BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HCM KHOA NGOẠI NGỮ TIỂU LUẬN MÔN CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM Đề tài ĐẶC ĐIỂM CỦA KIẾN TRÚC CỔ TRUYỀN Ở VIỆT NAM Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 06 năm 2021.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
KHOA NGOẠI NGỮ
TIỂU LUẬNMÔN: CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH KHOA NGOẠI NGỮ
MÔN: CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
ĐỀ TÀI: ĐẶC ĐIỂM CỦA KIẾN TRÚC CỔ TRUYỀN Ở VIỆT NAM
Lớp học phần: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Nhóm :
Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 06 năm 2021
Trang 3TỔ CƠ SỞ NGÀNH
BẢNG CHẤM ĐIỂM TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
Học kì 2 năm học 2020 -2021
Lớp:
Đề tài: Đặc điểm của kiến trúc cổ truyền ở Việt Nam
Điểm tiểu luận cuối kì:
Trang 4ĐẶC ĐIỂM CỦA KIẾN TRÚC CỔ TRUYỀN Ở VIỆT
NAM
PHẦN MỞ ĐẦU:
Đất nước Việt Nam tươi đẹp với ngàn năm văn hiến, trải qua bao thăngtrầm lịch sử, đi qua bao triều đại oai hùng, suốt 4 ngàn năm dựng nước và giữnước, cha ông ta đã để lại vô vàn những điều quý báu, từ những giá trị tinh thầnđến vật chất hiện hữu,tất cả đều được những người con đất Việt nâng niu, giữgìn và phát huy Đặc biệt là nền kiến trúc cổ truyền, là nét đẹp vàng son mộtthời, chứng nhân lịch sử, cùng với dòng chảy vô định của thời gian những kiếntrúc ấy ngày nay càng đáng giá hơn bao giờ hết vì chúng chính là dấu tích cụ thểghi lại chặng đường sáng tạo và lao động nghệ thuật, mang dấu ấn lịch sử dântộc rõ nét
Nền kiến trúc cổ Việt Nam gắn liền với thiên nhiên và hoàn cảnh kinh tế - xãhội Nó bao gồm nhiều loại kiến trúc khác nhau, từ công trình nhỏ bé như kiếntrúc dân gian đến những thiết kế đồ sộ như thành lũy, cung đình Trong bài luậnnày chúng ta sẽ cùng tìm hiểu, khám phá những nét đặc trưng riêng biệt của kiếntrúc cổ truyền Việt Nam qua những kiến trúc thành quách; cung điện – dinh thự;tôn giáo – tín ngưỡng; dân gian và kiến trúc vườn cảnh
Những công trình cổ còn lại ngày nay hầu hết được xây dựng từ thời kỳ phongkiến, là những công trình vô giá đáng để chúng ta ngày nay tìm hiểu, tự hào vàtrân trọng bảo tồn Nét đẹp, nét đặc trưng riêng biệt của nền kiến trúc cổ đã gópphần khẳng định sự sáng tạo trong tư duy, độc lập trong tính cách, lối sống củacon người Việt Nam, đồng thời thông qua đó càng tô đậm thêm vẻ đẹp bản sắcdân tộc oai hùng
NỘI DUNG:
I.Kiến trúc thành quách
Trong kiến trúc cổ và dân gian Việt Nam, cha ông ta đã biết cách lựa chọn
vị trí, địa hình để công trình kiến trúc dựng lên có thể thỏa mãn được yêu cầu sử
Trang 5dụng của đời sống và có giá trị thẩm mỹ nhất định Cho đến nay, rất nhiềunhững kiến trúc truyền thống Việt Nam nhờ tính thẩm mỹ đó mà trở thành mộtđịa điểm du lịch nổi tiếng nhưng cố đô Hoa Lư, thành Huế
1.1.Thành Cổ Loa
Thành Cổ Loa là di tích lịch sử tại vùng đất xã Cổ Loa, huyện Đông Anh,
Hà Nội Là kinh đô của nhà nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương và củanhà nước phong kiến dưới thời Ngô Quyền thế kỷ X
Khi xây thành, người Việt xưa đã biết sử dụng tối đa và khéo léo các địahình tự nhiên Họ tận dụng chiều cao của các đồi, gò và đắp thêm đất cho caohơn để xây dựng nên hai bức tường thành phía ngoài Xung quanh thành là hào,vừa bảo vệ thành, là nguồn cung cấp nước vừa là đường thủy quan trọng
Thành Cổ Loa có hình dáng khá đặc biệt, có hình xoáy vỏ ốc, chia là 3thành: thành nội, thành trung và thành ngoại
