1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC VÀ CHỐNG CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” CỦA MỸ NGỤY Ở MIỀN NAM (19691973)

24 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 273,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1954 là một năm đầy đau đớn với lịch sử Việt Nam. Vào thời điểm ấy, do âm mưu của đế quốc Mĩ và chính quyền Ngô Đình Diệm, Đôi bờ Hiền Lương cùng sông Bến Hải đã trở thành nơi chứng kiến nỗi đau chia cắt hai miền đất nước ta. Với hiệp định Giơ – Ne – Vơ được ký kết vào 2071954, nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc đến tháng 71956 tiến hành tổng tuyển cử cả nước. Sự chia cắt này đã khiến đất nước ta chia ra thành hai chế độ chính trị xã hội riêng biệt: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Song, với sự tham lam và tàn bạo của mình, đế quốc Mĩ đã liên tiếp lập ra những âm mưu và chiến lược nhằm phá hoại và xâm lược hoàn toàn nước ta. Sau sự thất bại của 2 chiến lược chiến tranh đặc biệt và chiến tranh cục bộ ở miền Nam, từ 1969 – 1973, Mĩ đã tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam và chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đồng thời mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc. Trước bối cảnh đó, nếu muốn đánh bại âm mưu của địch, đặc biệt khi kẻ thù của ta lại là một nước lớn với tiềm lực quân sự, kinh tế xếp ở vị trí hàng đầu thế giới như Mĩ thì đòi hỏi dân tộc ta cần phải đoàn kết một lòng cũng như phải có cho mình đường lối lãnh đạo và kháng chiến đúng đắn, hợp lí. Nhận thức rõ được tầm quan trọng và cấp thiết của vấn đề cũng như với sự thành công và kinh nghiệm trong các cuộc kháng chiến trước đó, với phương châm “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” của chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm 1969 đến 1973 Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tiếp tục đi đầu, xông pha đứng lên lãnh đạo nhân dân cả nước cùng kháng chiến chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và chiến đấu đánh bại âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mĩ – Ngụy ở Miền Nam. Đường lối lãnh đạo sáng suốt và đúng đắn của đảng trong giai đoạn này đã đem lại cho dân tộc ta những thành tựu và bài học nhất định, trở thành bài học lịch sử vô cùng quý báu đối với công cuộc bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, em lựa chọn đề tài tiểu luận này để tìm hiểu và làm rõ hơn về sự lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ Ngụy ở Miền Nam của Đảng năm 1969 – 1973.

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TIỂU LUẬN: LỊCH SỬ ĐẢNG

ĐỀ TÀI: ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Ở MIỀN BẮC VÀ CHỐNG CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” CỦA MỸ - NGỤY Ở MIỀN NAM (1969-1973)

Sinh viên: Lê Xuân Oanh

Mã sinh viên: 2151050044 Lớp: A1 Truyền thông đại chúng k41

Hà Nội, tháng 12 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG 5

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC (1969 – 1973) 5

1.1.Đảng lãnh đạo miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, chuẩn bị cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (1969 – 1972) 5

1.2 Miền Bắc vừa đấu tranh chống phá hoại vừa sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1972 – 1973) 8

1.3 Thành tựu và hạn chế trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc (1969-1973) 10

CHƯƠNG 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO CHỐNG CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” CỦA MỸ - NGỤY Ở MIỀN NAM (1969-1973) 14

2.1 Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ - Ngụy tại miền Nam Việt Nam (1969 – 1973) 14

2.2 Đảng lãnh đạo chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ -Ngụy tại miền Nam (1969-1973) 14

CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUA QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN 1969 – 1973 17

3.1 Bài học kinh nghiệm qua quá trình lãnh đạo của Đảng (1969 – 1973)17 3.2 Vai trò, trách nghiệm của sinh viên trong việc phát huy công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc của Đảng ta trong tình hình hiện nay 20

KẾT LUẬN 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Năm 1954 là một năm đầy đau đớn với lịch sử Việt Nam Vào thời điểm ấy, do

