BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH PHẠM ANH NGUYÊN SỰ TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI XANH, HIỆU SUẤT MÔI TRƯỜNG ĐẾN HIỆU QUẢ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành QUẢN TRỊ.
TỔNG QUAN
SỰ CẦN THIẾT CỦA NGHIÊN CỨU
Việc tăng trưởng “nóng” về kinh tế và phát triển ồ ạt các doanh nghiệp cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, suy giảm tài nguyên Các doanh nghiệp sản xuất (DNSX) thường được mô tả là một trong những nguyên nhân chính của các vấn đề môi trường mà thế giới phải đối mặt Nguyên nhân là do trình độ công nghệ của các doanh nghiệp (DN) nước ta hiện nay còn lạc hậu, chậm đổi mới, hiệu quả kinh tế thấp
Trên thực tế, các DN rất ít quan tâm đến lợi ích cộng đồng, xã hội và môi trường mà đa phần tập trung vào lợi nhuận của tổ chức là chủ yếu (Nham, 2012), họ còn ngại đầu tư vào thiết bị, công nghệ sản xuất để bảo vệ môi trường vì tiêu tốn nguồn chi phí khá lớn mà có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của DN Sau một thời gian tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, Việt Nam đã phải đối mặt với một thách thức to lớn của việc đạt được sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bền vững môi trường (O’Rourke, 2004) Mặc dù đã có những nỗ lực ngày càng tăng, các bằng chứng sẵn có cho thấy các quy định về môi trường ở Việt Nam đã không mấy thành công liên quan đến việc tuân thủ kinh doanh, mức độ tuân thủ thấp được tìm thấy ở các ngành công nghiệp quan trọng như thức ăn, da hay giấy (Ho,
Ngày nay, người tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các thương hiệu có cam kết “xanh” và “sạch”, các sản phẩm xanh, sản phẩm đạt tiêu chuẩn an toàn chất lượng và thân thiện với môi trường dần trở thành nhu cầu thiết thực của người dân Do đó, các DN không tích cực thực hiện đổi mới tạo ra sản phẩm thân thiện với môi trường sẽ khó đáp ứng nhu cầu và thu hút được khách hàng, năng lực cạnh tranh thấp và hiệu quả kinh tế thấp
Hiện nay, các công ty đang tích cực để đưa ra các giải pháp cắt giảm chi tiêu trong quá trình sản xuất, thực hiện tinh gọn trong sản xuất để giảm chi phí và lãng phí nhằm tiết kiệm chi phí, tăng cường cạnh tranh để đạt được lợi nhuận cao trên thị trường toàn cầu (Brigham và Houston, 2012; Tortorella et al.,2018) Đổi mới xanh là một trong những giải pháp hữu hiệu đang rất được các DN quan tâm có thể giúp DNSX có thể cắt giảm chi phí trong sản xuất, tạo ra sự khác biệt về sản phẩm, giúp DN đạt được lợi thế cạnh tranh và hiệu quả trong kinh doanh bằng việc kiểm soát các nguyên liệu đầu vào, sử dụng năng lượng cũng như các hao phí trong quá trình sản xuất (Chen & Liu, 2019) Đặc biệt là các DN thực hiện đổi mới các công nghệ số xanh trong quá trình sản xuất sẽ góp phần to lớn trong việc đạt hiệu quả cạnh tranh, mục tiêu lợi nhuận đồng thời bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống mang lại cơ hội cao cho sản xuất bền vững hơn với mụi trường và mục tiờu lợi nhuận của DN (Rỹòmann et al., 2015; Stock & Seliger, 2016)
Việc đổi mới trình độ công nghệ sản xuất nhằm giúp DN chủ động trong kiểm soát các tác động môi trường của quá trình sản xuất, thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường (BVMT), hướng tới phát triển DN công nghệ sạch, thân thiện với môi trường, giảm thiểu
2 khí gây hiệu ứng nhà kính góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, hướng tới phát triển xanh đang là yêu cầu cấp thiết đối với các DN ở nước ta hiện nay
Từ các yêu cầu thực tiễn trên, luận án sẽ đi tìm hiểu mức độ tác động giữa các nhân tố tác động đến đổi mới xanh và mối liên hệ giữa đổi mới xanh, hiệu suất môi trường và hiệu quả DN từ đó đề xuất các biện pháp thúc đẩy DN thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường, hoạch định chiến lược phát triển DN một cách bền vững, hiệu quả nhất, tạo ra lợi nhuận cao nhất và góp phần tăng cường đời sống xã hội
Các nghiên cứu về mối liên hệ giữa đổi mới xanh và hiệu quả của DN đã được các nhà nghiên cứu rất quan tâm và đưa ra các kết quả về mối liên hệ trong các ngành công nghiệp có liên quan
Vấn đề liên quan đến các nhân tố tác động đến đổi mới xanh và sự tác động của đổi mới xanh đến hiệu suất môi trường và hiệu quả DN bao gồm cả hiệu quả tài chính và phi tài chính vẫn chưa được khám phá kỹ lưỡng, thoã đáng trong các nghiên cứu trước đây Trong luận án này sẽ đi sâu tìm hiểu các vấn đề sau:
Thứ nhất, liên quan đến thang đo đối với các khái niệm các nhân tố tác động đến đổi mới xanh, đổi mới xanh, hiệu suất môi trường và hiệu quả DN, nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và Việt Nam còn có nhiều tranh luận, chưa thống nhất được thang đo lường, kết quả nghiên cứu Vì thế, luận án làm rõ các khái niệm nghiên cứu, xem xét bổ sung, hiệu chỉnh các thang đo nghiên cứu cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, bối cảnh nghiên cứu
Thứ hai, 9 thang đo thành phần của các yếu tố về công nghệ, tổ chức, môi trường đối với việc thực hiện đổi mới xanh; và ảnh hưởng của đổi mới xanh đến hiệu suất môi trường và hiệu quả của DN vẫn chưa được nghiên cứu đồng thời Do đó, luận án sẽ kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa các biến quan sát được đưa ra để làm rõ mối quan hệ tác động giữa các nhân tố và cung cấp khung phân tích khá toàn diện về mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến đổi mới xanh, ảnh hưởng của đổi mới xanh, hiệu suất môi trường đến hiệu quả doanh nghiệp
Thứ ba, kết quả của các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa đổi mới xanh, hiệu suất môi trường và hiệu quả DN vẫn còn chưa có sự thống nhất Do đó, luận án này sẽ nghiên cứu thực nghiệm các tác động của 03 yếu tố trên để làm rõ vấn đề này
Cuối cùng và đặc biệt quan trọng, vai trò trung gian của hiệu suất môi trường đối mối quan hệ giữa đổi mới xanh và hiệu quả doanh nghiệp bao gồm cả hiệu quả tài chính và phi tài chính mà các nghiên cứu trước đây vẫn chưa tìm hiểu và đánh giá Luận án sẽ đi tìm hiểu vai trò trung gian của hiệu suất môi trường để giải đáp vấn đề này.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này có mục tiêu tổng quát là phân tích các nhân tố tác động đến việc đổi mới xanh và phân tích mối liên hệ giữa đổi mới xanh lên hiệu quả DN sản xuất thông qua biến trung gian là hiệu suất môi trường
Nghiên cứu này có các mục tiêu cụ thể như sau:
(1) Xác định các nhân tố tác động đến việc đổi mới xanh của DN sản xuất tại Việt Nam
(2) Tác động của đổi mới xanh đến hiệu suất môi trường của DN sản xuất tại Việt Nam
(3) Tác động của hiệu suất môi trường đến hiệu quả DN sản xuất tại Việt Nam
(4) Tác động của đổi mới xanh đến hiệu quả của DN thông qua vai trò trung gian của hiệu suất môi trường
(5) Gợi ý các hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả của DN sản xuất thông qua đổi mới xanh và hiệu suất môi trường.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này có các mục tiêu cụ thể như sau:
(1) Xác định các nhân tố tác động đến việc đổi mới xanh của DN sản xuất tại Việt Nam
(2) Tác động của đổi mới xanh đến hiệu suất môi trường của DN sản xuất tại Việt Nam
(3) Tác động của hiệu suất môi trường đến hiệu quả DN sản xuất tại Việt Nam
(4) Tác động của đổi mới xanh đến hiệu quả của DN thông qua vai trò trung gian của hiệu suất môi trường
(5) Gợi ý các hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả của DN sản xuất thông qua đổi mới xanh và hiệu suất môi trường
(1) Các nhân tố nào tác động đến đổi mới xanh của DN sản xuất tại Việt Nam?
(2) Đổi mới xanh tác động như thế nào đến hiệu suất môi trường của DN sản xuất tại Việt Nam?
(3) Hiệu suất môi trường tác động như thế nào đến hiệu quả DN sản xuất tại Việt Nam?
(4) Đổi mới xanh tác động như thế đến hiệu quả của DN sản xuất tại Việt Nam thông qua vai trò trung gian của hiệu suất môi trường?
