gray và Coates, 2010) Thứ nhất, như đã đề cập ở trên, bản thân kiến thức CTXH phương Tây cũng có những hạn chế, và có nhiều cuộc tranh luận gay gắt vẫn tiếp diễn về triết lý, cách tiếp cận, phương pháp của nó, vì vậy, với vai trò là người kế thừa, các nước phát triển cần có tư duy phê phán để đánh giá giá trị của những kiến thức mình tiếp cận Thứ hai, vì mỗi quốc gia có những đặc điểm riêng, không chỉ về văn hóa, mà trên tất

cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội – nó đòi hỏi sự lựa chọn và sáng tạo trong quá trình du nhập kiến thức để có thể đạt được hiệu quả thực hành

Theo Yang (2005), kiến thức công tác xã hội nên phát sinh từ bên trong các nền văn hóa, phản ánh hành vi và tập quán địa phương, được diễn giải trong bối cảnh địa phương và cần tập trung vào các khía cạnh có liên quan về mặt văn hóa và bối cảnh cụ thể của vấn đề Do đó sự phát triển của kiến thức bản địa là phản xạ và đòi hỏi các nhà nghiên cứu và nhân viên xã hội - tích hợp phản ánh của họ về các nền văn hóa địa phương, xã hội và lịch sử thành công việc của họ (Gray và Coates, 2010)

Việc địa phương hóa kiến thức giúp chuẩn bị cho nhân viên xã hội các kiến thức

về đặc trưng văn hóa, hình thành sự nhạy cảm văn hóa để có thể hội nhập, thích nghi

Trang 6

vào cộng đồng, thiết lập và duy trì các mối quan hệ tốt đẹp, tin tưởng với thân chủ Nó giúp nhân viên xã hội (NVXH) đánh giá được trong bối cảnh văn hóa đó, những giá trị nghề nghiệp nào sẽ được người dân chấp nhận, hoặc lý giải những phản ứng của người dân trong quá trình tiếp nhận dịch vụ để từ đó phát triển các kế hoạch phù hợp

và hiệu quả Ví dụ như các nguyên tắc “tự quyết” và “tự lực” rất khó để áp dụng đối với các thân chủ sống trong các nền văn hóa phương Đông vì các thân chủ và gia đình của họ thường mong đợi NVXH sẽ đưa ra các lời khuyên giúp họ giải quyết vấn đề

Và NVXH, mặc dù được dạy rằng đưa lời khuyên là không được phép, vẫn có sự thỏa hiệp trước các nhu cầu của thân chủ (Nimmagadda và Cowger, 1999; Trần Đình Tuấn, 2009)

Như vậy, vấn đề đặt ra cho các nhà thực hành và nghiên cứu CTXH tại các nước đang phát triển là cần đánh giá được liệu các kiến thức CTXH phương Tây sẽ hoạt động như thế nào trong bối cảnh văn hóa đặc thù của dân tộc mình, giữ lại, chỉnh sửa hoặc phát triển các triết lý, khái niệm, lý thuyết, phương pháp để đáp ứng nhu cầu của người dân trong bối cảnh cụ thể đó

Hơn nữa, vấn đề hiện nay của các nước đang phát triển là nghèo đói, tệ nạn xã hội, thất nghiệp,…đòi hỏi CTXH tập trung vào thay đổi và phát triển xã hội Nó đối lập với trọng tâm của CTXH phương Tây là tập trung vào CTXH cá nhân và CTXH trị liệu với các vấn đề về nghiện chất kích thích, sức khỏe tâm thần, lạm dung trẻ em, v.v (Walton và Abo EL Nars, 1988).CTXH tại các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, trong giai đoạn này cần tập trung vào các phương pháp can thiệp

vĩ mô để có thể đáp ứng được nhu cầu xã hội, tận dụng được nguồn lực, tăng cơ hội tiếp cận cho người dân và tăng hiệu quả giải quyết vấn đề Vì thế, chương trình đào tạo và các dịch vụ CTXH cần xác định lại trọng tâm của mình trong giai đoạn hiện nay