âm mưu của đế quốc Mĩ và chính quyền Ngô Đình Diệm, Đôi bờ Hiền Lương cùngsông Bến Hải đã trở thành nơi chứng kiến nỗi đau chia cắt hai miền đất nước ta.Với hiệp định Giơ – Ne – Vơ được ký kết vào 20/7/1954, nước ta tạm thời bị chiacắt thành hai miền Nam – Bắc đến tháng 7/1956 tiến hành tổng tuyển cử cả nước

Sự chia cắt này đã khiến đất nước ta chia ra thành hai chế độ chính trị - xã hộiriêng biệt: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng quá độlên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

Song, với sự tham lam và tàn bạo của mình, đế quốc Mĩ đã liên tiếp lập ranhững âm mưu và chiến lược nhằm phá hoại và xâm lược hoàn toàn nước ta Sau

sự thất bại của 2 chiến lược chiến tranh đặc biệt và chiến tranh cục bộ ở miền Nam,

từ 1969 – 1973, Mĩ đã tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam vàchuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đồng thời mở rộng chiến tranhphá hoại miền Bắc

Trước bối cảnh đó, nếu muốn đánh bại âm mưu của địch, đặc biệt khi kẻ thù của

ta lại là một nước lớn với tiềm lực quân sự, kinh tế xếp ở vị trí hàng đầu thế giớinhư Mĩ thì đòi hỏi dân tộc ta cần phải đoàn kết một lòng cũng như phải có chomình đường lối lãnh đạo và kháng chiến đúng đắn, hợp lí

Nhận thức rõ được tầm quan trọng và cấp thiết của vấn đề cũng như với sự thànhcông và kinh nghiệm trong các cuộc kháng chiến trước đó, với phương châm

“Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm

nô lệ” của chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm 1969 đến 1973 Đảng Cộng Sản ViệtNam đã tiếp tục đi đầu, xông pha đứng lên lãnh đạo nhân dân cả nước cùng khángchiến chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và chiến đấu đánh bại âm mưu “ViệtNam hóa chiến tranh” của Mĩ – Ngụy ở Miền Nam Đường lối lãnh đạo sáng suốt

Trang 4

và đúng đắn của đảng trong giai đoạn này đã đem lại cho dân tộc ta những thànhtựu và bài học nhất định, trở thành bài học lịch sử vô cùng quý báu đối với côngcuộc bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, em lựa chọn đề tài tiểu luậnnày để tìm hiểu và làm rõ hơn về sự lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềnBắc và chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ - Ngụy ở Miền Namcủa Đảng năm 1969 – 1973.

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Sự lãnh đạo của Đảng

Phạm vi nghiên cứu: Trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

và chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ - Ngụy ở Miền Nam(1969-1973)

3 Kết cấu đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và mục Tài liệu tham khảo, đề tài bao gồm 3

chương và 7 nội dung cơ bản

Trang 5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC (1969 – 1973) 1.1.Đảng lãnh đạo miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, chuẩn bị cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (1969 – 1972)

Mặc dù Giôn-xơn đã buộc phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc némbong bắn phá miền Bắc vào ngày 01/11/1968 song miền Bắc vẫn chưa có được hòabình thực sự mà vẫn nằm trong chiến tranh bởi sự vi phạm một cách ngang nhiênlệnh ngừng bắn của đế quốc Mỹ khi mà chúng vẫn cho các máy bay, tàu chiến bắnphá khu vực Vĩnh Linh và các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An,…

Trước tình hình này, Đảng đã đề ra chủ trương nhanh chóng khôi phục kinh tế,chuẩn bị lâu dài cho kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời gian ngừngbắn; đề cao cảnh giác, củng cố nền quốc phòng toàn dân, tập trung tài lực và nhânlực chi viện cho miền Nam, bảo đảm đời sống cho nhân dân và luôn sẵn sàngchống lại hành động gây ảnh hưởng đến người dân, đến hòa bình tại miền Bắc.Đây cũng được coi là nhiệm vụ trọng tâm và xuyên suốt trong giai đoạn hòa bìnhhết sức ngắn ngủi ở miền Bắc (1969 - 1972)

Ngày 24/04/1969, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua điều lệ tóm tắt củaHợp tác xã sản xuất nông nghiệp và vào ngày 1/5/1969 điều lệ này cũng đã đượcBác vạch rõ mục tiêu đó là bảo đảm quyền làm chủ tập thể của các xã viên, có thựchiện tốt điều lệ này thì Hợp tác xã mới có thể phát triển vững mạnh, đoàn kết nôngthôn, nâng cao sản xuất và khi ấy nhân dân ta mới có thể ấm no và tiến bộ