(5) Những kiến nghị và giải pháp nào để có thể giúp DN sản xuất tại Việt Nam thúc đẩy đổi mới xanh để phát triển DN đạt hiệu quả và đạt về hiệu suất môi trường
1.5 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này đi tìm hiểu tác động của các yếu tố (công nghệ, tổ chức, môi trường) tác động đến đổi mới xanh và mối liên hệ giữa đổi mới xanh, hiệu suất môi trường và hiệu quả DN
1.5.2 Phạm vi nghiên cứu Đối tượng khảo sát là các giám đốc của 400 DNSX tại các KCN trọng điểm tại tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước Thời gian khảo sát vào tháng 5 – tháng 6 năm 2021
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp định tính: phỏng vấn trực tiếp (tay đôi) và thảo luận nhóm
- Phương pháp định lượng: Bảng câu hỏi khảo sát (xây dựng và phát triển thang đo, sơ bộ và chính thức) và sử dụng phần mềm SPSS 22.0 cho thống kê theo mẫu đặc tính và kiểm định thang đo, và phần mềm PLS-Smart 3.3.2 để thực hiện các phân tích thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), mô hình cấu trúc bình phương tối thiểu riêng phần (PLS-SEM) Nghiên cứu sẽ thực hiện khảo sát chính thức trong quá trình phát triển và xác nhận thang đo với cỡ mẫu là 400 bằng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện
1.7 ĐIỂM MỚI CỦA NGHIÊN CỨU
1) Làm rõ các khái niệm và tìm ra mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến đổi mới xanh, ảnh hưởng của đổi mới xanh, hiệu suất môi trường đến hiệu quả của doanh nghiệp
2) Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới xanh (các yếu tố về công nghệ, tổ chức và môi trường bên ngoài), đổi mới xanh, hiệu suất môi trường, hiệu quả DN (hiệu quả tài chính và phi tài chính) chưa được nghiên cứu đồng thời
3) Nghiên cứu về vai trò trung gian của hiệu suất môi trường đối với mối quan hệ giữa đổi mới xanh và hiệu quả DNSX bao gồm hiệu quả tài chính và phi tài chính
4) Xây dựng và bổ sung thang đo mới đối với tất các các nhân tố trong mô hình trên cơ sở tích hợp các thang đo trước đó phù hợp với bối cảnh nghiên cứu ở Việt Nam
Về mặt quản trị, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần giúp các nhà quản lý nhận thức được nhân tố quan trọng tác động to lớn đến sự đổi mới xanh và mức độ ảnh hưởng mà sự đổi mới xanh tác động lên hiệu quả của DNSX để các DN hoạch định được chính sách, chiến lược đúng đắn phù hợp với tình hình của DN mình để đạt được mục tiêu phát triển được DN bền vững và tối đa hóa lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường hiện nay
1.8 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Chương 2 Cơ sở lý thuyết
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu
Chương 5 Kết luận và hàm ý quản trị
KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Chương 2 Cơ sở lý thuyết
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu
Chương 5 Kết luận và hàm ý quản trị
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
CÁC KHÁI NIỆM
Đổi mới xanh còn được định nghĩa là các quy trình, kỹ thuật, thực hành, hệ thống và sản phẩm mới hoặc được sửa đổi cho phép các doanh nghiệp không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời vẫn duy trì phát triển bền vững, giảm thiểu chi phí nguyên vật liệu, tăng cường năng lực sản xuất và có trách nhiệm đối với xã hội tránh hoặc giảm thiểu tác hại đến môi trường (Kemp et al., 2001; Beise & Rennings, 2005)
Lợi thế tương đối là mức độ mà một sự đổi mới được coi là có lợi thế hơn so với nó ý tưởng thay thế, có thể được đo lường bằng các thuật ngữ kinh tế hoặc xã hội như hiệu suất, sự hài lòng, danh tiếng và sự thuận tiện (Rogers, 2003) Khả năng tương thích là mức độ mà một đổi mới được coi là phù hợp với giá trị hiện tại, kinh nghiệm và nhu cầu cần thiết cho sự thay đổi trong tương lai của các công ty (Rogers, 2003) Độ phức tạp là mức độ mà một sự đổi mới được coi là khó hiểu và khó sử dụng, nó sẽ tăng độ khó trong chuyển giao kiến thức và phổ biến sự đổi mới (Rogers, 2003) Do đó, có thể hiểu sự dễ dàng trong đổi mới công nghệ là mức độ mà sự đổi mới được xem là dễ hiểu và dễ sử dụng, dễ trong chuyển giao kiến thức và phổ biến sự đổi mới
Sự hỗ trợ của tổ chức là mức độ mà một công ty hỗ trợ nhân viên, cung cấp ưu đãi cho việc sử dụng một công nghệ hoặc hệ thống đặc biệt sẽ ảnh hưởng đến sự đổi mới, các tổ chức phải cân bằng các vấn đề kinh tế, môi trường, và xã hội trong công việc kinh doanh của mình (Lin & Ho, 2011) Chất lượng nguồn nhân lực là nguyên tắc cơ bản có nghĩa là các công ty có thể tác động và hình thành các kỹ năng, thái độ, và hành vi của các cá nhân để thực hiện công việc của họ và do đó đạt được mục tiêu tổ chức (Collins & Clark, 2003; Martinsons, 1995) Áp lực của khách hàng đề cập đến các yêu cầu của người tiêu dùng và khách hàng doanh nghiệp, tức là các nhóm quan trọng của các bên liên quan chính, để công ty cải thiện hoạt động môi trường và xã hội (Ateş et al., 2011; Ehrgott et al., 2011) Áp lực của chính phủ được định nghĩa là áp lực nhận thức được (đối với đổi mới xanh) mà chính phủ gây ra thông qua các quy định và quy định thực thi (Huang et al 2016) Hỗ trợ của chính phủ là một yếu tố môi trường có liên quan ảnh hưởng đến sự đổi mới xanh do Chính phủ có thể tiến bộ đổi mới thông qua các chính sách khuyến khích như cung cấp khuyến khích tài chính, nguồn lực kỹ thuật, dự án thí điểm, và các chương trình đào tạo (Scupola, 2003; Tornatzky & Fleischer, 1990) Sự thay đổi của thị trường đề cập đến một trạng thái gây ra bởi các sự kiện bên ngoài (Wong et al., 2011), và có thể là mức độ mà các sự kiện và trạng thái trong tương lai không thể lường trước được (Pfeffer & Salancik, 1978)
Hiệu suất môi trường về cơ bản có thể được định nghĩa như mức độ mà các công ty đáp ứng kỳ vọng của các bên liên quan của họ về trách nhiệm môi trường (Ruf et al., 1998; Carroll, 2000)
Hiệu quả tài chính là khả năng quản lý và kiểm soát tài nguyên của công ty (IAI,
2016); và là điều kiện tài chính của công ty trong một giai đoạn nhất định bao gồm việc thu thập và sử dụng vốn được đo lường bằng một số chỉ số về tỷ lệ an toàn vốn, thanh
6 khoản, đòn bẩy, khả năng thanh toán và khả năng sinh lời (Fatihudin et al., 2018) Hiệu quả phi tài chính là biện pháp định lượng đo lường hiệu quả DN không thể được thể hiện trong các đơn vị tiền tệ có giá trị trong việc đánh giá và thúc đẩy hiệu suất quản lý của DN, hiệu quả phi tài chính thường được các nhà nghiên cứu đo lường bằng các yếu tố như sự hài lòng của khách hàng, chất lượng sản phẩm, độ tin cậy của nhà cung cấp, danh tiếng công ty hay lợi thế canh tranh (Drury et al., 1993; Amad & Zabri, 2016).
CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN
2.2.1 Lý thuyết tăng trưởng xanh (Green growth theory)
Một quốc gia có thể áp dụng chiến lược tăng trưởng xanh để phát triển kinh tế, xã hội, công nghệ, môi trường và phát triển các khía cạnh bằng các biện pháp chính sách toàn diện (Dinda, 2013) Lý thuyết tăng trưởng xanh dựa trên giả định rằng sự tách rời tuyệt đối của GDP tăng trưởng từ việc sử dụng tài nguyên và phát thải carbon là khả thi, và với tốc độ đủ để ngăn chặn sự nguy hiểm của biến đổi khí hậu và các khía cạnh khác của sự phá vỡ sinh thái UNEP (2011) định nghĩa tăng trưởng xanh là một trong những kết quả giúp cải thiện sức khỏe của con người và công bằng xã hội, trong khi giảm đáng kể rủi ro môi trường và khan hiếm nguồn tài nguyên hữu hạn Đó là khí thải carbon thấp, tài nguyên hiệu quả, và hòa nhập xã hội Việc thực hiện tốt vấn đề tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường sẽ giúp các DN phát triển bền vững, thông qua các hoạt động, như: tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường; kiểm soát ô nhiễm; tái chế chất thải; tiết kiệm tài nguyên,… (OECD, 2012) và tìm kiếm lợi thế cạnh tranh thông qua đầu tư công nghệ sạch, hành động bảo vệ môi trường cũng tạo ra cơ hội kinh doanh mới
Do đó, nghiên cứu này sử dụng lý thuyết tăng trưởng xanh của UNEP (2011) để xây dựng các giả thuyết về tác động của đổi mới xanh đến hiệu suất môi trường đến hiệu quả của DN
2.2.2 Lý thuyết phát triển bền vững (Sustainable development theory)
Lý thuyết Phát triển bền vững (PTBV) xuất hiện vào những năm 1980, tập trung vào sự phát triển đồng bộ của nền kinh tế, xã hội, và môi trường, và đã đi vào chương trình nghị sự chính trị cấp cao (Shi et al., 2019) Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED, 1987) của Liên hợp quốc định nghĩa Phát triển bền vững là “sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”, nhấn mạnh khía cạnh sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển Tiêu chí để đánh giá tổng quát sự phát triển bền vững có thể bao gồm sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống Trong nghiên cứu này, DNSX đổi mới xanh với mục tiêu tạo ra các sản phẩm xanh với mục tiêu nhằm tiết kiệm và sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả nhất, hạn chế tối đa chất phát thải ra bên ngoài môi trường để bảo vệ môi trường, và đạt được hiệu quả kinh tế hướng tới phát triển bền vững DN góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước
Do đó, nghiên cứu này áp dụng lý thuyết PTBV của WCED (1987) trong nghiên cứu này để để xây dựng các giả thuyết về tác động của đổi mới xanh đến hiệu suất môi trường đến hiệu quả của DN
2.2.3 Lý thuyết các bên có liên quan (Stake holder theory)
Lý thuyết các bên liên quan đã được Freeman (1984) đưa ra như một đề xuất cho chiến lược quản lý các tổ chức vào cuối thế kỷ XX và lập luận rằng lập luận rằng các tổ chức kinh doanh nên quan tâm đến lợi ích của các bên liên quan khác khi đưa ra quyết định chiến lược cho tổ chức Theo Freeman (1984), các bên liên quan là các cá nhân hoặc nhóm (ví dụ như: khách hàng, nhân viên, chủ sở hữu của doanh nghiệp, cộng đồng, cổ đông …) có thể tác động hoặc bị tác động bởi việc hiện thực hóa sứ mệnh của một tổ chức
Lí thuyết các bên liên quan này cho rằng tổ chức có nghĩa vụ phải đối xử công bằng giữa các bên liên quan, trong trường hợp các bên liên quan có xung đột lợi ích, doanh nghiệp phải có nghĩa vụ đạt được sự cân bằng tối ưu giữa chúng để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Dựa theo lý thuyết các bên liên quan, các tổ chức thực hiện các hoạt động chiến lược để đáp ứng các bên liên quan chính của họ (Weng & Lin,
2011), và quan tâm đến việc nắm rõ các nhân tố bên trong và bên ngoài đã thúc đẩy đến việc đổi mới xanh; ví dụ như, yêu cầu của khách hàng hay là các quy định của chính phủ là nhân tố chính tác động đến việc đổi mới xanh, cách thức mà công ty có thể giải quyết toàn diện các mối quan tâm của các bên liên quan để đạt được mục tiêu kinh doanh (Weng et al., 2015) Do đó, có được một cái nhìn toàn diện về tác động của mỗi bên liên quan trong một công ty trong việc thực hiện các đổi mới xanh có tác động rất lớn đến sự thành công của công ty trong thị trường hiện nay