đá vôi hiểm trở, tạo thành những bức tường thành thiên nhiên kiên cố
Thành Hoa Lư là công trình kiến trúc bậc nhất đạt đến đỉnh cao về mức
độ kiên cố, hiểm trở của loại hình công trình phòng ngự trong lịch sử đươngthời
1.3 Thành Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội.
Thành Thăng Long còn có tên gọi khác là thành Đại La, sau đến giai đoạnLý- Trần, đổi tên là Thăng Long Ở giai đoạn Lê-Mạc, Thăng Long đổi tên làĐông Kinh
Kinh thành Thăng Long được xây dựng theo mô hình Tam Trùng thànhquách: vòng ngoài cùng gọi là La thành hay kinh thành, vừa là nơi phòng ngự,
Trang 6vừa là nơi ngăn lụt, có độ dài khoảng 30 km, vòng thành thứ hai là Hoàng Thànhđược xây dựng bằng gạch, giữa hai lớp thành này là nơi sinh sống của cư dân,lớp thành còn lại là Tử cấm là nơi ở và sinh hoạt của nhà vua
Kiến trúc hoàng cung Thăng Long đã đưa nền kiến trúc đương thời lênđến đỉnh cao, rất nguy nga, tráng lệ Vật liệu kiến trúc cũng rất đa dạng, phongphú, mái cung điện lợp ngói âm – dương và ngói phẳng, góc mái, đầu nóc trangtrí các loại tượng tròn đất nung hình rồng, phượng, sư tử…
Cũng vì những sáng tạo trong lối kiến trúc mà khu Trung tâm Hoàngthành Thăng Long được UNESCO ghi nhận là di sản thế giới năm 2010 vớinhững giá trị nổi bật toàn cầu
1.4.Thành Tây Đô
Thành Tây Đô hay còn gọi là thành nhà Hồ, là kinh đô nước Đại Ngu, naythuộc tỉnh Thanh Hóa Đây là tòa thành có quy mô lớn hiếm hoi ở Việt Nam,duy nhất còn lại ở tại Đông Nam Á có giá trị và độc đáo, kiên cố với kiến trúcbằng đá khác lạ và là một trong rất ít những thành lũy bằng đá còn sót lại trênthế giới
Cũng như bao thành quách lúc bấy giờ, thành bao gồm thành nội và thànhngoại Thành ngoại được đắp bằng đất với khối lượng gần 100.000 m3, trêntrồng tre gai dày đặc cùng với một vùng hào sâu bao quanh Những phiến đánặng từ 10 đến 20 tấn được nâng lên cao, ghép với nhau một cách tự nhiên, hoàntoàn không có bất cứ một chất kết dính nào, tạo nên một thành Tây Đô độc đáo.Trải qua hơn 600 năm nhưng bức tường thành vẫn đứng vững theo thời gian
Cổng Tiền Cổng Hậu Cổng Đông Đạn đá
1.5 Phủ Chúa Nguyễn
Dinh chúa Nguyễn gồm năm toà, tòa chính có ba tầng gác và trên cùng cóchòi làm vọng lâu Các toà nhà bề thế được làm toàn thể làm bằng gỗ quý, được
Trang 7trau chuốt, tỉ mỉ Đặc biệt là không có sự xuất hiện của nguyên vật liệu như vôi,tường, Trên mái và ở góc mái điêu khắc những con rồng bằng đất sét Tất cảtạo ra cho phủ Chúa Nguyễn một cái nhìn rất khác về nghệ thuật lúc bấy giờ,không còn là những vật liệu truyền thống mà thay vào đó là những thứ xa hoa,lỗng lẫy hơn.