Ngày 2/9/1969 - khi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc có nhữngbước tiến đáng kể, chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần để lại niềm tiếc thương vô hạntrong lòng nhân dân cả nước Hiểu được tâm lý này, ngày 03/09/1969 Ban Chấphành Trung ương Đảng đã ra Lời kêu gọi cán bộ, đảng viên, chiễn sĩ cùng toàn thể

Trang 6

đồng bào cả nước cũng như kiểu bào ở nước ngoài hãy biến đau thương thànhđộng lực cách mạng, dũng cảm vượt qua để tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của Người và

để học tập, noi theo đạo đức, tác phong và tư tưởng của Bác

Ngày 29/09/2969, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cũng đề

ra Chỉ thị về đợt sinh hoạt chính trị “Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” Đợt học tập này cũng đã được Hội đồng Chính phủ đưa ra Nghị quyết hướng dẫn ngay sau đó Trên khắp miền Bắc dấy lên phong trào thi đua học tập, công tác, lao động sản xuất khôi phục và phát triển kinh tế xã hội

Tại hội nghị lần thứ 18 (1/1970), Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa III) cũng đã chỉ rõ mục tiêu chiến lược của miền Bắc khi Mỹ ngừng oanh tạc đó chính

là tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội Trung ương Đảng cũng đã phát động ba cuộc vận động lớn trên toàn miền Bắc: Cuộc vận động lao động sản xuất động viênmọi lực lượng lao động sản xuất của toàn xã hội, bảo đảm mọi người làm việc và lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả, nhằm tạo nhanh sản phẩm xã hội, khôi phục và phát triển kinh tế, cải thiện từng bước đời sống nhân dân Cuộc vận động phát huy dân chủ, tăng cường chế độ làm chủ tập thể của quần chúng xã viên

ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc; Cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp

Hồ Chí Minh [1]

Trong năm 1970, Đảng đề ra nhiều chính sách nhằm khôi phục và phát triển kinh tế, xã hội ở miền Bắc:

Trong nông nghiệp: Chính phủ đã thực hiện các chính sách để khuyến

khích nông dân phát triển sản xuất, tăng sản lượng nông sản, thực phẩm, traođổi với Nhà nước Chính sách về ổn định lương thực và phân phối lương thực trong hợp tác xã được đề ra cùng việc đưa chăn nuôi lợn, bò được đưa lên thành ngành chính đã mang lại kết quả tốt Các chính sách về thu mua

Trang 7

sản phẩm cây công nghiệp, cung cấp tư liệu cho sản xuất nông nghiệp, bán hàng công nghiệp cho nông dân, về quản lý thị trường, giá cả và việc cho vay dần được hoàn thiện Xây dựng chế độ hợp đồng hai chiều giữa Nhà nước và hợp tác xã, khuyến khích nhân dân áp dụng tiến bộ khoa học – kĩ thuật cùng nhiều biện pháp thâm canh tăng vụ.

Trong công nghiệp: Phần lớn các cơ sở công nghiệp trung ương và địa

phương bị địch tàn phá đã được khôi phục nhanh chóng Nhiều công trình đang thi công dở cũng được Đảng ưu tiên đầu tư xây dựng tiếp và đưa vào hoạt động ví dụ như nhà máy thủy điện Thác Bà tại Yên Bái (được gấp rút hoàn thành và đưa vào phát điện từ tháng 10/1970) Các ngành công nghiệp nặng cũng được Đảng chú trọng và phân chia thành các bộ riêng biệt như BộĐiện và Than, Bộ Cơ khí và Luyện Kim…

Giao thông vận tải: Các tuyến giao thông huyết mạch, có tầm quan trọng

trong quá trình vận chuyển lương thực, trang thiết bị vào miền Nam cũng nhanh chóng được xây dựng và khôi phục sau khi bị tàn phá nặng nề Nhiều tuyến đường được củng cố, chất lượng cầu phà cũng được nâng cao