Quan điểm và định hướng phát triển của Nhà nước nói chung và các chính sách phát triển hệ thống An sinh xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển CTXH cảtrong đào tạo và thưc hành Khác với các nước phương Tây, dịch vụ xã hội được cung cấp chủ yếu bởi thành phần tư nhân, tại các nước đang phát triển, nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức mô hình và cung cấp ngân sách cho các hoạt động an sinh, phúc lợi Vì thế, nhà nước định hướng nhiệm vụ và cung cấp nguồn lực cho phát triển CTXH, và hoạt động CTXH cần phù hợp với những định hướng này để cùng Nhà nước thúc đẩy phát triển xã hội Mặt khác, có nhiều khái niệm cốt lõi của CTXH phương Tây như công bằng, quyền con người, bình đẳng…khi đưa vào các quốc gia với hệ tư tưởng chính trị khác nhau cần được định nghĩa lại cho phù hợp Ngoài ra, ở đây, cũng cần thấy rằng mức độ phát triển nghề CTXH, sự thừa nhận của xã hội, nhận thức của người dân về nghề tạo ra một bối cảnh cho NVXH thực hành và xác định nhiệm vụ phát triển của nghề vào từng giai đoạn Ở các nước đang phát triển, khi du nhập CTXH vào, cần một thời gian khá dài để nhà nước hiểu được bản chất, vai trò của CTXH đối với sự phát triển xã hội, từ đó xây dựng chính sách phù hợp Tương tự, người dân cũng cần thời gian và thông tin để đón nhận CTXH Để đạt được điều này, các học giả và NVXH cần nỗ lực địa phương hóa kiến thức CTXH

để nó phù hợp với văn hóa, hệ tư tưởng chính trị và đáp ứng nhu cầu của người dân (Gray và Coates, 2010)

Trang 7

Một số giải pháp địa phương hóa ngành CTXH tại các nước đang phát triển

Nếu quá trình du nhập kiến thức CTXH phương Tây vào các nước đang phát triển là tất yếu, thì địa phương hóa là giai đoạn nhất thiết phải trải qua để hoàn thiện CTXH Cho đến nay, địa phương hóa vẫn đang tiếp tục ở nhiều nước khác nhau, trong

cả thực hành và đào tạo

Atal (1981, p.93) đề xuất 4 giải pháp: (1) giảng dạy bằng ngôn ngữ quốc gia và

sử dụng tài liệu địa phương thông qua các nguồn cung ứng, (2) thực hiện các nghiên cứu bởi các học giả cư trú tại địa phương, (3) xác định các ưu tiên nghiên cứu, (4) thay đổi quan điểm về lý thuyết và phương pháp để “thanh lọc” các học giả khỏi ảnh hưởng của các khuynh hướng và lối tư duy phương Tây (được trích trong Ugiagbe, 2014)

Chan (2005) xác định 3 mô hình: (1) Mô hình xuyên quốc gia – phê phán việc ứng dụng mù quáng các khái niệm và lý thuyết phương Tây để từ đó giảm yếu tố Tây phương và nhấn mạnh các nghiên cứu bản địa của các học giả bản địa; (2) Mô hình lý thuyết –tập trung vào phê bình văn hóa xã hội và phê phán sự thống trị của chủ nghĩa thực nghiệm trong khoa học xã hội phương Tây; (3) Mô hình cơ sở- nhấn mạnh tầm quan trọng của các nghiên cứu thực địa và đòi hỏi các học giả phát triển các vấn đề nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu gắn liền với xã hội bản địa (Ugiagbe, 2014)

Còn theo Walton và Abo El Nars (1988) nghiên cứu và tổng hợp tài liệu, các nước đang phát triển cần: (1)Thực hành CTXH cần tập trung vào các vấn đề xã hội cụ thể của quốc gia, và làm việc dựa trên các giá trị của quốc gia; (2) Lựa chọn những ý tưởng mà có thể điều chỉnh được cho phù hợp với môi trường mà ở đó nó được ứng dụng; (3) Không giới thiệu các dịch vụ, mô hình mới vào các nước đang phát triển mà thiếu sự thử nghiệm và xem xét cẩn thận; (4) Điều chỉnh CTXH nhóm và phương pháp tổ chức cộng đồng nhằm hỗ trợ các mục tiêu phát triển quốc gia