1.6 Thành Huế
Kinh thành Huế hay Thuận Hóa kinh thành là một tòa thành ở cố đô Huế,nơi đóng đô của triều đại nhà Nguyễn trong suốt 143 năm Hiện nay, Kinh thànhHuế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới
Kinh thành Huế được xây dựng theo kiến trúc Vauban, có 3 vòng thànhlần lượt là Kinh thành, Hoành thành và Tử Cấm Thành Tử cấm thành được xâydựng với kích thước rộng lớn, mở 7 cửa, nơi đây hoàn toàn được làm bằng gạchvới bố cục kiến trúc chặt chẽ, các công trình đều được xây dựng theo cặp đăngđối, phù hợp với triết lí âm dương: vua – hoàng hậu, thị vệ - nô tì…
Các công trình: Kỳ Đài, Lầu Cửa, cùng với các nghệ thuật trang trí, điêukhắc gỗ, xử lý nền móng, xây gạch… thể hiện rõ sự kế thừa trong lối kiến trúctruyền thống Việt Nam
Trang 8Về chung, cách xây dựng thành lũy đều có điểm
là thành được bao quanh bởi các sông, các hàohoặc hướng về sông, cân bằng âm dương Thànhcòn được chia làm nhiều lớp, mang tính an toàncao Các yếu tố nguyên liệu dồi dào để thuận lợicho việc dựng thành và giữ thành: giao thôngthuận lợi, vận chuyển dễ dàng, thông thương tiện lợi…là tiêu chí mỗi khi quyếtđịnh dựng thành, sao cho phù hợp “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”
II.Kiến trúc cung điện – dinh thự:
Kiến trúc cung điện – dinh thự có thể nói là
loại hình kiến trúc phong kiến quy mô, hoành tráng
nhất trong các loại hình kiến trúc thời phong kiến
còn được giữ gìn, bảo tồn cho đến ngày nay
Hoành thành Huế
Trang 9Thềm rồng – Hoàng thành
Thăng Long
Khi một ông vua một triều đại mới được sáng
lập theo sau đó bao giờ cũng là quyết định lập kinh
đô và xây dựng những công trình kiến trúc cung
điện – dinh thự để tỏ rõ quyền lực của triều đại, uy thế của cá nhân Năm 1009,
Lý Công Uẩn lên ngôi lấy hiệu là Lý Thái Tổ, mở ra triều đại nhà Lý và quyếtđịnh rời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội) Những quần thểcung điện thời nhà Lý thường được bố trí theo trục đối xứng, căn bằng ngayngắn để đảm bảo tính chất tôn nghiêm của quyền lực triều đình nhà nước phongkiến Mặt bằng kiến trúc đơn giản: chữ nhất () hay chữ nhị (二), có hành lang,
có gác kết hợp chặt chẽ với vườn hoa, mặt nước và cây cỏ thiên nhiên Vật liệuxây dựng chủ yếu được huy động từ các nguồn vật tư trong nước hoặc ngay tạiđịa phương: ngoài gỗ quý cũng dùng cả gạch, ngói, đá…Tuy nhiên kết cấu gỗtruyền thống với những hàng cột chịu lực thì ít khi thay đổi trong các công trình.Những công trình xây dựng sau thường trang trí, thiết bị nội thất, ngoại thất tinh
vi, cầu kỳ và tráng lệ hơn Quy mô, kích thướccủa những công trình kiến trúc này cũng bề thếhơn Tại một số cung điện tiêu biểu thời nhà Lý,các bộ phận cấu
tạo công trìnhnhư cột, đầu cột,diềm mái, vìkéo cùng vớithềm bậc tam cấp,gạch tráng men xanh, vàng, ngói ống, lưu li
được khắc “Long, ly, quy, phượng” hoặc “Tứ quý”…tạo nên một hình thức kiếntrúc cung điện lầu son, gác tía, lộng lẫy uy nghi Đáng tiếc là năm 1214, loạn lạc
do các phe phái phong kiến trong nước chống đối lẫn nhau khiến kiến trúc cungđiện dinh thự nhà Lý bị tàn phá, hủy hoại nghiêm trọng
Nhà Trần nối ngôi nhà Lý đã phải đầu tư xây dựng mới và sửa sang lạiHoàng cung tại Thăng Long Kiến trúc nhà Trần so với nhà Lý có nét độc đáo
Ngọ Môn – Hoàng Thành
Huế
Đoan môn – Hoàng
thành Thăng Long
Trang 10riêng: công trình xây trên các bệ cao, đa số là hai tầng có gác, thậm chí có côngtrình có tới 3-4 tầng Tầng dưới được gọi là “điện” , tầng trên được gọi là “các”
và thường có hành lang bao quang
Kiến trúc cung đình dinh thự Huế được chia thành ba loại Loại thứ nhất làkiến trúc dùng làm nơi thiết triều và cử hành nghi lễ: Ngọ Môn, điện Thái Hòa,điện Cần Chánh,…Loại thứ hai là nơi của Vua và hoàng thất: điện Càn Thanh,điện Khôn Thái, …và loại cuối cùng là các công sở - công quán: điện Văn Minh,điện Võ Hiển, Đông các phủ nội vụ, Thái y viện…