Văn hóa, giáo dục, y tế: nhanh chóng được khôi phục và đẩy mạnh về chất

lượng, đời sống nhân dân được ổn định, dân chúng tích cực học tập nâng caodân trí, tạo nên một “xã hội học tập”

Đảng cũng chú trọng trong công tác xây dựng tổ chức, Đảng đã kết nạp thêmgần 40 nghìn đảng viên trong 1 năm kể từ 19/5/1970 đến 19/5/1971 thông qua cuộcvận động kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh nhằm góp phần tăng cường sức chiếnđấu và năng lực lãnh đạo của Đảng

Tháng 2/1971, tại Hội nghị lần thứ 19, Ban chấp hành Trung ương Đảng (KhoáIII) ác định nhiệm vụ khôi phục phát triển kinh tế, phát triển văn hoá phải nhằmbảo đảm yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bảo đảm đời sống

Trang 8

nhân dân, xây dựng và bảo vệ cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, từngbước xây dựng cơ cấu sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, chuẩn bị cho sự phát triểnkinh tế sau chiến tranh Nhiệm vụ trọng tâm của nền kinh tế miền Bắc thời kỳ này

là phát triển sản xuất nông nghiệp Mục tiêu sản xuất nông nghiệp trong ba năm(1971-1973) là: giải quyết về cơ bản nhu cầu lương thực trong nước Phát triểnmạnh chăn nuôi và xây dựng những cơ sở bước đầu cho chăn nuôi lớn Phải đưachăn nuôi lên thành ngành chính Xây dựng một số vùng kinh tế mới, mở rộng diệntích trồng cây công nghiệp, phát triển nghề rừng, tạo cơ sở giải quyết vấn đề mặc

và những nhu cầu cấp bách khác Tăng nhanh mức nông sản xuất khẩu Chấn chỉnhcông tác quản lý hợp tác xã Làm tốt công tác định canh định cư và đưa kinh tếmiền núi tiến lên một bước lớn [2]

Năm 1971, thời tiết ở miền Bắc mưa bão liên miên, đặc biệt là trận lụt tháng 8

đã gây ra nhiều thiêt hại nghiêm trọng trên nhiều lĩnh vực Nông dân ta mất trắnghơn 20 vạn ha lúa mùa, 62 xí nghiệp trung ương cùng 122 xí nghiệp đia phươngphải ngừng sản xuất Song nhờ sự chỉ đạo kịp thời với đường lối đúng đắn củaTrung ương Đảng và sự cố gắng của các địa phương thì hậu quả của lũ lụt đãnhanh chóng được khắc phục, giảm thiểu tối đa hậu quả và sự thiệt hại về tài sảncũng như tính mạng nhân dân Có thể nói chiến thắng thiên tai năm 1971 chính làmột nét ưu viết trong chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc

1.2 Miền Bắc vừa đấu tranh chống phá hoại vừa sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1972 – 1973)

Năm 1972, đế quốc Mỹ thực hiện chiến tranh phá hoại lần thứ hai ở miền Bắcvới âm mưu phá hủy công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và ngăn nguồn chi việncủa miền Bắc cho miền Nam, làm suy yếu quyết tâm và lòng tin của nhân dân ta,cứu vãn tình thế sắp phá sản âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh tại miền Nam”

Trang 9

Ngày 6/4/1972, đế quốc Mỹ cho máy bay không quân ném bom và huy độnghải quân tiến vào bắn phá khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam ( khu IV cũ ) Ngày16/4/1972, quân đội Ních – xơn chính thức tuyên bố mở rộng chiến tranh lần thứhai tại miền Bắc và tiến hành bằng không quân và hải quân, ngày 9/5/1972 chúngtuyên bố phong tỏa cảng Hải Phòng cùng các cửa sổng, vùng biển, luồng lạch củamiền Bắc Những điều này đã đe dọa nghiêm trọng đến quá trình xây dựng chủnghĩa xã hội ở miền Bắc lúc bấy giờ.