Theo kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc địa phương hóa hoạt động đào tạo CTXH, lý thuyết giảng dạy nên thay đổi dựa trên các loại hình tổ chức; cấu trúc chương trình giảng dạy cần tích hợp các khóa học lý thuyết chung về địa phương hóa

và áp dụng thực tế lý thuyết; việc dạy học phải tập trung vào phát triển xã hội và nhu cầu xã hội, giáo viên hướng dẫn phải hiểu biết về xã hội, kinh tế và văn hóa địa phương và xem xét lựa chọn mục tiêu đào tạo phù hợp với các giai đoạn phát triển xã hội khác nhau, sử dụng phương pháp dạy học cụ thể dựa trên cuộc sống và văn hóa của sinh viên; tích hợp yếu tố địa phương hóa trong các đợt thực tập thực tế Trung Quốc cũng thúc đẩy nhanh việc biên soạn các giáo trình, tài liệu giảng dạy và phát triển những tạp chí chuyên ngành để đăng tải các nghiên cứu bản địa Mục đích của quá trình địa phương hóa kiến thức CTXH tại Trung Quốc là tạo ra các lý thuyết mới

để bổ sung và trở thành một thành phần hữu cơ của ngành CTXH (Zhanghua và Liqun, 2013)

Như vậy, xuyên suốt các giải pháp đã/đang thực hiện và được đề xuất, nhận thức

về sự thống trị của kiến thức phương Tây và sự cần thiết phải địa phương hóa là điều đầu tiên cần được chú trọng (Gray và Coates, 2010; Yunong và Xiong, 2008) Sau đó, quá trình địa phương hóa cần được tiến hành với hoạt động đào tạo CTXH thông qua việc xây dựng tài liệu giảng dạy và thực hiện các nghiên cứu bản địa, phát triển chương trình đào tạo đáp ứng các vấn đề xã hội địa phương Thực hành CTXH cần là một quá trình linh hoạt và sáng tạo của NVXH để ý thức về sự phù hợp của các kiến thức mình đang áp dụng với văn hóa, các đặc điểm xã hội, sự phát triển hệ thống an

Trang 8

sinh, và các khía cạnh liên quan đến thân chủ như nhu cầu, niềm tin, giá trị, v.v Toàn

bộ các quá trình trên hướng đến mục đích cuối cùng là CTXH các nước đang phát triển tự xây dựng các lý thuyết của chính địa phương mình đáp ứng đòi hỏi riêng và

bổ sung vào hệ thống lý thuyết ngành CTXH trên thế thới

Bài học kinh nghiệm và kiến nghị cho ngành CTXH Việt Nam

Muốn xây dựng và phát triển một ngành CTXH chuyên nghiệp phù hợp, hiệu quả và phản ánh được bản sắc, bối cảnh địa phương cũng như đáp ứng được các vấn

đề xã hội của địa phương, góp phần vào hệ thống an sinh xã hội quốc gia thì ngành CTXH phải được đặt trên nền móng bản địa (Gray và Coates, 2010; Trần Đình Tuấn, 2009) Nhiều nước trong quá trình xây dựng ngành CTXH đã nhận thức được vấn đề này và đã có những bước đi cụ thể để địa phương hóa ngành CTXH, đối với ngành CTXH của Việt Nam hiện nay, chúng tôi xin trao đổi một vài đề xuất như sau:

1 Cần khuyến khích biên soạn các giáo trình, tài liệu giảng dạy CTXH; xuất bản các bài viết chuyên ngành dựa trên những nghiên cứu và việc thực hành CTXH trong thực tế

Giống như các nước có nền CTXH mới phát triển, một thực trạng của ngành CTXH ở Việt Nam là thiếu nguồn tài liệu tham khảo chuyên môn bằng tiếng Việt, hoặc nếu có thì đa phần các tài liệu này cũng chủ yếu dịch thuật lại hoặc dựa vào các giáo trình tiếng Anh mà thiếu sự điều chỉnh cho phù với với bối cảnh Việt Nam Sựkhiêm tốn về số lượng và chất lượng các bài báo chuyên ngành được xuất bản cũng làm hạn chế sự đa dạng của nguồn tài liệu tham khảo Ai cũng biết, giáo trình giảng dạy và tài liệu tham khảo là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc đào tạo và phát triển ngành nghề Các giáo trình, tài liệu này cần phản ánh các trường hợp điển cứu, các cách can thiệp, giải quyết vấn đề gắn liền với thực tế địa phương, nguồn lực và tâm lý địa phương của Việt Nam Có thể giới thiệu những lý thuyết, giá trị, nguyên tắc làm việc, mô hình CTXH dựa trên những nghiên cứu thực địa, những kinh nghiệm thực tế

từ việc thực hành CTXH Khi tham khảo các giáo trình, tài liệu nước ngoài nên xem xét tính khả thi và phù hợp với bối cảnh Việt Nam