III.Kiến trúc tôn giáo – tín ngưỡng:
3.1.Chùa tháp:
Chùa tháp là cơ sở hoạt động và truyền
bá Phật giáo Bố cục mặt bằng ngôi chùa có
các loại hình như sau:
Chữ Đinh (丁), bên ngoài rộng 5 gian,
7 gian Chữ Công (工), hay còn gọi là nội
công, ngoại quốc (trong là chữ 工, ngoài là chữ 囗) Chữ Nhị (二), chữ Tam(三) bao gồm một tổng thể nhiều công trình đơn lẻ, có hành lang bao quanhhoặc tường vây kín
3.2.Đền miếu:
Công trình đền đài, miếu mạo là nơi thờ
cúng của Đạo giáo (Lão giáo) Địa điểm xây
dựng thường được lựa chọn ở những vị trí
có liên quan đến những truyền thuyết hoặc
sự tích, cuộc sống của vị thần siêu nhiên
hoặc các nhân vật được tôn thờ Đại thể kiến
trúc bên ngoài của đền đài miếu mạo có
những đặc điểm cơ bản giống của kiến trúc đình chùa, nhưng nội dung thờ cúng
và trang trí nội thất có khác nhau
Hình: chùa Ba Vàng ở Quãng Ninh
Hình: đền Phù Đổng gắn với
sự tích Thánh Gióng
Trang 113.3.Văn Miếu – Văn chỉ:
Văn Miếu, Tự miếu, Văn chỉ là những
công trình kiến trúc Nho giáo thời Khổng
Tử Quần thể Văn miếu - Quốc tử Giám Hà
Nội được xây dựng theo trục Bắc Nam Phía
trước Văn Miếu có một hồ lớn gọi là hồ
Văn Chương Ngoài cổng chính có một
dãy 4 cột trụ, hai bên tả hữu có bia.Cổng Văn miếu xây kiểu Tam Quan trên có 3
chữ lớn Văn miếu môn viết bằng chữ Hán 3.4.Lăng mộ:
Kiến trúc lăng mộ là các công trình lăng tẩm và mộ táng cổ xưa Một số dân tộc còn có nhà mồ Có hai loại mộ táng: Mộ của những người thế tục và Mộ của những người tu hành
3.5.Đình làng:
Đình làng nguyên là nơi thờ Thành Hoàng theo phong tục tín ngưỡng trong
xã hội Việt Nam cổ đại Vì vậy nó thường được xếp vào thể loại công trình phục
vụ cho tôn giáo, tín ngưỡng Tuy nhiên, đình làng còn là một công trình thuộcthể loại kiến trúc công cộng dân dụng do tính chất phục vụ đa chức năng của nó.Ngoài là nơi thờ Thành hoàng làng, đình làng còn là trung tâm hành chính, quảntrị phục vụ cho mọi hoạt động thuộc về cộng đồng làng xã; là nơi hội họp củadân làng Đây cũng là nơi diễn ra các lễ hội làng truyền thống, nơi sinh hoạtvăn hóa, văn nghệ của làng Với ba chức năng cơ bản trên (tín ngưỡng, hànhchính, văn hóa-văn nghệ)
3.6.Tháp chàm:
Các tháp Chăm là một khối kiến trúc
xây dựng bằng gạch nung màu đỏ sẫm
lấy từ đất địa phương, phía trên mở rộng
và thon vút hình bông hoa Mặt bằng
tháp đa số là hình vuông có không gian
bên trong chật hẹp thường có cửa duy
Hình: Văn Miếu Quốc Tử Giám
Hình: tháp chàm Pôklông Garai ở thành phố Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận
Trang 12nhất mở về hướng Đông (hướng Mặt Trời mọc) Trần được cấu tạo vòm cuốn,trong lòng tháp đặt một bệ thờ thần bằng đá Nghệ thuật chạm khắc, đẽo gọtcông phu hình hoa lá, chim muông, vũ nữ, thần thánh thể hiện trên mặt tườngngoài của tháp Các viên gạch liên kết với nhau rất rắn chắc, bền vững tới hàngchục thế kỷ.
IV Kiến trúc dân gian:
Nguồn: Tapchikientruc.com.vn
4.2 Nhà ở dân gian
Ngôi nhà của người Việt Nam gắn liền với môi trường sông nước Nhà sàn
là kiểu nhà rất phổ biến ở Việt Nam từ thời Đông Sơn, nó thích hợp cho cả miềnsông nước lẫn miền núi Nhà sàn có tác dụng ứng phó với môi trường sông nướcngập lụt quanh năm, ứng phó với thời tiết mưa nhiều gây lũ rừng ở miền cao vàngập lụt định kì ở vùng thấp, hạn chế và ngăn cản côn trùng, thú dữ…
Nam gồm hai yêu cầu: sàn/nền cao so với mặt đất để ứng phó lụt lội và mái cao
so với sàn/nền để ứng phó nắng nóng Nhà cao nhưng cửa không cao mà phảirộng Cửa rộng để đón gió mát và tránh nóng nhưng đồng thời phải tránh gió
Trang 13độc, gió mạnh tạo nên sự kín đáo cho ngôi nhà.