Đứng trước tình hình nguy cấp đó, ngày 1/6/1972, một cuộc họp triệu tập khẩncấp đã được Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ưởng Đảng khẩn trương tiến hành.Nhờ việc chuẩn bị trước và tư thế luôn sẵn sàng chiến đấu, Đảng đã chủ động vàkịp thời xác định được nhiệm vụ chiến lược đó là quyết tâm đánh thắng giặc Mỹbằng mọi cách, tiến hành cải tổ bộ máy quản lý Nhà nước và chuyển hướng pháttriển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp vớitình hình thời chiến

Ngày 13-6-1972, Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệnh nghĩa vụ lao độngthời chiến nhằm động viên toàn dân đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, bảo đảmnhu cầu lao động, phục vụ chiến đấu và sản xuất trong tình hình cả nước có chiếntranh Nhờ chủ trương hợp lí và kịp thời của Đảng, nhân dân miền Bắc đã nhanhchóng chuyển mọi hoạt động sang phù hợp với tình hình thời chiến, chủ động sơtán các nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện…

Đảng cũng chỉ đạo nhân dân phát triển công nghiệp tại địa phương, công nghiệpquốc phòng và tạm hoãn những công trình lớn để tập trung sơ tán an toàn Đảngluôn quan tâm và duy trì các tuyến đường giao thông mang tính huyết mạch đặcbiệt là tuyến đường Hồ Chí Minh luôn được Đảng ta bảo đảm thông suốt Đảngcũng luôn chú trọng việc làm công tác tư tưởng; luôn tạo quyết tâm, động lực vàniềm tin cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta

Trang 10

Trên lĩnh vực kháng chiến chống sự phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo vệ miền Bắc

xã hội chủ nghĩa, Đảng, quân và dân ta đã có nhiều thành tựu nổi bật nhờ việcĐảng đã lường trước được âm mưu của địch và luôn chuẩn bị sẵn sàng cho mọitình huống có thể xảy ra Trong cả cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ 2(từ 6/4/1972 đến 15/1/1973), miền Bắc đã bắn hạ 735 máy bay Mĩ trong đó có 61máy bay B52, 10 máy bay F111, bắn chìm 125 tàu chiến, loại bỏ khỏi vòng chiếnđấu hàng trăm phi công Mĩ [3] Đặc biệt, nổi bật trong giai đoạn này phải kể đếnchiến thắng “ Điện Biên Phủ trên không”, chiến thắng này có thể coi là nhân tốquyết định cho việc lập lại hòa bình ở Việt Nam, nó đã buộc Mỹ phải kí vào tuyên

bố ngừng hẳn các hoạt động chống phá miền Bắc (15/1/1973) và kí hiệp định Parivào ngày 27/01/1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam có hiệulực từ ngày 28/01/1973

1.3 Thành tựu và hạn chế trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc (1969-1973)

1.3.1 Thành tựu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc 1973)

(1969-Mặc dù xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh vừa hòa bình, vừa chiếntranh với nhiều khó khăn song với sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân miền Bắc đãđạt được nhiều thành tựu to lớn: chế độ xã hội chủ nghĩa từng bước được xâydựng, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa cũng đuochư hình thành, nhiều cơ sở vậtchất được cải tổ và xây dựng, phát huy được chủ nghĩa xã hội trong nhiều mặt

Năm 1970, nhờ các chính sách chủ trương khuyến khích của Đảng ta có những thành tựu lớn trên nhiều lĩnh vực: Trong nông nghiệp, nhiều hợp tác xã

đã đạt được mục tiêu 5 tấn thóc trên 1 hécta gieo trồng trong 1 năm, một số hợp tác

xã đạt từ 6-7 tấn Sản lượng lương thực năm 1970 toàn miền Bắc đạt 5.278.900tấn, tăng hơn năm 1969 hơn nửa triệu tấn Diện tích gieo trồng năm 1970 là3.028.100 ha, tăng hơn năm 1969 hơn 6 vạn ha Năng suất lúa cả năm trên 1 ha

Trang 11

ruộng hai vụ đạt 43,11 tạ Tỉnh Thái Bình và thành phố Hà Nội đạt năng suất bìnhquân trên 5 tấn thóc/ha 30 huyện, 2.265 hợp tác xã đạt năng suất bình quân 5 tấnthóc/ha

Trong công nghiệp, năm 1970 nhiều cơ sở công nghiệp bị địch đánh phá cũng

đã phần lớn được khôi phục nhanh chóng, nhiều công trình dang dở được ưu tiênđầu tư và đưa vào hoạt động Giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm 1970 vượtmức kế hoạch 2,5%, xấp xỉ bằng năm 1965