Do đó, áp dụng lý thuyết các bên liên quan của Freeman (1999) trong nghiên cứu này để xây dựng các giả thuyết về tác động của các yếu tố tổ chức và môi trường đến đổi mới xanh
2.2.4 Lý thuyết hiệu quả (Organizational effectiveness theory)
Cameron (1978) chỉ ra rằng hiệu quả của tổ chức là sự thành thạo của tổ chức khi sử dụng các tài nguyên thiết yếu có năng suất cao mà không lãng phí Một tổ chức, nếu nó hoạt động hiệu quả, sẽ tạo ra một sản phẩm không có chất thải và kiếm lợi nhuận bằng cách sản xuất và bán một sản phẩm không lãng phí tài nguyên đầu vào hay là tối đa hóa lợi nhuận Các nhà lý thuyết đã đưa ra năm cách tiếp cận để đo lường hiệu quả của tổ chức như mô hình mục tiêu, mô hình hệ thống tài nguyên, mô hình quy trình, mô hình chiến lược và phương pháp cạnh tranh giá trị (Chelladurai et al., 1987; Yuchtman & Seashore
1967) Hệ thống các tiêu chí để phân tích hiệu quả hoạt động của tổ chức đã được các nhà nghiên cứu xây dựng và phát triển theo các quan điểm khác nhau nhưng đa phần tập trung phân tích ở khía cạnh tài chính và phi tài chính Nhìn chung, các nghiên cứu trên thế giới đã vận dụng lý thuyết về hiệu quả nhìn nhận ở góc độ so sánh tuyệt đối và tương đối giữa đồng vốn DN bỏ ra với tổng thu nhập (lợi ích) sinh ra từ quá trình hoạt động trong một thời kỳ nhất định Việc tính toán hiệu quả sử dụng nguồn lực giúp DN nhận thức rõ kết quả khai thác hiện tại so với khả năng đáp ứng tối đa của mình, cũng như tìm ra nguyên nhân làm ảnh hưởng tới hiệu quả đầu ra
Do đó, áp dụng lý thuyết hiệu quả của Price (1968) Yuchtman và Seashore (1967) Chelladurai và đồng nghiệp (1987) trong nghiên cứu này để xây dựng các giả thuyết về tác động của đổi mới xanh đến hiệu suất môi trường và hiệu quả DN
2.2.5 Lý thuyết quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource-based viewed theory)
Nguồn lực có thể được định nghĩa rộng để bao gồm tài sản, quy trình tổ chức, thuộc tính công ty, thông tin hoặc kiến thức được kiểm soát bởi công ty có thể được sử dụng để hình thành và thực hiện các chiến lược của họ Quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV) đưa ra quan điểm từ trong ra ngoài hoặc quan điểm cụ thể về công ty về lý do tại sao các tổ chức thành công hay thất bại trên thị trường (Dicksen, 1996) Theo Barney (1986) nguồn lực quý giá phải cho phép một công ty thực hiện mọi việc và hành xử theo cách hiệu quả dẫn đến doanh số cao, chi phí thấp, lợi nhuận cao hoặc theo những cách khác để thêm giá trị tài chính hoành tráng cho công ty và cho phép một công ty hình thành hoặc thực hiện các chiến lược nâng cao hiệu quả của nó RBV giúp người quản lý các công ty hiểu tại sao nguồn lực có thể được coi là một tài sản quan trọng nhất của công ty đồng thời, để đánh giá cao những tài sản đó có thể được sử dụng như thế nào để cải thiện hiệu quả kinh doanh Theo lý thuyết RBV, đổi mới xanh được xem là một nguồn lực vô hình quan trọng rất khó bắt chước của một tổ chức và áp dụng đổi mới xanh cho phép các công ty để đạt được hiệu suất môi trường, lợi thế cạnh tranh và phát triển bền vững trong tương lai (Fernando & Wah, 2017)
Do đó, áp dụng lý thuyết quan điểm dựa trên nguồn lực của Barney (1991) trong nghiên cứu này để xây dựng các giả thuyết về tác động của đổi mới xanh đến hiệu suất môi trường và hiệu quả DN
2.2.6 Lý thuyết khuếch tán đổi mới (Diffusion of innovation theory)
Lý thuyết khuếch tán đổi mới của Rogers (2003) là một khung lý thuyết được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực khuếch tán và áp dụng công nghệ, thích hợp nhất để điều tra việc áp dụng công nghệ mới trong nhiều lĩnh vực (Medlin, 2001; Parisot, 1995) Rogers
(2003) đã mô tả quá trình khuếch tán đổi mới là một quá trình giảm thiểu sự không chắc chắn và ông đề xuất các thuộc tính của đổi mới giúp giảm sự không chắc chắn về đổi mới Các thuộc tính của đổi mới bao gồm năm đặc điểm của đổi mới (1) lợi thế tương đối, (2) tương thích, (3) phức tạp, (4) khả năng thử nghiệm, và (5) khả năng quan sát Rogers (2003) lập luận rằng các đổi mới mang lại lợi thế tương đối hơn, khả năng tương thích, đơn giản, khả năng thử nghiệm và khả năng quan sát sẽ được áp dụng nhanh hơn so với các đổi mới khác và lưu ý rằng một ý tưởng đổi mới luôn khó khăn ngay cả khi có lợi thế rõ ràng; do đó, sự sẵn có của tất cả các biến đổi mới này sẽ tăng tốc quá trình khuếch tán đổi mới
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỔI MỚI XANH
Nghiên cứu này xem xét đến mối liên hệ của cả ba yếu tổ công nghệ, yếu tổ tổ chức và yếu tố môi trường đến việc đổi mới xanh của DN vì các yếu tố này có khả năng ảnh
9 hưởng đến việc áp dụng đổi mới xanh của DN dựa trên kết quả của các nhà nghiên cứu trước đây (Lin & Ho, 2011; Ruslan, 2014) i) Yếu tố công nghệ
Theo kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu trước đây (Sia et al., 2004; Lin & Ho, 2011; Kousar et al., 2017), lợi thế tương đối và khả năng tương thích của công nghệ được tìm thấy có tác động tích cực đến việc áp dụng đổi mới xanh; sự phức tạp được các nhà khẳng định là có tác động tiêu cực Lợi thế tương đối có thể là về giá cả, chất lượng và tính dễ sử dụng, tuổi thọ và sự hài lòng mà công ty có thể tận hưởng sau khi sử dụng đổi mới Theo đó, nếu lợi thế tương đối của đổi mới lớn hơn, các công ty sẵn sàng áp dụng đổi mới và tìm kiếm lợi ích kinh tế cao hơn (Lin & Ho, 2011; Rogers, 2003) Lợi thế tương đối thường có liên quan tích cực đến việc áp dụng đổi mới xanh (Rogers et al., 2012; Tornatzky et al., 2008) Khả năng tương thích phản ánh nhận thức của tổ chức về tính nhất quán của công nghệ với các giá trị, trải nghiệm và nhu cầu hiện có của công ty (Rogers, 2003), vì vậy nếu một công ty nhận thấy rằng công nghệ tương thích với kiến thức hiện có của công ty, tổ chức sẽ dễ dàng bị thuyết phục để áp dụng đổi mới kỹ thuật đó (Chau & Tam, 1997) Kết quả của các nghiên cứu trước đây khẳng định, khả năng tương thích có tác động tích cực đến việc áp dụng đổi mới xanh (Lin & Ho, 2011; Kousar et al., 2017) Sự phức tạp của đổi mới phản ánh mức độ mà một tổ chức nhận thấy rằng công nghệ khó hiểu và khó sử dụng Các nhà nghiên cứu giả thuyết rằng sự phức tạp của công nghệ tăng lên, nó làm giảm cơ hội áp dụng đổi mới; hơn nữa, khó khăn trong truyền bá đổi mới (Rogers, 2002) và chia sẻ kiến thức (Tornatzky & Klein, 1982) làm tăng mức độ phức tạp trong công nghệ, vì vậy tổ chức sẵn sàng áp dụng một sự đổi mới nếu việc chia sẻ kiến thức về đổi mới dễ dàng trong tổ chức Độ khó trong chuyển giao kiến thức và phổ biến đổi mới (Rogers, 2003), và thường được giả thuyết là phủ định liên quan đến việc áp dụng đổi mới (Tornatzky & Klein, 1982; Lin & Ho, 2011; Weng & Lin, 2011) Từ đó, có thể suy ra rằng các yếu tố công nghệ được kỳ vọng tác động tích cực đến đổi mới xanh
Từ các kết quả các nghiên cứu trên và dựa vào lý thuyết khuếch tán đổi mới của Roger (2003), ta đưa ra giả thuyết nghiên cứu như sau:
H 1 : Lợi thế tương đối tác động tích cực đến việc đổi mới xanh của DNSX
H 2 : Khả năng tương thích tác động tích cực đến việc đổi mới xanh của DNSX
H 3 : Sự dễ dàng tác động tích cực đến việc đổi mới xanh của DNSX
Các yếu tố về tổ chức Áp dụng lý thuyết Các bên có liên quan của Freeman (1999), nghiên cứu này phân loại thành hai nhóm các bên liên quan khác nhau như các yếu tố bên trong tổ chức (nhân viên, lãnh đạo công ty) hoặc các yếu tố bên ngoài (khách hàng, chính phủ), được các nghiên cứu trước đây khẳng định có quan hệ tích cực đến hành vi đổi mới xanh của DN (Lin &
Ho, 2011; Wang et al., 2016; Ibrahim et al., 2018) Nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào yếu tố chất lượng nguồn nhân lực, sự hỗ trợ của tổ chức vì các biến liên quan đến tài nguyên tổ chức được phân tích rộng rãi trong nghiên cứu về đổi mới kỹ thuật và môi trường quản lý (Lee, 2008; Lin & Ho, 2011; Weng et al., 2015) Các công ty có nguồn nhân lực có trình
10 độ sẽ được hưởng lợi khi áp dụng các đổi mới xanh, đã được các nghiên cứu của (Lin &
Ho, 2011; Weng et al., 2011) khẳng định tác động tích cực đến việc thực hiện đổi mới ở các DN Kết quả nghiên cứu của (Soliman & Janz, 2004; Teo et al., 2009) khẳng định rằng sự hỗ trợ của tổ chức đặc biệt là quản lý đứng đầu tác động tích cực đến việc thực hiện đổi mới xanh Từ đó, có thể suy ra rằng các yếu tố tổ chức được kỳ vọng tác động tích cực đến đổi mới xanh
Từ các nghiên cứu trên và dựa vào lý thuyết các bên có liên quan của Freeman
(1999), ta đưa ra giả thuyết nghiên cứu như sau:
H 4 : Sự hỗ trợ của tổ chức tác động tích cực đến việc đổi mới xanh của DNSX
H 5 : Chất lượng nguồn nhân lực tác động tích cực đến việc đổi mới xanh của DNSX
Các yếu tố môi trường
Nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào ảnh hưởng của áp lực của các bên có liên quan mà ở đây cụ thể là của khách hàng và các quy định, yếu tố sự ủng hộ của chính quyền, và sự thay đổi của môi trường kinh doanh vì đây là những nhân tố được các nghiên cứu trước khẳng định ảnh hưởng đến việc thực hiện đổi mới xanh ở các DN (Lin & Ho, 2011; Weng et al., 2015; Guo et al., 2018) Theo lý thuyết các bên liên quan, các tổ chức thực hiện các hoạt động để đáp ứng các bên liên quan chính của mình Trong số các bên liên quan khác nhau, khách hàng và cơ quan quản lý được xem là một trong các bên liên quan quan trọng nhất của công ty (Christmann, 2004; Etzion, 2007) Kết quả của các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng có mối quan hệ tích cực giữa các hoạt động môi trường của DN với áp lực khách hàng và áp lực các quy định (Christmann, 2004; Lee, 2008; Wong & Fryxell, 2004) Do đó, áp lực của khách hàng và áp lực của chính phủ được hy vọng có tác động tích cực đến việc đổi mới xanh Theo nghiên cứu Aragon-Correa và Sharma (2003), Lee (2008) và Ai (2010), các tác giả chứng tỏ rằng chính sách hỗ trợ của chính phủ có thể giúp bù đắp sự thiếu hụt về nguồn lực đổi mới công nghệ xanh trong các doanh nghiệp Ngoài ra, các công ty có nhiều khả năng áp dụng các đổi mới xanh để tạo ra khả năng cải thiện hiệu suất môi trường và hiệu quả hoạt động trong môi trường kinh doanh không ổn định (Aragon-Correa & Sharma, 2003; Rothenberg & Zyglidopoulos, 2007) Từ đó, có thể suy ra rằng các yếu tố môi trường được kỳ vọng tác động tích cực đến đổi mới xanh
Từ các kết quả của các nghiên cứu trên và dựa vào lý thuyết các bên có liên quan của Freeman (1999), luận án đưa ra các giả thuyết nghiên cứu như sau:
H 6 : Áp lực khách hàng tác động tích cực đến việc đổi mới xanh của DNSX
H 7 : Áp lực của Chính phủ tác động tích cực đến việc đổi mới xanh của DNSX
H 8 : Sự ủng hộ của chính phủ tác động tích cực đến việc đổi mới xanh của DNSX
H 9 : Sự thay đổi của thị trường tác động tích cực đến việc đổi mới xanh của DNSX.
MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI XANH VÀ HIỆU SUẤT MÔI TRƯỜNG CỦA
Các DN ngày nay muốn cạnh tranh được thì cần phải cố gắng phát triển các sản phẩm xanh hay dây chuyền sản xuất hỗ trợ tiết kiệm năng lượng, đổi mới về công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường là một chiến lược hiệu quả và phổ biến mà nhiều DN sử
11 dụng để hạn chế tối đa hao phí trong quá trình sản xuất, giảm thiểu tác động đến môi trường và đạt được hiệu quả kinh tế vượt trội (Dangelico & Pujari 2010; Triguero et al., 2013) Hiệu suất môi trường hay là mục tiêu của đổi mới xanh nói chung là để giảm ô nhiễm, giảm tiêu hao năng lượng, giảm chất thải, thay thế các nguồn tài nguyên hạn chế bằng các nguồn tài nguyên bền vững hoặc tái chế (Kemp & Arundel, 1998) Hiệu suất môi trường thường các nhà nghiên cứu đo lường bằng sự giảm khí thải, nước thải, chất thải rắn, sử dụng hiệu quả nguyên liệu đầu vào, giảm tần suất tai nạn môi trường và tình hình môi trường của DN Theo Montabon và đồng nghiệp (2007) và Seman và đồng nghiệp (2019), những cải tiến trong quy trình sản xuất và năng suất xanh sẽ tăng cơ hội cải thiện hiệu suất môi trường, và nghiên cứu của Zhang và cộng sự (2017) chứng tỏ rằng hầu hết đổi mới xanh trong DN sẽ giảm thiểu khí thải carbon Từ đó, có thể suy ra rằng đổi mới xanh được kỳ vọng có tác động tích cực đến đổi mới xanh Từ các kết quả nêu trên, đưa ra giả thuyết của nghiên cứu:
H 10 : Đổi mới xanh tác động tích cực đến hiệu suất môi trường của DNSX
MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI XANH, HIỆU SUẤT MÔI TRƯỜNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA DNSX
Các nghiên cứu trước đây cho thấy các hoạt động đổi mới xanh có thể giúp DN tiết kiệm năng lượng, ngăn ngừa ô nhiễm, hoặc cho phép tái chế chất thải và có thể bao gồm thiết kế sản phẩm xanh và sự quản lý môi trường của các DN (Lin et al., 2019) Dựa vào các kết quả nghiên cứu về Đổi mới xanh cho các DN cho thấy khi thực hiện ĐMX và duy trì môi trường sống bền vững thì hiệu quả tài chính của DN cũng theo chiều hướng thay đổi tích cực và tiêu cực Một số nghiên cứu cho thấy việc ĐMX tác động tiêu cực đến hiệu quả tài chính của DN Các nghiên cứu cho rằng các quy định về môi trường làm tăng thêm các chi phí của DN (Walley & Whitehead, 1994; Palmer et al., 1995); và chi phí tuân thủ các quy định về môi trường và chịu trách nhiệm xã hội sẽ làm giá thành sản phẩm cao hơn, rất bất lợi cạnh tranh so với các đối thủ trên thị trường và đạt lợi nhuận thấp hơn (Aupperle et al., 1985; Guerard, 1997) Mặt khác, đa phần các nghiên cứu đều lập luận trái ngược với các nghiên cứu trên, việc tuân thủ các quy định về môi trường có thể kích thích các công ty tìm kiếm lợi nhuận áp dụng việc đổi mới xanh để tăng hiệu quả sử dụng nguyên liệu đầu vào đầu vào, giảm tổn thất lợi nhuận do các quy định mang lại và đạt được hiệu quả tài chính bằng cách là tổ chức đầu tiên giới thiệu sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường, cải thiện hiệu suất của tổ chức, giảm chi phí tuân thủ môi trường (Altman, 2001; McWilliams & Siegel 2001; Chang; 2011; Singh el al., 2020; Asadi et al., 2020) Bên cạnh đó, đổi mới xanh được chứng minh là một trong những nhân tố tác động đến hiệu quả phi tài chính của DN thường được đo lường bằng các yếu tố như sự hài lòng của khách hàng, chất lượng sản phẩm, độ tin cậy của nhà cung cấp, danh tiếng công ty, và đặc biệt là lợi thế canh tranh (Porter & Van Der Linde, 1995; Ahmad & Zabri, 2016; Gurlek & Tuna, 2017)
Từ đó, có thể suy ra đổi mới xanh được kỳ vọng tác động tích cực đến hiệu quả DNSX Từ các kết quả của các nghiên cứu trên có giả thuyết nghiên cứu:
H 11 : Đổi mới xanh tác động tích cực đến hiệu quả của DNSX
Một số nghiên cứu trước đây lập luận rằng trách nhiệm về môi trường làm tốn kém tài sản DN và nó không hề dễ dàng để có thể đổi mới xanh (Aupperle et al., 1985; Walley
& Whitehead, 1994) Mặt khác, Prace (2005) lập luận rằng hiệu quả trong việc quản lý hiệu suất môi trường còn có thể thu lợi nhiều hơn thông qua hình ảnh sản phẩm xanh và sản phẩm hợp lý với môi trường, giảm thiểu tối đa chi phí để đối phó với ô nhiễm và tăng năng suất của DN, vì quy trình sản xuất không hiệu quả sẽ làm tốn kém năng lượng và tài nguyên mới gây ra ô nhiễm môi trường Các lập luận chính của các nghiên cứu trước đã khẳng định kết quả tích cực giữa hiệu suất môi trường và hiệu quả tài chính và phi tài chính của
DN đó là hiệu suất môi trường đại diện cho một sự đổi mới và hiệu quả hoạt động (Aguilera-Caracuel & Ortiz-de-Mandojana, 2013; Porter & Van der Linde, 1995), cải thiện lợi thế cạnh tranh bền vững (Hart, 1995; Russo & Fouts, 1997), làm tăng danh tiếng về môi trường của cụng ty và sự gắn kết của nhõn viờn (Dửgl & Holtbrỹgge, 2013), nõng cao tớnh hợp pháp của công ty (Hart, 1995), và phản ánh khả năng quản lý mạnh mẽ của tổ chức (Aragón-Correa, 1998; Aschehoug et al, 2012) trường đến hiệu quả tài chính của DN bằng cách cải tiến về năng suất, tăng lợi nhuận cho DN và giảm các chi phí cho việc tuân thủ các quy định môi trường Do đó, hiệu suất môi trường được kỳ vọng tác động tích cực đến hiệu quả DNSX
Từ các kết quả nêu trên, ta đưa ra giả thuyết của nghiên cứu:
H 12 : Hiệu suất môi trường tác động tích cực đến hiệu quả của DNSX
MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT
Bảng 2.1 Tóm tắt các giả thuyết nghiên cứu
H1 Lợi thế tương đối tác động tích cực đến đổi mới xanh
H2 Khả năng tương thích tác động tích cực đến đổi mới xanh
H3 Sự dễ dàng tác động tích cực đến đổi mới xanh
H4 Sự hỗ trợ của tổ chức tác động tích cực đến đổi mới xanh
H5 Chất lượng nguồn nhân lực tác động tích cực đến đổi mới xanh
H6 Áp lực khách hàng tác động tích cực đến đổi mới xanh
H7 Áp lực của Chính phủ tác động tích cực đến đổi mới xanh
H8 Sự hỗ trợ của Chính phủ tác động tích cực đến đổi mới xanh
H9 Sự thay đổi của thị trường tác động tích cực đến đổi mới xanh
H10 Đổi mới xanh tác động tích cực đến Hiệu quả DN
H11 Đổi mới xanh tác động tích cực đến Hiệu suất môi trường
H12 Hiệu suất môi trường tác động tích cực đến Hiệu quả DN
Dựa trên các giả thuyết trên, mô hình nghiên cứu được đề xuất cụ thể như sau:
Biến độc lập: Lợi thế tương đối, Khả năng tương thích, sự dễ dàng, Sự hỗ trợ của tổ chức, chất lượng nguồn nhân lực, Áp lực khách hàng, Áp lực của Chính phủ, Hỗ trợ của Chính phủ, Sự thay đổi của thị trường
Biến trung gian: Đổi mới xanh, Hiệu suất môi trường
Biến phụ thuộc: Hiệu quả DN
CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG
CÁC YẾU TỐ VỀ CÔNG NGHỆ
CÁC YẾU TỐ TỔ CHỨC
Sự thay đổi của thị trường
Sự hỗ trợ của tổ chức
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Chất lượng nguồn nhân lực
Lợi thế tương đối Đổi mới xanh
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Quá trình nghiên cứu được thực hiện qua các bước cơ bản theo trình tự sau: (1) Đặt vấn đề; (2) Mục tiêu nghiên cứu; (3) Xem xét các lý thuyết và nghiên cứu trước đây liên quan đến mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến đổi mới xanh, mối liên hệ giữa đổi mới xanh, hiệu suất môi trường và hiệu quả DN; (4) Tìm khoảng trống nghiên cứu và đề xuất giả thuyết nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu: (5) Lựa chọn và điều chỉnh thang đo; (6) Lấy mẫu và thu thập dữ liệu; (7) Phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, độ tin cậy của thang đo, mô hình đo lường và mô hình cấu trúc; (8) Thảo luận về kết quả nghiên cứu; (9) Hàm ý quản trị Đặc biệt, luận án này sử dụng phương pháp hỗn hợp Phương pháp định lượng có nhiệm vụ chính là dung để để phân tích tất cả dữ liệu Phương pháp định tính được sử dụng để phát triển thang đo và giải thích kết quả
- Phương pháp định tính là để điều chỉnh thang đo Tham khảo cơ sở lý luận và thang đo đó của các nghiên cứu trước đây, luận án đã xây dựng thang đo sơ bộ và sử dụng phương pháp định tính để điều chỉnh, hoàn thiện và trở thành thang đo cuối cùng Với đề tài này, nghiên cứu sử dụng phương pháp thảo luận nhóm với cỡ mẫu gồm 10 người bao gồm các chuyên gia (cán bộ Ban QLKKT, Sở TN-MT, cán bộ Phòng TN-MT), cán bộ thuộc BQL các khu, cụm công nghiệp trọng điểm thường xuyên xử lý các vấn đề về môi trường, cùng đại diện của các DNSX tiêu biểu trú đóng tại các khu, cụm KCN (Danh sách theo phụ lục đính kèm) Sau đó, nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu 06 chuyên gia trong lĩnh vực kinh doanh - môi trường Việc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm sẽ giúp hoàn thiện mô hình nghiên cứu và điều chỉnh, hoàn thiện thang đo cũng như các biến quan sát trong đề tài
Bảng 3.1 Tóm tắt kết quả phương pháp định tính
Thang đo dự kiến (Số lượng)
Phương pháp định tính (Số lượng)
- Phương pháp định lượng: Phương pháp định lượng thực hiện các phân tích này như phân tích thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để ước tính mối quan hệ giữa các khái niệm Cụ thể, các hoạt động phân tích định lượng được nghiên cứu như sau: Thống kê mô tả, Độ tin cậy nhất quán nội bộ, Giá trị hội tụ, Giá trị phân biệt, Đánh giá đa cộng tuyến,
Hệ số đường dẫn của mô hình cấu trúc, Hệ số xác định (giá trị R²), Hệ số tác động (f²).
NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH ĐIỀU CHỈNH THANG ĐO
Trong luận án này, nghiên cứu định tính được thực hiện qua 2 bước cụ thể như sau:
Bước 1 : Tiến hành xây dựng dàn bài thảo luận nhóm Mục đích của bước này là làm sáng tỏ thêm về lý thuyết, xây dựng, hình thành và phát triển thang đo Do đó, nghiên cứu định tính này thực hiện thảo luận nhóm gồm 02 cán bộ Sở Tài Nguyên và Môi Trường (Sở TN-MT), 02 cán bộ Ban Quản lý khu kinh tế, 02 cán bộ Phòng TN-MT, và 04 cán bộ BQL cụm KCN trọng điểm nơi có các DNSX tham gia khảo sát
Bước 2: Sau khi có được thang đo sơ bộ từ thảo luận nhóm với các chuyên gia, bước kế tiếp tiến hành phỏng vấn sâu 06 chuyên gia trong lĩnh vực kinh doanh – môi trường nhằm tiếp tục điều chỉnh và phát triển thang đo để đảm bảo giá trị nội dung, hình thức phục vụ cho nghiên cứu định lượng Ở bước này, tiến hành phỏng vấn các đối tượng khảo sát theo dàn bài phỏng vấn nhằm điều chỉnh và phát triển các thang đo Kết quả phỏng vấn sâu cũng ghi nhận thêm các ý kiến bổ sung cũng như điều chỉnh thang đo cho phù hợp với thực tế tại các DNSX Kết thúc các buổi phỏng vấn sâu, không có phát hiện thêm các ý kiến mới về thang đo của các thành phần trong nghiên cứu.
THIẾT KẾ THANG ĐO CHO CÁC KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU
3.4.1 Lợi thế tương đối (LTD)
Thang đo cho khái niệm Lợi thế tương đối kế thừa từ nghiên cứu của Lin và Ho
(2011) và sau khi được điều chỉnh, bổ sung bao gồm 13 biến quan sát
3.4.2 Thang đo Khả năng tương thích (KTT)
Thang đo cho khái niệm Khả năng tương thích (KTT) kế thừa từ nghiên cứu của Lin và Ho (2011) và sau khi được điều chỉnh, bổ sung bao gồm 9 biến quan sát
3.4.3 Thang đo Sự dễ dàng (SDD)
Thang đo cho khái niệm Sự dễ dàng (SDD) kế thừa từ nghiên cứu của Lin và Ho
(2011) và sau khi được điều chỉnh, bổ sung bao gồm 7 biến quan sát
3.4.4 Thang đo Hỗ trợ của tổ chức (HTC)
Thang đo cho khái niệm Hỗ trợ của tổ chức (HTC) kế thừa từ nghiên cứu của Lin và Ho (2011) và sau khi được điều chỉnh, bổ sung bao gồm 12 biến quan sát
3.4.5 Thang đo Chất lượng nguồn nhân lực (CNL)
Thang đo cho khái niệm Chất lượng nguồn nhân lực (CNL) kế thừa từ nghiên cứu của Lin và Ho (2011) và sau khi được điều chỉnh, bổ sung bao gồm 11 biến quan sát
3.4.6 Thang đo Áp lực từ khách hàng (AKH)
Thang đo cho khái niệm Chất lượng nguồn nhân lực (CNL) kế thừa từ nghiên cứu của Lin và Ho (2011) và Ehrgott và cộng sự (2011) và sau khi được điều chỉnh, bổ sung bao gồm 11 biến quan sát
3.4.7 Thang đo Áp lực của Chính phủ (ACP)
Thang đo cho khái niệm Chất lượng nguồn nhân lực (CNL) kế thừa từ nghiên cứu của Lin và Ho (2011) và Lopez-Gamero và cộng sự (2010), Liu (2009) và Zhao và cộng sự (2015) và sau khi được điều chỉnh, bổ sung bao gồm 11 biến quan sát
3.4.8 Thang đo Hỗ trợ của Chính phủ (HCP)
Thang đo cho khái niệm Hỗ trợ của Chính phủ (HCP) kế thừa từ nghiên cứu của Lin và Ho (2011) và Lee (2008) và sau khi được điều chỉnh, bổ sung bao gồm 10 biến quan sát
3.4.9 Thang đo Sự thay đổi của thị trường (DTT)
Thang đo cho khái Sự thay đổi của thị trường (DTT) kế thừa từ nghiên cứu của Lin và Ho (2011) và sau khi được điều chỉnh, bổ sung bao gồm 11 biến quan sát
3.4.10 Thang đo Đổi mới sản phẩm xanh (DSP)
Thang đo cho khái niệm Đổi mới sản phẩm xanh (DSP) kế thừa từ nghiên cứu của Chen (2008); và Chen et al., (2006) và sau khi được điều chỉnh, bổ sung bao gồm 9 biến quan sát
3.4.11 Thang đo Đổi mới quy trình xanh (DQT)
Thang đo cho khái niệm Đổi mới quy trình xanh (DQT) kế thừa từ nghiên cứu của Chen (2008) và Chen et al., (2006) và sau khi được điều chỉnh, bổ sung bao gồm 11 biến quan sát
3.4.12 Thang đo Hiệu suất môi trường (SMT)
Thang đo cho khái niệm Hiệu suất môi trường (SMT) kế thừa từ nghiên cứu của Zhu và Sarkis (2004) và sau khi được điều chỉnh, bổ sung bao gồm 16 biến quan sát
3.4.13 Thang đo Hiệu quả tài chính (HQC)
Thang đo cho khái niệm Hiệu quả tài chính (HQC) kế thừa từ nghiên cứu của Cooper và cộng sự (1994), Avlonitis và cộng sự (2001) và Zhu và Sarkis (2004) và sau khi được điều chỉnh, bổ sung bao gồm 11 biến quan sát
3.4.14 Thang đo Hiệu quả phi tài chính (HQP)
Thang đo cho khái niệm Hiệu quả phi tài chính (HQP) kế thừa từ nghiên cứu của Cooper và cộng sự (1994) và Avlonitis và cộng sự (2001) và sau khi được điều chỉnh, bổ sung bao gồm 11 biến quan sát.
NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG
3.5.1 Bảng câu hỏi khảo sát
Chọn mẫu thuận tiện (Convenience sampling) là cách phù hợp nhất của nghiên cứu này trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp trong những năm gần đây vì kỹ thuật lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay dựa trên tính dễ tiếp cận của đối tượng, ở những nơi mà nhân viên điều tra có nhiều khả năng gặp được đối tượng
Dữ liệu cho nghiên cứu này thu thập từ bảng câu hỏi khảo sát được gửi trực tiếp đến người trả lời từ các giám đốc của các doanh nghiệp của các tổ chức trong lĩnh vực sản xuất nằm trong các khu công nghiệp chính của Việt Nam Lý do chọn các giám đốc làm đối tượng thu thập dữ liệu là họ phải hiểu rất rõ về các doanh nghiệp hiện tại tham gia vào quá trình ra quyết định Trong luận án này, sau khi thu thập và sàng lọc các bảng trả về đạt yêu cầu, luận án có 400 quan sát Cỡ mẫu đáp ứng tiêu chí
3.5.4 Phương pháp phân tích dữ liệu
Nghiên cứu này sử dụng phần mềm SPSS 22.0 và PLS-Smart 3.3.2 để xử lý dữ liệu định lượng thu thập từ khảo sát chính thức Trong khi phân tích số liệu, phần mềm SPSS dùng để thống kê mô tả, kiểm tra độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá của các nhân tố độc lập và phụ thuộc, và phần mềm PLS-Smart sẽ được sử dụng để phân tích mô hình của nghiên cứu và kiểm định giả thuyết
PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ TRÌNH BÀY KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
THỐNG KÊ MẪU THEO CÁC ĐẶC TÍNH
Bảng 4.1 Thống kê mẫu theo đặc tính Đặc tính Frequency Percentage (%) Giới tính
Dưới đại học 9 2.25% Đại học 333 83.25%
Lĩnh vực sản xuất – kinh doanh
Hình thức sở hữu của DN
Thời gian DN bắt đầu hoạt động
Vốn điều lệ của DN
Tần suất sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường
Tổng tài sản của DN cuối năm gần đây
Tổng số lao động làm việc toàn thời gian của DN
Tổng doanh thu của doanh nghiệp cuối năm gần đây Không có doanh thu
0 82.5% 13% 1.25% 1.25% 2% 100% Kết quả lợi nhuận của DN trong cuối 02 năm gần đây
THỐNG KÊ MÔ TẢ CÁC BIẾN QUAN SÁT
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THANG ĐO
4.3.1 Kiểm định thang đo bằng Cronbach’s Alpha
4.3.1.1 Nhân tố Lợi thế tương đối (LTD)
Nhân tố lợi thế tương đối: Sau khi loại các biến quan sát LTD1, LTD4, LTD7, LTD9, LTD10, LTD12, và LTD13, tiến hành kiểm định lần 2 đối với các biến còn lại thì chỉ số Cronbach’s Alpha = 0.887>0.6 đáp ứng độ tin cậy của thang đo (Hair et al., 2006) và hệ số tương quan Biến-Tổng hiệu chỉnh (Corrected Item-Total Correlation) >0.3 (Hair et al., 2006) Điều này cho thấy rằng các biến quan sát LTD2, LTD3, LTD5, LTD6, LTD8 và LTD11 đều đáp ứng được độ tin cậy, thỏa mãn điều kiện và làm đại diện cho thang đo
Lợi thế tương đối (LTD) của nghiên cứu
4.3.1.2 Nhân tố Khả Năng Tương Thích (KTT)
Nhân tố Khả năng tương thích: Sau khi loại các biến quan sát KTT6, KTT7, KTT8, tiến hành kiểm định lần 2 đối với các biến còn lại thì chỉ số Cronbach’s Alpha = 0.857>0.6 đáp ứng độ tin cậy của thang đo (Hair et al., 2006) và hệ số tương quan Biến-Tổng hiệu chỉnh (Corrected Item-Total Correlation) >0.3 (Hair et al., 2006) Điều này cho thấy rằng các biến quan sát KTT1, KTT2, KTT3, KTT4, KTT5 và KTT9 đều đáp ứng được độ tin cậy, thỏa mãn điều kiện và làm đại diện cho thang đo Khả Năng Tương Thích (KTT) của nghiên cứu
4.3.1.3 Nhân tố Sự dễ dàng (SDD)
Nhân tố Sự dễ dàng: Chỉ số Cronbach’s Alpha = 0.896>0.6 đáp ứng độ tin cậy của thang đo (Hair et al., 2006) và hệ số tương quan Biến-Tổng hiệu chỉnh (Corrected Item- Total Correlation) >0.3 (Hair et al., 2006) Điều này cho thấy rằng tất các biến quan sát SDD1 đến SDD7 đều đáp ứng được độ tin cậy, thỏa mãn điều kiện và làm đại diện cho thang đo Sự dễ dàng (SDD) của nghiên cứu
4.3.1.4 Nhân tố Hỗ trợ của tổ chức (HTC)
Nhân tố Hỗ trợ của tổ chức (HTC): Sau khi loại các biến quan sát HTC3, HTC4, HTC7, HTC9, và HTC10, tiến hành kiểm định lần 2 đối với các biến còn lại thì chỉ số Cronbach’s Alpha = 0.870>0.6 đáp ứng độ tin cậy của thang đo (Hair et al., 2006) và hệ số tương quan Biến-Tổng hiệu chỉnh (Corrected Item-Total Correlation) >0.3 (Hair et al.,
2006) Điều này cho thấy rằng các biến quan sát HC1, HTC2, HTC5, HTC6, HTC8, HTC11 và HTC12 đều đáp ứng được độ tin cậy, thỏa mãn điều kiện và làm đại diện cho thang đo
Hỗ trợ của tổ chức (HTC) của nghiên cứu
4.3.1.5 Nhân tố Chất lượng nguồn nhân lực (CNL)
Nhân tố Chất lượng nguồn nhân lực (CNL): Sau khi loại các biến quan sát CNL3, CNL5, CNL8, CNL10 và CNL11, tiến hành kiểm định lần 2 đối với các biến còn lại thì chỉ số Cronbach’s Alpha = 0.853>0.6 đáp ứng độ tin cậy của thang đo (Hair et al., 2006) và hệ số tương quan Biến-Tổng hiệu chỉnh (Corrected Item-Total Correlation) >0.3 (Hair et al.,
2006) Điều này cho thấy rằng các biến quan sát CNL1, CNL2, CNL4, CNL6, CNL7, và
CNL9 đều đáp ứng được độ tin cậy, thỏa mãn điều kiện và làm đại diện cho thang đo Chất lượng nguồn nhân lực (CNL) của nghiên cứu
4.3.1.6 Nhân tố Áp lực từ khách hàng (AKH)
Nhân tố Áp lực từ khách hàng (AKH): Sau khi loại các biến quan sát AKH8, AKH10 và AKH11, tiến hành kiểm định lần 2 đối với các biến còn lại thì chỉ số Cronbach’s Alpha
= 0.894>0.6 đáp ứng độ tin cậy của thang đo (Hair et al., 2006) và hệ số tương quan Biến- Tổng hiệu chỉnh (Corrected Item-Total Correlation) >0.3 (Hair et al., 2006) Điều này cho thấy rằng các biến quan sát AKH1, AKH2, AKH3, AKH4, AKH5, AKH6, AKH7 và AKH9 đều đáp ứng được độ tin cậy, thỏa mãn điều kiện và làm đại diện cho thang đo Áp lực từ khách hàng (AKH) của nghiên cứu
4.3.1.7 Nhân tố Áp lực từ Chính phủ (ACP)
Nhân tố Áp lực từ Chính phủ (ACP): Sau khi loại các biến quan sát ACP4, ACP5, ACP10 và ACP11, tiến hành kiểm định lần 2 đối với các biến còn lại thì chỉ số Cronbach’s Alpha = 0.884>0.6 đáp ứng độ tin cậy của thang đo (Hair et al., 2006) và hệ số tương quan Biến-Tổng hiệu chỉnh (Corrected Item-Total Correlation) >0.3 (Hair et al., 2006) Điều này cho thấy rằng các biến quan sát ACP1, ACP2, ACP3, ACP6, ACP7, ACP8 và ACP9 đều đáp ứng được độ tin cậy, thỏa mãn điều kiện và làm đại diện cho thang đo Áp lực từ Chính phủ (ACP) của nghiên cứu
4.31.8 Nhân tố Hỗ trợ của Chính phủ (HCP)
Nhân tố Hỗ trợ của Chính phủ (HCP): Sau khi loại các biến quan sát HCP2, HCP5, và HCP9, tiến hành kiểm định lần 2 đối với các biến còn lại thì chỉ số Cronbach’s Alpha 0.884>0.6 đáp ứng độ tin cậy của thang đo (Hair et al., 2006) và hệ số tương quan Biến- Tổng hiệu chỉnh (Corrected Item-Total Correlation) >0.3 (Hair et al., 2006) Điều này cho thấy rằng các biến quan sát HCP1, HCP3, HCP4, HCP6, HCP7, HCP8 và HCP10 đều đáp ứng được độ tin cậy, thỏa mãn điều kiện và làm đại diện cho thang đo Áp lực từ Chính phủ
4.3.1.9 Nhân tố Sự thay đổi của thị trường (DTT)
Nhân tố Sự thay đổi của thị trường (DTT): Sau khi loại biến quan DTT6, tiến hành kiểm định lần 2 đối với các biến còn lại thì chỉ số Cronbach’s Alpha = 0.878>0.6 đáp ứng độ tin cậy của thang đo (Hair et al., 2006) và hệ số tương quan Biến-Tổng hiệu chỉnh (Corrected Item-Total Correlation) >0.3 (Hair et al., 2006) Điều này cho thấy rằng các biến quan sát DTT1, DTT2, DTT3, DTT4, DTT5, DTT7, và DTT8 đều đáp ứng được độ tin cậy, thỏa mãn điều kiện và làm đại diện cho thang đo Sự thay đổi của thị trường (DTT) của nghiên cứu
4.3.1.10 Nhân tố Đổi mới sản phẩm xanh (DSP)
Nhân tố Đổi mới sản phẩm xanh (DSP): Sau khi loại các biến quan DSP1, DSP2, DSP4, DSP5, và DSP8, tiến hành kiểm định lần 2 đối với các biến còn lại thì chỉ số Cronbach’s Alpha = 0.858>0.6 đáp ứng độ tin cậy của thang đo (Hair et al., 2006) và hệ số
23 tương quan Biến-Tổng hiệu chỉnh (Corrected Item-Total Correlation) >0.3 (Hair et al.,
2006) Điều này cho thấy rằng các biến quan sát DSP3, DSP6, DSP7 DSP9 đều đáp ứng được độ tin cậy, thỏa mãn điều kiện và làm đại diện cho thang đo Đổi mới sản phẩm xanh
4.3.1.11 Nhân tố Đối mới quy trình xanh (DQT)
Nhân tố Đổi mới sản phẩm xanh (DSP): Sau khi loại các biến quan DQT1, DQT2, DQT4, DQT5, DQT7, DQT8, DQT8, DQT10, và DQT11, tiến hành kiểm định lần 2 đối với các biến còn lại thì chỉ số Cronbach’s Alpha = 0.829>0.6 đáp ứng độ tin cậy của thang đo (Hair et al., 2006) và hệ số tương quan Biến-Tổng hiệu chỉnh (Corrected Item-Total Correlation) >0.3 (Hair et al., 2006) Điều này cho thấy rằng các biến quan sát DQT3, DQT6 và DQT9 đều đáp ứng được độ tin cậy, thỏa mãn điều kiện và làm đại diện cho thang đo Đổi mới sản phẩm xanh (DSP) của nghiên cứu
4.3.1.12 Nhân tố Hiệu suất môi trường (SMT)
Nhân tố Hiệu suất môi trường (SMT): Sau khi loại các biến quan SMT4, SMT5, SMT7, SMT9, SMT10, SMT11, SMT12, SMT14, SMT15, và SMT16, tiến hành kiểm định lần 2 đối với các biến còn lại thì chỉ số Cronbach’s Alpha = 0.906>0.6 đáp ứng độ tin cậy của thang đo (Hair et al., 2006) và hệ số tương quan Biến-Tổng hiệu chỉnh (Corrected Item- Total Correlation) >0.3 (Hair et al., 2006) Điều này cho thấy rằng các biến quan sát SMT1, SMT2, SMT3, SMT6, SMT8, và SMT13 đều đáp ứng được độ tin cậy, thỏa mãn điều kiện và làm đại diện cho thang đo Hiệu suất môi trường (SMT) của nghiên cứu
4.3.1.13 Nhân tố Hiệu quả tài chính (HQC)
Nhân tố Hiệu quả tài chính (HQC): Sau khi loại các biến quan HQC2, HQC5,
PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ EFA
4.4.1 Phân tích EFA của các biến độc lập (Independent Variables)
Sau khi loại biến LTD6 và KTT9, CNL6 và HTC12, tiến hành kiểm định lần 2 thì kết quả có KMO = 0.907 thỏa mãn điều kiện để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố (05 < KMO < 1) nên phù hợp cho việc phân tích nhân tố Đồng thời, Sig (Bartlett’s Test) = 0.000 (sig < 0.05) chứng tỏ các biến quan sát có tương quan tuyến tính với nhân tố đại diện (Hair et al., 2016) Khi xem xét Tổng Phương Sai Trích, kết quả có Extraction Sums of Squared Loadings (Cumulative %) = 54.33% > 50 % Điều này chứng tỏ 54.33% sự thay đổi của 09 nhân tố được giải thích bởi các biến quan sát và đáp ứng tiêu chuẩn yêu cầu (Gerbing & Anderson, 1988) Từ các phân tích trên, có thể kết luận rằng phân tích nhân tố khám phá (EFA) của các biến độc lập là phù hợp với dữ liệu tổng thể
4.4.2 Phân tích EFA của các biến phụ thuộc (Dependent Variables)
Khi phân tích nhân tố khám phá của các biến phụ thuộc, kết quả của KMO = 0.957 nên phân tích nhân tố là phù hợp Sig = 0.000 (sig < 0.05) chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể Từ đó kết luận rằng những giá trị này đáp ứng yêu cầu của nghiên cứu Khi xem xét Tổng Phương Sai Trích, kết quả cho thấy Extraction Sums of Squared Loadings (Cumulative %) = 61.66% > 50 % Điều này chứng tỏ 61.66% sự biến thiên của dữ liệu được giải thích bởi 3 nhóm nhân tố phụ thuộc trên Từ các phân tích ở trên, có thể kết luận rằng phân tích nhân tố khám phá (EFA) của các biến phụ thuộc là phù hợp với dữ liệu tổng thể trong nghiên cứu này.
MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG (Measurement Modeling)
Kết quả cho thấy rằng tất cả Outer Loadings của các biến quan sát đều lớn hơn 0.7 (Hulland, 1999), do đó các biến quan sát đều có ý nghĩa trong mô hình Khi xem xét về độ tin cậy và giá trị hội tụ, có kết quả như sau: Cronbach’s Alpha của các thang đo đều lớn hơn 0.7, do vậy các thang đo đều đảm bảo độ tin cậy tốt
4.5.2 Độ tin cậy và giá trị hội tụ
Composite Reliability các thang đo đều lớn hơn 0.7 (>0.7), trung bình phương sai trích-AVE (Average Variance Extracted) đều lớn hơn 0.5 (>0.5), như vậy các thang đo đều đảm bảo tính hội tụ
4.5.3 Giá trị phân biệt (Discriminant Validity)
Kết quả cho thấy căn bậc hai của AVE (phần giá trị đầu mỗi cột) lớn hơn các tương quan giữa các biến tiềm ẩn với nhau (hệ số tương quan nằm ở phần dưới giá trị đầu tiên của cột) do vậy tính phân biệt được đảm bảo Thêm vào đó, tất cả các giá trị HTMT đều nhỏ hơn 0.85 ( 0.05 nên biến AKH không có sự tác động lên DMX ở độ tin cậy 95%, tuy nhiên có tác động nhỏ nhưng ở mức ý nghĩa thấp ở độ tin cậy 90%
* Biến độc lập (DMX) tác động lên biến trung gian (SMT) và phụ thuộc (HQD):
Hệ số tác động của DMX lên SMT là 0.571 và lên HQD là 0.566 có nghĩa là biến độc lập tác động rất mạnh lên biến trung gian SMT và tác động mạnh lên biến phụ thuộc HQD
* Biến trung gian (SMT) tác động lên biến phụ thuộc (HQD)
Hệ số tác động của SMT = 0.102 là thấp nhất và giá trị hệ số với giá trị P-value 0.090 > 0.05 nên biến SMT không có sự tác động lên DMX ở độ tin cậy 95%, tuy nhiên có tác động nhỏ nhưng ở mức ý nghĩa thấp ở độ tin cậy 90%
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định giả thuyết
Hình 4.1: Mô hình cấu trúc (Structural Modeling) tạo lập từ PLS-Smart
4.6.4 Giá trị Effect Size (f bình phương)
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng f Square của các yếu tố tác động đến ĐMX ở mức tác động nhỏ đến ĐMX (từ 0.006 -0.036) và hệ số f Square của DMX -> SMT là 0.483 và DMX -> HQD là 0.357 đều lớn hơn 0.35 (> 0.35) do đó DMX có ảnh hưởng lớn đến các nhân tố SMT và HQD
4.6.5 Kết quả kiểm định các giả thuyết:
Bảng 4.3: Kết quả của các giả thuyết nghiên cứu Giả thuyết Đường dẫn giả thuyết P Values Kết quả Tương đồng kết quả nghiên cứu
Rogers, 2003; Lin & Ho, 2011; Kousar et al., 2017
Rogers, 2003; Lin & Ho, 2011; Kousar et al., 2017
Rogers, 2003; Lin & Ho, 2011; Kousar et al., 2017
Zhe et al., 2008; Lin, 2014; Namagemba
Etzion, 2007; Guoyou et al., 2011; Chu et al., 2018
Lee, 2008; Weng et al., 2015; Borsatto,
Scupola 2003; Guo et al., 2018; Bai et al.,
Rothenberg & Zyglidopoulos, 2007; Sivathaasan et al., 2013
Chiou et al., 2011; Fernando & Wah, 2017; Singh et al., 2020
Porter & Van Der Linde, 1995; Yan & Chien, 2013; Tang et al 2017
Russo & Fouts, 1997; Schultze et al., 2011; Haninun & Lindrianasari, 2018
Từ bảng 4.3, kết quả cho thấy rằng tất cả các giả thuyết đưa ra đều có ý nghĩa thống kê Riêng giả thuyết H7 (P Value = 0.098) và H12 (P Value = 0.090) đều có P-Value ở mức
29 khoảng 10% thì có thể chấp nhận được, nhưng ở mức ý nghĩa thấp Điều này hoàn toàn đúng với thực tế ở Việt Nam do hiện nay khách hàng Việt nam thường không gây áp lực đối với DN về việc đầu tư vào hoạt động môi trường so với khách hàng nước ngoài hoặc đối với các sản phẩm xuất khẩu, họ thường chỉ quan tâm đến giá thành, chất lượng và lợi ích các sản phẩm mang đến cho họ Do đó, áp lực khách hàng sẽ tác động yếu đến đổi mới xanh Ngoài ra, Hiệu suất môi trường có tác động đến Hiệu quả DN nhưng ở mức độ thấp Mức ý nghĩa thấp là rất phù hợp với thực tế với các DNSX ở nước ta vì đầu tư vào môi trường thì tốn kém, nhưng cải thiện được chất lượng môi trường và đáp ứng các qui định nghiêm ngặt của Chính phủ, đáp ứng yêu cầu khách hàng, tạo được lợi thế cạnh tranh và nâng cao thương hiệu của DN đồng thời mang lại hiệu quả cho DN Nhưng HQ tài chính so với chi phí bỏ ra thì sẽ ở mức thấp, nên mức ý nghĩa thấp là đúng với thực tế Từ kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các giả thuyết đều được chấp nhận vì đều có những ảnh hưởng và đóng góp mang lại hiệu quả cho các doanh nghiệp sản xuất.
THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.7.1 Đối với phát triển thang đo Đổi Mới Xanh (DMX)
Kết quả nghiên cứu đã chứng minh được khái niệm đổi mới xanh do 09 nhân tố tác động gồm: Áp lực chính phủ, áp lực từ khách hàng, chất lượng nguồn nhân lực, sự thay đổi thị trường, hỗ trợ chính phủ, hỗ trợ của tổ chức, khả năng tương thích, sự dễ dàng và cuối cùng là lợi thế tương đối Trong đó, hỗ trợ của tổ chức thể hiện tác động mạnh nhất mà các chủ DN cho là có ảnh hưởng đến việc đổi mới xanh (hệ số tác động chuẩn hóa là 0.168), tiếp theo là lợi thế tương đối (0.147), chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng thứ ba (hệ số tác động là 0.142), kế tiếp là khả năng tương thích (0.132), áp lực của chính phủ (0.130), sự thay đổi của thị trường (0.128), sự dễ dàng (0.127), hỗ trợ của chính phủ (0.116) và cuối cùng là áp lực khách hàng (0.072) Các nghiên cứu trước đây đã cung cấp một số bằng chứng, tương đối đầy đủ về sự ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau đến việc đổi mới xanh; tuy nhiên, kết quả ở các nghiên cứu trước đây vẫn chưa có sự thống nhất với nhau
Với áp lực môi trường ngày càng tăng từ Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách, DNSX luôn phải tìm kiếm phương tiện để giảm thiểu tác động môi trường của họ thông qua việc nâng cao hiệu quả năng lượng, giảm ô nhiễm và khuyến khích tái sử dụng và tái chế (Porter et al., 2007) Chính vì thế, các yếu tố của thang đo DMX bao gồm nhân tố đổi mới quản trị (DQT3, DQT6, DQT9) và đổi mới sản phẩm (DSP3, DSP6, DSP7, DSP9) là hoàn toàn phù hợp và đáp ứng yêu cầu của các cấp chính quyền, cơ quan ban
30 ngành liên quan và ngay cả nhu cầu thiết thực của chính các DNSX trong quá trình thực hiện DMX Do đó, thang đo đổi mới xanh có thể giúp các công ty cũng như các DNSX cải thiện chất lượng tổng thể về hoạt động kinh doanh và sinh ra nhiều lợi nhuận, không chỉ về hiệu quả mà còn tăng nhu cầu về sản phẩm xanh của người tiêu dùng quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường (King, 2002; Marcus et al., 2009)
4.7.2 Đối với thang đo Hiệu Suất Môi Trường (SMT)
Kết quả nghiên cứu chỉ ra các biến quan sát trong mỗi thành phần và giữa các thành phần của khái niệm đạt tính đơn hướng, đảm bảo giá trị hội tụ, đảm bảo độ tin cậy, giá trị phân biệt và giá trị liên hệ lý thuyết
Kết quả nghiên cứu cho thấy, DMX với hệ số tác động rất mạnh lên SMT với hệ số đường dẫn (Path Coefficients) là 0.571 trong khi DMX tác động mạnh lên HQD (0.566) nhưng ngược lại, SMT tác động rất nhẹ lên HQD với hệ số tác động là 0.102 Như vậy, có thể kết luận rằng hiệu suất môi trường không tác động nhiều đến hiệu quả DN là phù hợp với bối cảnh của Việt Nam khi mà các công nghệ cũ, máy móc lạc hậu sẽ tạo ra nhiều chi phí tốn kém trong việc tạo ra sản phẩm, xử lý khí thải, chất thải, tiếng ồn, qui trình xử lý chất thải, nước thải phức tạp và rất tốn kém v.v Nghiên cứu của Nhâm và đồng nghiệp
(2012) càng củng cố thêm cho kết quả tìm được của nghiên cứu này Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, có thể cho rằng SMT có vai trò trung gian trong mối quan hệ tác động từ DMX lên HQDN tuy nhiên chỉ ở mức ý nghĩa thấp với độ tin cậy 90%
4.7.3 Kết quả mô hình nghiên cứu hồi quy
CÁC YẾU TỐ CÔNG NGHỆ
Hình 4.3: Kết quả mô hình nghiên cứu hồi quy
Ghi chú: H(+) có giá trị Sig ≤ 0.05: Có ý nghĩa thống kê
H 7 (+)Sig = 0.098 và H 12 (+) Sig = 0.096 > 0.05: Mức ý nghĩa thống kê thấp 4.7.4 Kết quả của các giả thuyết nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu đã kết luận các giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5, H6, H7, H8, H9,
H10, H11, và H12 đều được chấp nhận và có ý nghĩa thống kê
4.7.4.1 Mối liên hệ giữa Lợi thế tương đối với Đổi mới xanh (DMX), giả thuyết H 1 :
Với mức độ tác động β = 0.147 và giá trị Sig = 0.000 < 0.05, do đó có thể kết luận