CHỌN HƯỚNG NHÀ, HƯỚNG ĐẤT: hướng nhà tiêu biểu là hướng nam.Chọn đất để làm nhà, đặt mộ gọi là nghề phong thủy “Phong” và “thủy” là haiyếu tố quan trọng nhất Ngoài ra, người Việt với tính cộng đồng rất quan tâmđến việc chọn hàng xóm láng giềng và chọn vị trí giao thông thuận tiện
CÁCH THỨC KIẾN TRÚC: rất động và linh hoạt Tất cả các chi tiết củangôi nhà được liên kết với nhau bằng mộng Mộng là cách ghép theo nguyên lí
âm - dương phần lồi ra của một bộ phận này với chỗ lõm vào có hình dáng vàkích thước tương ứng ở một bộ phận khác
VỀ HÌNH THỨC KIẾN TRÚC: Người Việt Nam có truyền thống thờ cúng
tổ tiên và hiếu khách nên ngôi nhà Việt Nam dành ưu tiên gian giữa cho hai mụcđích này: thờ cúng tổ tiên và tiếp khách
Cổng đền An Dương Vương Chùa Kim Liên
nguồn: tinhtam.vn nguồn: dulichviet.net.vn
4.3 Kiến trúc công cộng dân gian
Gồm các kiến trúc như: cầu, quán điếm, chợ làng, cổng làng và tiêu biểu làđình làng: Đình vừa là công trình tôn giáo, là nơi thờ Thành Hoàng làng đồngthời là kiến trúc công cộng, nơi sinh hoạt chính trị, văn hóa của làng.Trước đìnhthường có sân rộng, hồ nước, cây xanh cổ thụ tạo cảnh Tổng thể kiến trúc đượcnhấn mạnh tính trang nghiêm theo lối bố cục trung tâm kết hợp với bố cục chiềusâu đối xứng qua trục chính Hệ thống kết cấu gỗ: cột xà, kẻ hoặc bẩy liên kếtchủ yếu bằng mộng mẹo nên rất vững chắc Hệ kết cấu đứng trên đá chân cộtbằng sức nặng của mái và ngôi nhà mà không cần móng Mái chiếm 2/3 chiều
Trang 15vườn Chính vì những nét riêng này mà ở Việt Nam có nhà vườn Huế rất đặcbiệt, được nhiều người biết đến
5.1.Kiến trúc nhà vườn nông thôn ở vùng đồng bằng Bắc bộ
Kinh nghiệm dân gian khi lựa chọn cây trồng cạnh nhà là “trước cau sauchuối” Vì vậy, cái lý của người xưa quả thật đúng khi ứng xử với khí hậu thờitiết: trồng cây lá rậm, lá to như cây chuối ở mặt nhà phía bắc để ngăn gió lạnhvào mùa đông, cản bức xạ mặt trời vào mùa hè (lúc này mặt trời ở hướng bắc);trồng cây có thân cao như cây cau ở phía nam của nhà để không ngăn cản giómát mùa hè cũng như không che ánh nắng chiếu vào nhà về mùa đông (mùađông, mặt trời ở hướng nam)
5.2.Kiến trúc nhà vườn Huế
Khác với kiến trúc nhà vườn ở Bắc Bộ, nhà vườn Huế có những nét đặc sắcriêng mà chỉ có người dân cố đô mới có được Khuôn viên nhà vườn Huế là mộtkhông gian sinh động thu nhỏ, vừa có lợi ích kinh tế, vừa có hiệu quả thẩm mỹnghệ thuật
Tiếp đó, phải kể đến kiến trúc nhà vườn trong các công trình tín ngưỡng tôngiáo Các loại cây thường được trồng trong vườn của công trình tôn giáo tínngưỡng là cây đa, cây si và cây đại góp phần tạo cảnh làm nơi nghỉ ngơi chokhách thập phương đến thăm viếng và hành lễ Đồng thời làm tôn giá trị nghệthuật kiến trúc, tạo cảm giác thanh tịnh, trang nghiêm cho công trình tôn giáo
Vườn trong lăng của vua triều Nguyễn lại là nơi để hoài niệm tưởng nhớ
Hệ thống vườn được thể hiện rõ nét nhất mô típ kết cấu nhà vườn truyền thốngHuế, đó là những lăng Khải Định, Đồng Khánh, Tự Đức, Thiệu Trị, MinhMạng… còn được lưu giữ tới nay
Chùa Quốc Bảo
(ảnh:dulichhue.com.vn)