2 Cần triển khai nhiều hơn nữa các nghiên cứu thực địa trong lĩnh vực đào tạo và thực hành CTXH Khuyến khích các trao đổi, tranh luận chuyên môn nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành.

Muốn địa phương hóa kiến thức CTXH du nhập từ phương Tây và xây dựng một ngành CTXH phản ánh thực tế văn hóa, kinh tế, xã hội, chính trị của địa phương, các nhà đào tạo và thực hành CTXH cần phải nghiên cứu, am hiểu tường tận các đặc trưng về nhu cầu, giá trị, niềm tin, lý tưởng, bản sắc văn hóa, lối sống, tập tục, hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chính trị của quốc gia Cần tập trung vào nghiên cứu các vấn đề

xã hội của địa phương và các cách thức, giải pháp phù hợp với địa phương Cần có những nghiên cứu đánh giá sự phù hợp, hiệu quả khi áp dụng các lý thuyết, giá trị, mô hình CTXH phương Tây vào Việt Nam Các nhà khoa học cần phân tích, phản biện, phê bình kể cả những lý thuyết, giá trị, mô hình đào tạo và thực hành CTXH phương

Trang 9

Tây lẫn của Việt Nam để đưa ra cái nhìn tổng quát, đa chiều từ đó ngày càng hoàn thiện và chuyên nghiệp hóa công tác đào tạo và thực hành CTXH

3 Sự cần thiết của việc hình thành một tạp chí chuyên ngành CTXH.

Những đề xuất ở trên về việc khuyến khích các nghiên cứu, các bài viết chuyên môn; khuyến khích các trao đổi, tranh luận chuyên môn sẽ không thể phát huy tác dụng nếu không có một kênh trao đổi, truyền tải, phổ biến kiến thức một cách hữu hiệu Đã đến lúc chúng ta cần nghĩ đến việc hình thành một tạp chí chuyên ngành CTXH của Việt Nam Đó sẽ là nơi kiến thức được phổ biến, nhân rộng, thẩm định và phát triển Việt Nam không phải là không có các nghiên cứu về lĩnh vực CTXH, nhưng số phận của các kết quả nghiên cứu này đa phần chỉ dừng lại ở việc báo cáo với

cơ quan, sẽ chẳng có mấy cơ hội đến được với đông đảo độc giả đang khao khát kiến thức Các kiến thức, kết quả này chỉ được chia sẻ nội bộ, thiếu cơ hội được phản chứng, đối chiếu, so sánh với các nghiên cứu khác để từ đó có thể tổng hợp thành các

lý thuyết, mô hình, kiến thức ở tầm phổ quát Chính việc thiếu vắngmột tạp chí chuyên ngành đã làm hạn chế động lực nghiên cứu và xuất bản của các nhà nghiên cứu và đào tạo CTXH ở Việt Nam.Nếu chúng ta chưa đủ nguồn lực để thành lập và xuất bản tạp chí chuyên ngành, vậy ban đầu, có thể hình thành một tạp chí online về CTXH của Việt Nam

4 Đặt trọng điểm vào đào tạo và phát triển CTXH ở nông thôn và Phát triển cộng đồng.