Đời sống nhân dân vào năm 1970 cũng được nâng cao nhờ vào việc phát triển

sản xuất và tăng năng suất lao động, thu nhập bình quân đầu người của gia đìnhtham gia hợp tác xã nông nghiệp tăng 20% so với năm 1965 Từ đó cũng giúp đẩymạnh chất lượng công tác văn hóa, giáo dục và y tế, những khó khăn dần đượckhắc phục

Năm 1971, thời tiết khắc nghiệt gây thiệt hại trên nhiều lĩnh vực song nhờ

sự chỉ đạo, hỗ trợ của Đảng và sự cố gắng của các địa phương trong khắc phục thiệt hại của lũ lụt, miền Bắc vẫn đạt được những thành tựu nhất định:

Năm 1971, nông nghiệp miền Bắc đạt được nhiều tiến bộ về thâm canh lúa, sảnlượng lương thực quy hoạch thóc đạt 5,6 triệu tấn, cao hơn mức bình thường củacác năm Giá trị sản lương công nghiệp và thủ công nghiệp năm 1971 vẫn đạt kếhoạch đề ra và tăng hơn 14% so với năm 1970 trong đó điện trong đó điện đạt 810triệu kWh (tăng 34% so với năm 1970), than sạch đạt 3,26 triệu tấn (tăng 22% sovới năm 1970) Miền Bắc cũng đáp ứng được cơ bản về nhu cầu ăn mặc, họchành, sinh hoạt cho nhân dân và tăng cường chi viện cho tiền tuyến Tình hình kinhtế-xã hội ổn định, sự nhất trí về chính trị, tinh thần trong nhân dân được củng cốvững chắc Đến cuối năm 1971, lực lượng dân quân tự vệ miền Bắc có hơn 2 triệungười, trong đó đội ngũ tự vệ chiến đấu và du kích chiếm 87 vạn người Miền Bắc

đã động viên hàng chục vạn con em tham gia quân đội và đi vào chiến trường

Trang 12

chiến đấu Khối lượng vật chất chi viện cho chiến trường tăng 1,6 lần so với trước

đó [4]

Đặc biệt với sự chuẩn bị sẵn sàng và việc luôn nắm bắt, lường trước mọi tình huống của Đảng, Miền Bắc đã đạt được thành tựu to lớn khi vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa đấu tranh chống phá hoại của Mỹ và làm nghĩa vụ hậu phương cho tiền tuyến miền Nam Năm 1972, quân và dân ta đã đánh bại

cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của Mỹ Tổng kết lại cuộc chiến tranh phá hoạilần thứ hai của đế quốc Mỹ, miền Bắc đã bắn rơi 735 máy bay, trong đó có 61 máybay chiến lược B.52 và 10 máy bay phản lực F.111, bắt sống hơn 1.000 giặc lái,bắn cháy, bắn chìm 125 tàu chiến, tàu biệt kích Và đặc biệt nổi bật đó là chiếnthắng “Điện Biên Phủ trên không” lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu

Cũng chính chiến thắng này đã trở thành nhân tố quan trọng cho việc lập lại hòabình ở Việt Nam, nó đã buộc Mỹ phải kí vào tuyên bố ngừng hẳn các hoạt độngchống phá miền Bắc (15/1/1973) và kí hiệp định Pari vào ngày 27/01/1973 vềchấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam có hiệu lực từ ngày 28/01/1973

1.3.2 Hạn chế trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc 1973)

Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đảng đề ra về cơ bản là đúng đắn vàsáng tạo, song trong việc chỉ đạo thực tiễn thì những đường lối này vẫn còn một sốhạn chế

Đầu tiên là các chỉ đạo thực tiễn chưa được kịp thời hoàn toàn cũng như chưađược vận dụng tốt vào các kế hoạch nâng cao kinh tế, văn hóa và xã hội; vào cácphương hướng, nhiệm vụ và bước đi trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ởtừng ngành, từng địa phương riêng biệt Nhận thức về tính quy luật của quá trìnhsản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn mang tính xã hội chủ nghĩa chưa được sâu rộng;

Ngày đăng: 05/09/2022, 12:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w