H1 được chấp nhận và cho thấy Lợi thế tương đối có tác động dương đến Đổi mới xanh Kết quả này cũng đồng thuận với giả thuyết ban đầu là “Lợi thế tương đối” có tác động dương đến đổi mới xanh của DNSX” Kết quả của nghiên cứu này cũng có quan điểm tương tự với các nghiên cứu trước đây (Damanpour, 1991; Afuah, 1998; Le et al 2006; Lin & Ho, 2011; Kousar et al., 2017), lợi thế tương đối là một trong những đặc điểm công
Thay đổi của thị trường ( DTT) Áp lực từ Chính phủ (ACP)
Hỗ trợ của Chính phủ (HCP)
0.006 Áp lực Khách hàng (AKH)
Hỗ trợ của tổ chức (HTC)
Lợi thế tương đối (LTD)
Chất lượng nhân lực (CNL)
Khả năng tương thích (KTT)
Sự dễ dàng (SDD) Đổi mới xanh (DMX)
Hiệu suất môi trường (SMT)
32 nghệ quan trọng có ảnh hưởng đến việc đổi mới các công nghệ thân thiện với môi trường Kết quả nghiên cứu vừa phù hợp với kết quả của các nghiên cứu trước đây và cũng phù hợp với lý thuyết khuếch tán đổi mới của Rogers (2003), lợi thế tương đối là yếu tố dự đoán mạnh nhất về tỷ lệ chấp nhận một đổi mới Do đó, với các ý tưởng đổi mới xanh, các công ty trở nên khác biệt với nhau bằng cách cung cấp những hình thức, sản phẩm mới so với đối thủ cạnh tranh tạo ra điểm khác biệt để thu hút khách hàng sử dụng và mua sắm các sản phẩm của công ty Bằng sự sáng tạo này, với lợi thế tương đối có được, các công ty có thể đạt được rất nhiều sự vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh cùng ngành nghề, cùng lãnh vực sản xuất Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, các DN phải nhận thấy những lợi ích của đổi mới xanh so với công nghệ hiện có trong khi thực hiện quyết định liên quan đến việc áp dụng các đổi mới vì các tổ chức sẵn sàng lựa chọn hơn những đổi mới có khả năng lấp đầy khoảng cách hiệu suất tài chính của họ (Tornatzky & Klein, 1982)
4.7.4.2 Mối liên hệ giữa Khả năng tương thích và đổi mới xanh của DN, giả thuyết H 2 :
Khả năng tương thích có tác động tích cực đến Đổi mới xanh của DNSX, với kết quả β = 0.132 và giá trị Sig = 0.003 < 0.05 Do đó có thể kết luận giả thuyết H2 được chấp nhận Kết quả nghiên cứu phù hợp với giả thuyết đã đề ra chứng tỏ rằng Khả năng tương thích tác động dương đến Đổi mới xanh của các DN Đổi mới xanh tương thích hơn với công nghệ hiện tại sẽ dễ dàng phổ biến trong tổ chức Kết quả nghiên cứu này làm củng cố hơn kết quả nghiên cứu của Kemp và cộng sự (2001), Beise và cộng sự (2005), Le và cộng sự (2006), Weng và cộng sự (2011) và Kousar và cộng sự (2017); các DN sẽ có nhiều khả năng áp dụng đổi mới xanh khi họ nhận thấy rằng việc đổi mới tương thích hơn với các hoạt động kinh doanh hiện tại của họ Kết quả nghiên cứu vừa phù hợp với kết quả của các nghiên cứu trước đây và cũng phù hợp với lý thuyết khuếch tán đổi mới của Roger (2003), tính tương thích là yếu tố động lục để dự đoán về khả năng chấp nhận một đổi mới Thực tế, đổi mới công nghệ hướng tới phát triển kinh tế xanh là hướng đi đúng và phù hợp với xu thế phát triển mới của doanh nghiệp hiện nay, không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn mang lại hiệu quả của nền kinh tế xét trong dài hạn để chuyển đổi sang nền kinh tế xanh Chính vì thế, các DNSX phải thích nghi với xu hướng mới, áp dụng công nghệ của các nước tiên tiến trong qui trình sản xuất, đảm bảo công nghệ áp dụng tương thích với các điều kiện thực tế của DN để thích ứng nhanh chóng với nhu cầu của khách hàng cũng như của xã hội về đổi mới xanh nếu các DN muốn tồn tại và phát triển biền vững
4.7.4.3 Phân tích mối liên hệ giữa Sự dễ dàng với Đổi Mới Xanh, giả thuyết H 3 :
Kết quả nghiên cứu cho thấy với mức độ tác động β = 0.127, Sig = 0.001 (0.05) cho nên H3 được ủng hộ, nghĩa là Sự dễ dàng có tác động dương đến Đổi mới xanh của DN Kết quả nghiên cứu tìm được cũng phù hợp với giả thuyết ban đầu của nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu làm củng cố hơn quan điểm của các nghiên cứu trước đây, cho rằng độ phức tạp của công nghệ ảnh hưởng tiêu cực và đáng kể đến việc áp dụng các đổi mới xanh (Tornatzky & Klein, 1982; Rogers, 2003; Lin & Ho, 2011; Kousar et al., 2017); ngụ ý rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu chuyên gia kỹ thuật hoặc nhân lực ít sẵn sàng áp dụng đổi mới, khi các đổi mới trở nên đơn giản, dễ học và sử dụng thì các doanh nghiệp sẽ rõ
33 ràng áp dụng các đổi mới xanh và thực hiện vai trò của chúng để giảm bớt tác động tiêu cực đến môi trường, nâng cao hiệu suất hoạt động của DN Kết quả nghiên cứu vừa phù hợp với kết quả của các nghiên cứu trước đây và cũng phù hợp với lý thuyết khuếch tán đổi mới của Rogers (2003), sự phức tạp của là một trở ngại quan trọng trong việc đổi mới Chính vì thế, các DN đặc biệt là các DN vừa và nhỏ nên dành nguồn lực của họ cho việc tích lũy kiến thức về môi trường và đào tạo nhân viên và chuyên môn để giảm bớt sự phức tạp của công nghệ để việc đổi mới được thành công hướng đến mục tiêu phát triển bền vững (Al Qirim, 2005)
4.7.4.4 Mối liên hệ giữa Sự hỗ trợ của tổ chức và đổi mới xanh của DN, giả thuyết H 4 :
Kết quả nghiên cứu cho thấy với mức độ β = 0.168 và Sig = 0.000 < 0.05 có thể kết luận giả thuyết H4 được chấp nhận, do đó Sự hỗ trợ của tổ chức có tác động dương với Đổi mới xanh của DNSX Kết quả tìm được cũng phù hợp với giả thuyết ban đầu là “Sự hỗ trợ của tổ chức tác động tích cực đến đổi mới xanh của DNSX” và kết luận nghiên cứu của Zhu và cộng sự (2008) Nghiên cứu của Gonzalez-Benito và Gonzalez-Benito (2006), Lin và Ho (2011), Namagembe và Sridharan (2019) và Awan (2020) cũng tìm ra kết quả tương đồng với kết quả của nghiên cứu, sự hỗ trợ tổ chức, đặc biệt là hỗ trợ của cấp quản lý đứng đầu, là điều cần thiết để thúc đẩy và đảm bảo áp dụng thành công đổi mới xanh để đạt được lợi thế trong môi trường cạnh tranh Các vấn đề về môi trường càng được tổ chức xem trọng thì xu hướng thực hiện đổi mới xanh ở các DN càng cao (Qi et al., 2010) Kết quả nghiên cứu vừa phù hợp với kết quả của các nghiên cứu trước đây và cũng phù hợp với lý thuyết các bên có liên quan của Freeman (1999), các DN thực hiện các hoạt động chiến lược cụ thể là đổi mới xanh để đáp ứng các bên liên quan của họ nhằm đạt được mục tiêu trong kinh doanh và lợi thế cạnh tranh Sự hỗ trợ của tổ chức vừa là động lực vừa là nguồn lực của nhân viên để thực hiện đổi mới xanh trong DN Vì thế các DNSX, đặc biệt là DN vừa và nhỏ phải tạo điều kiện về mọi nguồn lực có sẵn của mình để giúp cho nhân viên nhằm nâng cao khả năng thực hiện tốt ĐMX
4.7.4.5 Mối liên hệ giữa Chất lượng nguồn nhân lực và đổi mới xanh của DN, giả thuyết
Chất lượng nguồn nhân lực tác động tích cực đến đổi mới xanh của DNSX, với mức độ tác động β = 0.142 và giá trị của Sig = 0.004 < 0.05, cho nên H5 được chấp nhận, thể hiện là Chất lượng nguồn nhân lực có tác động dương đến việc Đổi mới xanh của DNSX Kết quả tìm được cũng phù hợp với giả thuyết ban đầu và các nghiên cứu trước đây của Zhu và cộng sự (2008) Bên cạnh đó, Christmann (2000), Lin và Ho (2011) và Rehman và cộng sự (2021) cũng tìm ra kết quả tương đồng với kết quả của nghiên cứu, chất lượng nguồn nhân lực là điều cần thiết để thúc đẩy quá trình đổi mới xanh, năng lực sáng tạo cao hơn sẽ giúp DN có nhiều khả năng thực hiện thành công chiến lược môi trường tiên tiến
Do áp dụng đổi mới xanh có thể có thêm phức tạp đối với các quy trình sản xuất và yêu cầu lượng học và chương trình đào tạo Cung cấp kiến thức và đào tạo cho nhân viên là rất quan trọng để quản lý các vấn đề môi trường tốt hơn (Murphy & Poist, 2003) Có thể thấy rằng chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố then chốt cho mọi thành công hay thất bại của các DN trong các hoạt động sản xuất kinh doanh Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chất lượng
34 nguồn nhân lực là một yếu tố thiết yếu ảnh hưởng đến đổi mới kỹ thuật bởi vì việc áp dụng đổi mới kỹ thuật đòi hỏi phải nhân viên phải có trình độ, có năng lực học tập và năng lực sáng tạo (Weng & Lin, 2011; Tornatzky & Fleischer, 1990) Chính vì thế, ưu tiên đầu tư vào chất lượng nguồn nhân lực phải được đặt lên hàng đầu vì nếu không có nguồn nhân lực giỏi chuyên môn, kĩ năng mềm, thao tác thành thạo với các loại máy móc qui trình mới,
DN không thể thực hiện được việc đổi mới
4.7.4.6 Mối liên hệ giữa Áp lực khách hàng và đổi mới xanh của DN, giả thuyết H 6 :