CTXH được hình thành để đáp ứng lại các vấn đề xã hội và tạo ra công bằng xã hội và an sinh cho người dân (Walton và Abo El Nasr, 1988) Việt Nam là một nước nông nghiệp với 66,9% dân số sống tại nông thôn3 Các vấn đề xã hội nổi cộm được quan tâm hiện nay của Việt Nam là nhữngvấn đề vĩ mô có ảnh hưởng rộng như vấn nạn nghèo đói, thất nghiệp, cơ sở hạ tầng kém, phát triển bền vững và công

bằng.Chính sách an sinh xã hội của Việt Nam cũng hướng đến giải quyết các vấn đề

xã hội này Hơn nữa, đặc thù xã hội Việt Nam là tôn trọng các giá trị cộng đồng, gia đình hơn là chủ nghĩa cá nhân; việc đáp ứng với các nhu cầu và vấn đề xã hội cũng xuất phát từ gia đình, công đồng.Trong bối cảnh xã hội, kinh tế, chính trị của Việt Nam, ngành CTXH nên chú trọng vào đào tạo và phát triển CTXH ở nông thôn và Phát triển cộng đồng

Tài liệu tham khảo

Abramovitz, M (2012) Theorising the neoliberal welfare state for social work In

Gray, M., Midgley, J., & Webb, S A (Eds.) The SAGE handbook of social

work (pp.35-51) London, United Kingdom: SAGE Publications Ltd.

Gray, M & Coates, J (2010) “Indigenization” and knowledge development:

Extending the debate International Social Work, 53 (5), 613-627.

Gray, M (2010) Indigenization in a globalizing world: A response to Yunong and

Xiong (2008) International Social Work, 53(1), 115–127.

3 Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2014 do Tổng cục Thống kê và Quỹ dân số LHQ thực hiên.

Trang 10

Harlow, E., Berg, E., Barry, J., & Chandler, J (2012) Neoliberalism, managerialism

and the reconfiguring of social work in Sweden and the United Kingdom

Organization, 20(4) 534 –550.

Hwedie, K O.(1993) The challenge of social work inAfrica:Starting the

indigenisation process.Journal of Social Development in Africa, 8 (1)19-30.

Preston, S., George, P., & Silver, S (2014) Field education in social work: The need

for reimaging Critical Social Work, 15 (1), 57 -72.

Jinchao, Y (1995) The developing models of social work education in China

International Social Work, 38, 27-38.

Midgley, J (1983) Professional Imperialism: Social Work in the Third World.

London, Heinemann

Nagpaul, H (1993) Analysis of social work teaching material in India: the need for

indigenous foundations International Social Work, 36, 207-220.ly

Nimmagadda, J & Cowger, C D (1999) Cross-cultural practice Social worker

ingenuity in the indigenization of practice knowledge International Social

Work, 42 (3), 261-276.

Rankopo, M., J & Hwedie, K., O (2011) Globalization and culturally relevant social

work: African perspectives on indeigenization International Social Work, 54

(1), 137-147

Tsui, M., S & Yan, M., C (2010) Developing social work in developing countries:

Experiences in the Asia Pacific region International Social Work, 53 (37),

307-310

Trần Đình Tuấn (2009) Vài ý kiến về xây dựng và đào tạo chuyên ngành công tác xã

hội tại Việt Nam Xã Hội Học, số 3, 97-101.

Trần Văn Kham (2011) Lịch sử phát triển Công tác xã hội http://kham.tv/l%E1%BB

%8Bch-s%E1%BB%AD-phat-tri%E1%BB%83n-cong-tac-xa-h%E1%BB%99i/

Ugiagbe, E O (2014) Social work is context-bound: The need for indegenization of

social work practice in Nigeria.International Social Work, 1-12.

Walton, R., G & Abo El Nasr, M., M.(1988) Indigenization and authentization in

terms of social work in Egypt International Social Work, 31, 135-44.

Yang, R (2005) Internationalisation, indigenization and education research in China

Australian Journal of Education, 49 (1), 66-88.

Yip, K., S (2005) A dynamic Asian response to globalization in cross-culltural social

work International Social Work, 48(5), 593-607.

Yunong, H & Xiong, Z (2008) A reflection on the indigenization discourse in social

work International Social Work, 51(5), 611–622.

Yunong, H & Xiong, Z (2011) Further discussion of indigenization in social work:

A response to Gray and Coates International Social Work, 55(1) 40–52.

Zhanghua, W & Liqun, H (2013) Exploring models for indigenizing social work

education in China Chinese Education and Society, 46 (6), 42-49.

Thông tin về tác giả:

ThS Đặng Thị Thanh Thủy: Giảng viên Khoa Công tác xã hội, Đại học Đà Lạt.

Ngày đăng: 05/09/2022, 15:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w